Khai thác chung trong Luật biển quốc tế Lý luận và thực tiễn Việt Nam. Khai thác chung sẽ làm các mâu thuẫn, xung đột giữa các quốc gia giảm xuống, hoặc tạm gác lại, làm dịu đi các tranh chấp, bất đồng quốc tế để từ đó cùng nhau tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc tham gia nghiên cứu khoa học ở những vùng đang xảy ra tranh chấp trên biển
Trang 1A MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ cộng với nhu cầu về sử dụng tài nguyên thiên niên của con người ngày càng cao thì nguồn tài nguyên thiên nhiên ở biển sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của mỗi quốc gia trên thế giới Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 là bước ngoặc cực kỳ quan trọng, là cơ sở pháp lý trên biển của các quốc gia Tuy nhiên cùng với sự ra đời của Luật biển năm 1982 thì chủ quyền quốc gia trên biển của các quốc gia được
mở rộng, từ đó dẫn đến sự tranh chấp về chủ quyền biển, nhưng vấn đề giải quyết những tranh chấp này không phải là vấn đề có thể thực hiện được trong một sớm một chiều Trong thời gian đàm phán để giải quyết những vấn đề về phân định một cách rõ ràng về đường biên giới quốc gia trên biển thì các quốc gia cần tìm ra những biện pháp tạm thời để hạn chế hoặc giải quyết những mâu thuẫn phát sinh Và Khai thác chung – là một trong những biện pháp các quốc gia đã lựa chọn để giải quyết vấn đề này Khai thác chung sẽ làm các mâu thuẫn, xung đột giữa các quốc gia giảm xuống, hoặc tạm gác lại, làm dịu đi các tranh chấp, bất đồng quốc tế để từ đó cùng nhau tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc tham gia nghiên cứu khoa học ở những vùng đang xảy ra tranh chấp trên biển Bài tiểu luận sau đây của tôi xin được đưa ra một vài vấn đề lý luận về khai thác chung và thực tiễn khai thác chung ở Việt Nam
Đề tài 1: Khai thác chung trong Luật biển quốc tế - Lý luận và thực tiễn Việt Nam
Trang 2B NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận về khai thác chung
1 Khái quát quá trình hình thành của khai thác chung
Biển không những đem lại cho con người những giá trị vật (tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú) mà nó còn chứa đựng rất nhiều những giá trị về mặt tinh thần Với sự phát triển cả về nhận thức cũng như về mặt khoa học, kỹ thuật, con người ở các quốc gia trên thế giới nhận thức sâu sắc tầm quan trọng
mà biển đem lại, vì vậy chiến lược tiến ra biển và làm chủ biển đã và đang được các quốc gia đẩy mạnh hơn bao giờ hết
Công cuộc tiến ra biển, làm chủ biển từ xa xưa đã kéo theo sự ra đời của những học thuyết, các quy tắc, quy định về biển như tác phẩm The Free Sea hay Mare Liberum (Biển tự do) của Hugo Grotius vào năm 1609 đề cập đễn vấn đề
tự do hàng hải, thương mại và đánh bắt cá trên biển; trái ngược với Hugo Grotius, nhà luật học người Anh John Selden lại đưa ra tác phẩm Mare Clausum (Biển kín) năm 1653, trong đó ông đưa ra nguyên tắc về chủ quyền của các quốc gia biển cũng giống như trên đất liền khi các quốc gia cố gắng mở rộng vùng lãnh thổ của mình như trê đất liền
Năm 1958 Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị về Luật Biền đầu tiên ở Geneva, Thụy Sĩ, Hội nghị đạt được bốn hiệp định ký kết năm 1958 là: Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964), Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực từ ngày 10/6/1964), Công ước về biển cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962), Công ước về Nghề cá và bảo tồn tài nguyên sống ở hải phận Quốc tế (có hiệu lực ngày 20/3/1966) Hội nghị được cho là thành công, lần đầu tiên có những thỏa thuận quốc tế liên quan đến biên giới lãnh thổ trên biển, nhưng một vấn đề quan trọng liên quan đễn vấn đề chủ quyền biển lại vẫn để ngỏ, đó là bề rộng của vùng lãnh hải Năm 1960, Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị về Luật biển lần thứ II, tuy nhiên hội nghị không đạt được tiến triển nào mới
Hợp tác khai thác chung đã được nhiều quốc gia nghiên cứu và áp dụng trên thực tiễn như: thỏa thuận khai thác chung giữa Tây Ban Nha và Pháp năm 1974,
Trang 3…đây là thỏa thuận khia thác chung ở vùng biển đã được phân định ranh giới Bước ngoặc lớn của vấn đề khai thác chung của Luật Biển quốc tế là thỏa thuận khai thác chung giữa Nhật Bản và Hàn Quốc ngày 30/01/1974, thỏa thuận này đánh dấu việc lần đầu tiên trên thế giới áp dụng ý tưởng khai thác chung dầu khí ngoài khơi tại nơi có đường biên giới trên biển chưa được phân định
Năm 1967, các vấn đề về các tuyên bố khác nhau về lãnh hải đã được nêu ra tại Liên hợp quốc, đến năm 1973 Hội nghị Liên hợp quốc lần III về Luật biển được tổ chức tại New York, sau quá trình đàm bán kéo dài sau 09 năm (1973 – 1982) thông qua được Công ước Liên hợp quốc về Luật biển, có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 Điều này đã đánh dấu sự phát triển của Luật biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết tranh chấp biển, đồng thời điều này là cơ sở cho các quốc gia ven biển được mở rộng vùng biển một cách đáng kể Việc mở rộng quyền tài phán của quốc gia ven biển dẫn đến xung đột thẩm quyền ở những vùng biển eo hẹp, yêu sách của những quốc gia ven biển có bờ biển đối diện hoặc liền kề nhau sẽ chồng lấn lên nhau Việc phân định đường biên giới là một quá trình đàm phán kéo dài căng thẳng, phức tạp và càng trở nên căng thẳng khi các quốc gia ở những vùng này lại đơn phương khai thác tài nguyên, điều này dễ dẫn tới xung đột, chiến tranh,… Và một giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn có thể làm giảm bớt căng thẳng và vẫn khai thác được nguồn tài nguyên trong khi chờ đàm phán để đạt được một giải pháp phân định đường biên giới trên biển ở những vùng chồng lấn này đó là hợp tác khai thác chung
2 Định nghĩa về khai thác chung
Khai thác chung là một thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia nhằm xác lập một cơ chế nhất định để cùng nhau nghiên cứu, thăm dò, khai thác, quản lý tài nguyên thiên nhiên tại vùng biển chồng lấn hay các nguồn tài nguyên nằm vắt qua đường phân định trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền của các quốc gia đối với vùng biển đó và chia sẻ lợi nhuận một cách công bằng theo đúng các quy định của luật pháp quốc tế
Theo định nghĩa Khai thác chung không những là sự hợp tác của các quốc gia trong việc cùng khai thác tài nguyên ở một vùng biển nhất định mà còn cùng
Trang 4hợp tác trong những lĩnh vực như: nghiên cứu khoa học, trao đổi chuyên gia, trợ giúp kỹ thuật, tài chính, bảo vệ môi trường,… Khai thác chung được coi là giải pháp ưu tiên trong các “dàn xếp tạm thời” và là lựa chọn mang tính khả thi cao được nhiều quốc gia áp dụng
2 Đặc điểm của khai thác chung
Thỏa thuận khai thác chung là một thỏa thuận quốc tế được xác lập giữa các quốc gia có quyền và lợi ích liên quan với nhau về việc cùng hợp tác khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế
Là thỏa thuận đã được các quốc gia thống nhất cụ thể vùng khai thác chung nơi mà mỗi quốc gia theo Công ước về Luật biển Quốc tế năm 1982 với một mức độ nhất định đều co chủ quyền hoặc quyền chủ qyền liên quan đến khu vực khai thác chung đó
Khai thác chung là thỏa thuận mang tính chất tạm thời và không làm ảnh hưởng đến lập trường của các quốc gia về yêu sách chủ quyền đối với các vùng biển chồng lấn
Có thể nhìn nhận vấn đề hợp tác khai thác chung dưới góc độ tổng quan như sau:
- Về chủ thể khai thác chung: chủ thể tham gia hoạt động khai thác chung là các
quốc gia Ngoài ra, khai thác chung cò có sự tham gia của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, nhà đầu tư,…đươc Nhà nước ủy quyền
- Về vùng khai thác chung: giới hạn trong khu vực có chồng lấn về chủ quyền và
quyền chủ quyền bên cạnh đó có một số trường hợp khai thác chung diễn ra tại nơi đã có đường biên giới xác định nhằm bảo tồn và khai thác có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên nằm vắt qua biên giới giữa các quốc gia
- Về đối tượng khai thác chung: đó chính là tài nguyên (sinh vật, phi sinh vật) và
các hoạt động khác như nghiên cứu khoa học, môi trường, hàng hải,…
- Về phân chia lợi nhuận: nội dung này khiến các quốc gia mất nhiều thời gian
để thương thảo vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế của các quốc gia Đối với trường hợp khai thác chung tại vùng chồng lấn chưa phân định ranh giới thì các quốc gia đều lấy nguyên tắc bình đẳng theo Luật quốc tế để phân chia lợi
Trang 5nhuận cũng như chi phí khai thác Tại vùng khai thác chung đã được xác định đường biên giới thì hầu hết các quốc gia đều lựa chọn giải pháp phân chia đều chi phí cũng như lợi nhuận cho các bên
Thỏa thuận này vừa mang tính pháp lý vừa mang tính lợi ích kinh tế Các thỏa thuận về hợp tác khai thác chung không chỉ nhằm mục tiêu là đem lại lợi ích kinh tế mà khai thác chung còn có tác động lớn tới chủ quyền quốc gia trên biển Khai thác chung còn là bước đệm, một giải pháp, một căn cứ căn bản ban đầu để giải quyết các vấn đề phân định chủ quyền phân chia đường ranh giới trên biển với những vùng biển quốc tế đang yêu sách chủ quyền
3 Cơ sở của hoạt động khai thác chung
Hoạt động khai thác chung được tiến hành dựa trên các cơ sở sau:
- Thứ nhất, Cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý của hoạt động khai thác chung bao
gồm: luật quốc tế (các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế), các Điều ước quốc tế (Điều ước quốc tế đa phương, điều ước quốc tế song phương), tập quán quốc tế, các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế
- Thứ hai, Cơ sở khoa học Cơ sở khoa học của hoạt động khai thác chung bao
gồm: đặc điểm điều kiện tự nhiên; nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên và quản lý khai thác biển phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng
4 Phân loại khai thác chung
- Căn cứ vào đối tượng khai thác chung: bao gồm khai thác chung các nguồn tài
nguyên phi sinh vật (dầu mỏ, khí tự nhiên, khoáng sản) và nguồn tài nguyên sinh vật (thủy hải sản) Bên cạnh đó còn có khai thác chung hỗn hợp với bản chất là thỏa thuận hợp tác KTC theo ý chí của các quốc gia để cùng nhau khai thác nguồn tài nguyên biển bao gồm nguồn tài nguyên sinh vật, phi sinh vật và các nguồn lợi khác của biển như du lịch, giao thông vận tải, nghiên cứu khoa học
- Căn cứ vào chủ thế của quan hệ khai thác chung: bao gồm khai thác chung
song phương (giữa hai quốc gia) và khai thác chung đa phương (giữa nhiều quốc gia)
Trang 6- Căn cứ vào vị trí vùng khai thác chung: gồm có 3 loại là khai thác chung ở nơi
chưa có đường biên giới phân định biển; khai thác chung ở vùng biển nơi đã có đường ranh giới phân định biển (có mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua); khai thác chung ở vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia nhất định
- Căn cứ theo phương thức quản lý: bao gồm KTC được quản lý bới Chính phủ
các quốc gia và KTC được quản lý bởi các cơ quan, tổ chức được Nhà nước ủy quyền
5 Vai trò của khai thác chung
Khai thác chung như đã đề cập là một sự thỏa thuận về quyề và nghĩa vụ giữa các quốc gia liên quan, nhằm chia sẻ các nguồn tài nguyên trên các vùng biển chồng lấn về yêu sách chủ quyền hay các nguồn tài nguyên nằm vắt ngang qua đường phân định ranh giới trên biển Đây là giải pháp tạm thời để cùng nghiên cứu tài nguyên, dựa trên nguyên tắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển của các quốc gia, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, khoản 3 Điều 74
và khoản 3 Điều 83 quy định: “Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở khoản 1, các
quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoán quá độ này Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng” Khai thác chung
được coi là giải pháp ưu tiên trong các giải pháp “dàn xếp tạm thời có tính thực
tiễn” là sự lựa chọn mang tín khả thi rất cao được nhiều quốc gia áp dụng, bản
thân nó lại không ảnh hưởng đến sự phân định cuối cùng, nên khai thác chung
có thể dấp ứng được nhu cầu khai thác tài nguyên vì lợi ích kinh tế của các quốc
gia hữu quan Hợp tác khai thác chung sẽ làm “loãng” và “mềm” hóa những
xung đột và căng thẳng giữa các quốc gia trên biển Giải pháp này có thể tạm thời gác tranh chấp, nhằm hạn chế tình trạng căng thẳng có thể dẫn đến hoạt động chạy đua vũ trang hoặc xung đột vũ trang Như vậy, khai thác chung thông qua phương pháp hòa bình có thể làm dịu đi các tranh chấp, bất đồng quốc tế
Trang 7Như vậy, khia thác chung vừa đáp ứng nhu cầu về khai thác tài nguyên biển phục vụ lợi ích kinh tế vừa góp phần vào củng cố quan hệ chính trị, ngoại giao giữa các nước, tăng cường sự hểu biết và tình hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia, đem lại hòa bình, hữu nghị láng giềng thân thiện, hợp tác cùng phát triển
6 Thực tiễn về khai thác chung ở các vùng biển trên thế giới
Khai thác chung được rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng để có thể giải quyết những vấn đề tranh chấp về tài nguyên trên biển, sau đây là một số thỏa thuận khai thác chung điển hình trên thế giới:
a Một số thỏa thuận khai thác chung của một vài quốc gia Châu Âu
* Hiệp định hợp tác khai thác chung giữa Ai-xơ-len và Nauy năm 1981 tại khu vực đảo Jan Mayen
Ngày 22/10/1981, Ai-xơ-len và Nauy thống nhất ký Hiệp định hợp tác khia thác chung trong vùng chồng lấn thềm lục địa khu vực đảo Jan Mayen, có diện tích khoảng 373 km2, với chiều dài gần 53 km, chiều rộng gần 20 km Vùng chồng lấn được hai quốc gia ký kết hợp tác khai thác chung có diện tích khoảng 45.470 km2, trong đó phần phía Bắc có diện tích khoảng 32 750 km2 và phần còn lại khoảng 12 720 km2 (gần 70% diện tích vùng khia thác chung nằm về phái biển Nauy).1
* Hiệp định khai thác chung giữa Anh và Nauy năm 1976 tại mỏ Frigg Field
Ngày 10/5/1976 tại London – Anh hai nước đã ký kết Hiệp định hợp tác khai thác chung mỏ Frigg, đây là mỏ tài nguyên nằm vắt qua đường biên giới biển giữ Anh và Nauy Hiệp định thống nhất số lượng và địa điểm đặt các công trình khai thác trong khu vực mỏ của mỗi quốc gia, cũng như quy định thành lập một
Ủy ban chung giữa hai chính phủ (Ủy ban tư vấn mỏ Frigg Field)
* Thỏa thuận hợp tác khai thác chung nghề cá giữa các nước Nauy – Nga – Ai-xơ-len ngày 15/9/1999
Đây là thỏa thuận về hợp tác khai thác chung đa phương, được thiết lập giữa
ba nước là vùng biển Bắc Đại Taay Dương thuộc vùng đặc quyền kinh tế của
1 Lê Xuân Long: Hợp tác khai thác chung ở vùng biển chồng lấn, những gợi mở cho Việt Nam, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 8Nga và Nauy, đây là vùng biển yêu sách chủ quyền của hai nước là Nga và Nauy nhưng do tính chất địa lý, tiềm năng hải sản và quan hệ ngoại giao tốt đẹp của ba nước trên, nên các nước đã cùng nhau thỏa thuận hợp tác khai thác chung này Theo đó, Nga sẽ được khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế của hai nước kia với sản lượng gồm 500 tấn cá và 17 000 tấn cá vảy nhỏ, ngoài ra còn quy định về phương thức giải quyết tranh chấp,…
Ngoài ra còn có: Hiệp định hợp tác khai thác chung nghề cá và yêu sách thềm
lục địa giữa Nauy và Ai-len gày 28/5/1980 và Nghị định thư ngày 11/11/1997, Thỏa thuận nghề cá Canada và Liên Xô ngày 22/01/1971,…
b Một số thỏa thuận khai thác chung của một vài quốc gia Châu Mỹ
* Hiệp định giữa Mê-hi-cô và Hòa kỳ về phân định thềm lục địa ở Tây vịnh Mê-hi-cô ngày 09/6/2000
Đây là hiệp định phân định biên giới trên biển trong khu vực tranh chấp vùng Westerm Gap Theo đó, 40% khu vực này sẽ thuộc chủ quyền của Hoa Kỳ, 60% còn lại thuôc chủ quyền Mê-hi-cô Hai bên thỏa thuận quy định một vùng đẹm chung, là vùng nằm trên đường phân định ranh giới cách đều về phía mỗi bên, vùng đệm này có chế độ pháp lý đặc biệt và được áp dụng trong 10 năm, vùng đệm này chưa được coi là vùng khai thác chung, tuy nhiên nếu cần thiết có thể dẫn tới hoạt động khai thác chung sau này
* Tuyên bố chung giữa Acgentina và Anh ngày 27/9/1995
Hai nước thống nhất thiết lập một vùng hợp tác khai thác chung đặc biệt trong vệc thăm dò và khai thác khí Hydrocacbon ở phía Tây Nam các hòn đảo Hai quốc gia thiết lập một Ủy ban chung bao gồm các đại diện của hai quốc gia, đây
là cơ quan duy nhất thực hiện quản lý vùng khai thác chung và thực hiện các nhiệm vụ mà hai nước thống nhất giao cho
Ngoài ra còn có: Hiệp định giữa Venezuaela với Trinidad và Tobago ngày
18/4/1990, Hiệp định hợp tác khai thác chung giữa Barbados và Guyana liên quan đến thẩm quyền tài phán trong vùng biển chồng lấn ranh giới của hai nước
ở vùng đặc quyền kinh tế và vượt khỏi ranh giới ngoài của mỗi quốc gia,…
c Một số thỏa thuận khai thác chung của một vài quốc gia Châu Phi
Trang 9* Hiệp định hợp tác khai thác chung giữa Sudan và Saudi Arabia ngày 16/5/1974
Hiệp định ngày 16/5/1974 giữa Saudi Arabia và Sudan nhằm thiết lập một khu vực khai thác chung các nguồn tài nguyên của đáy biển và trong lòng đất dưới đáy Biển Đỏ Khu vực chung (Common Zone) là một khu vực của đáy biển nằm ở bên trái khu vực giữa Biển Đỏ, sau khi các quyền chủ quyền của mỗi quốc gia được duy trì tới nơi có độ sâu 1000m (vùng biển từ độ sâu 1000m trở
ra là thuộc khu vực khai thác chung) Điều này quy định cho việc phân định ranh giới thềm lục địa cũng như việc thiết lập khu vực chung Trong khu vực chung, hai quốc gia có “chủ quyền bình đẳng với tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên” và những quyền này là đặc quyền đối với họ Một Ủy ban chung được thành lập nhằm đảm bảo việc thúc đẩy hoạt động khai thác của khu vưc có hiệu quả.2
* Thỏa thuận GhinêBitxao – Xênêgan ngày 14/10/1993
Trong khi chưa đạt được một điều ước quốc tế về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, ngày 14/10/1993, hai nước GhineBitxao và Xênêgan đã cùng
ký kết một thỏa thuận về khai thác chung (sau đó ngày 12/6/1995, thỏa thuận này đã được bổ sung bằng một thỏa ước về tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý chung) Thỏa thuận ngày 14/10/1993 đã xác định một vùng biển chung bao trùm lên 2400 theo Điều ước ký năm 1960 tạo thành một hình rẻ quạt có góc
480 với đường bán kính là 200 hải lý tính từ tâm mũi Roxo
Điều đáng chú ý là thỏa thuận này được thiết lập cho cả việc khai thác chung các nguồn lợi hải sản và các tài nguyên phi sinh vật của vùng Theo đó, nguồn lợi đánh bắt hải sản được chia đều cho hai bên, còn các tài nguyên khác của vùng được chia theo tỷ lệ 85% cho Xênêgan và 15% cho GhinêBitxao; tuy nhiên, nếu phát hiện thêm được các nguồn tài nguyên mới thì tỷ lệ này có thể được xem xét lại Theo thỏa thuận này, hai bên đã nhất trí thiết lập một cơ quan hỗn hợp nhằm quản lý và giám sát việc khai thác chung ở vùng biển này với thời
2 Nguyễn Bá Diến: Các vùng khai thác chung trong Luật Quốc tế hiện đại, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 67-75
Trang 10hạn hiệu lực của thỏa thuận là 20 năm Hết thời hạn đó, các bên sẽ tiếp tục đàm phán hoặc chuyển việc phân định vùng biển này cho tòa án quốc tế.3
Ngoài ra còn có Hiệp định Nigieria với São Tome và Principe tháng 2/2001.
d Một số thỏa thuận khai thác chung của một vài quốc gia Châu Á
* Hiệp định hợp tác khai thác chung dầu khí giữa Nhật Bản và Hàn Quốc ngày 30/01/1974
Theo Hiệp định Vùng hợp tác khai thác chung là vùng rộng 24 092 hải lý vuông, được chia thành 09 tiểu vùng, tại mỗi tiểu vùng sẽ do các công ty của hai quốc gia hợp tác khai thác Một ủy ban được thành lập (Joint Commission) nhằm giám sát các hoạt động trong khu vực khai thác chung Hiệp định này có hiệu lực từ năm 1978 và sẽ kết thúc sau 50 năm Trong thời hạn hai bên nhận thấy rằng nguồn tài nguyên trong khu vực khai thác chung không còn giá trị vè mặt kinh tế để hợp tác khai thác thì có thể cùng nhau thỏa thuận chấm dứt Hiệp định trước thời hạn
* Hiệp định hợp tác khai thác chung dầu khí giữa Indonesia và Australia ngày 11/12/1989
Vùng hợp tác khai thác chung rộng 11 129 hải lý vuông, được chia thành ba vùng nhỏ: vùng A, vùng B và vùng C Vùng B gần với Australia (vùng này do Australia kiểm soát) và vùng C gần với Indonesia (vùng này do Indonesia kiểm soát), Vùng A nằm giữa ( đặt dưới sự quản lý khai thác chung của hai nước, Hai bên cùng xây dựng một đạo luật khai thác dầu khí dành cho vùng A dựa trên hợp đồng phân chia sản phẩm Doanh thu từ vùng A sẽ chia đều cho hai nước
Ngoài ra còn có một số thỏa thuận khai thác chung ở khu vực Châu Á như:
Bản ghi nhớ giữa Malaysia và Thái Lan ngày 21/02/1979, Hiệp định nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1965 và năm 1999, Hiệp định khai thác chung nghề cá giữa Hàn Quốc và Trung Quốc năm 1993,…
II Thực tiễn khai thác chung ở Việt Nam
3 Nguyễn Bá Diến: Các vùng khai thác chung trong Luật Quốc tế hiện đại, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 67-75