TÀI LIỆU ÔN THI LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ - 2018 NHẬN ĐỊNH + BÀI TẬP TÌNH HUỐNG +LÝ THUYẾTTÊN THƯƠNG MẠI Nhận định – Tên thương mại 1, Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự vớ
Trang 1TÀI LIỆU ÔN THI LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ - 2018 NHẬN ĐỊNH + BÀI TẬP TÌNH HUỐNG +LÝ THUYẾT
TÊN THƯƠNG MẠI Nhận định – Tên thương mại
1, Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của
người khác mà không được sự cho phép của chủ sở hữu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại
=> Sai Khoản 2 Điều 129 LSHTT, Điều 13, NĐ105/2006
2, Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại chỉ được phépchuyển quyền sử dụng tên thương mại cùng với việc chuyển giao toàn bộ cơ sở kinhdoanh đó
=> Sai, Khoản 3, đ139 và khoản 1, điều 142, chuyển nhượng cùng với việc chuyểngiao toàn bộ cở sở kinh doanh,; Không được chuyển quyền sử dụng tên hương mại
3, Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại có quyền yêu cầu
người thực hiện hành vi xâm phạm quyền của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạmtrong một thời hạn hợp lý và bồi thường thiệt hại
=> Đúng, căn cứ điêm b, khoản1 , điều 198, Luật shtt (chủ thể quyền bao gồm chủ sở hữu và tác giả) và khoản 3, Điều 21, Nghị định 105/2006 “Việc yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện bằng cách thông báo bằng văn bản cho người xâm phạm Trong văn bản thông báo phải có các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, phạm vi, thời hạn bảo hộ và phải ấn định một thời hạn hợp lý
để người xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm.”
TÌNH HUỐNG
Tình huống 1:
Tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, công ty Nobita Việt Nam và công ty Nobi Tathực hiện hoạt động kinh doạnh Công ty Nobita Việt Nam có Giấy phép đầu tư số
Trang 21020/GP-HCM ngày 06/1/2006 và được chuyển đổi theo Giấy chứng nhận đầu tư số
411022000285 ngày 22/7/2008, ngành nghề kinh doanh bao gồm: “Tư vấn và cung cấp các giải pháp an toàn, bao gồm việc tư vấn các kế hoạch an toàn về công nghệ thông tin; các dịch vụ tư vấn về thiết bị an toàn và thiết bị môi trường, bao gồm việc
tư vấn thiết kế giám sát lắp đặt và bảo trì thiết bị.”
Theo GCNĐKKD số 4102049111 ngày 12/4/2007 và Giấy chứng nhận đăng ký doanh
số 0304927572 ngày 08/12/2010 của công ty Nobi Ta, ngành nghề kinh doanh bao
gồm: “Lắp đặt, sửa chữa, bảo trì, mua bán thiết bị phòng cháy, chữa cháy, camera
quan sát, thiết bị báo động – báo cháy, cửa tự động.”
Phía công ty Nobita Việt Nam yêu cầu công ty Nobi Ta phải chấm dứt hành vi sử dụngtên thương mại Công ty Nobita Việt Nam có quyền được bảo vệ tên thương mạikhông? Tại sao?
Trả lời: trước tiên cần xác định hành vi trên có phải là hành vi xâm phạm đến qshcnđối với tên thương mại không, căn cứ k2, đ129,lshtt,
a Xác định và so sánh đối tượng dịch vụ:
- Đối tượng thực hiện dịch vụ A là thiết bị an toàn và thiết bị môi trường
- Đối tượng thực hiện của dịch vụ B là thiết bị phòng cháy chữa cháy, camera quan sát,thiết bị báo động – báo cháy
Thiết bị phòng cháy chữa cháy, camera quan sát, thiết bị báo động – báo cháy có thuộc
về nhóm “thiết bị an toàn” Theo quy định về danh mục hệ thống ngành kinh tế, baogồm Quyết định số 10/2007/QĐ-TTG ngày 23/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ vàQuyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư,thì các hoạt động liên đến “an toàn” đều được xếp vào nhóm ngành cấp 2 có mã số 80(Hoạt động điều tra bảo đảm an toàn) hoặc dẫn từ nhóm ngành này Theo đó, kháiniệm “an toàn” được hiểu bao gồm cả các hoạt động và phương tiện theo dõi, báođộng, báo cháy, cứu hỏa
-> Như vậy, đối tượng thực hiện của dịch vụ A là có bao gồm cả đối tượng thực hiệncủa dịch vụ B
Trang 3b So sánh nội dung hai dịch vụ
- Cả 2 dịch vụ đều có chung đối tượng thực hiện là thiết bị an toàn ( phân tích ở trên)+ công ty Nobita Việt Nam thực hiện “Tư vấn và cung cấp các giải pháp an toàn, baogồm việc tư vấn các kế hoạch an toàn về công nghệ thông tin; các dịch vụ tư vấn vềthiết bị an toàn và thiết bị môi trường, bao gồm việc tư vấn thiết kế giám sát lắp đặt vàbảo trì thiết bị.”
+ Công ty Nobi Ta “Lắp đặt, sửa chữa, bảo trì, mua bán thiết bị phòng cháy, chữacháy, camera quan sát, thiết bị báo động – báo cháy, cửa tự động.”-> tư vấn về thiết bị
an toàn là nhu cầu thường gắn liền với nhu cầu sử dụng dịch vụ lắp đặt,
-> Nói cách khác, dịch vụ B thường có kèm theo dịch vụ A
- Cả 2 dịch vụ đều có chung đối tượng sử dụng (khách hàng) là người có nhu cầu sửdụng các biện pháp bảo đảm an toàn
-> Do đó, dịch vụ A và B có bản chất ngàng nghề tượng tự/có liên quan với nhau
Thêm vào đó, căn cứ điểm b, khoản 1, điều 198,Luật sở hữu trí tuệ, Công ty NobitaViệt Nam có quyền được bảo vệ tên thương mại, có quyền yêu cầu công ty Nobi Taphải chấm dứt hành vi sử dụng tên thương mại
Tình huống 2:
Đầu tháng 1-2018, Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh phát hiện có một công ty cùng kinh doanh trong ngành nhựa, cùng hoạt động tại TP.HCM và có tên thương mại mang hai chữ “Bình Minh” giống mình.
Trang 4Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp này có tên đầy đủ là Công
ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Sản xuất nhựa Ống Bình Minh Theo đó, tên thương mại của công ty này là “Nhựa Ống Bình Minh Điều này rất dễ làm người tiêu dùng lầm lẫn với Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh với tên thương mại là “Nhựa Bình Minh”
Sau khi công ty Nhựa Bình Minh biết được đã gửi thư khuyến cáo tới Công ty Nhựa Ống Bình Minh yêu cầu công ty này chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại và nhãn hiệu “Nhựa Bình Minh” nhưng công ty Nhựa ống Bình Minh đã không chấp nhận Công ty Nhựa Bình Minh khi nhận được công văn phản hồi cho rằng công ty Nhựa ống Bình Minh không hề xâm phạm quyền của Công ty Nhựa Bình Minh và vẫn tiếp tục kinh doanh Biết, công ty Nhựa ống Bình Minh bắt đầu hoạt động vào ngày 22/12/2000 và công ty Nhựa Bình Minh bắt đầu hoạt động vào ngày 11/10/2002.
“2 Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.”
2 Giải quyết tranh chấp trên:
Trang 5Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của công ty Nhựa ống BM đối với quyền sởhữu công nghiệp đối với tên thương mại của mình, công ty Nhựa Bình Minh có quyền:
- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trítuệ
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứthành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại
- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trítuệ
- Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
A Nhận định đúng sai – Tên thương mại
1 Chủ thể sử dụng tên thương mại không có quyền chuyển quyền sử dụng tên thương
mại của mình cho người khác
Trả lời: Đúng Theo Khoản 1 Điều 142 LSHTT thì quyền sử dụng với tên thương mại
không được chuyển chuyển quyền sử dụng cho người khác
2 Thời gian bảo hộ tên thương mại tính từ lúc chủ thể thành lập đến khi chấm dứt sự
tồn tại
Trả lời: Sai Theo Khoản 3 Điều 6 Nghị định 103/2006 thì quyền sở hữu công nghiệp
đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương
mại đó tương ứng với khu vực (lãnh thổ) và lĩnh vực kinh doanh mà không cần thựchiện thủ tục đăng ký., Vì được xác lập trên cở sở sử dụng tên thương mại nê thời hạnbảo hộ chỉ chấm dứt khi không còn sử dụng tên thương mại đó
3 Tên nhãn hiệu là tên thương mại.
Trả lời: Sai Về cơ bản, nhãn hiệu và tên thương mại là hai đối tượng hoàn toàn khác
nhau Tuy nhiên, do những điểm giống nhau nhất định về mặt hình thức mà mọingười vẫn thường nhầm lẫn Để có thể so sánh một cách đầy đủ chúng ta cần phải căn
cứ vào các quy định của pháp luật một cách chặt chẽ nhất
Trang 6- Có khả năng phân biệt.
Khoản 16 điều 4 Luật SHTT năm
2005 sửa đổi bổ sung năm 2009
“Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”
Khoản 21 điều 4 Luật SHTT năm
2005 sửa đổi bổ sung năm 2009
Không bảo hộ những cụm từ, dấuhiệu quy định tại khoản 2 điều 74Luật SHTT
Chỉ là dấu hiệu từ ngữ, không bảo
hộ màu sắc, hình ảnhGồm 2 thành phần:
- Mô tả
- Phân biệt
Số lượng Một chủ thể kinh doanh có thể đăng
ký sở hữu nhiều nhãn hiệu
Một chủ thể sản xuất kinh doanhchỉ có thể có một tên thương mại
Điều kiện Phải đăng ký và được cấp văn bằng
bảo hộ
Chỉ cần sử dụng hợp pháp tênthương mại
Phạm vi
bảo hộ Bảo hộ trên phạm vi toàn quốc
Bảo hộ trong lĩnh vực và khu vựckinh doanh
Thời hạn 10 năm, có thể gia hạn nhiều lần, Bảo hộ không xác định thời hạn,
Trang 7bảo hộ mỗi lần 10 năm chấm dứt khi không còn sử dụng
Chuyển
giao
Nhãn hiệu có thể là đối tượng củahợp đồng chuyển nhượng và hợpđồng chuyển quyền sử dụng
Chỉ có thể là đối tượng của hợpđồng chuyển nhượng với điềukiện là việc chuyển nhượng tênthương mại kèm theo việc chuyểnnhượng toàn bộ cơ sở sản xuấtkinh doanh: không được chuyểnquyền sử dụng
4 Chứng cứ chứng minh chủ thể quyền của tên thương mại là giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh của chủ thể kinh doanh sở hữu tên thương mại đó
Sai Theo điểm c khoản 3 điều 24 NĐ 105/2006 Đối với tên thương mại, chứng cứchứng minh chủ thể quyền là bản mô tả nội dung, hình thức sử dụng và quá trình sửdụng tên thương mại
5, , Người tiêu dùng có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc
người thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại khiến người tiêu dùng bị nhầm lẫn chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
=> Đúng, Căn cứ k2, điều 21, nghị định 54/2000 “ Trong trường hợp xảy ra các hành
vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại hoặc đưa các thông tin sai lạc về tên thương mại, chỉ dẫn sai lạc về nguồn gốc địa lý hàng hoá khiến người tiêu dùng bị nhầm lẫn thì người tiêu dùng có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người thực hiện hành vi trên phải chấm dứt hành vi đó và bồi
thường thiệt hại cho người tiêu dùng.”
6, Trong mọi trường hợp yêu cầu xử lý hành vi canh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại, nghĩa vụ chứng mình cũng thuộc về
tổ chức, cá nhân bị thiệt hại
=> Sai, căn cứ đ25 và đ26 Nghị định 54/2000 thì ngoài tổ chức cá nhân bị thiệt hại còn
có Các hội người tiêu dùng, hội nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân có quyền đại diện cho các hội viên của mình thực hiện quyền nêu tại khoản 1 Điều 25, nd
Trang 8B Tình huống:
Theo GCNĐKKD số 4102006491 được cấp ngày 13/0/2001, Công ty TNHH PhúcSinh (gọi tắt là công ty A), tên giao dịch là PHUC SINH INTERNATIONAL CO.,LTD, ngành nghề kinh doanh: mua bán máy móc, thiết bị - linh kiện điện tử, vật liệu
điện, hàng thủ công mỹ nghệ, lương thực, thực phẩm công nghệ, thực phẩm chế biến, thức ăn gia súc, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, hàng nông sản, sản xuất chế biến
hàng nông sản, gia vị, sản xuất bao bì từ plastic; bán buôn phế liệu, phế thải kim loại,
phi kim loại; đại lý mua bán ký gửi hàng hóa; dịch vụ giao nhận hàng hóa; dịch vụ
thương mại; dịch vụ vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách đường bộ - đường thủy;cho thuê phương tiện vận tải - kho bãi Ngày 31/5/2010 chuyển đổi thành Công ty cổphần Phúc Sinh
Công ty A được cục SHTT cấp GCNĐK NHHH số 73422 theo QĐ số SHTT ngày 06/7/2006, ngày nộp đơn 24/8/2004, có hiệu lực 10 năm kể từ ngày nộpđơn Nhãn hiệu được bảo hộ: PHUC SINH INTERNATIONAL COMPANY LTDkèm theo hình chiếc thuyền; màu sắc nhãn hiệu, loại nhãn hiệu thông thường, nhãnhiệu được bảo hộ tổng thể Danh mục sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu:
6578/QĐ-Nhóm 35: hàng thủ công mỹ nghệ, lương thực, thực phẩm công nghệ, thực phẩm chếbiến, thức ăn gia súc, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, hàng nông sản
Nhóm 39: dịch vụ giao nhận hàng hóa; dịch vụ vận tải hàng hóa, vận chuyển hànhkhách đường bộ - đường thủy, cho thuê phương tiện vận tải - kho bãi
Công ty Cổ phần thương mại xuất nhập khẩu nông sản Phúc Sinh (gọi tắt là công ty B)được Sở Kế hoạch & Đầu tư TP.HCM cấp GCNĐKKD số 4103011956 ngày21/10/2008, tên viết tắt là Psagrimexcorp, tên đối ngoại: Phuc Sinh Agriculture ImportExport Tradde Corporation, ngành nghề kinh doanh: bán buôn nông, lâm sản nguyên
liệu (trừ gỗ, tre, nứa) và động vật sống (trừ kinh doanh động vật hoang dã); bán lẻ lương thực, thực phẩm; bán buôn cà phê, thủy sản, gạo, thực phẩm; sản xuất bột thô;
sản xuất tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột; vận tải hàng hóa; dịch vụ giao nhận hàng
hóa; đại lý ký gửi hàng hóa.
Công ty A cho rằng tên thương mại của Công ty B mặc dù không trùng với tên thươngmại của mình, nhưng phía công ty B sử dụng tên thương mại có thành phần phúc sinh/phuc sinh/phucsinh trùng với tên riêng Phúc Sinh/Phuc Sinh/Phucsinh trong tên
Trang 9thương mại của A đã được sử dụng trước và cho cùng lĩnh vực kinh doanh, chỉ khác ởlĩnh vực buôn bán phế liệu, phế thải kim loại, phi kim loại, nên việc sử dụng tênthương mại của B được xem là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của
A Tuy nhiên, B cho rằng sử dụng tên thương mại trong hoạt động kinh doanh thươngmại và việc sử dụng này là hợp pháp theo sự chấp thuận của Sở Kế hoạch và Đầu tưTP.HCM và B cho rằng tên thương mại của B không có tương tự dẫn đến mức gâynhầm lẫn với tên thương mại của phía A
Công ty B có vi phạm về quyền sở hữu công nghiệp với tên thương mại không? Tạisao?
Trả lời:
* Có hành vi xâm phạm tên thương mại hay không?
Hành vi xâm phạm tên thương mại được quy định tại khoản 2, điều 129, LSHTT vàđiều 13, NĐ 195/2006
- Xét về ngành nghề kinh doanh, cả hai công ty đều buôn bán nông sản thủy sản, Xét
về khu vực kinh doanh-TP HCM
- Xét về tên thươngmại của Công ty A, mặc dù Công ty A tiến hành đổi từ Công tyTNHH Phúc Sinh sang Công ty cổ phần Phúc Sinh nhưng tên thương mại vẫn khôngthay đổi là “Phúc Sinh”
- Việc công ty B sử dụng tên giao dịch có thành phần “Phúc Sinh” trong tên thươngmại trùng với thành phần phân biệt trong tên thương mại của công ty A đã sử dụng từtrước cho cùng loại hình hàng hóa, dịch vụ, nên gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng vềchủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh và cơ sở kinh doanh, đặc biệt là gây ra sựnhầm lẫn cho khách hàng của cả hai bên trong cùng ngành nghề kinh doanh tại cùnglãnh thổ địa lý- TP HCM., nên hành vi này cũng có dấu hiệu tương tự với tên thươngmại được quy định tại Điều 13 ND105/2006/NĐ-CP và khoản 2, điều 129
* Đối với quan điểm của Công ty B: B cho rằng sử dụng tên thương mại trong hoạtđộng kinh doanh thương mại và việc sử dụng này là hợp pháp theo sự chấp thuận của
Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM và B cho rằng tên thương mại của B không có tương
tự dẫn đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của phía A
Trang 10- Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiêp là trên cở sở sử dụng tên thương mại đó(điểm b, khoản 3, điều 6 LSHTT)
Khi tên thương mại của công ty B tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại và nhãnhiệu của công ty A thì bị xem là không có khả năng phân biệt, nên tên thương mại củacông ty B sẽ không được bảo hộ theo quy định tại Điều 76, Điều 78 LSHTT
- Theo K4 D196 LDN 2014 thì Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ cácquyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợpđồng lao động và các nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi Do vậy, công ty Ađược quyền kế thừa đối với thành phần tên riêng Phúc Sinh/Phuc Sinh/PhucSinh củatên thương mại và quyền kế thừa đối với nhãn hiệu theo GCNĐK NHHH số 73422 vàcông ty A cũng đã tiến hành đổi chủ tên chủ sở hữ GCNĐK NHHH là Công ty Cổphần Phúc Sinh
=> Tóm lại, Công ty B xâm phạm đến quyền sở hữu tên thương mại của công ty A
QUYỀN SÁNG CHẾ CÂU 1: Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế xác lập khi nào?
- Khoản 3 điều 6 luật SHTT 2009
Điều 6 Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
3 Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằngbảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tạiLuật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế màCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng,quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăngký;
- Điều 6 khoản 1, Nghị định 103/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
Điều 6 Căn cứ, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp
1 Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu dáng côngnghiệp, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ
quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp Văn bằng bảo hộ cho người
nộp đơn đăng ký các đối tượng đó theo quy định tại Chương VII, Chương VIII vàChương IX của Luật Sở hữu trí tuệ
Trang 11- Thông tư 01/2007 hƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ CP
103/2006/NĐ-Mục 1, chương 1
1.2 Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợpbán dẫn (sau đây gọi là “thiết kế bố trí”), kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệuđược xác lập trên cơ sở quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ về việc cấp văn bằngbảo hộ cho người đăng ký các đối tượng đó
CÂU 2: yếu tố xâm phạm về sáng chế?
Trả lời: Yếu tố xâm phạm quyền đối với sáng chế, thể hiện ở một trong ba dạng sauđây:
1 Sản phẩm hoặc bộ phận (phần) trùng hoặc tương đương với sản phẩm hoặc bộphận (phần) của sản phẩm thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế,
2 Quy trình trùng hoặc tương đương với quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế
3 Sản phẩm hoặc bộ phận (phần) của sản phẩm được sản xuất theo quy trình trùnghoặc tương đương với quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế (Điều 8 Nghị định105/2006/NĐ-CP)
CÂU 3 Những hành vi nào trong việc sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp không bị coi là xâm phạm?
Trả lời: Bên cạnh các hành vi sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp bị coi làhành vi xâm phạm quyền, có những trường hợp ngoại lệ, tuy là hành vi sử dụng đốitượng sở hữu công nghiệp nhưng không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu côngnghiệp, bao gồm:
1 Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được bảo hộ nhằm phục
vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại; nhằm mục đích đánh giá, phân tíchnghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiệnthủ tục xin phép nhập khẩu, sản xuất, lưu hành sản phẩm
2 Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm đã được chủ sở hữucông nghiệp đưa ra thị trường (kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp), trừsản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người đựoc phép của chủ sởhữu nhãn hiệu đưa ra thị trường
3 Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm mục đích duy trìhoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thờinằm trong lãnh thổ Việt Nam
4 Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp do ngưới có quyền sử dụng trước thựchiện
Trang 125 Sử dụng sáng chế do người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thựchiện.
6 Sử dụng thiết kế bố trí khi không biết hoặc không có nghĩa vụ phải biết thiết kế
bố trí đó được bảo hộ
7 Sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu nhãnhiệu đó đã được sự bảo hộ một cách trung thực trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫnđịa lý đó
8 Sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, chất lượng, sốlượng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ
9 Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết hoặc không có nghĩa
vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp
10 Bộc lộ dữ liệu bí mật kinh doanh nhằm bảo vệ công chúng
11 Sử dụng dữ liệu bí mật không nhằm mục đích thương mại
12 Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra một cách độc lập
13 Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩmđựơc phân phối một cách hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không cóthoả thuận nào khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc nguời bán hàng (khoản 2khoản 3 Điều 125 Luật SHTT)
Chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp không có quyền ngăn cấm ngườikhác thực hiện các hành vi trên
CÂU 4 Như thế nào là Hai dấu hiệu kỹ thuật trùng nhau, tương đương?
theo thông tư 11/2015/tt-bkhcn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa nghị định số 99/2013/nđ-cp ngày 29/8/2013 của chính phủ quy định xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Điều 11 Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế
Khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế phải tuân theo quy định tạicác điều 5 và 8 Nghị định 105/2006/NĐ-CP sửa đổi và một số hướng dẫn sau:
1 Sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét được coi là trùng hoặc tươngđương với sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình được bảo hộ theo một điểm nào đó(độc lập và phụ thuộc) của yêu cầu bảo hộ thuộc Bằng độc quyền sáng chế/Bằng độcquyền giải pháp hữu ích nếu tất cả các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật cơ bản được nêutrong điểm đó đều có mặt trong sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét dướidạng trùng hoặc tương đương, trong đó:
a) Hai dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật được coi là trùng nhau nếu dấu hiệu đó có cùngbản chất, cùng mục đích sử dụng, cùng cách thức đạt được mục đích và cùng mối quan
hệ với các dấu hiệu khác nêu trong yêu cầu bảo hộ;
Trang 13b) Hai dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật được coi là tương đương với nhau nếu có bảnchất tương tự nhau hoặc có thể thay thế cho nhau, có mục đích sử dụng và cách thức
để đạt được mục đích sử dụng cơ bản giống nhau
2 Nếu sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét không chứa ít nhất một dấuhiệu (đặc điểm) kỹ thuật cơ bản nêu trong một điểm nào đó của yêu cầu bảo hộ thì sảnphẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét được coi là không trùng/không tươngđương với sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình được bảo hộ theo điểm đó
CÂU 5: Sự khác nhau về việc bảo hộ bản viết về phát minh, phát hiện và bảo hộ sáng chế
Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện theo
cơ chế quyền tác giả, đó là pháp luật không ngăn cấm người khác quyền sử dụng bảnthân phát minh và phát hiện, nhưng lại ngăn cấm hành vi của người khác sửa chữa,thay đổi, xuyên tạc bản thân phát minh và phát hiện
Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ sáng chế theo cơ chế quyền sở hữu côngnghiệp, đó là pháp luật ngăn cấm người khác quyền sử dụng sáng chế trong thời hạn
và trên lãnh thổ được bảo hộ nếu chưa được phép của chủ sở hữu sáng chế
Quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả phát minh và phát hiện tồn tạivĩnh viễn, bao gồm: Quyền đặt tên cho phát minh và phát hiện; quyền đứng tên đối vớiphát minh và phát hiện; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện Trongkhi đó, quyền nhân thân của tác giả sáng chế chỉ bao gồm: Được ghi tên là tác giảtrong Bằng độc quyền sáng chế; quyền được nêu tên trong các tài liệu công bố, giớithiệu về sáng chế
Như vậy, trong trường hợp đã chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc chuyểnquyền sử dụng sáng chế, thì tác giả của sáng chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữumới hoặc người sử dụng mới quyền cải tiến sáng chế mà mình là tác giả Quy định nàytrái ngược hoàn toàn với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện đối vớitác giả của chúng
CÂU 6.Chủ sáng chế liên quan đến dược phẩm được bảo hộ có quyền cho phép
hoặc không cho phép người khác sử dụng, hoặc khai thác sáng chế liên quan đến dượcphẩm đã được bảo hộ của mình? Nhận định này đúng hay sai, vì sao?
Về quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế được bảo hộ, chủ sáng chế liên quanđến dược phẩm được bảo hộ có quyền cho phép hoặc không cho phép người khác sửdụng, hoặc khai thác sáng chế liên quan đến dược phẩm đã được bảo hộ của mình Tuynhiên, có một số ngoại lệ mà người khác có thể sử dụng, hoặc khai thác, mà không cần
Trang 14sự đồng ý của sở hữu hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng theo hợp đồng độcquyền Các trường hợp này bao gồm:
- Việc sử dụng sáng chế liên quan đến dược phẩm đang được bảo hộ nhân danh Nhànước, nhằm mục đích phòng, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân và đáp ứng các nhucầu cấp thiết khác của xã hội
- Sử dụng hoặc khai thác sáng chế liên quan đến dược phẩm đang được bảo hộ củabên thứ ba theo li-xăng cưỡng bức được Nhà nước cấp
- Nhập khẩu các sản phẩm: dược phẩm, các hoạt chất hoặc hỗn hợp để bào chếthuốc đang được bảo hộ theo sáng chế Các sản phẩm này phải được chủ sở hữu li-xăng đưa ra thị trường nước ngoài một cách hợp pháp (nhập khẩu song song)
- Sử dụng sáng chế này cho mục đích cá nhân hoặc các mục đích phi thương mại.Quy định về các ngoại lệ nói trên của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam phù hợp với cácquy định tương ứng của Hiệp định về Các khía cạnh Thương mại của Quyền Sở hữu trítuệ (TRIP), cũng như nội dung của Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIP và sức khỏecộng đồng 14.11.2001
Có thể trả lời như thế này nữa này:
Trong quá trình đàm phán Hiệp định TRIPS, các nước đang phát triển giữ quanđiểm rằng do tính quan trọng của dược phẩm, việc bảo hộ sáng chế với dược phẩm sẽdẫn đến sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu” ảnh hưởng đến phúc lợi chung của xãhội Tuy nhiên, trước sức ép đến từ các nước phát triển, các quốc gia đang phát triển
đã không thành công trong việc bảo vệ quan điểm của mình Theo đó, quy định tạiĐiều 27 Hiệp định đã ràng buộc các quốc gia thành viên của WTO phải bảo hộ và thựcthi quyền đối với sáng chế trong cả lĩnh vực dược phẩm
Để hạn chế sự làm dụng độc quyền của chủ sở hữu, Điều 30 Hiệp định TRIPS quyđịnh trường hợp ngoại lệ, cho các phép thành viên quyền sử dụng sáng chế được bảo
hộ khi đáp ứng một số điều kiện nhất định Theo đó, các thành viên WTO có thể quyđịnh các hành vi sử dụng sáng chế nếu đáp ứng được cả ba điều kiện sau thì không bịcoi là vi phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế Cụ thể là:
(i) hành vi đó phải có giới hạn (limited);
(ii) hành vi đó không được xung đột bất hợp lý với việc khai thác bình thường(normal exploitation) của sáng chế; và
(iii) hành vi đó không được làm tổn hại một cách bất hợp lý tới lợi ích hợp pháp(legitimate interests) của chủ sở hữu sáng chế cũng như lợi ích hợp pháp của bên thứ
ba
Câu 7: Trong trường hợp sáng chế được tạo ra trên cơ sở Nhà nước góp vốn thì
phần quyền đăng ký sáng chế tương ứng với tỉ lệ vốn góp hay thấp hơn Nếu thấp, sẽ
Trang 15thấp hơn bao nhiêu? Và ai sẽ là người có trách nhiệm thực hiện quyền đăng ký nóitrên?
Điều 9 Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định như sau:
1 Trong trường hợp sáng chế được tạo ra trên cơ sở Nhà nước đầu tư toàn bộ kinhphí, phương tiện vật chất - kỹ thuật, quyền đăng ký sáng chế thuộc về Nhà nước Tổchức, cơ quan nhà nước được giao quyền chủ đầu tư có trách nhiệm đại diện Nhà nướcthực hiện quyền đăng ký nói trên;
2 Trong trường hợp sáng chế được tạo ra trên cơ sở Nhà nước góp vốn (kinh phí,phương tiện vật chất - kỹ thuật), một phần quyền đăng ký sáng chế tương ứng với tỷ lệgóp vốn thuộc về Nhà nước Tổ chức, cơ quan nhà nước là chủ phần vốn đầu tư củaNhà nước có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện phần quyền đăng ký nói trên
3 Trong trường hợp sáng chế được tạo ra trên cơ sở hợp tác nghiên cứu - phát triểngiữa tổ chức, cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân khác, nếu trong thoả thuận hợptác nghiên cứu - phát triển không có quy định khác thì một phần quyền đăng ký sángchế tương ứng với tỷ lệ đóng góp của tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc hợp tác đó,thuộc về Nhà nước Tổ chức, cơ quan nhà nước tham gia hợp tác nghiên cứu - pháttriển có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký nói trên
4 Tổ chức, cơ quan nhà nước thực hiện quyền đăng ký sáng chế quy định tại khoản
1, khoản 2 và khoản 3 nói trên đại diện nhà nước đứng tên chủ Văn bằng bảo hộ vàthực hiện việc quản lý quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng đó, có quyềnchuyển nhượng phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trícủa Nhà nước cho tổ chức, cá nhân khác với điều kiện tổ chức, cá nhân nhận chuyểnnhượng phần quyền đăng ký phải trả cho Nhà nước một khoản tiền hoặc các điều kiệnthương mại hợp lý khác so với tiềm năng thương mại của sáng chế
Câu 8:
Tại điều 18.37.2 của Hiệp định TPP, chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế, cụ thể làmột số doanh nghiệp sản xuất dược phẩm, có thể kéo dài thời hạn 20 năm độc quyềnlên gấp nhiều lần bằng phương thức có tên gọi là “evergreening”
Nhận xét của bạn về quy định này của TPP có hợp lý hay không? Quy định này cóảnh gì đến ngành công nghiệp sản xuất dược phẩm của Việt Nam hiện nay?
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “evergreening”, tuy nhiên, có thể hiểu
“evergreening” là phương thức được chủ sở hữu sử dụng để kéo dài thời gian được bảo
hộ độc quyền sáng chế nhờ việc tạo ra một thay đổi nhỏ đối với sáng chế mà thậm chíkhông làm tăng thêm giá trị sử dụng của sáng chế đó.[4] Ví dụ, trong trường hợp muốnkéo dài thời hạn bảo hộ sáng chế của một sản phẩm thuốc biệt dược, khi sắp hết thờihạn bảo hộ, chủ sở hữu tiếp tục nộp đơn yêu cầu bảo hộ cho một công dụng mới củaloại thuốc đó, một dạng bào chế mới, hoặc một một cách sử dụng mới Đối với dượcphẩm, ngay cả người không có chuyên môn trong lĩnh vực này cũng biết rằng, một loại
Trang 16thuốc hoàn toàn có thể có nhiều công dụng, nhiều dạng bào chế, và nhiều cách sử dụngkhác nhau.
Như vậy, quy định tại Điều 18.37.2 Hiệp định TPP rõ ràng đã tạo điều kiện vô cùngthuận lợi cho chủ sở hữu sáng chế nói chung, đặc biệt là chủ sở hữu sáng chế dượcphẩm thực hiện phương thức “evergreening” Bằng cách tạo ra những thay đổi nhỏ đốivới loại thuốc đã được bảo hộ (ví dụ sản xuất thuốc dạng nước thay vì dạng viên cứngnhư trước đây hoặc sử dụng bằng đường uống thay vì đường tiêm,…) từ đó thời hạnbảo hộ độc quyền đối với một loại thuốc có thể bị kéo dài thêm nhiều lần so với thờihạn 20 năm ban đầu
Như một hệ quả tất yếu của việc thời hạn bảo hộ bị kéo dài thêm nhiều lần, không
có bất kỳ một doanh nghiệp dược phẩm nào được quyền sản xuất thuốc gốc nếu sángchế được bổ sung thêm một công dụng, một dạng bào chế mới hoặc một cách dùngmới vào thời điểm nó gần hết thời hạn bảo hộ, các doanh nghiệp sản xuất thuốc gốc sẽphải chờ một khoảng thời gian dài gấp nhiều lần 20 năm, mới có thể sản xuất thuốcgốc Do đó, nếu TPP được vận hành, quy định tạo điều kiện cho phương thức kéo dàithời hạn bảo hộ tại Điều 18.37.2 sẽ được Việt Nam nội luật hóa, ngành công nghiệpsản xuất thuốc gốc và thuốc tương tự sinh học, vốn chiếm tỷ trọng lớn trong ngànhcông nghiệp sản xuất dược phẩm của Việt Nam, sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Ở Việt Nam, công nghiệp dược vẫn phát triển ở mức độ trung bình - thấp, chưasáng chế được thuốc mới và hiện chỉ có khoảng hơn 52% doanh nghiệp dược đủ tiêuchuẩn sản xuất thuốc Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là thuốc đồng dạng(generic); không có giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nộiđịa Nguyên liệu phải nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Ấn Độ, khiến cho các doanhnghiệp dược trong nước phải đối mặt với các khó khăn về giá Trình độ công nghệthấp trong khi nguồn nhân lực có trình độ ít, cản trở việc tiếp cận công nghệ, cải thiệnquy mô sản xuất của công nghiệp dược trong nước Bên cạnh đó, đặc biệt quan trọngtrong lĩnh vực bảo hộ sáng chế dược phẩm là cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sángchế và lợi ích của xã hội, lợi ích quốc gia là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt quá trìnhxây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như thực thi pháp luật trên thực tế Việc tangcường bảo hộ mạnh quyền sở hữu trí tuệ khi VN hội nhập sâu vào quá trình toàn cầuhóa sẽ mang đến cho VN nhiều thách thức hơn là cơ hội
Tình huống:
Kỹ sư Thành đã nghĩ ra một loại đầu bút bi đặc biệt khiến bi trơn hơn và ra mực đềuhơn Anh đã đăng ký bảo hộ phát minh của mình Điểm mấu chốt của phát minh này làtạo một khoảng trống giữa viên bi và đầu bút bi Anh Mạnh cho rằng việc thông khíhai đầu của một chất lỏng ( mực) khiến chất lỏng chảy đều hơn là chuyện trong nghề aicũng biết Hơn nữa, anh Thành đã thông báo về phát minh của mình trước khi đăng ký
Trang 17bảo hộ Vì vậy phát minh của anh Thành không còn tính mới đối với thế giới nữa vàkhông còn khả năng được bảo hộ Anh Mạnh có lý không? Tại sao?
Trả lời:
1 Về tình huống
Theo nhóm, phát hiện của anh Thành là một giải pháp kỹ thuật, không nên gọi làphát minh như trong tình huống, bởi phát minh là từ chỉ việc tìm ra những sự vật, hiệntượng, quy luật có sẵn trong tự nhiên nhưng trước đó con người chưa biết tới Còn giảipháp kỹ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người, không hề có sẵn trong tự nhiên Vìvậy mà loại đầu bút bi đặc biệt này- một thành quả lao động sáng tạo trí tuệ được coi
là một giải pháp kỹ thuật Chúng ta đi xem xét xem giải pháp này có được coi là mộtsáng chế không và có được bảo hộ dưới dạng sáng chế hay không?
2 Sáng tạo về đầu bút bi đặc biệt của anh Thành NẰM NGOÀI các đối tượngkhông được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế
Theo điều 59 luật SHTT về đối tượng không dược bảo hộ với danh nghĩa sáng chế.3.Giải pháp của anh Thành không đảm bảo có trình độ sáng tạo, không được bảo hộdưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế
3.1 Anh Mạnh có lý khi cho rằng việc thông khí hai đầu của một chất lỏng khiếnchất lỏng chảy đều hơn là chuyện trong nghề ai cũng biết Theo quy định của điều 61luật SHTT có thể thấy do phát hiện của anh Thành dựa trên giải pháp kỹ thuật có sẵntrước đó mà cải tiến đi làm ưu việt hơn, hiệu quả hơn chứ chưa phải là một bước tiếnsáng tạo vượt trội hơn hẳn so với trình độ kỹ thuật hiện tại và người trình độ trung bìnhtrong nghề ai cũng có thể dễ dàng biết được nên giải pháp kỹ thuật của anh Thành vềđầu bút bi đặc biệt không được coi là có trình độ sáng tạo
3.2 Điều này liên quan đến điều kiện bảo hộ đối với sáng chế (điều 58 luật SHTT).Trong đó, sáng chế phải đảm bảo có trình độ sáng tạo, có tính mới và khả năng ápdụng công nghiệp mới được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế
=> Giải pháp kỹ thuật về đầu bút bi đặc biệt của anh Thành không được bảo hộ dướihình thức cấp bằng độc quyền sáng chế do không đảm bảo có trình độ sáng tạo
4 Xem xét tính mới của giải pháp của anh Thành
Trang 18Theo như lời anh Mạnh thì anh Thành đã thông báo về đầu bút bi đặc biệt này trướckhi nộp đơn xin bảo hộ sáng chế
4.1 Trường hợp anh Thành thông báo cho một số người bạn có hạn được biết và họ
có nghĩa vụ giữ bí mật
Theo khoản 2 điều 60 luật SHTT, giải pháp kỹ thuật này của anh Thành được coi làchưa bị bộc lộ công khai và vẫn đảm bảo tính mới Thêm vào đó, đầu bút bi đó có khảnăng áp dụng công nghiệp (điều 62 luật SHTT) nên theo khoản 2 điều 58 luật SHTTthì giải pháp kỹ thuật này được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháphữu ích
4.2 Trường hợp anh Thành công bố về giải pháp của mình dưới dạng báo cáo khoahọc hoặc trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại triển lãm quốc tếchính thức hoặc được thừa nhận là chính thức đồng thời đơn đăng ký bảo hộ được nộptrong thời hạn 6 tháng kể từ ngày công bố
Theo tiết b, c khoản 3 điều 60 luật SHTT thì trong trường hợp này đàu bút bi đặcbiệt ,mà anh Thành sáng tạo ra vẫn đảm bảo tính mới đồng thời đảm bảo có khả năng
áp dụng công nghiệp (điều 62 luật SHTT) nên được bảo hộ dưới hình thức cấp bằngđộc quyền giải pháp hữu ích (khoản 2 điều 58 luật SHTT)
4.3 Việc anh Thành thông báo về đầu bút bi đặc biệt của mình nằm ngoài 2 trườnghợp nêu trên
Giải pháp kỹ thuật đó không đảm bảo tính mới nên sẽ không được bảo hộ sáng chế
5 Trường hợp anh Thành đã gửi đơn xin cấp bằng bảo hộ sáng chế cho giải phápcủa mình tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp
Sau khi cơ quan có thẩm quyền thẩm định và đánh giá thấy giải pháp đó không đủđiều kiện bảo hộ dưới hình thức sáng chế nhưng vẫn đủ điều kiện được bảo hộ dướihình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích (khoản 2 điều 58 luật SHTT), thì cơquan có thẩm quyền sẽ trả lại đơn yêu cầu cấp bằng sáng chế và kèm theo là bảnhướng dẫn đăng kí cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho anh Thành
Nhận định:
1 Quy định về Thời hạn bảo hộ của quyền liên quan đối với các đối tượng của
Trang 19quyền liên quan là giống nhau.
Sai: Thời hạn bảo hộ của quyền liên quan tùy thuộc vào từng loại đốitượng cụ thể
Điều 34 Thời hạn bảo hộ quyền liên quan (LUẬT SHTT 2009)
1 Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếptheo năm cuộc biểu diễn được định hình
2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi nămtính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo nămbản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được côngbố
3 Quyền của tổ chức phát sóng được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếptheo năm chương trình phát sóng được thực hiện
4 Thời hạn bảo hộ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chấm dứt vàothời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ cácquyền liên quan
2 Chỉ những cuộc biểu diễn được thực hiện ở Việt nam mới được bảo hộ theo
Luật SHTT Việt Nam
Sai Theo khoản 1 điều 17 Luật sở hữu trí tuệ
Tình huống 1:
Một nhóm những người yêu điện ảnh ở Phú Yên đã tự lập ra một trang web để chia
sẻ các bộ phim mới nhất, kèm theo những giới thiệu và bình luận của các thành viêntrong nhóm Các bạn trẻ đưa rất nhiều bộ phim lên trang web này, phần lớn phim docác thành viên nhóm tự sưu tầm ( thường được tải từ nhiều trang mạng xem phim trựctuyến) Trang web của nhóm hoạt động với mục đích phi thương mại, không có lợinhuận cũng không có quảng cáo Sau một năm hoạt động, nhóm này bị nhiều công tykinh doanh điện ảnh với tư cách là chủ sở hữu của các bộ phim trên tố cáo đến các cơquan chức năng là xâm phạm quyền tác giả và yêu cầu nhóm này chấm dứt việc đưaphim lên trang web trên và phải bồi thường thiệt hại
Trang 20 Theo quy định tại khoản 10 điều 28 luật sở hữu trí tuệ quy định về hành
vi được coi là xâm phạm quyền tác giả như sau: "Nhân bản, sản xuất bản sao, phânphối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông
và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả".Như vậy việc một câu lạc bộ của những ngừoi yêu điện ảnh trẻ ở thành phố Hồ ChíMinh đã đăng tải những phim ảnh tự sưu tầm lên trang web tự tạo mà không được
sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả của những tác phẩm này thì được coi làhành vi vi phạm quyền sở hữu cho dù mục đích của họ là phi thương mại và không
có quảng cáo
Về nguyên tắc xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại thì tòa sẽ xem xét
và căn cứ vào mức thiệt hại cụ thể mà nhóm người trong câu lạc bộ này đã gây racho người chủ sở hữu quyền tác giả của những bộ phim đã đăng theo quy định tạiđiều 204 và điểu 205 luật sở hữu trí tuệ quy định như sau:
Điều 204 Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1 Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thunhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắcphục thiệt hại;
b) Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín,danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm vănhọc, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng côngnghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng
2 Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thểquyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.Điều 205 Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữutrí tuệ
Trang 211 Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sởhữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyếtđịnh mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:
a) Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đãthu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận
bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;
b) Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơnđược nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụngđối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thựchiện;
c) Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vậtchất theo các căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì mức bồi thườngthiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưngkhông quá năm trăm triệu đồng
2 Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sởhữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyếtđịnh mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng,tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại
3 Ngoài khoản bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, chủthể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án buộc tổ chức, cá nhân có hành vixâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư
Tình huống 2:
Ca sĩ Bích Nga ký hợp đồng thu thanh với Công ty Nghi Thành Audio - Video, theo
đó, Công ty có quyền sản xuất băng đĩa chọn lọc giọng hát của cô và ca sĩ Bích Ngađược nhận thù lao theo thỏa thuận Công ty Nghi Thành sau đó cho phép Công ty –TúNguyệt là chủ sở hữu website nghe nhạc trực tuyến nhacso.net được sử dụng các bảnghi âm của họ (trong đó có đĩa ca nhạc chọn lọc giọng hát của cô Nga); đồng thời kýhợp đồng cho phép một số nhà mạng viễn thông được sử dụng bản ghi âm này để làm
Trang 22nhạc chuông, nhạc chờ điện thoại Ca sĩ Bích Nga yêu cầu Công ty Tú Nguyệt và cáccông ty viễn thông phải trả thù lao cho cô do việc sử dụng bản ghi có giọng hát của côvào hoạt động kinh doanh, thương mại nhưng các công ty này cho rằng họ đã trả tiềncho Công ty Nghi Thành- là chủ sở hữu băng đĩa, vì vậy, không phải trả tiền cho ngườibiểu diễn nữa Theo các bạn, việc công ty Tú Nguyệt và các công ty viễn thông khôngtrả tiền cho ca sĩ Bích Nga có phù hợp với pháp luật sở hữu trí tuệ hay không?
Phân tích vụ việc trong tình huống trên ta thấy, ca sĩ Bích Nga là chỉ là người biểudiễn, còn chủ đầu tư việc thu thanh, sản xuất băng đĩa chọn lọc giọng hát của ca sĩBích Nga là Công ty Nghi Thành Audio vì thế Công ty Nghi Thành Audio là chủ sởhữu bản ghi âm, ghi hình này, đồng thời cũng chính là nhà sản xuất bản ghi âm, ghihình (sản xuất những băng đĩa chọn lọc giọng hát của ca sĩ Bích Nga) Theo khoản 1Điều 29 Luật SHTT thì ca sĩ Bích Nga có có các quyền nhân thân, tức là được giớithiệu tên khi phát hành bản ghi; bảo vệ sự tòan vẹn hình tượng biểu diễn, không chongười khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phươnghại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn Còn Công ty Nghi Thành Audio có cácquyền tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật SHTT và các quyền của nhà sảnxuất ghi âm, ghi hình được quy định tại Điều 30 Luật SHTT, tức là có quyền định hìnhcuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi; sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộcbiểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình; phát sóng hoặc truyềntheo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà côngchúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn nhằm mục đích phát sóng;phân phối đến công chúng bản gốc hoặc bản sao cuộc biểu diễn của mình thông quahình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà côngchúng có thể tiếp cận được
Về phía công ty Tú Nguyệt- chủ sở hữu website nghe nhạc trực tuyến nhacso.net vàcác công ty viễn thông, đây là những tổ chức đã sử dụng quyền liên quan vào mục đíchkinh doanh, thương mại nên những chủ thể này không phải xin phép sử dụng mà chỉphải trả tiền thù lao Vậy chủ thể nào có được nhận tiền thù lao??? Theo quy định tạiĐiều 33 Luật SHTT thì những tổ chức này khi sử dụng quyền liên quan thì không phảixin phép nhưng phải trả tiền thù lao theo thỏa thuận cho“tác giả, chủ sở hữu quyền tácgiả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng” Với quy
Trang 23định của điều luật này thì công ty Tú Nguyệt và các công ty viễn thông phải trả tiềnthù lao cho Công ty Nghi Thành Audio- nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và ca sĩBích Nga- người biểu diễn
Tuy nhiên, nếu theo Điều 29 Luật SHTT, thì công ty Tú Nguyệt và các công ty viễnthông không phải trả tiền thù lao cho ca sĩ Bích Nga Vì theo quy định của Điều 29Luật SHTT thì trong trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thựchiện cuộc biểu diễn đó thì họ chỉ có quyền nhân thân đối với cuộc biểu diễn, chủ đầu
tư sẽ có các quyền tài sản, trong đó có quyền định hình, sao chép, phát sóng bản ghicuộc biểu diễn Do đó, ca sĩ Bích Nga chỉ là người biểu diễn, cô ký hợp đồng với công
ty Nghi Thành Audio để đến ghi âm, ghi hình và đã được phía công ty trả tiền thù lao,
vì vậy, bản ghi âm, ghi hình này thuộc sở hữu của nhà sản xuất- Công ty Bến ThànhAudio Vì vậy, họ có quyền tài sản đối với những bản ghi đó, ca sĩ Bích Nga chỉ cóquyền nhân thân, nên họ là chủ thể duy nhất được tự do kinh doanh và thu tiền từnhững các nhân, tổ chức sử dụng bản ghi của họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Cụ thể trong tình huống trên, phía công ty Nghi Thành Audio có quyền ký hợp đồngvới công ty Tú Nguyệt và các công ty viễn thông cho phép sử dụng bản ghi những bàihát của ca sĩ Bích Nga vào mục đích kinh doanh cá nhân đề thu lợi nhuận cũng nhưthu lại nguồn đầu tư ban đầu Như vậy, trong cùng một văn bản luật đã có sự quy địnhchồng chéo và mâu thuẫn với nhau Do đó, việc công ty Tú Nguyệt và các công ty viễnthông không đồng ý trả tiền thù lao cho ca sĩ Bích Nga mà chỉ trả tiền cho công Công
ty Bến Thành Audio- Video là không sai Và yêu cầu của ca sĩ Bích Nga cũng khôngtrái với quy định của pháp luật Vì như đã nói ở trên, với tư cách là người biểu diễn, do
đó ca sĩ Bích Nga có quyền yêu cầu công ty Tú Nguyệt- chủ sở hữu website nghe nhạctrực tuyến nhacso.net và các công ty viễn thông phải trả thù lao cho cô do việc sử dụngbản ghi có giọng hát của cô vào hoạt động kinh doanh, thương mại Bởi theo quy địnhkhoản 1 Điều 33 Luật SHTT: tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công
bố trong trường hợp: 1) nhằm mục đích thương mại để phát sóng; 2) trong hoạt độngkinh doanh thương mại thì không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù laotheo thỏa thuận cho “tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuấtbản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng” Theo đó, công ty Tú Nguyệt và các công tyviễn thông đã sử dụng quyền liên quan vào mục đích kinh doanh, thương mại, thu lợi
Trang 24nhuận, vì vậy, việc ca sĩ Bích Nga yêu cầu các tổ chức trên phải thanh toán tiền thù laocho cô là phù hợp với quy định của pháp luật
>>>>>>Như vậy, mặc dù đã có những sửa đổi, bổ sung Luật SHTT vào năm 2009,
cụ thể là việc sửa đổi Điều 33 Luật SHTT để tương thích với quy định của các điềuước quốc tế: Điều 11 bis Công ước Berne, Công ước Geneva Tuy nhiên, quy định củaĐiều 33 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung vẫn còn gây nhiều tranh cãi mà đã được
đề cập ở trên Trong tình huống trên, ca sĩ Bích Nga ký hợp đồng thu thanh với Công
ty Nghi thành Audio- Video, theo đó, Công ty có quyền sản xuất băng đĩa chọn lọcgiọng hát của cô và ca sĩ Bích Nga được nhận thù lao theo thỏa thuận Theo quan điểm
cá nhân, em đồng ý với hướng giải quyết của công ty Tú Nguyệt và các công ty viễnthông Tức là công ty Tú Nguyệt và các công ty viễn thông không chấp nhận yêu cầucủa ca sĩ Bích Nga vì cho rằng họ đã trả tiền cho Công ty Nghi Thành Audio- Video.Bởi, trong trường hợp trên, ca sĩ Bích Nga không phải là chủ đầu tư của cuộc biểu diễn(chủ đầu tư sản xuất những băng đĩa chọn lọc có giọng hát của cô), do đó, ca sĩ BíchNga giống như “những người làm thuê”, cô đã được Công ty Nghi Thành Audio-Video (chủ đầu tư) trả thù lao xứng đáng Vì vậy, ca sĩ Bích Nga chỉ còn các quyềnnhân thân; quyền khai thác tác phẩm, cuộc biểu diễn thuộc về Công ty Nghi ThànhAudio- Video (chủ sở hữu quyền liên quan) Nên khi khi công ty Tú Nguyệt và cáccông ty viễn thông sử dụng các bản ghi có giọng hát của ca sĩ Bích Nga vào mục đíchkinh doanh thương mại của mình sau khi được Công ty Nghi Thành Audio- Video chophép (sử dụng theo hình thức “thứ cấp”) thì ca sĩ Bichs NGa không được hưởng tiềnthù lao nữa, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Ví dụ: trong bản hợp đồng thu thanhgiữa ca sĩ Bích Nga và Công ty Nghi Thành Audio- Video giao kết có điều khoản quyđịnh: Trong trường hợp công ty Nghi Thành Audio- Video cho cá nhân, tổ chức khác
sử dụng bản ghi có giọng hát của cô thu thanh thì phía cá nhân, tổ chức đó phải trảthêm tiền thù lao cho cô hoặc trong bản hợp đồng Công ty Nghi Thành Audio- Videogiao kết với công ty Tú Nguyệt cũng như trong bản hợp đồng giữa công ty Nghi ThànhAudio- Video giao kết với các công ty viễn thông có điều khoản quy định khi các công
ty này sử dụng bản ghi có giọng hát của ca sĩ Bích Nga thì phải trả tiền thù lao cho ca
sĩ BN Ngoài ra, với cách giải quyết như trên sẽ đảm bảo sự cân bằng lợi ích của ca sĩ
BN (người biểu diễn), Công ty Nghi Thành Audio- Video (nhà sản xuất bản ghi) cũngnhư công ty Tú Nguyệt và các công ty viễn thông (người sử dụng) Bởi nếu bắt công ty