A là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm X không may bị tai nạn qua đời, vì tác phẩm được rất nhiều độc giả yêu thích nên B đã viết tiếp theo cốt truyện của anh A. Những người thừa kế quyền tác giả của anh A không đồng ý vì cho rằng như thế là vi phạm quyền tác giả. Còn B cho rằng mình có quyền tác giả đối với phần viết mới này, phần này độc lập với phần của anh A và được độc giả cũng rất yêu thích. Tranh chấp xảy ra. Theo anh (chị) anh B có vi phạm quyền tác giả của anh Anh A không. Tranh chấp
Trang 1BÀI TẬP TÌNH HUỐNG MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Tình huống 1: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả
A là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm X không may bị tai nạn qua đời, vì tác phẩm được rất nhiều độc giả yêu thích nên B đã viết tiếp theo cốt truyện của anh A Những người thừa kế quyền tác giả của anh A không đồng ý vì cho rằng như thế là vi phạm quyền tác giả Còn B cho rằng mình có quyền tác giả đối với phần viết mới này, phần này độc lập với phần của anh A và được độc giả cũng rất yêu thích Tranh chấp xảy ra
Theo anh (chị) anh B có vi phạm quyền tác giả của anh Anh A không Tranh chấp này được giải quyết thế nào, vì sao?
Bài làm:
Về luật điều chỉnh
Anh B là cá nhân Việt Nam, đáp ứng các điều kiện về năng lực theo Bộ luật dân sự anh A cũng là cá nhân Việt Nam, là tác giả tác phẩm X và cũng thỏa mãn điều kiện về năng lực Đối tượng tranh chấp là quyền tác giả đối với tác phẩm X Do đó tranh chấp này thuộc điều chỉnh của Điều 1, 2 Luật Sở hữu trí tuệ
Do đó có thể thấy rằng A và B không là đồng tác giả (Điều 38 Luật Sở hữu trí tuệ)
Về tính độc lập của tác phẩm
Tác phẩm của A và B, có thể có sự liên quan về nội dung; nhưng bản chất, đây là vẫn
là 2 tác phẩm hoàn toàn riêng biệt, nếu bỏ đi phần này thì phần kia vẫn có giá trị nghệ thuật
và giữ được bản chất sử dụng của nó, giữa hai phần này không hề có sự phụ thuộc về nội dung và giá trị sử dụng Ngoài ra, tác phẩm của B không phải là tác phẩm dịch hay phóng tác, cải biên… từ tác phẩm của A nên cũng không phải là tác phẩm phải sinh B là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm một cách độc lập và là tác giả của tác phẩm phần sau
Do đó có thể nói rằng đây là 2 tác phẩm độc lập và B có quyền tác giả đối với tấc phẩm của minh
Cơ sở pháp lý: K1 Đ13 Luật Sở hữu trí tuệ
Về việc B có vi phạm quyền tác giả không?
Thứ nhất, cần xác định xem B có sử dụng tác phẩm của A hay không? Việc sử dụng
là việc khai thác 1 trong các quyền TS của tác phẩm như sao chếp, biểu diễn, truyền đạt…
1
Trang 2Tuy nhiên, như đã phân tích, tác phẩm B được tạo ra độc lập, không hề có sự làm tác phẩm phái sinh hay sao chép gì ở đây cả, do đó B không hề sử dụng tác phẩm của A
Cơ sở pháp lý: K1, K3 Đ20 Luật Sở hữu trí tuệ
Thứ hai, cần xác định hành vi của B có xâm phạm quyền tác giả của A không? các hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định trong luật như chiếm đoạt, sử dụng, công
bố, làm tác phẩm phái sinh… tuy nhiên, việc làm tác phẩm của B hoàn toàn độc lập và không thuộc bất kỳ điểm nào trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả
Cơ sở pháp lý: điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ
Do đó có thể kết luận rằng, hành vi của B là không hề vi phạm quyền tác giả của A Tính mới là sự khác biệt đáng kể so với nhưng tác phẩm đã có sẵn Việc tính mới trong tác phẩm không được dùng là dk để tác phẩm được thừa nhận bảo hộ bởi các lý do sau:
Thứ nhất, về tính ứng dụng Đối với các sự sáng tạo khác, chẳng hạn sáng chế Tính
ứng dụng của sáng chế là rất lớn khi giải quyết được 1 vấn đề kỹ thuật Trong khi đó, nhìn vào các loại hình tác phẩm được bảo vệ, có thể thấy chúng mang tính nghệ thuật hoặc thiên
về lý thuyết nhiều hơn Tính ứng dụng càng cao, càng đỏi hỏi sự sáng tạo, mới mẻ của nó, trong khi đó, tác phẩm không thiên về tính ứng dụng mà mang tính giải trí nhiều hơn, do
đó tính mới của tác phẩm không thực sự quan trọng
Thứ hai, mục đích sử dụng tác phẩm như đã nói mang tính giải trí nhiều hơn, do đó
mỗi cá nhân tạo ra tác phẩm chắc chắn sẽ rất đa dạng, việc trung lặp hoàn toàn ý tưởng là rất khó xảy ra, nên có thể thấy rằng tính mới luôn xuất hiện trọng tác phẩm Ngoài ra, tác phẩm còn có tính kế thừa, do đó việc tác phẩm có trung lại 1 vài ý tường cũng không là vấn đề, càng nhiều tác phẩm thì món ăn tinh thần càng phong phú; càng tốt
Do đó không có lý do gì lại dùng tính mới để hạn chế sự bảo hộ tác phẩm cả
Tình huống 2: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu
Đài truyền hình Việt Nam (VTV) là chủ sở hữu tại Việt Nam của những nhãn hiệu dịch vụ “ Đường lên đỉnh Olympia” ( nhóm 41- dịch vụ giải trí) Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức cuộc thi Olympic Mac-LeNin VTV yêu cầu Bộ giáo dục và Đào tạo phải đổi tên cuộc thi để tránh nhầm lẫn với nhãn hiệu “Olympia” của mình Bộ GD&ĐT cho rằng tên gọi hai cuộc thi là khác nhau, vả lại Olympic là tên gọi phổ biến nên không thể được bảo hộ dưới dạng NHHH Anh (chị) đồng ý với ý kiến của ai?
Bài làm:
Trong tình huống trên tác giả đồng ý với ý kiến của Bộ GD- ĐT
1 Hai tên gọi hai cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và “Olympic Mac- Lenin”
là khác nhau và không dễ gây nhầm lẫn
2
Trang 3Olympia là tên một thành phố của Hi Lạp ngày nay, Olympia trước đây là nơi diễn ra thế vận hội Olympic cổ đại Tên gọi Olympic là tên phiên âm tiếng việt của Olympiad (có
từ cách đây gần 3000 năm) bắt nguồn từ cuộc tranh tài thể thao giữa các quốc gia toàn thế giới và dần dần phổ biến và mở rộng sang các cuộc thi về các môn khoa học ngoài thể thao mang tầm quốc tế (có sự tham gia của rất nhiều quốc gia trên thế giới) như: IMO (Olympic toán học quốc tế), IPhO (Olympic vật lý quốc tế), IChO (Olympic hóa học quốc tế),… Việc sử dụng từ Olympic trong tên cuộc thi của Bộ GD& ĐT nhằm thể hiện tinh thần của thi đấu và cũng nhằm để công bố là đây là 1 cuộc thi về kiến thức triết học Mac- Lenin Còn chương trình truyền hình “Đường lên đỉnh Olympia” thể hiện sự vinh quang khi vượt qua bao khó khăn để chiến thắng của người chơi, mượn ý nghĩa của đỉnh Olympia trong thần thoai Hy lạp trước để chỉ nơi đạt đến vinh quang => tính chất hai cuộc thi là khác nhau và tên gọi cũng khác biệt
2 Olympic là tên gọi phổ biến
Tên gọi Olympic đã có từ cách đây rất lâu (gần 3000 năm), được biết đến rộng rãi nên biểu tượng cũng như tên gọi Olympic thuộc về tất cả mọi người và được sử dụng rộng rãi, thường xuyên Hiện nay, mọi cuộc thi có tính mở rộng, người ta có thể sử dụng từ Olympic kèm tên lĩnh vực thi làm tên gọi cuộc thi
2.1 Theo tiết b khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ, tên Olympic do quá thông dụng nên được coi là nhãn hiệu không có khả năng phân biệt
Điều 74 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu
2 Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;”
2.2 Theo khoản 2 điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, tên Olympic không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa bởi không có khả năng phân biệt
Điều 72 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1 - Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
2 - Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác
2.3 Mặt khác, theo khoản 2 điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ, những dấu hiệu không được
bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu là “dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên viết tắt, tên đầy đủ của tổ chức quốc tế nếu không được tổ chức đó cho phép Từ Olympic trùng với tên Ủy ban quốc tế về thể thao nên sẽ không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu
3
Trang 4Điều 73 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:
2 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép
=> Tên gọi cuộc thi “Olympic Mac - Lê nin” sẽ không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hóa mà bất kỳ cá nhân tổ chức nào cũng có thể sử dụng từ Olympic, hơn nữa tên gọi hai cuộc thi là khác nhau như trên đã giải thích nên việc VTV yêu cầu bộ GD&ĐT đổi tên cuộc thi để tránh nhầm lẫn với nhãn hiệu Olympia của mình là không hợp lý và không được pháp luật chấp nhận
Tình huống 3: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế
Xưa nay người ta vẫn dùng phương pháp trộn bê tông ướt giữa xi măng, sỏi và cát
Độ đông cứng của bê tông được tăng cường bởi chất phụ gia X theo tỷ lệ k% Một hôm do đãng trí anh Bình pha quá nhiều phụ gia X, đồng thời lại cho sỏi vào trước khi cho phụ gia
và phát hiện ra rằng do sỏi tạo sẵn các kẽ hở trong hợp chất bê tông trước khi trộn, đồng thời tỷ lệ phụ gia thích hợp hơn, nên bê tông đông cứng nhanh hơn hẳn, rất thích hợp cho công trình hầm hay trụ cầu Anh Bình xin đăng ký bảo hộ phát minh sáng chế, song mọi người can rằng việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông là chuyện hiển nhiên, trong nghề xây dựng ai cũng biết, vì thế anh sẽ không đủ tiêu chuẩn để được bảo hộ Họ có đúng không?
Điều 59 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:
1 Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học
2 Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính
3 Cách thức thể hiện thông tin
Trang 57 Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật
2 Giải pháp của anh Bình có khả năng áp dụng công nghiệp
Tham khảo thêm: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về Bảo hộ quyền tác giả
Theo điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ về khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế
Điều 62 Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế
Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định
3 Giải pháp tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông của anh Bình không đáp ứng điều kiện có trình độ sáng tạo nên không đủ tiêu chuẩn được bảo hộ độc quyền sáng chế
3.1 Theo điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thì sáng chế có trình độ sáng tạo phải không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực
kỹ thuật tương ứng Việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông chuyện hiển nhiên, trong nghề xây dựng ai cũng biết cho nên giải pháp đó của anh Bình được cho là không đảm bảo trình độ sáng tạo
Điều 61 Trình độ sáng tạo của sáng chế
Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền
ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng
3.2 Những người đóng góp ý kiến cho anh Bình có lý khi nói rằng anh sẽ không đủ tiêu chuẩn để được bảo hộ sáng chế bởi giải pháp của anh không đảm bảo có trình độ sáng tạo (theo khoản 1 điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ)
Điều 58 Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ
1 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có trình độ sáng tạo;
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp
4 Xét tính mới của giải pháp anh Bình đưa ra
Tham khảo thêm: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu
Trường hợp giải pháp kỹ thuật này chưa được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài
5
Trang 6trước ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên Giải pháp của anh Bình được coi là có tính mới (khoản 1 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ) Mặc dù anh không được cấp bằng độc quyền sáng chế nhưng được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích (khoản 2 điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ)
Điều 58 Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ
2 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có khả năng áp dụng công nghiệp
Điều 60 Tính mới của sáng chế
1 Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng
ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên
4.1 Trường hợp có một số người có hạn đã biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về giải pháp này
Theo khoản 1, 2 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ thì việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông vẫn được coi là có tính mới Tương tự như ý trên, anh Bình sẽ được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích
Điều 60 Tính mới của sáng chế
1 Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng
ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên
2 Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó
4.2 Trường hợp giải pháp anh Bình có được đã được công bố trước ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ
Nếu đơn đăng ký được nộp trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày công bố và việc công
bố thuộc các hình thức nêu trong tiết a, b, c khoản 3 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ thì giải pháp anh Bình đưa ra vẫn đảm bảo có tính mới và tương tự vẫn được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích
Điều 60 Tính mới của sáng chế
3 Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
6
Trang 7a) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng
ký quy định tại Điều 86 của Luật này;
b) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
c) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức
Ngoài các trường hợp nêu trên, giải pháp tạo kẽ hở làm bê tông mau khổ của anh Bình sẽ không đảm bảo tính mới và không được bảo hộ độc quyền cả cho sáng chế lẫn giải pháp hữu ích
Tình huống 4: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về Bảo hộ quyền tác giả
Ông A là tác giả của tác phẩm kiến trúc “Vườn nghệ thuật Việt Nam” tác phẩm được gửi chọn tham dự triển lãm quốc tế tại Trung Quốc và đoạt huy chương vàng cùng tiền thưởng Sau khi trở về nước , tác phẩm trên đã được công ty B thi công tại khu vui chơi V với sự đồng ý của ông A Sau khi khu vui chơi đi vào hoạt động, công ty B cũng bỏ ra nhiều chi phí để quảng cáo cho khu vườn trở thành một điểm tham quan hấp dẫn của du khách thành phố Hồ Chí Minh Ông A yêu cầu công ty B phải trả thù lao quyền tác giả cho ông là 15% doanh số bán vé Công ty B từ chối, vì cho rằng hai bên chưa có thỏa thuận về tiền thù lao Anh ( chị) giải quyết vướng mắc trên như thế nào?
Bài làm:
1 Ông A được pháp luật bảo hộ quyền tác giả:
1.1 Có thể chứng minh được một cách dễ dàng ông A là tác giả của tác phẩm kiến trúc Vườn nghệ thuật Việt Nam bởi ông đã đạt giải thưởng lớn với tác phẩm này
1.2 Tác phẩm Vườn nghệ thuật Việt Nam thuộc loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả:
Tác phẩm này thuộc diện tác phẩm kiến trúc và đã được thể hiện dưới dạng vật chất nên ông A được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm này (theo khoản 1 Điều 6 Luật
Sở hữu trí tuệ và tiết i khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung bởi luật
số 36/2009/QH12 - Luật Sở hữu trí tuệ)
1.3 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Theo tiết b khoản 1 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ thì tác phẩm kiến trúc của ông A có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời ông A và 50 năm tiếp theo năm ông A mất Như vậy quyền tài sản của ông A đối với tác phẩm này vẫn trong thời gian được bảo hộ
2 Ông A có quyền được hưởng thù lao quyền tác giả từ công ty B:
7
Trang 82.1 Theo khoản 3 điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ thì khi công ty B khai thác, sử dụng tác phẩm Vườn nghệ thuật Việt Nam của ông A, quảng cáo, thu lợi nhuận, phải xin phép và trả thù lao quyền tác giả cho chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó
Mặt khác, việc công ty B sử dụng, khai thác tác phẩm Vườn nghệ thuật Việt Nam không nằm trong các trường hợp “sử dụng sản phẩm đã được công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” (quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) mà nhằm mục đích thương mại nên công ty B phải trả thù lao quyền tác giả cho ông A
Công ty B nêu lý do chưa có thỏa thuận nào về tiền thù lao vì thế mà không trả thù lao cho ông A thì công ty B đã xâm phạm quyền tác giả và buộc phải trả một khoản thù lao cho tác giả của tác phẩm kiến trúc đó
2.2 Khoản thù lao mà tác giả được nhận theo Luật Sở hữu trí tuệ quy định là tùy thuộc thỏa thuận giữa hai bên tác giả và công ty B chứ không nhất thiết là 15% doanh số
vé
Ông A đưa ra yêu cầu ông cho là phù hợp với mức thù lao ông xứng đáng nhận được
là 15% doanh số vé Công ty B buộc phải xem xét đề nghị đó và thỏa thuận với ông A mức thù lao công ty chấp nhận được, hai bên phải ra được kết quả làm hài lòng nhất chứ công
ty B không có quyền từ chối trả thù lao
Nếu hai bên không thể thỏa thuận sẽ phải nhờ tới sự can thiệp của cơ quan chức năng ấn định mức thù lao
Tình huống 5: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế
Kỹ sư Thành đã nghĩ ra một loại đầu bút bi đặc biệt khiến bi trơn hơn và ra mực đều hơn Anh đã đăng ký bảo hộ phát minh của mình Điểm mấu chốt của phát minh này là tạo một khoảng trống giữa viên bi và đầu bút bi Anh Mạnh cho rằng việc thông khí hai đầu của một chất lỏng (mực) khiến chất lỏng chảy đều hơn là chuyện trong nghề ai cũng biết Hơn nữa, anh Thành đã thông báo về phát minh của mình trước khi đăng ký bảo hộ Vì vậy phát minh của anh Thành không còn tính mới đối với thế giới nữa và không còn khả năng được bảo hộ Anh Mạnh có lý không? Tại sao?
Bài làm:
1 Về tình huống
Phát hiện của anh Thành là một giải pháp kỹ thuật, không nên gọi là phát minh như trong tình huống, bởi phát minh là từ chỉ việc tìm ra những sự vật, hiện tượng, quy luật có sẵn trong tự nhiên nhưng trước đó con người chưa biết tới Còn giải pháp kỹ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người, không hề có sẵn trong tự nhiên Vì vậy mà loại đầu bút bi đặc biệt này - một thành quả lao động sáng tạo trí tuệ được coi là một giải pháp kỹ thuật Chúng
ta đi xem xét xem giải pháp này có được coi là một sáng chế không và có được bảo hộ dưới dạng sáng chế hay không?
2 Sáng tạo về đầu bút bi đặc biệt của anh Thành NẰM NGOÀI các đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế
8
Trang 9Theo điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ về đối tượng không dược bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
3 Giải pháp của anh Thành không đảm bảo có trình độ sáng tạo, không được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế
3.1 Anh Mạnh có lý khi cho rằng việc thông khí hai đầu của một chất lỏng khiến chất lỏng chảy đều hơn là chuyện trong nghề ai cũng biết Theo quy định của điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ có thể thấy do phát hiện của anh Thành dựa trên giải pháp kỹ thuật có sẵn trước
đó mà cải tiến đi làm ưu việt hơn, hiệu quả hơn chứ chưa phải là một bước tiến sáng tạo vượt trội hơn hẳn so với trình độ kỹ thuật hiện tại và người trình độ trung bình trong nghề
ai cũng có thể dễ dàng biết được nên giải pháp kỹ thuật của anh Thành về đầu bút bi đặc biệt không được coi là có trình độ sáng tạo
3.2 Điều này liên quan đến điều kiện bảo hộ đối với sáng chế (điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ) Trong đó, sáng chế phải đảm bảo có trình độ sáng tạo, có tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp mới được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế
=> Giải pháp kỹ thuật về đầu bút bi đặc biệt của anh Thành không được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế do không đảm bảo có trình độ sáng tạo
4 Xem xét tính mới của giải pháp của anh Thành
Theo như lời anh Mạnh thì anh Thành đã thông báo về đầu bút bi đặc biệt này trước khi nộp đơn xin bảo hộ sáng chế
4.1 Trường hợp anh Thành thông báo cho một số người bạn có hạn được biết và họ
có nghĩa vụ giữ bí mật
Theo khoản 2 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ, giải pháp kỹ thuật này của anh Thành được coi là chưa bị bộc lộ công khai và vẫn đảm bảo tính mới Thêm vào đó, đầu bút bi đó có khả năng áp dụng công nghiệp (điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ) nên theo khoản 2 điều 58 Luật
Sở hữu trí tuệ thì giải pháp kỹ thuật này được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích
4.2 Trường hợp anh Thành công bố về giải pháp của mình dưới dạng báo cáo khoa học hoặc trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức đồng thời đơn đăng ký bảo hộ được nộp trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày công bố
Theo tiết b, c khoản 3 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ thì trong trường hợp này đàu bút bi đặc biệt, mà anh Thành sáng tạo ra vẫn đảm bảo tính mới đồng thời đảm bảo có khả năng
áp dụng công nghiệp (điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ) nên được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích (khoản 2 điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ)
4.3 Việc anh Thành thông báo về đầu bút bi đặc biệt của mình nằm ngoài 2 trường hợp nêu trên
Giải pháp kỹ thuật đó không đảm bảo tính mới nên sẽ không được bảo hộ sáng chế
9
Trang 105 Trường hợp anh Thành đã gửi đơn xin cấp bằng bảo hộ sáng chế cho giải pháp của mình tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp
Sau khi cơ quan có thẩm quyền thẩm định và đánh giá thấy giải pháp đó không đủ điều kiện bảo hộ dưới hình thức sáng chế nhưng vẫn đủ điều kiện được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích (khoản 2 điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ), thì cơ quan có thẩm quyền sẽ trả lại đơn yêu cầu cấp bằng sáng chế và kèm theo là bản hướng dẫn đăng kí cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho anh Thành
Tình huống 6: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế
Ngày 1/2/2006 anh A nộp đơn đăng ký độc quyền sáng chế đối với SP dao cạo râu 3 lưỡi, trong quá trình thụ lý đơn thì 15/10/2006 anh A rút đơn đăng ký vì cho rằng sáng chế trên có đưa vào SX lâu thu hồi vốn Ngày 1/12/2006 anh B cũng nghiên cứu và chế tạo thành công dao cạo rây 3 lưỡi (nghiên cứu độc lập với A) Ngày 1/3/2007 anh nộp đơn đăng ký tại cục Sở hữu trí tuệ thì bị người có thẩm quyền của cục từ chối với lý do sáng chế trên không có tính mới vì anh A đã bộ lộ ngày 1/2/2006
Việc nôp đơn liên quan tới bằng sáng chế là quyền sh công nghiệp, người nộp đơn là
cá nhân VN đáp ứng đủ dk về năng lực Do đó QH của anh Anh A với cục Sở hữu trí tuệ thuộc điều chỉnh cua Luật Sở hữu trí tuệ
Cơ sở pháp lý: điều 1, 2 Luật Sở hữu trí tuệ
Về việc bộc lộ
Việc bộc lộ phải hiểu rằng sáng chế đó đã được công khai cho người khác biết, việc công khải phải bằng (i) sử dụng, (ii) mô tả bằng vb và (iii) hình thức khác
Việc anh A nộp đơn sau đó hủy bỏ, có thể thấy các vấn đề sau
Thứ nhất, việc anh A nộp đơn không thể xem là mô tả bằng văn bản vì đó là các giấy
tờ gửi lên cho cục đăng ký Sở hữu trí tuệ, việc này đang trong giai đoạn thụ lý nên không thể xem là công khai các văn bản đó ra công chúng
Thứ hai, A chỉ mới nộp đơn, tức sản phẩm chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức
sử dụng nào (sản xuất, khai thâc, quảng cáo…) nên không thể xem là đã bị bộc lộ
Thứ ba, các hình thức khác: anh A ngoài việc nộp đơn, đơn còn đang trong quá trình
thụ lý nên không thể xem đây là việc công khai bộc lộ ở các hình thức khác
10
Trang 11Do đó, hoàn toàn có thể khẳng định sáng chế trên chưa bị mất tính mới nên việc từ chối của cục Sở hữu trí tuệ là sai quy định
Cơ sở pháp lý: K1-60, K1-124, 111 Luật Sở hữu trí tuệ
Anh B có quyền phản đối từ chối trong TH nhà cục quy định để yêu cầu cục Sở hữu trí tuệ thẩm định lại Cục phải thẩm định lại trong vòng 18 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của anh Anh B
Cơ sở pháp lý: 3a-117, 2a-119 Luật Sở hữu trí tuệ
Tình huống 7: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế
Anh A là nhân viên Công ty X (công ty này chuyên sản xuất các mặt hàng công nghiệp) và là tác giả của phương pháp xử lý nước thải từ các nhà máy công nghiệp Tuy nhiên, giữ anh Anh A và Công ty X xảy ra bất đồng trong việc xác định tác giả của phương pháp này Theo anh/chị:
a Tác giả của phương pháp này là anh A hay Công ty X?
b Anh A/Công ty X nên đăng ký bảo hộ sáng chế hay bảo mật phương pháp với ý nghĩa là một bí mật kinh doanh?
Bài làm:
a Tác giả của phương pháp này là anh A hay Công ty X?
Về luật áp dụng: tranh chấp xảy ra giữa các bên là tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều
kiện về năng lực của LSở hữu trí tuệ, đối tượng tranh chấp “PP xủ lý nước thải’ là đối tượng thuộc quyền shCN và phạm vi tranh chấp liên quan tới quyền này
Do đó luật áp dụng trong tình huống này là luật Sở hữu trí tuệ
Cơ sở pháp lý: điều 1, 2, 3 Luật Sở hữu trí tuệ
Về đối tượng tranh chấp:
Đối tượng ở đây là phương pháp xử lý nước thải, là một giải pháp cho một vấn đề xác định, do đó có thể xem là 1 đối tượng thuộc quyền SHCN
Cơ sở pháp lý: K4 Đ4 Luật Sở hữu trí tuệ
Về tác giả của PP:
TH1: anh A vì là nhân viên, thường xuyền thực hiện hoạt động của công ty nên đã tự minh nảy ra ý tưởng về PPXLNT anh A là người trực tiếp sáng tạo ra PP này, do đó anh
A chính là tác giả của PPXLNT
Cơ sở pháp lý: K1 Đ122 Luật Sở hữu trí tuệ
TH2: anh A cùng chính công ty nghiên cứu, hợp tác để sáng tạo ra PP xử lý nước thải, khi này cả 2 là đồng tác giả
Cơ sở pháp lý: K1 Đ122 Luật Sở hữu trí tuệ
11
Trang 12b Anh A Công ty X nên đăng ký bảo hộ sáng chế hay bảo mật phương pháp với
ý nghĩa là một bí mật kinh doanh?
Về tính pháp lý khi đăng ký
TH1: Anh A đăng ký BH sáng chế
PP này của anh Anh A rõ ràng là 1 quy trình nhằm giải quyết vấn đề xác định là nước thải DN bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên, rõ rằng là phù hợp với định nghĩa sáng chế
Cơ sở pháp lý: K12 Đ4 Luật Sở hữu trí tuệ
PP của anh Anh A có thể có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng được trong công nghiệp Ngoài ra, nếu không có tính mới thì vẫn được bảo hộ với hình thức giải pháp hữu ích
Cơ sở pháp lý: K1 Đ58 Luật Sở hữu trí tuệ
Do đó về tính chất pháp ly thì khả năng được chấp nhận đăng ký với hình thức sáng chế khá cao
TH2: Anh A đăng ký bí mật kinh doanh
Để là bí mật kinh doanh phải không là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được Việc hệ thống xử lý nước thải ở nước ta hiện nay cũng đã có nhiều quy trình như vậy, việc trùng lặp là khó tránh, nên không thể coi là không phải hiểu biết thông thường Ngoài ra đây là 1 PP giải quyết vấn đề kỹ thuật, không hẳn là 1 PP giúp tạo lợi thế hơn hẳn trong quá trình kinh doanh so với các DN khác
Do đó, khả năng được chấp nhân với hình thức này là không cao
Cơ sở pháp lý: Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ
Về các quyền áp dụng
Nếu dk sáng chế, anh A có được các quyền như (i) sx (ii) áp dụng (iii) khai thác (iv) lưu thông và (v) nhập khẩu Trong khi đó, nếu với hình thức bí mậ kinh doanh, anh A chỉ được (i) áp dụng và (ii) bán bí mật đó, mà quyền áp dụng thì nếu đăng ký sáng chế anh A cũng có quyền tương tự
Ngoài ra, với thực tiễn sử dụng của PP này, có thể sử dụng trên thực tế cả 4 quyền sử dụng trên Nếu anh A dk bí mật thì sẽ tự thu hẹp khả năng sử dụng của PP khi mà thực tế khả sử dụng là nhiều hơn
Về rủi ro
Nếu ĐK bí mật, anh A luôn phải đảm bảo việc luôn có các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh không bị bộc lộ và tiếp cận, đồng thời sẽ luôn có những người muốn tiếp cận bí mật đó để ứng dụng Giả sử vì rủi ro anh A không đảm bảo được bí mật thì sẽ mất ngay lợi thế khi kinh doanh, hoặc anh A không còn muốn bảo về nữa thì không còn là bí mật và không được bảo hộ nữa
Cơ sở pháp lý: Đ84 Luật Sở hữu trí tuệ
12
Trang 13Còn nếu dk dạng sáng chế, khi này sáng chế đã công khai, anh A không phải lo lắng việc bảo mật nữa, chỉ việc tạp trung sử dụng quyền của minh một cách tốt nhất Kể cả khi anh A không sử dụng thì vẫn được bảo hộ trong 1 tác giả là 5 năm liên tiếp cho đến khi anh A muốn thì vẫn có thể tiếp tục mà không phải lo lắng lúc nào cũng giữ bí mật như trên
Cơ sở pháp lý: k2 Đ136, K1 Đ124 Luật Sở hữu trí tuệ
Tóm lại anh A nên dk dạng sáng chế
Tác giả của phương pháp xử lý nước thải từ các nhà máy công nghiệp là anh A chứ không phải Công ty X
Vì: Quá trình tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học là quá trình hoạt động sáng tạo của cá nhân Tác giả của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học chỉ có thể là những con người cụ thể, họ đã bằng lao động sáng tạo của mình để trực tiếp tạo ra tác phẩm
Điều 736 BLDS 2005 có quy định như sau:
1 Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả
2 Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó
Theo quy định tại Điều 8 NĐ 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan thì tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm: “Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả”
Như vậy, trong tình huống nêu trên thì anh A chính là cá nhân bằng sức lao động của mình trực tiếp tạo ra tác phẩm Để tạo ra phương pháp xử lý nước thải từ các nhà máy công nghiệp nêu trên thì anh A đã phải bỏ sức lao động và khả năng sáng tạo của mình để tìm hiểu, nghiên cứu và chế tạo ra phương pháp đó Và như tình huống đã nêu ở trên, Công ty
X chỉ là cơ quan chủ quản của anh Anh A chứ không hề tham gia vào một phần nào trong việc tạo ra tác phẩm khoa học của anh Anh A
Ngoài ra, anh A còn đáp ứng được những yêu cầu mà tác giả của tác phẩm cần có:
Thứ nhất, anh A là người trực tiếp thực hiện các hoạt động sáng tạo để tạo ra phương
pháp xử lý nước thải từ các nhà máy công nghiệp Hoạt động sáng tạo của tác giả là sự lao động trí óc để tạo ra các tác phẩm một cách sáng tạo hay nói cách khác, các tác phẩm phải
là kết quả của hoạt động sáng tạo được thể hiện trên hình thái vật chất hoặc được thể hiện thông qua hình thức nhất định, có tính độc lập tương đối, mang tính mới về nội dung, ý tưởng hoặc mang tính mới về sự thể hiện tác phẩm Có thể nói, ở đây anh A đã phải sử dụng trí óc của bản thân mình để đưa ra các phương pháp hợp lý cho việc xử lý nước thải công nghiệp
13
Trang 14Tuy anh A có thể chế tạo phương pháp xử lý nước thải đó là dựa trên kinh phí, vật chất, phương tiện, tư liệu hoặc những ý kiến đóng góp của Công ty X nhưng ở đây, Công
ty X cũng không được công nhận là tác giả của phương pháp đó Căn cứ theo Khoản 2 Điều 8 NĐ 100/2006/NĐ-CP: “2 Tổ chức, cá nhân làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả.”
Thứ hai, người tạo ra tác phẩm phải ghi tên thật hoặc bút danh của mình trên tác
phẩm được công bố Vì tác phẩm của anh Anh A chưa được công bố nên không thể biết được anh A có ghi tên thật hay bút danh của mình trên tác phẩm không Nhưng vì anh A
là nhân viên của Công ty X nên chỉ được thực hiện những việc mà Công ty X đã giao, khi anh A muốn chế tạo phương pháp xử lý nước thải đó thì chắc chắn anh A phải đưa ra được bản đề án thuyết phục được Công ty X Và trong bàn đề án đó chắc chắn phải có đề tên thật và chứ ký của anh Anh A
Thứ ba, phương pháp xử lý nước thải từ các nhà máy công nghiệp được tạo ra là
Tình huống 8: Bài tập môn Luật Sở hữu trí tuệ về phát minh và sáng chế
Ông A nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế X ngày 1/2/2012 tại Cộng hòa Pháp và đã được cấp văn băng bảo hộ
Ngày 1/9/2012, ông B nộp đơn đăng ký bảo hộ cũng sáng chế X tại Việt nam Ngày 1/12/201,2 ông A phản đối ông B và yêu cầu cơ quan chức năng Việt Nam không cấp bằng Phản đối được chấp nhận Ngày 1/3/2013, ông A nôp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế X tại Việt Nam
Là người có thẩm quyền anh (chị) giải quyết đơn của ông A như thế nào?
Bài làm:
Về luật điều chỉnh:
2 bên tranh chấp là tổ chức đáp ứng dk về chủ thể, tranh chấp giữa 2 bên liên quan tới QSHCN, đối tượng tranh chấp là đối tượng thuộc SHCN thuộc ĐTđược của Luật Sở hữu trí tuệ
Do đó luật áp dụng là luật Luật Sở hữu trí tuệ
Cơ sở pháp lý: Đ1, Đ2, Đ3 Luật Sở hữu trí tuệ
Về đối tượng tranh chấp:
Nhãn hiệu của A là “thiên thai”, của B là “Bồng lai” là khác nhau nên không thể là
ĐT tranh chấp
Cơ sở pháp lý: Đ72, Đ74 Luật Sở hữu trí tuệ
Tên TM của A và B giống nhau ở phần tên riêng, cụ thể là “thiên thai” Tuy nhiên,
sự giống nhau này vẫn không gây ra sự nhầm lẫn, tức vẫn có khả năng phân biệt A Và B bởi khu dk thứ 2 là phải có cùng khu vực KD Trong đó, A KD ở tác phẩm HCM, còn B
14
Trang 15KD ở địa bàn tỉnh BD (không xét TH địa bàn tác phẩm HCM của A bao gồm luôn cả tỉnh BD) Do có sự phân biệt này nên tên TM cũng không phải là Đt tranh chấp
Cơ sở pháp lý: 76, k2 – 78 Luật Sở hữu trí tuệ
Việc ghi “…” của B kèm theo tên TM, đó là chỉ dẫn TM, bởi đây là chỉ dẫn nhằm hướng dẫn TM HH (nhãn hiệu, tên TM) để giúp NSD xác định chủ thể KD (đóng chai tại
Cơ sở pháp lý: 3b-6, 76 Luật Sở hữu trí tuệ
Về hành vi của B
Hành vi xâm phạm với chỉ dẫn TM phải thỏa điều kiện:
Trung hoặc tương tự tên TM: với chỉ dẫn “sx tại TT”, rõ ràng tên TT là hoàn toàn trùng với tên TM, cụ thể là phần tên riêng - phần quan trọng nhất để xác định, phân biệt DN với nhau
Tên TM đã được sử dụng trước chỉ dẫn đó: như đã nêu, tên TM của A đã có trc khi B có chỉ dẫn TM này
Cùng SP, dv: cả 2 đều KD SP là nước khoáng
Do đó, có thể xác định HV của B là HV xâm phạm đối với tên TM (thuộc quyền SHCN) của B
Cơ sở pháp lý: Kkhoản 2 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ
Bài tập 9: Tháng 10 năm 2014, Công ty A muốn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu SANAN
cho sản phẩm thức ăn cho động vật Qua tra cứu, công ty này được biết Cục Sở hữu trí tuệ
đã cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu SANAN dùng cho các sản phẩm hạt giống, phân bón cho cây, thức ăn động vật cho Công ty B tại tỉnh Phú Thọ ngày 15/04/2006 Công ty B đã
tuyên bố phá sản và chấm dứt hoạt động từ tháng 11/2008
- Công ty A có khả năng đăng ký nhãn hiệu SANAN không?
- Các phương án mà Công ty A có thể vận dụng để có thể đăng ký nhãn hiệu SANAN
ở tình huống trên?
Bài làm:
15
Trang 16- Về đối tượng: nhãn hiệu SANAN cho sản phẩm thức ăn động vật
- Các vấn đề cần giải quyết:
+ Công ty A có khả năng đăng ký nhãn hiệu SANAN không?
+ Phương án mà Công ty A có thể vận dụng để có thể đăng ký nhãn hiệu SANAN
2 Giải quyết tình huống:
2.1 Công ty A có khả năng đăng ký nhãn hiệu SANAN không?
Trên cơ sở những dữ kiện đề bài đưa ra, công ty A hoàn toàn có khả năng được đăng
ký nhãn hiệu SANAN cho sản phẩm thức ăn cho động vật dựa trên những căn cứ pháp lý sau:
Thứ nhất, căn cứ vào khoản 1 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về Quyền đăng
ký nhãn hiệu : “Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do
mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp” Theo tinh thần của điều luật thì đăng ký
nhãn hiệu là quyền của cá nhân, tổ chức Như vậy, theo tình huống mà đề bài đưa ra, công
ty A là pháp nhân tiến hành hoạt động sản xuất, dịch vụ hợp pháp có quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu SANAN cho sản phẩm thức ăn cho động vật do công
ty A sản xuất
Thứ hai, để nhãn hiệu SANAN của công ty A được bảo hộ thì cần phải đáp ứng đầy
đủ các điều kiện bảo hộ quy định tại Điều 72 LSHTT, theo đó:
+ Nhãn hiệu SANAN là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc
+ Nhãn hiệu SANAN phải có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác Căn cứ vào khoản 2 Điều 136
LSHTT thì: “Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu đó Trong
16
Trang 17trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì quyền sở hữu nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 95 của Luật này Dẫn chiếu
tới điểm c khoản 1 Điều 95 về chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ khi: “Chủ văn bằng bảo
hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người thừa kế hợp pháp” Trong trường hợp này, nhãn hiệu
SANAN của công ty A không bị coi là nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng
Như vậy, theo dữ kiện đề bài thì Cục sở hữu trí tuệ đã cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu SANAN dùng cho các sản phẩm hạt giống, phân bón cho cây, thức ăn động vật cho công
ty B tại tỉnh Phú Thọ ngày 15/4/2006 Công ty B đã tuyên bố phá sản và chấm dứt hoạt động từ tháng 11/2008 Điều này có nghĩa là từ tháng 11/2008, chủ văn bằng bảo hộ cho các sản phẩm hạt giống, phân bón, thức ăn động vật (công ty B) không còn tồn tại và tính
từ đó đến thời điểm tháng 10/2014 thì công ty B đã không sử dụng nhãn hiệu SANAN 5 năm 11 tháng nên văn bằng bảo hộ cho các sản phẩm hạt giống, phân bón cho cây, thức ăn động vật của công ty B chấm dứt hiệu lực Do vậy, công ty A hoàn toàn khả năng đăng ký nhãn hiệu SANAN cho sản phẩm thức ăn cho động vật do mình sản xuất
2.2 Các phương án mà Công ty A có thể vận dụng để có thể đăng ký nhãn hiệu SANAN ở tình huống trên?
+ Phương án thứ nhất: Công ty A phải nộp đơn yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ chấm
dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu SANAN của công ty B
Để đăng ký được nhãn hiệu SANAN cho sản phẩm thức ăn cho động vật do mình sản xuất ra thì trước tiên, Công ty A phải nộp đơn yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu SANAN của công ty B với lý do công ty B không còn sử dụng nhãn hiệu này nữa và đã chấm dứt hoạt động từ tháng 11/2008 Căn cứ khoản
4 điều 95 LSHTT 2005 (sửa đổi bố sung 2009) thì : ‘‘Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu
cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo
hộ đối với các trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này với điều kiện phải nộp phí và lệ phí’’ Do đó công ty A(là tổ chức) để chứng minh công ty B chủ
giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu SANAN không còn hoạt động nữa thì công ty A phải đưa ra những tài liệu, dẫn chứng cho Cục Sở hữu trí tuệ về việc công ty B đã tuyên bố phá sản,chấm dứt hoạt động từ 11/2008 và yêu cầu cục sở hữu trí tuệ chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu SANAN của công ty B Theo đó, công ty A phải nộp phí và lệ phí đầy đủ theo quy định của pháp luật cho yêu cầu trên
+ Phương án thứ 2: công ty A chứng minh rằng công ty B không có quyền đăng ký
nhãn hiệu và yêu cầu Cục sở hữu trí tuệ hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ của công ty B
Căn cứ vào khoản 2 Điều 87 LSHTT thì : “Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt
động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó” Như vậy, trong trường hợp này
công ty A phải đưa ra những tài liệu, giấy tờ chứng minh rằng công ty B chỉ là Đại lý hoặc nhà phân phối sản phẩm cho công ty A (Hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa hoặc hợp đồng
17
Trang 18phân phối) Khi đó, nếu công ty B chỉ đưa sản phẩm của công ty B ra thị trường thì không
có quyền đăng ký nhãn hiệu SANAN nếu như công ty A đã sử dụng nhãn hiệu cho sản phẩm đó và phải đối việc đăn ký của công ty B
Theo đó, công ty A yêu cầu Cục sở hữu trí tuệ hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ của công ty B căn cứ vào khoản 3 và điểm a khoản 1 Điều 96 LSHTT: Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ trong trường hợp người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu không có quyền đăng ký với điều kiện công ty A phải nộp phí và lệ phí
+ Phương án thứ 3: Công ty A chứng minh rằng nhãn hiệu của mình đã được sử
dụng và thừa nhận rộng rãi cho sản phẩm thức ăn cho động vật trước ngày công ty B nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ
Công ty A phải chứng minh nhãn hiệu của công ty B không đáp ứng được điều kiện bảo hộ (không có khả năng phân biệt) theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 74 LSHTT:
“Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên” Như
vậy, công ty A phải đưa ra những tài liệu, chứng cứ như : thời gian sử dụng, doanh số bán hàng, thị hiếu của người tiêu dùng và uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu đối với hàng hóa của mình trước ngày công ty B nộp đơn để chứng minh nhãn hiệu của mình đã được sử dụng
và thừa nhận rộng rãi
Tiếp theo, công ty A phải yêu cầu Cục sở hữu trí tuệ hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo
hộ của công ty B do nhãn hiệu của công ty B không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ (căn cứ vào điểm b, khoản 1 và khoản 3 Điều 96 LSHTT) và công ty A phải nộp phí và lệ phí
+ Phương án thứ 4: Công ty A đưa ra căn cứ rằng nhãn hiệu của mình không trùng
với nhãn hiệu của công ty B do văn bằng bảo hộ nhãn hiệu của công ty B đã chấm dứt hiệu lực hơn 5 năm kể từ khi công ty A nộp đơn yêu cầu bảo hộ
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 74 LSHTT thì: “Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm…” Như
vậy, Công ty B đã phá sản và chấm dứt hoạt động từ tháng 11/2008, kéo theo đó, văn bằng bảo hộ củ công ty B cũng sẽ bị chấm dứt hiệu lực theo căn cứ tại điểm c, khoản 1 Điều 95 LSHTT Mà từ tháng 11/2008 đến tháng 10/2014 là 5 năm 11 tháng, do vậy nhãn hiệu của công ty A không bị coi là không có khả năng phân biệt
Như vậy, Công ty A có thể lựa chọn một trong các phương án trên và nộp hồ sơ đăng
ký nhãn hiệu tới Cục sở hữu trí tuệ (địa chỉ 386, Đường Nguyễn Trãi - Quận Thanh Xuân
- Hà Nội) hoặc Văn phòng đại diện của Cục SHTT tại Đà Nẵng và Tp Hồ Chí Minh Hồ
sơ đăng ký nhãn hiệu gồm các giấy tờ quy định tại Thông tư 01/2007/TT- BKHCN Hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
18
Trang 19Bài tập 10: Anh A nhận hợp đồng may gia công 3000 chiếc áo thun lưới gắn nhãn
hiệu Adidas và Nike cho một người buôn bán quần áo tại thành phố Hồ Chí Minh A đặt hàng cho B sản xuất cho mình tem, nhãn mang nhãn hiệu Adidas và Nike, còn doanh nghiệp của A tự mua vải về cắt may Hỏi hành vi của A, và B có phải hành vi xâm phạm
sở hữu trí tuệ không?
+ Có các quyền chung của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp quy định ở khoản
1 điều 23 Luật SHTT như: Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau đây: Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 124 và Chương X của Luật này; Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng
sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 125 của Luật này;Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật này.Khoản 5 điều 124 quy định: Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây: Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ; Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ Khoản 1 điều 125 quy định: Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nếu việc sử dụng đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
Như đã phân tích ở phần trên, NHNT còn được bảo hộ theo cơ chế riêng, khác với bảo hộ nhãn hiệu thường nên ngoài những quyền chung được nêu ở phần này thì còn các quyền về chống lại việc đăng kí và sử dụng bất hợp pháp bởi các chủ thể khác đã nêu ở phần I
+ Có nghĩa vụ quy định tại khoản 2 điều 136: Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu đó Trong trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì quyền sở hữu nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều
95 của Luật này
- Chủ thể có hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp: Anh A là Giám đốc Công
ty May và xuất nhập khẩu Hoàng Huỳnh tại quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh và B
- người được A đặt hàng sản xuất tem, nhãn mang nhãn hiệu Adidas và Nike Hành vi vi phạm cụ thể của A và B sẽ được phân tích ở phần sau
2 Giải quyết tình huống:
19
Trang 20Hành vi của A và B đã xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Anh A nhận hợp đồng may gia công 3000 chiếc áo thun lưới gắn nhãn hiệu Adidas
và Nike cho một người buôn bán quần áo tại Nga A đặt hàng cho B sản xuất cho mình tem, nhãn mang nhãn hiệu Adidas và Nike, còn doanh nghiệp của A tự mua vải về cắt may Như vậy, hành vi của A và B đã xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp cụ thể như sau: Căn cứ khoản 4 điều 11 nghị định 105/2006/NĐ - CP như đã phân tích ở phần I.2 thì hành vi của A và B là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu bởi đã
có đầy đủ 4 căn cứ:
Thứ nhất, nhãn hiệu Adidas và Nike thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ
Hai nhãn hiệu là là nhãn hiệu nổi tiếng và được đăng kí bảo hộ tại Việt Nam
Nhãn hiệu Adidas và Nike đã được công nhận là nhữngNHNT không chỉ ở Việt Nam
và trên cả thế giới Công ty Interbrand và Tạp chí BusinessWeek hằng năm đưa ra danh sách các nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới Các điều kiện để xếp hạng 100 NH nổi tiếng của Interbrand và BusinessWeek cũng tương tự như quy định tại Điều 75 Luật SHTT Trong danh sách 100 NH nỗi tiếng do Interbrand và BusinessWeek đưa ra hàng năm có NH Adidas, Nike
NH Adidas (Đức) nhóm HH thể thao, năm 2006 xếp thứ 64, năm 2007 xếp thứ 70 (trị giá chuyển nhượng 4,6 tỷ USD), năm 2008 xếp thứ 70 và năm 2009 xếp thứ 62 (trị giá 5,
4 tỷ USD) NH Nike (Mỹ) nhóm HH thể thao, năm 2006 xếp thứ 31, năm 2007 xếp thứ 29 (trị giá chuyển nhượng 12 tỷ USD), năm 2008 xếp thứ 29, năm 2009 xếp thứ 26 (trị giá 13,179 tỷ USD) Như vậy, Adidas và Nike liên tục trong nhiều năm được xếp loại thuộc
100 NHNT trên thế giới
Thứ hai, có yếu tố xâm phạm NHNT Adidas và Nike trong hành vi của A và B
Khi được thừa nhận, được coi là nổi tiếng, NH đó có sức mạnh riêng Điều 6BIS
của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (SHCN) có quy định: “… các nước
thành viên Công ước có trách nhiệm, theo chức năng quản lý nếu luật quốc gia cho phép điều đó, hoặc theo đề nghị của bên có liên quan, từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng NH mà NH đó là sự sao chép, bắt chước, chuyển đổi và có khả năng gây nhầm lẫn với các NH đã được cơ quan có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nước sử dụng coi là NH nổi tiếng tại nước đó như là NH thuộc về người được hưởng lợi thế của Công ước và sử dụng trên các loại HH giống hoặc tương tự Những quy định này cũng được áp dụng trong trường hợp thành phần chủ yếu của NH là sự sao chép của bất kỳ NH nổi tiếng nào hoặc sự bắt chước có khả năng gây nhầm lẫn với NH trước đó…” Việt Nam
là thành viên của Công ước Pari năm 1883
Điểm d Khoản 1 Điều 129 Luật SHTT xác định hành vi xâm phạm quyền NHNT là khi “Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với NHNT hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang NHNT, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn
20
Trang 21gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu NHNT”
Điểm b khoản 4 điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ – CP cũng quy định yếu tố xâm
phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng: “…hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương
tự, không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.”
Tóm lại, giám đốc A sản xuất các hàng hóa thuộchay không thuộc nhóm hàng hóa của Adidas và Nike cũng đều xâm phạm đến hai NHNT này theo những căn cứ pháp lý đã nêu và đều bị xử lý Là một trong những hành vi bị xử phạt về hàng hóa giả mạo nhãn hiệu
theo khoản 2 điều 213: “Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá
có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.”
Đối với hành vi của B cũng là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn được quy
định tại điểm c khoản 1 điều 211 : “Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ
tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này” và được quy định tại điều 13: Sản xuất, nhập khẩu,
buôn bán, vận chuyển, tàng trữ để bán tem, nhãn, vật phẩm mang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý giả mạo - Nghị định 99/2013/NĐ - CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Thứ ba, A và B thực hiện hành vi không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không
phải người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép
Thứ tư, hành vi của A và B xảy ra tại Việt Nam, cụ thể là quận Tân Bình thành phố
Hồ Chí Minh
=> Như vậy, đã có đủ 4 căn cứ để kết luận hành vi của A và B là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp cụ thể đối với hai NHNT Adidas và Nike.Chế tài để xử lý những hành vi này cũng đã được quy định cụ thể và sẽ được làm rõ ở phần sau
21
Trang 22CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
Nhãn hiệu hàng hoá là gì?
Là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau (Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ)
Điều kiện bảo hộ?
+ Là dấu hiệu nhận thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; + Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác
Nhãn hiệu có tầm quan trọng như thế, nào trong cơ chế thị trường hiện nay?
Bảng nhãn hiệu là dấu hiệu phân hàng hoá của mình sản xuất khi đưa ra thị trường,
có thể quảng cáo sản phẩm thông qua nhãn hiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo, Đài phát thanh, truyền hình, trên các biển quảng cáo hoặc trong giấy tờ giao dịch … nhằm đẩy mạnh cạnh tranh trong lưu thông hàng hoá
Mặt khác, thông qua nhãn hiệu người tiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn hàng hoá theo nhãn hiệu phù hợp với nhu cầu, sở thích, mức chất lượng mà mình mong muốn
Tại sao phải đăng ký nhãn hiệu hàng hoá?
Việc đăng ký nhãn hiệu giúp cho doanh nghiệp của bạn được sử dụng độc quyền nhãn
đã được bảo hộ, đồng thời chống lại mọi hành vi xâm quyền đối với nhãn hiệu mà bạn đang được bảo hộ
Nếu bạn chờ đến khi doanh nghiệp mình có uy tín thông qua hàng hoá, dịch vụ có chất lượng rồi mới đăng ký nhãn hiệu dùng cho các hàng hoá, dịch vụ đó; thì khi ấy rất có thể các doanh nghiệp khác (đối thủ cạnh tranh) đã thực hiện đăng ký trước chính nhãn hiệu của bạn Nếu đúng như vậy, thì bạn phải dừng việc sử dụng nhãn hiệu đó hoặc tiến hành các thủ tục (không phải dễ dàng) để đòi lại nhãn hiệu đó
Ngoài ra chưa tính đến việc khi bạn không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thì bất cứ ai cũng có thể sử dụng nhãn hiệu của bạn mà không thể coi là vi phạm
Thời gian từ khi đăng ký đến khi được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là bao lâu?
Đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trải qua ba giai đoạn:
+ Thời hạn thẩm định hình thức đơn: 01 tháng kể từ ngày nộp đơn;
+ Thời hạn công bố đơn: 02 tháng kể từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ;
22
Trang 23+ Thời hạn thẩm định nội dung đơn: 03 tháng kể từ ngày công bố đơn
Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu ?
- Tờ khai (theo mẫu quy định): 03 bản;
- Mẫu nhãn hiệu: 15 mẫu;
- Chứng từ nộp phí và lệ phí;
- Giấy uỷ quyền (nếu có);
- Tài liệu hướng dẫn ưu tiên (nếu có)
Đăng ký quốc tế nhãn hiệu?
Nhãn hiệu được bảo hộ theo nguyên tắc lãnh thổ Đăng ký ở nước nào thì chỉ có hiệu lực ở nước đó Vì vậy doanh nghiệp cảu bạn đã và đang dự định xuất khẩu hàng hoá thì việc đăng ký kịp thời ở những nước có hàng hoá xuất khẩu đó là rất cần thiết Điều đó, giúp doanh nghiệp của bạn xâm nhập, tạo lập và giữ vững thị trường xuất khẩu
Để việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu được thuận lợi, bạn có thể đăng ký thông qua Thoả ước Madrid (khi nhãn hiệu đã được bảo hộ ở Việt Nam) hoặc thông qua Nghị định thư Madrid (khi nhãn hiệu đã nộp đơn đăng ký ở Việt Nam) đến những nước là thành viên của hai điều ước Quốc tế nói trên
KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
Kiểu dáng công nghiệp là gì?
Kiểu dáng công nghiệp là hình dạng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó (Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ)
Điều kiện bảo hộ?
Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây (Điều 63 Luật
Sở hữu trí tuệ):
1 Có tính mới;
2 Có tính sáng tạo;
3 Có khả năng áp dụng công nghiệp
Tầm quan trọng của kiểu dáng công nghiệp?
Kiểu dáng công nghiệp luôn luôn mang tính thẫm mỹ, làm cho sản phẩm đẹp hơn, kích thích thị hiếu của người tiêu dùng muốn mua hàng nhiều hơn, qua đó làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất
Kiểu dáng công nghiệp có tác động tích cực, nâng cao tính tiện ích của sản phẩm, qua
đó làm tăng chất lượng cuộc sống của con người
23
Trang 24
Tại sao phải đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp?
Việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp sẻ giúp chủ sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo đảm độc quyền khai thác nhằm mục đích thương mại (sản xuất, đưa vào lưu thông, xuất nhập khẩu sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp đó) Trong thời gian bảo hộ bất kỳ người nào khai thác kiểu dáng công nghiệp mà không được phép của chủ sở hữu sẽ
bị coi là xâm phạm quyền và bị xử lý theo pháp luật
Doanh nghiệp đầu tư tài chính, vật chất, nhân lực để tạo ra kiểu dáng công nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu được cấp văn bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp theo quy định
Bạn cần quyết định và nộp đơn càng sớm, càng tốt, bởi vì cũng như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp chỉ cấp bằng độc quyền cho người nộp đơn sớm nhất trong số những người cùng nộp đơn và đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ (nguyên tắc nộp đơn ưu tiên)
Thời gian từ khi đăng ký đến khi được cấp văn bằng bảo hộ bao lâu?
Đơn đăng ký bảo hộ kiểu dáng trải qua 03 giai đoạn:
- Thời hạn thẩm định hình thức đơn: 01 tháng kể từ ngày nộp đơn;
- Thời hạn công bố đơn: 02 tháng để từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ
- Thời hạn thẩm định nội dung đơn: 06 tháng kể từ ngày công bố đơn
Hồ sơ đăng ký kiểu dáng công nghiệp?
- Tờ khai (theo mẫu quy định) 03 bản
- Bản mô tả (bằng tiếng việt) 03 bản
- Bộ bản vẽ/ ảnh chụp 06 bộ
- Chứng từ nộp phí, lệ phí
- Giấy uỷ quyền (nếu có)
- Tài liệu xin uỷ quyền ưu tiên (nếu có)
24
Trang 2525