Sự sụt giảm như vậy là do một số lý do được đưa ra như sau: Thứ nhất, việc điều chỉnh giảm lãi suất lần này phù hợp với xu hướng kỳ vọng lạm phát, thanh khoản của các TCTD dồi dào, thị t
Trang 1Đề cương ôn tập tiền tệ Ngân hàng
Câu 1: Phân tích biến động chỉ số giá tiêu dùng của VN từ đầu năm đến nay và dự đoán cho 6 tháng tiếp theo.
Bài làm
Bước sang năm 2012, trước những diễn biến kinh tế vĩ mô phức tạp trong nước và quốc tế, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/1/2012 về những giải pháp chủ yếu điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, trong đó nêu rõ mục tiêu được ưu tiên hàng đầu
là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
Trong năm 2012, tình hình DB chỉ số CPI của VN có những biến động khá lớn Cụ thể, ngoại trừ 2 tháng đầu năm, lạm phát tăng cao do yếu tố mùa vụ với mức tăng lần lượt là 1% và 1,37% so với tháng trước, chỉ số CPI từ tháng 3 tới tháng 8 chỉ tăng rất chậm Đặc biệt, trong tháng 6 và tháng 7/2012, lạm phát đã ở mức âm (với mức tăng CPI lần lượt là -0,26% và -0,29% so với tháng trước) Qua đó, lạm phát so với cùng kỳ cũng đã giảm nhanh từ 17,27% vào tháng 1/2012 xuống mức 5,04% trong tháng 8/2012, và hiện tại ở mức 7%
Tuy nhiên, trong tháng 8 và tháng 9, lạm phát đã đảo chiều hoàn toàn với mức tăng trong 2 tháng lần lượt là 0,63% và 2,2% so với tháng trước
Đặc biệt, mức tăng của lạm phát tháng 9 (2,2%) đã vượt ngoài dự báo của nhiều chuyên gia Song bước sang tháng 10, lạm phát đã có phần hạ nhiệt với mức tăng CPI của tháng 10 so với tháng trước là 0,85%, tuy nhiên, đây vẫn là mức tăng khá cao so với các năm trước Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2012 tăng 0,47% so với tháng trước, thấp hơn so với mức tăng 0,85% của tháng Mười
CPI của Việt Nam trong quý I, đặc biệt là trong tháng 3 giảm mạnh do một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, lạm phát giảm mạnh là do chỉ số giá lương thực thực phẩm đã xuống mức thấp nhất
trong vòng 5 năm trở lại đây Trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống chiếm đến 40% tỷ trọng, do đó việc chỉ số giá lương thực đi xuống đã đẩy chỉ số CPI đi xuống theo và bù đắp hầu hết tác động từ việc tăng giá xăng dầu bán lẻ 10% trong tháng 3
Thứ hai, nhu cầu trong nước giảm cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến CPI quý I đi
xuống Việc Chính phủ kiên trì với chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt kể từ đầu năm 2011 đến nay cộng với yếu tố kỳ vọng lạm phát vẫn cao đã có tác động không nhỏ đến hành vi tiêu dùng của người dân trong quý đầu năm nay Cụ thể, chỉ số giá bán lẻ đã liên tục giảm kể từ đầu năm, ngay cả trong dịp Tết nguyên đán vốn là thời điểm nhu cầu hàng hóa tiêu dùng tăng cao
Nguyên nhân của việc chỉ số CPI từ tháng 3 đến tháng 8 chỉ tăng rất chậm là do NHNN
thực hiện mục tiêu ưu tiên là kiềm chế lạm phát, biểu hiện qua việc hút ròng trên thị trường mở Ngoài
ra, chỉ số CPI tăng chậm là do giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống- nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi tiêu cho đời sống của người tiêu dùng đã giảm xuống Giá lương thực đã giảm liên tục trong 6 tháng đầu năm, với tốc độ giảm 4,68%
Trong khi đó sự tăng tốc đột ngột của chỉ số CPI vào tháng 9 (bằng 8 tháng trước cộng lại) là do
sự tăng lên về giá cả của nhóm thuốc, y tế, giáo dục, nhà cửa và vật liệu xây dựng giao thông Nhưng
Trang 2ngay sau đó thì chỉ số CPI tháng 10 đã giảm tốc mạnh bởi mức độ ảnh hưởng của các nhóm giáo dục, y
tế, vật liệu xây dựng… đã giảm đi rất nhiều, góp phần hạ nhiệt chỉ số giá chung
CPI tháng 11 tăng thấp sở dĩ do: Theo đánh giá, giá thuốc (tăng mạnh tới 5,16%) và tăng viện
phí cùng các dịch vụ y tế (tăng 6,66%) là nguyên nhân chính khiến đẩy CPI tháng 11 tăng
Việc CPI chỉ tăng nhẹ trong các tháng cuối năm cho thấy sức mua của thị trường đang rất yếu Điều này trái với quy luật thông thường do 2 tháng cuối năm chỉ số CPI thường tăng mạnh vì đây là giai đoạn mà nhu cầu mua sắm tăng cao cho lễ Noel và Tết dương lịch Việc người dân, doanh nghiệp siết chặt tiết kiệm là nguyên nhân khiến CPI khó có thể tăng cao trong bối cảnh hiện nay
Dự báo
Dự báo lạm phát cả năm 2012 của Việt Nam sẽ ở mức từ 7,5% đến 8,5% CPI năm 2013 sẽ tăng khoảng 8%, trong khi GDP tăng 5,5%
Lạm phát sẽ giảm nhẹ trong hai quý đầu năm 2013 và sẽ bắt đầu tăng trở lại từ quý III-2013, tuy nhiên ở mức độ không lớn Có nhiều yếu tố có thể tác động làm gia tăng lạm phát 2013 Chẳng hạn giá hàng hóa thế giới đặc biệt là lương thực thực phẩm vẫn tiếp tục có xu hướng gia tăng, tín dụng có khả năng phục hồi trở lại, quá trình giải ngân đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn Chương trình mục tiêu quốc gia… đang được xúc tiến mạnh mẽ Bên cạnh đó, Chính phủ còn yêu cầu
bộ, ngành địa phương tăng cường tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh Những yếu tố này sẽ góp phần làm gia tăng tổng cầu của nền kinh tế
Năm 2013 khả năng lạm phát thấp như năm 2012 không còn nữa Đó là do lo ngại thâm hụt ngân sách năm nay không bù đắp được Nguồn thu hỗ trợ tương đối cho năm nay là dầu thô khi giá dầu tăng
so với các năm trước
Năm sau giá dầu không tăng sẽ khiến ngân sách thâm hụt Dầu tăng giá thì bớt áp lực ngân sách, nhưng lại tạo cơ sở cho giá mặt hàng trong nước tăng cao Ngoài ra nhiều khả năng Chính phủ sẽ tăng tín dụng, để kích thích kinh tế Kết quả là làm cho lạm phát trong sức ép phải tăng
Câu 2: Phân tích diễn biến lãi suất thị trường ở VN từ đầu năm đến nay và dự đoán cho 6 tháng tiếp theo.
Trang 312 10 9 7 8
Những năm vừa qua, nền kinh tế Việt nam chứng kiến một sự suy giảm kinh tế nghiêm trọng,nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn khi lạm phát, lãi suất ở mức cao Sản xuất có dấu hiệu suy giảm trong một vài tháng đầu năm do tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồn kho tăng Vốn huy động thiếu cùng với thị trường tiêu thụ giảm sút gây sức ép cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa những vấn đề đó đã đặt ra rất nhiều bài toán cần giải đáp cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô Bài viết này sẽ trình bày về diễn biến lãi suất trên thị trường việt nam
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất được ngân hàng trung ương áo dụng khi cho ngân hàng trung gian vay dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá Nó được tinha bằng tỷ lệ phần trăm khấu trừ vào giá trị bề mặt của giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán mà NHTG đem đến xin chiết khấu tại NHTW
Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất được áp dụng khi NHTW cho NHTG vay dưới hình thức cầm cố, thế chấp tài sản nó được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên số tiền cho NHTG vay
Lãi suất cho vay qua đêm là lã suất được NHTW áp dụng khi cho HTG vay qua đêm
Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là cặp lãi suất được sử dụng để nhằm tác sụng thông báo với thị trường về định hướng chính sách tiền tệ, nếu cặp lãi suất này có xu hướng tăng thì thể hiện chính sách tiền tệ thắt chặt và ngược lại thể hiện chính sách tiền tệ nới lỏng về ngắn hạn, cặp lãi suất này không mang tính chất định hướng lã suất liên ngân hàng vì trong ngắn hạn, lãi suất cho vay qua đêm có thể vượt ngoài hành lang
Để kiểm soát sự biến động của lãi suất trong ngắn hạn, ta sử dụng cặp lãi suất thường xuyên Đó
là lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất tiền gửi tại NHTW
Những tháng đầu năm 2012 đã chứng kiến những tín hiệu từ việc giảm lạm phát và tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) dần được cải thiện là những yếu tố chính để NHNN giảm 1% lãi suất điều hành kể từ ngày 13/3
nhìn chung, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và trần lãi suất huy động đều có xu hướng giảm mạnh Với các mức như sau:
Lã suất cho vay qua đêm giảm từ 16% (1/2012) xuống còn 10% (12/2012)
Lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15% xuống còn 9% đến cuối năm 2012
Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13% xuống còn 7% đến cuối năm 2012
Trần lãi suất huy động giảm từ 14% xuống còn 8% đến cuối năm 2012
Lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cho vay qua đêm liên tục giảm 1% qua 6 tháng từ tháng 2 đến tháng 7/2012 Đến các tháng cuối năm, lãi suất được duy trì
ở mức khá ổn định, không đổi Cho đến ngày 21/12/2013, NHNN VN ra quyết định số 2646 – QĐ-NHNN về việc hạ lãi suất tái cấp vốn xuống 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu là 7%/năm, lãi suất cho vay qua đêm là 10%/năm và NHNN cũng quyết định hạ trần lãi suất huy động xuống 8%/năm kể từ 21/12/2012
Sự sụt giảm như vậy là do một số lý do được đưa ra như sau:
Thứ nhất, việc điều chỉnh giảm lãi suất lần này phù hợp với xu hướng kỳ vọng lạm phát, thanh
khoản của các TCTD dồi dào, thị trường tiền tệ diễn biến theo xu hướng tích cực và ổn định Mức lãi suất tiền gửi tối đa theo quy định hiện nay (11%/năm) ở mức khá cao, khoảng 3% so với lạm phát dự báo của tháng 6/2012 so với cùng kỳ năm 2011 (khoảng 7,4-7,5%) và lạm phát kỳ vọng cả năm 2012 (khoảng 7-8%); mức lãi suất này cũng có chênh lệch cao so với lãi suất tiền gửi huy động USD (khoảng 2%/năm) và mức tăng tỷ giá kỳ vọng (khoảng 2-3%/năm)
Thứ hai, NHNN đồng thời quy định trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay ngắn hạn,
nhưng đối với mỗi loại trần áp dụng đều có sự linh hoạt, đáp ứng yêu cầu điều hành theo chủ trương của Chính phủ Chính phủ muốn kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp trong thời kỳ khó khăn, giúp đỡ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn vay từ
Trang 4ngân hàng vì đặc thù các doanh nghiệp việt nam phụ thuộc rất lớn vào các ngân hàng, nên điều này là thực sự cần thiết
Đối với trần lãi suất huy động, đã có sự thay đổi so với thời gian trước, đó là chỉ quy định trần lãi suất tiền gửi VND không kỳ hạn và dưới 12 tháng, còn kỳ hạn từ 12 tháng trở lên do các TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường Quy định như vậy tạo thuận lợi cho các TCTD cơ cấu lại nguồn vốn theo kỳ hạn theo hướng tốt lên Và đây cũng là một bước đi để tiến tới dỡ bỏ trần lãi suất tiền gửi tối
đa đối với VND trong thời gian tới
Việc quy định trần lãi suất cho vay chỉ áp dụng đối với 4 lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là phù hợp với chủ trương của Chính phủ Nếu áp dụng một mức trần lãi suất cho vay chung sẽ dẫn đến tình trạng cào bằng lãi suất cho vay đối với tất cả các đối tượng khách hàng, không phân biệt được các đối tượng cần khuyến khích và đối tượng không khuyến khích Đối với các lĩnh vực ưu tiên cần có một mức lãi suất thấp hơn; trong khi đó, đối với các lĩnh vực không khuyến khích, là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, phải kiểm soát chặt chẽ theo chủ trương của Chính phủ, thì lãi suất cho vay có thể cao hơn
Nếu chỉ quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động (không quy định trần lãi suất huy động và cho vay) thì chưa đủ để đạt được mục tiêu giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ vì các TCTD yếu kém, đang gặp khó khăn về thanh khoản có thể tăng lãi suất huy động lên cao để mở rộng huy động vốn, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn, từ đó kéo lãi suất cho vay tăng theo
Thứ ba, việc điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động và cho vay ngắn hạn như trên đảm bảo hài
hòa lợi ích của người gửi tiền, người vay và các TCTD Theo đó, người gửi tiền vẫn có lãi suất thực dương; doanh nghiệp được tiếp cận vốn với lãi suất thấp hơn, đặc biệt là đối với 4 lĩnh vực ưu tiên; ngân hàng đảm bảo được chi phí hoạt động, dự phòng chi trả và có lợi nhuận ở mức hợp lý
Trước thông tin Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm các mức lãi suất, một số ngân hàng đã chủ động triển khai điều chỉnh giảm lãi suất huy động và cho vay và tung ra các gói tín dụng mới Nhiều ngân hàng ấn định lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến từ 8-10%/năm; một số ngân hàng điều chỉnh giảm 0,5-3%/năm lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn Những diễn biến lãi suất huy động nêu trên, cùng với điều kiện vĩ mô hiện nay (thanh khoản dồi dào, kỳ vọng lạm phát thấp, một số ngân hàng yếu kém đang được xử lý theo tiền trình cơ cấu lại, khả năng mở rộng tín dụng còn khó khăn) cho thấy không quá lo ngại về việc các TCTD tăng mạnh lãi suất huy động
từ 12 tháng trở lên để tăng thị phần tiền gửi, gây khó khăn cho việc giảm lãi suất cho vay
Đối với lãi suất cho vay, sau khi NHNN ban hành các văn bản hạ lãi suất và áp dụng trần lãi suất cho vay, một số TCTD đã tiến hành điều chỉnh giảm lãi suất như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Sài gòn-Hà Nội Các TCTD khác cũng đang tích cực xây dựng phương án để giảm lãi suất huy động và cho vay theo các mức lãi suất quy định của NHNN hiệu lực từ 11/6/2012
Dự báo xu hướng biến động lãi suất 6 tháng tiếp theo.
Trang 5Các tháng cuối năm 2012 chứng kiến một sự tăng lên trong chỉ số giá tiêu dùng CPI, đây là 1 điều không nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia Tuy nhiên, với xu hướng hiện nay, lạm phát sẽ chỉ ở mức khoảng 7,5% vào cuối năm so với cùng kỳ năm ngoái, thay vì mức 8-9% như dự báo ban đầu
Mức lạm phát cơ bản (không bao gồm giá lương thực và năng lượng) trong tháng 11 ở mức 12,2% so với cùng kỳ năm ngoái, so với mức 11,4% trong tháng 10 Lạm phát cơ bản tăng cao trong tháng chỉ là nhất thời và có thể giảm về mức 12% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 12 và ổn định ở ngưỡng 11-12% trong 6 tháng đầu năm 2013
Câu 3: Phân tích diễn biến lãi suất liên NH 2008
Năm 2008 là 1 năm đáng nhớ đối với thị trường ngân hàng nước nhà khi phải trải qua những biến động chưa từng có về lãi suất và tỷ giá
Ngay từ những tháng đầu năm, cuộc đua lãi suất bắt đầu bùng nổ, biểu hiện đầu tiên là sự leo thang của lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng lien tục lập các kỷ lục Cuộc đua lãi suất chưa bao giờ lại nóng như thời điểm đầu năm 2008, chỉ trong 20 ngày mà 4 lần điều chỉnh tăng lãi suất xô đổ các kỷ lục trước đó và hệ lụy đẩy lãi suất lien ngân hàng tăng cao chóng mặt Cụ thể: lãi suất liên ngân hàng ngày 15/2/2008 đạt mức 30,1%/năm; ngày 18/2/2008 lập một kỷ lục mới khi lên tới 33%/năm, ngày 19/2/2008 kỷ lục cao hơn nữa lên tới 43%/năm trong khi theo thống kê lãi suất này năm 2007 đạt 17% Tuy nhiên đến những tháng cuối năm, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 ngày đã hạ nhiệt xuống còn 8% ( giảm hơn 30 % so với thời kỳ đạt đỉnh) Đây cũng là kết quả trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Nhưng, bên cạnh đó thì đối với kỳ hạn cho vay 30 ngày và 61 ngày vẫn ở mức khá cao - từ 16,4%-17%/năm
Nguyên nhân: 2/2008 là thời điểm tết nguyên đán, các ngân hàng cần 1 lượng vốn khả dụng
tương đối lớn, các khoản tiền gửi trong Nh chủ yếu là không kỳ hạn hoặc kỳ hạn rất ngắn; thêm vào đó DTBB tăng lên 1% khiên các NH khó khăn trong thanh khoản
Cùng với đó là hiệu lực thi hành mức trần lãi suất 12% tính đến tháng 2 Lạm phát trong năm
2008 luôn giữ ở mức cao, đỉnh điểm là 23% vào tháng 8 buộc NHNN luôn duy trì CSTT thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát Trong bối cảnh cần kiểm soát lạm việc siết chặt tiền đồng là khó tránh khỏi, song việc này cũng khiến cuộc đua nâng lãi suất của các ngân hàng thêm nóng, đã càng tạo đk cho cuộc chạy đua lãi suất của các NH đẩy lãi suât liên NH lên đến đỉnh điểm
Đến 2 quý cuối năm 2008, NHNN đã can thiệp làm giảm lãi suất bằng cách nâng lãi suất tiền gởi DTBB bằng VND lên Cụ thể mức nâng tháng 9 là 3.6%, đến tháng 10 tăng thêm 1,4 lên 5% Bên cạnh
đó, NHNN cũng quyết định cho phép các tổ chức tín dụng được được sử dụng tín phiếu Ngân hàng NHNN bắt buộc phát hành ngày 17/3/2008 được cầm cố để vay vốn, chiết khấu tại NHNN, được sử dụng làm công cụ cho nghiệp vụ thị trường mở do NHNN thực hiện Những động thái này đã đưa lãi suất liên NH nói riêng mà mặt bằng lãi suất nói chung xuống thấp hơn so với những tháng đầu năm
Tác động: Lãi suất LNH tăng cao, đẩy chi phí huy động vốn tăng lên và là 1 nhân tố gia tăng lãi
suất cho vay có thời điểm lên đên 27% Nguồn vốn của các NH lúc này tuy nhiều nhưng giải ngân rất chậm do các doanh nghiệp, cá nhân khó có thể tiếp cận được nguồn vốn với chi phí vốn vay cao như vậy buộc các NH phải tính đến chuyện giải ngân sau hệ lụy chạy đua lãi suất rất có thể nợ xấu của NH sẽ gia tăng vượt mức cho phép Cùng với đó việc gia tăng lãi suất LNH theo hiệu ứng chạy đua càng làm hỗn loạn trên thị trường liên NH mà theo nhẫn xét của các chuyên gia là : “cá lớn nuốt cá bé”
Trang 6Cuộc chạy đua lãi suất 2008 đẩy lãi suất LNH cùng với ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới đã tạo ra 1 hệ luy kéo dài trong 2 năm 2008-2009 đối với nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng
Câu 4: Đánh giá hiệu quả cơ chế điều hành lãi suất của NHNN từ 2008 đến nay.
Trong thập kỉ gần đây với sự phát triển của thị trường tài chính-tiền tệ, thế giới có sự phát triển
về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của NHTW cũng dần thay đổi theo hướng tự do hóa Chính sách lãi suất là một trong những công cụ chính của chính sách tiền tệ, NHNN VN sử dụng các i điều hành: i cơ bản, i tái chiết khấu, i tái cấp vốn Từ giữa tháng 5/2008 đến nay, theo quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ( có hiệu lực từ ngày 19/05/2008) NHNNVN áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng VND:
- Theo đó, các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh( lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay) bằng Đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố áp dụng trong từng thời kỳ Tiếp đến ngày 19/8/2010, NHNN áp dụng cả cơ chế này cho các khoản vốn huy động và Đồng Việt Nam giữa các tổ chức tín dụng Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường nội tệ liên NH, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, xu hướng biến đọng của cung cầu vốn, mục tiêu của chính sách tiền tệ trong ngắn hạn Sau 3 tháng NHNN đã nới lỏng hơn trong kiểm soát lãi suất huy động bằn cơ chế cam kết thực hiện lãi suất “trần” lãi suất huy động VND của các NHTM
- Cùng với đó, NHNN tiếp tục duy trì việc thực hiện hành lang lãi suất trường liên NH với biên độ chênh lệch 2%( cụ thể ngày 19/05/2008 tạo bởi i tái ck là 11%và i tái cấp vốn là 13%) để điều tiết I thị trường, I cơ bản và I nghiệp cụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc
"hút" tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM
Cụ thể:
Từ năm 2008-năm 2010:
Từ tháng 5 – 9/2008, NHNN điều hành chính sách tiền tệ "thắt chặt"để ngăn chặn lạm phát cao, các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, lãi suất cơ bản từ 12%/năm lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 11,7%/năm lên 15%/năm Việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM trong những tháng đầu năm 2008; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy độïng vốn giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên cao
Từ tháng 10/2008 đến 1/2/2009, lạm phát có xu hướng giảm, nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng xấu của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, NHNN chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ từ "thắt chặt" để chống lạm phát sang "nới lỏng" nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, với nhiều lần điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ bản từ 14% xuống 7%/năm , lãi suất tái cấp vốn
từ 15% xuống 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13% xuống 5%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở
từ 15xuống 7%/năm Nhờ đó, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định
Việc điều hành lãi suất là phù hợp với chủ trương của Chính phủ với mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, đồng thời ngăn chặn tái lạm phát cao trở lại, kết quả cụ thể là: lãi suất thị trường diễn biến hợp lý và tương đối ổn định; tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng phù hợp với chủ trương kích cầu của Chính phủ, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, góp phần quan trọng ngăn chặn
Trang 7suy giảm và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; CPI 10 tháng đầu năm nay tăng 4,49%.CPI 10 tháng đầu năm
2009 tăng 4,49%
Nhằm mục tiêu góp phần duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh
tế bền vững trong năm 2010, chủ động đối phó với diễn biến phức tạp của thị trường tài chính và kinh tế thế giới, cuối T11/2009 NHNNVN công bố nâng i cơ bản tăng lên 8%, I tái cấp vốn tăng lên 8%, I tái chiết khấu tăng lên 6% bắt đầu từ 1/12/2009 và tiếp tục được giữ ở các mức này; đến 5/ 11/2010 NHNN lại tăng tất cả các I điều hành này thêm 1% lên lần lượt là 9%,9%,8%
Tuy vậy, cơ chế điều hành I cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với I kinh doanh của NHTM, hạn chế tính chủ động, linh hoạt trong trong kinh doanh của các TCTD, làm cho I thị trường liên NH không phản ánh đúng và đầy đủ tình trạng thanh toán của các NH, qua đó đã vô hiệu hóa một tín hiệu quan trọng nhất để điều hành chính sách tiền tệ
Từ cuối 2010 đến nay:
Từ cuối năm 2010 và rõ nhất từ đầu năm 2011, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, nền kinh tế VN đứng trước thách thức lạm phát gia tăng Vì vậy, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay, kiềm chế lạm phát
là ưu tiên số 1 Từ thực tế đó,NHNN đã ban hành các văn bản về điều chỉnh lãi suất với sự thay đổi các mức lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn nhằm thực thi chính sách tiền tệ “thắt chặt”, từ đó kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Năm 2011, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất chiết khấu: đầu tiên, vào ngày 8/3/2011, nhà điều hành nâng lãi suất tái chiết khấu từ mức 7%/năm (được áp dụng từ 5/11/2010) lên 12%/năm và đến 1/5/2011, nâng tiếp lên 13%/năm Đối với lãi suất tái cấp vốn, trong năm 2011, Ngân hàng Nhà nước tiến hành 5 lần điều chỉnh: ngày 17/2, điều chỉnh từ mức 9%/năm lên 11%/năm; ngày 8/3 lên 12%/năm; ngày 01/4 lên 13%/năm; ngày 1/5 lên 14%/năm và ngày 10/10 lên 15%/năm Đối với i cơ bản duy trì ở mức 9% từ cuối năm 2010 đến nay Tuy nhiên việc nâng cao các i chủ chốt này lại tác động đẩy i thị trường liên NH, i huy động và i cho vay trên trị trường lên cao hơn nữa và gây khó khăn cho các DN trong việc tiếp cân vốn
Năm 2012, NHNN tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Cặp lãi suất chỉ đạo có những biến động giảm ngược chiều so với năm 2011 Đây được coi như những điều chỉnh để lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu sát với lãi suất thị trường nhất với 6 lần giảm i tái cấp vốn từ 15% cuối năm 2011 xuống còn 9% vào ngày 24/12/2012 và 6 lần giảm I tái chiết khấu từ 13% xuống còn 7% ngày 24/12/2012
Thêm vào đó, từ T12/2010, cơ chế NHTM cam kết thực hiện “trần” lãi suất huy động VND (tối
đa 14%) qua giám sát thực hiện của NHNN tiếp tục được thực hiện cho đến đầu T3/2011 Từ 3/3/2011, NHNN chính thức luật hóa quy định trần lãi suất huy động VND của các TCTD và chi nhánh NH nướn ngoài không vượt quá 14%/năm Bên cạnh những thay đổi trên, cơ chế trần lãi suất huy động còn có nhiều điều chỉnh, từ chỗ chỉ quy định chung 1 trần lãi suất đến chỗ quy định nhiều trần lãi suất cho các
kỳ hạn (áp dụng từ 1/10/2011) và xoá bỏ trần i đối vs kỳ hạn từ 12 tháng trở lên (áp dụng từ 1/06/2012) Trong giai đoạn này, cơ chế cho vay đồng VN theo lãi suất cơ bản và biên độ đã từng bước được thay thế bằng cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận, kèm theo đó NHNN yêu cầu các TCTD thực hiện cho vay bằng VND phải niêm yết i cho vay ở mức hợp lý Cơ chế i cho vay thỏa thuận được thiết lập song không phát huy hiệu quả trong xác lập lãi suất, lãi suất thị trường theo đó ngày càng bị đẩy lên cao với I cho vay của các NH có thể lên đến hơn 20% Tình trạng này đã khiến nền kinh tế từng bước lâm vào tình thế mất ổn định, DN đứng trước nguy cơ phá sản vì chị phí sản xuất tăng vọt, giá thành leo thang
Trước tình hình đó, để ổn định i vay vốn hợp lý, ổn định kinh tế vĩ mô, ngày 4/5/2012, NHNN
đã ban hành thông tư về trần i cho vay ngắn hạn bằng VND tối đa bằng (=) lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên do NHNN quy định cộng (+) 3%/năm và áp dụng đới với khách hàng vay để đáp úng nhu cầu phục vụ cho 4 lĩnh vực kinh tế: phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, nông
Trang 8thôn, thực hiện phương án, dự án sản xuất – kinh doanh hàng xuất khẩu, phục vụ sản xuất kinh doanh
DN vừa và nhỏ, phát triển nghành công nghiệp hỗ trợ Thông tư có hiệu lực từ ngày 8/5/2012
Để phù hợp yêu cầu của nền kinh tế, trong bối cảnh lạm phát được kiềm chế, trần i huy động và trần i cho vay được NHNN điều chỉnh theo chiều hướng giảm xuống Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2012 tăng 0,47% so với tháng 10/2012 và tăng 6,52% so với cuối năm 2011, dự kiến cả năm 2012 khoảng 7%; thanh khoản của hệ thống ngân hàng cải thiện, thị trường tiền tệ ổn định, lãi suất thị trường liên ngân hàng diễn biến theo xu hướng giảm, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối Nhà nước tăng cao Từ ngày 24/12/2012, lãi suất tái cấp vốn còn 9%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 7%/năm; trần lãi suất huy động còn 8%/năm lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 11%/năm xuống 10%/năm lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giữ nguyên là 2%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng giảm từ 9%/năm xuống 8%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng là 8,5%/năm; lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên do TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp
hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm từ 13%/năm xuống 12%/năm, riêng Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô ấn định lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND tối đa là 13%/năm Mức lãi suất cho vay 12%/năm của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là phù hợp với mức giảm lãi suất tiền gửi
và chủ trương của Chính phủ, định hướng của Thống đốc NHNN về giảm lãi suất cho vay nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh
Câu 5 Nhận xét về hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ hiện nay ở VN.
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung của xã hội
Chính sách đổi mới về kinh tế đã thành công trong việc giúp nền kinh tế nước ta vượt qua thời kỳ lạm phát không kiềm chế được và khôi phục cân bằng kinh tế vĩ mô, xây dựng và thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia
Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta:
Nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng ở Việt Nam ngày càng lớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầu mới về tiền Phải tiếp tục theo đuổi mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền
tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung
- Ở Việt Nam trong thập niên qua, NHNN nhìn chung đã duy trì một chính sách tiền tệ tương đối kiềm chế và hợp lý Chính sách này đã thành công trong việc giảm lạm phát từ mức ba con số ở cuối thập niên 1980 xuống mức tương đối ổn như hiện nay dẫn đến một sự phân bổ tốt hơn các nguồn lực tài chính, cũng như sự cải thiện về hiệu quả chung của chính sách tiền tệ
Câu 6 Bình luận ý kiến cho rằng: Ổn định giá cả trờ thành mục tiêu không bản cãi của chính sách tiền tệ Liên hệ với VN.
Ta biết rằng nhược điểm lớn nhất của nền kinh tế thị trường là tự động tạo ra các chu kì kinh doanh, sản lượng thực tế dao động lên xuống xung quanh trục sản lượng tiền năng, nền kinh tế luôn có
xu hướng không ổn định
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo ba dấu hiệu chủ yếu: Ổn đinh, tăng trưởng và công bằng xã hội Trong đó ổn định kinh tế là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của một nền kinh tế Ổn định kinh tế vĩ mô là kiểm soát được giá cả, tỷ giá, lãi suất … Bằng việc duy trì
và cải thiện các cân đối lớn của nền kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường, đặc biệt là cân đối tiền- hàng,
Trang 9cán cân thanh toán quốc tế, cân đối giữa thu- chi ngân sách Nhà nước, cân đối vốn đầu tư, cân đối cung cầu một số mặt hàng thiết yếu nhất để từ đó làm giảm bớt những dao động của chu kì kinh doanh, giải quyết tốt những vấn đề cấp bách: Tránh lạm phát cao và thất nghiệp nhiều
Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ:
Mục tiêu của chính sách tiền tệ hầu như thống nhất ở các nước Sự điều chỉnh tiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ Trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và công
ăn việc làm
- Mục tiêu ổn định giá cả: Là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ (mục tiêu dài hạn)
Những bằng chứng thực tế đã nói lên rằng sự phát triển giá cả là có thể dự đoán được khi
mà tỷ lệ lạm phát thấp Trạng thái lạm phát thấp cũng cho phép các gia đình và công ty tiến hành các quyết định kinh tế với thông tin đáng tin cậy hơn Giá cả ổn định là động lực góp phần phân phối các nguồn lực xã hội một cách hiệu quả nhất
Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế xã hội trong thời gian dài hạn, là điều kiện thuận lợi cho thị trường tài chính hoạt động một cách trơn tru trong việc dẫn vốn ở khu vực có nguồn vốn nhàn rỗi đến nơi sản xuất có hiệu quả
Lãi suất thực giảm xuống, điều này khuyến khích người vay tiền đầu tư phát triển kinh tế Trạng thái ổn định giúp được người vay tránh được rủi ro so với trường hợp mặt bằng giá giảm liên tục không dự tính trước, bởi vì khi mặt bằng giá giảm thì giá trị thực của các công cụ nợ tăng lên, trong khi lãi suất của chúng đã được ấn định cố định trước, điều này làm tăng gánh nặng của nền kinh tế, bởi vì thông thường thường người vay tiền là người gắn liền với sản xuất hơn là người cho vay tiền Vậy ổn định giá cả là lợi ích của “sự cố kết chính trị của xã hội” Đây là phương châm hàng đầu của chính sách tiền tệ
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ rất đa dạng như kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, tạo công
ăn việc làm ( giảm tỉ lệ thất nghiệp), tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tài chính, lãi suất, tỷ giá hối đoái …Do lạm phát cao cóa tác đọng xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong khi đó nguyên nhân lạm phát lại là tiền tệ CHính vị vậy, hầu hết cacx nước, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả là mục tiêu hang đầu và mục tiêu dài hạn của chính sách tiền tệ Tùy vào tính hình mỗi quốc gia mà sẽ có 1 tỷ lệ lạm ohast phù hợp Thông thường để thực hiện mục tiệu kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả NHNN áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt Bên cạnh đó còn 2 mục tiêu tăng trưởng kte và tạo công ăn việc làm, giảm tỉ
lệ thất nghiệp Để thực hiện 2 mục tiêu này thì NHNN thường thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng
Như vậy, xét cả 3 mục tiêu thì ta thấy mục tiêu giảm lạm phát, bình ổn giá cả mâu thuẫn với 2 mục tiêu còn lại trong ngắn hạn Bởi vì đẻ thực hieenj mục tiêu giảm lạm phát, ổn định giá cả cần thực hiện được 2 mục tiêu còn lại Ngược lại, khi nền kinh tế mở rộng, thất nghiệp giảm, nền kinh tế phát triển quá nóng dễn đến lạm phát gia tăng Tuy nhiên, xét các mục tiêu tren trong dài hạn thì chúng lại
ko mâu thuẫn vs nhau Mỗi quan hệ giữa mục tiêu giả thất nghiệm và mục tiêu tăng trưởng kinh tế không mâu thuẫn cả trong ngắn hạn và dài hạn
Hầu hết các NHTW đều đắt ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT Nhưng trong nagwsn hạn, dưỡi áp lực cua chính trị, họ có thể tạm thời từ bỏ mục tiêu để chủ yếu hạn chế tình trạng thất nghiệp… NHTW ko thể đặt đc đồng thời tất cả các mục tiêu trong ngắn hạn và thường thì NHTW theo đuổi 1 mục tiêu trong dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn
Liên hệ Việt Nam
Việt Nam chúng ta đang trên con đường đổi mới kinh tế, đặc biệt là cải cách hệ thống Ngân hàng Do đó, việc thực thi chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng cùng với công cụ trực tiếp hạn mức tín dụng, trong những năm đầu thập kỷ 90, Việt Nam đã bắt đầu trú trọng nhiều hơn đến việc sử dụng công cụ gián tiếp như: Dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu Nghiệp vụ thị trường mở
Trang 10cũng vừa mới ra đời Việt Nam M2- làm mục tiêu trung gian Qua các công cụ của mình, ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều tiết nhằm ổn định đồng tiền và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng Với chính sách tiền tệ như trên, bước đầu Việt Nam đã hạn chế được mức cung tiền, kiềm chế lạm phát,
ổn định giá cả Mặc dù vậy chính sách tiền tệ ở Việt Nam còn tồn tại đó là việc chưa xác định rõ ràng mối liên hệ giữa mục tiêu trung gian (M2) và mục tiêu lãi suất, chính sách về lãi suất còn nhiều bất cập, công cụ còn mang nặng tính hành chính chưa thực tế cho lắm Nghiệp vụ thị trường mở ra đời chưa phát huy được hiệu quả mạnh mẽ Trong thời gian cần xây dựng chính sách tiền tệ độc lập, tương đối của ngân hàng Nhà nước, chú trọng phát triển thị trường tài chính
Câu 7 Bình luận sự thay đổi mục tiêu cuối cùng trong điều hành chính sách tiền tệ ở VN.
Mục tiêu cuối cùng của CSTT: Ổn định tỷ giá và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính
Từ tháng 9-2011, trên cơ sở theo dõi sát diễn biến tín dụng của từng TCTD và toàn hệ thống, NHNN đã
có những điều chỉnh linh hoạt, cho phép một số TCTD được tăng trưởng vượt mức 20% trong năm
2011, cho phép loại bỏ một số nhu cầu vay vốn ra khỏi phạm vi kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích
Bước sang năm 2012, để bảo đảm tăng trưởng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả, NHNN đã phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo bốn nhóm TCTD, tiếp tục loại bỏ một số nhu cầu vay vốn ra khỏi phạm vi kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích Trong bối cảnh các
DN gặp khó khăn, dòng tiền ách tắc do chưa tiêu thụ được hàng hóa, hàng tồn kho tăng cao, NHNN đã chỉ đạo các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vốn vay, xem xét cho vay mới đối với các nhu cầu vốn vay có hiệu quả và bảo đảm khả năng trả nợ Đây là các giải pháp hết sức thiết thực của ngành ngân hàng nhằm chia sẻ khó khăn đối với cộng đồng DN và nền kinh tế Nhờ thực hiện các biện pháp tín dụng, kết hợp với việc điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng đã được kiểm soát ở mức thấp, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá Mặc dù tín dụng tăng ở mức thấp nhưng cơ cấu tín dụng đã chuyển dịch tích cực theo đúng định hướng của Chính phủ Tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực này đều cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung cho nền kinh tế Năm 2011, tín dụng cho nền kinh tế tăng 14,4%, trong đó tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 27,25%, xuất khẩu tăng 58% Trong sáu tháng đầu năm 2012, tín dụng cho nền kinh tế tăng 1,5%, trong
đó tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 8,5%, xuất khẩu tăng 6,59%
Đối với chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt trên cơ sở bám sát cung - cầu ngoại tệ, k ết hợp với việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, quy định trần lãi suất huy động đối với USD, thu hẹp đối tượng cho vay ngoại tệ, thực hiện nhiều biện pháp về quản lý ngoại hối kết hợp với việc ban hành chế tài và xử lý nghiêm hành vi vi phạm về hoạt động ngoại hối Nhờ vậy, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống được cải thiện, thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực Nếu như trước đây, tỷ giá biến động thất thường, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do ở mức cao (có thời điểm chênh lệch đến 8-10%), thì trong bảy tháng đầu năm 2012, tỷ giá ổn định, thị trường ngoại tệ tự do hầu như không hoạt động Các TCTD nhìn chung đã chấp hành các quy định về mua bán ngoại tệ, tâm lý thị trường ổn định hơn, các nhu cầu ngoại tệ cấp thiết đã được bảo đảm Bên cạnh việc điều hành chính sách tỷ giá và ngoại hối, NHNN cũng đã triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm ổn định giá vàng và thị trường vàng trong nước; cơ chế quản lý thị trường vàng theo Nghị định số 24/2012/NĐ-CP đã tạo bước đổi mới cơ bản về hoạt động quản lý và kinh doanh vàng Mặc dù mới có hiệu lực song những tín hiệu thị trường cho thấy yếu tố đầu cơ hoặc các biến động bất thường gây ảnh hưởng đến thị trường vàng, ngoại hối trong những năm trước đây đã giảm đáng kể, giá vàng bảy tháng đầu năm khá ổn định và diễn biến bám sát xu hướng giá vàng thế giới Tỷ giá ổn định, thị trường vàng