1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng chương 1 đường lối cách mạng của đảng cộng sản việt nam

22 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 46,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1. Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 2. Hoàn cảnh trong nước

Trang 1

CHƯƠNG 1:

SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1 Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

a) Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó

- Từ cuối TK XIX, CNTB chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang CNĐQ.Khi trở thành CNĐQ, các nước đế quốc bên trong thì tăng cường bóc lộtnhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộcthuộc địa

+ Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc-giai đoạn tột cùng của CNTB”, Lênin đã ví

sự xâm lược của của chủ nghĩa đế quốc như một hiện tượng tự nhiên “CNĐQmang theo chiến tranh như mây mù mang theo mưa” Chiến tranh xâm lược đã trởthành bản chất, thuộc tính của CNĐQ

+ Cũng trong tác phẩm này, Lênin đã thống kê 6 nước có diện tích thuộc địa lớntrước đây bao gồm: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga, Nhật Tổng diện tích 6 nước này =16,5tr Km2 Ấy thế mà, diện tích thuộc địa của họ lại lớn gấp nhiều lần(65tr.km2) Đặc biệt, nước đế quốc đầu tiên có hệ thống thuộc địa đầy đủ cả 5 châulục là Anh, nói “mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh” là vì vậy Tiếp đến

là nước Pháp, diện tích của Pháp chỉ khoảng 0,5tr.km2, nhưng diện tích thuộc địaPháp nắm trong tay lại lớn hơn 21 lần diện tích của Pháp (khoảng 10,6tr.km2)

 Sự thống trị tàn bạo của CNĐQ đã làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộcthuộc địa với CNDQ càng gay gắt

- Ngày 1-8-1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ Cuộc chiến tranh nàygây ra những hậu quả đau thương cho nhân dân các nước, đồng thời cũng đãlàm cho CNTB suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc tăng

Trang 2

thêm => Tình hình đó đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh ở các nướcnói chung, các dân tộc thuộc địa nói riêng phát triển mạnh mẽ

b) Ảnh hưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin

- Vào giữa thế kỉ XIX, khi phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân pháttriển mạnh đặt ra một yêu cầu bức thiết phải có môt hệ thống lý luận khoahọc với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân đấu tranh chốngchủ nghĩa tư bản Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau đượcLênin phát triển và trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin

- Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấutranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập rađảng cộng sản Bởi đảng sẽ là người tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh củagiai cấp công nhân để thực hiện mục đích giành lấy chính quyền và xâydựng xã hội mới

- Kể từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong tràoyêu nước và phong trào công nhân phát triển mạnh theo khuynh hướng cáchmạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.Nguyễn Ái QUốc đã vận dụng vá phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lêninvào thực tiễn cách mạng Việt Nam, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam

c) Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản

 Chúng ta đi vào tác động thứ nhất: Cách mạng tháng Mười Nga

- Năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi Nhà nước Xôviết dựa trên nền tảng liên minh công-nông dưới sự lãnh đạo của ĐảngBônsevich Nga ra đời Thắng lợi của CMT10 mở ra một thời đại mới “thờiđại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”1

- Cuộc cách mạng này đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấpcông nhân, nhân dân các nước và cũng là một trong những động lực thúc

1 Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 164

Trang 3

đấy sự ra đời nhiều đảng cộng sản như: Đảng Cộng sản Đức, Đảng Cộng sảnAnh, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp,…

- Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gươngsáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức, và tác động sâu sắc đếnlãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã nhậnđịnh về ý nghĩa của cách mạng tháng Mười Nga rằng: “cách mệnh Nga dạycho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (côngnông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phảithống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”1

 Về tác động của Quốc tế Cộng sản

- Năm 1895, Ăng-ghen mất, giai cấp tư sản đã làm lũng đoạn Quốc tế II, banlãnh đạo Quốc tế II bị phân hóa Một bộ phận chuyển sang “con đường cáchmạng”, một bộ phận chuyển sang “con đường cải lương”, từ bỏ học thuyếtMác, thừa nhận CNTB Trong bối cảnh đó, 3-1919 Lênin đã thành lập raQuốc tế III (Quốc tế Cộng sản)

+ Quốc tế III có trách nhiệm:

 Lãnh đạo phong trào cách mạng ở các nước tư bản

 Lãnh đạo phong trào GPDT ở các nước thuộc địa

+ Tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920), Lênin đã công bố bản “Sơ thảolần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” chỉ racon đường giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa theo con đườngCÁCH MẠNG VÔ SẢN (Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội)

- Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò:

 Truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam

 Đào tạo cán bộ và chỉ đạo việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 139

Trang 4

Nói về vai trò của QTCS, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “An Nam muốncách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”1

2 Hoàn cảnh trong nước

a) Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp

 Chính sách cai trị của thực dân Pháp

- Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Sau khi tạm thời dậptắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bướcthiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam

+ Về Chính trị: thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏquyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn;chia Việt Nam ra thành 3 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ởmỗi kỳ một chế độ cai trị riêng

+ Về kinh tế: thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền;đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp; xây dựng

hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho lợi ích của chúng

+ Về văn hóa: thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thựcdân; bóp nghet quyền tụ do ngôn luận; chỉ có những sách báo tuyên truyền

cho văn hóa Tây Âu, chính sách hơp tác và chủ trương Pháp-Việt đề huề;

dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu…

 Mục đích của thực dân Pháp trong việc thực hiện chế độ cai trị này để “duytrì mãi mãi dân bản xứ trong tình trạng yếu hèn cả về thế lực lẫn trí tuệ đểchặn đứng mọi mong muốn được sống tự do và độc lập”2 (Phan VănTrường)

 Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam

1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Sđd, tr 312

2 Dẫn theo Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập I (1930-1954), tr 8.

Trang 5

- Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dụcthực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc Tuy diễn ramạnh mẽ nhưng thiếu triệt để, tạo ra một xã hội thuộc địa-nửa phong kiến ởViệt Nam.

+ Giai cấp địa chủ: đã tồn tại hơn ngàn năm Chủ nghĩa tư bản thực dânđược đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xóa

bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế độ thuộcđịa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dânPháp, trong nội bộ giai cấp địa chủ Việt Nam có sự phân hóa thành 3 bộphận: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ Vốn sinh ra và lớn lên trongmột quốc gia có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sáchthống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên một bộ phận trung vàtiểu địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc vềquyền lợi dân tộc nên đây sẽ là lực lượng cần đoàn kết, tập hợp trong cuộcđấu tranh chống thực dân và phản động tay sai

+ Giai cấp nông dân: là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam,chiếm 90% dân số cả nước, họ bị chịu 2 tầng áp bức: phong kiến và thựcdân, hay nói cách khác họ vừa bị mất nước vừa bị mất ruộng đất

+ Giai cấp công nhân Việt Nam: là sản phẩm trực tiếp của chính sách khaithác thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng

do Pháp nắm giữ Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX, khithực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ choviệc xâm lược và bình định ở nước ta Trong cuộc khai thác thuộc địa lầnthứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã hình thành

Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, số lượng chỉ chiếmkhoảng 1,25% dân số, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống khá tậptrung tại các thành phố, các khu công nghiệp

Trang 6

Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấpcông nhân quốc tế, đồng thời còn có những đặc điểm riêng như:

 phải chịu 3 tầng áp bức bóc lột: đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ

 phần lớn giai cấp công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân do mấtruộng đất, nên có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi với nông dân

 Gccn Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội bộ thầnnhất, không bị phân tán về lực lượng và sứa mạnh

 Sinh ra và lớn lên ở một đất nước có nhiều truyền thống văn hóa tốtđẹp, nhất là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, sớm tiếp thuđược tinh hoa văn hóa tiên tiến trong trào lưu tư tưởng của thời đạicách mạng vô sản để bồi dưỡng bản chất cách mạng của mình

+ Giai cấp tư sản: hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thựcdân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ làmột tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã trở thành giai cấp

Vì ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh gay gắt khiếncho giai cấp tư sản Việt Nam phát triển chậm một cách khác thường Tư bảnPháp giữ uy thế của kẻ thống trị, lũng đoạn trong kinh doanh và sản xuấtcông nghiệp Tư sản Hoa kiều thì nắm triệt để các hoạt động thương mại(buôn bán, vận chuyển, xay xát, xuất khẩu thóc gạo) Mặc dù đã lớn mạnh

và trở thành một giai cấp, bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, có những đónggóp nhất định cho phong trào dân tộc, nhưng “chính sách thuộc địa của thựcdân Pháp đã hạn chế quá trình tích lũy của tư sản bản xứ khiến họ không đủsức tiến lên mở mang một vài ngành quan trọng về công nghiệp và thươngmai Do đó giai cấp tư sản Việt Nam không đủ sức đóng vai trò quan trọngnhư tư sản Trung Quốc, Ấn Độ”1 và trở nên bạc nhược về chính trị, điều nàythể hiện khá rõ qua các tổ chức Đảng Lập hiến, Việt Nam Quốc dân Đảng

1 Dẫn theo Viện Lịch sử Đảng (2008), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập I (1930-1954), Sđd, tr 14

Trang 7

Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân hóa thành 2

bộ phận:

 Tư sản mại bản: là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc.Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phátcanh, thu tô Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thựcdân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc

 Tư sản dân tộc: là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm tư sảnvừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, côngnghiệp và cả tiểu thủ công nghiệp Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bảncủa dân tộc Việt Nam, nhưng do chính sách độc quyền và chèn ép của tưbản Pháp nên không thể phát triển mạnh Xét về mặt quan hệ với đế quốcPháp, tư sản dân tộc phải chịu thân phận mất nước, có mâu thuẫn vềquyền lợi với đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ có tinh thần chống

đế quốc và phong kiến => Vì vậy, tư sản dân tộc là một lực lượng cáchmạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc + Tầng lớp tiểu tư sản: ra đời từ hệ quả của các cuộc khai thác thuộc địa của thựcdân Pháp- trong đó đông đảo và năng động nhất là giới trí thức, học sinh, sinh viên

Họ có một vị trí vô cùng quan trọng đối với việc tiếp nhận và truyền bá những tưtưởng mới vào quần chúng ngoài ý muốn của bộ máy thống trị thực dân Tầng lớpnày ngày càng đông, liên tục phân hóa và không phải là một tầng lớp thuần nhất vềquan điểm chính trị

Nói về vai trò của tầng lớp tiểu tư sản, Lê Duẩn đã nhận xét rằng: “Tầng lớp tríthức tiểu tư sản đã đóng một vai trò quan trọng trong cách mạng ở thuộc địa.Những người trí thức tiểu tư sản là những người có điều kiện tiếp xúc với phongtrào cách mạng quốc tế và hiểu biết phong trào ấy, đồng thời họ gần gũi côngnông, cho nên chính họ là những người đưa những quan điểm, những tư tưởng mớivào quần chúng công nông Trí thức tiểu tư sản có tình cảm dân tộc mạnh, đồng

Trang 8

thời họ là những người có cảm giác nhạy bén, nên khi phong trào cách mạng đang

đi lên thì tình cảm cách mang của họ được phát triển mau lẹ hơn Vì vậy trongphong trào cách mạng, kẻ châm ngòi pháo đầu tiên thường là trí thức”1

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, trong Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộngsản (12-7-1940) đã đánh giá: “Trí thức: từ học trò đến công chức, thầy thuốc, vì cótrình độ văn hóa tương đối cao, có điều kiện tiếp cận với người Pháp hơn, lại vì họ

bị người Pháp coi thường, cho nên họ đều rất ghét người Pháp Song vì không có

 Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xãhội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Trong đóđặc biệt là sự ra đời của 2 giai cấp mới: công nhân và tư sản Việt Nam Cácgiai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận ngườidân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức,bóc lột Chính sách cai trị, áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và phong kiếntay sai đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam: mâu thuẫngiữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược (mâu thuẫn dântộc); mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam (chủ yếu là nông dân) với giai cấpđịa chủ phong kiến

Hai mâu thuẫn cơ bản trên đặt ra cho cách mạng Việt Nam phải chọn chođược phương pháp cách mạng đúng đắn ngay từ những ngày đầu tiến hànhvận động và tập hợp lực lượng cách mạng Nếu không thấy được xã hội ViệtNam như Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng: về mặt cấu trúc kinh tế khônggiống như xã hội phương Tây thời trung cổ cũng như thời cận đại và đấutranh giai cấp ở đó cũng không quyết liệt như ở Châu Âu thì không bao giờ

1 Dẫn theo Viện Lịch sử Đảng (2008), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập I (1930-1954), Sđd, tr 16

2 Hồ CHí Minh toàn tập (2000), tập 3, Sđd, tr 164

Trang 9

chỉ ra được kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam là đế quốc xâm lược, mọilực lượng cách mạng cần phải tập trung hoàn thành cách mạng dân tộc.

b) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến: Tiêu biểu cho phong

trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến là: Phong trào Cần Vương(1885-1896) và Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913)

- Phong trào Cần Vương (1885-1896): là một phong trào đấu tranh do vuaHàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã mở một cuộc tiến công vào trạilính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885) Việc không thành, Tôn ThấtThuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu CầnVương Mặc dù sau đó vua Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vươngvẫn phát triển Đến năm 1896, phong trào Cần Vương chính thức chấm dứtvới sự thật bại của cuộc Khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng

- Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913): trong lúc nhân dân nhiều địa phương đấutranh dưới ngọn cờ cứu nước của các văn thân sĩ phu, thì tại Yên Thế (BắcGiang), dưới sự lãnh đạo của vị thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám, nôngdân xây dựng lực lượng chiến đấu, lập căn cứ và đấu tranh kiên cườngchống chế độ thuộc địa Ngọn cờ cứu nước của Hoàng Hoa Thám có sức thuhút rộng rãi nhiều lực lượng yêu nước, cách mạng và cổ vũ tinh thần đấutranh của đồng bào chông chế độ thuộc địa nhưng tư tưởng và hanh độngcủa Hoàng Hoa Thám vẫn mang cốt cách phong kiến, không đủ sức tạothành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

 Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tưtưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giảiquyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam

- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản:

Trang 10

- Đảm đương vai trò lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng hai thậpniên đầu thế kỉ XX là một lớp trí thức Nho học giàu lòng yêu nước, thấmnhuần tư tưởng dân chủ tư sản Trên cơ sở đó, xuất hiện xu hướng bạo động

do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo và xu hướng cải cách do Phan ChâuTrinh đề xướng

+ Năm 1904, Phan Bội Châu lập hội Duy Tân, nghiên cứu kinh nghiệm Duy Tâncủa Nhật Bản, xem Nhật Bản là mẫu hình số một ở Châu Á Ông cho rằng ViệtNam và Nhật Bản là nước đồng chủng, đồng văn Vì vậy, ông phát động phongtrào Đông Du tổ chức đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập với 2 nhiệm vụ:nhờ người Nhật trang bị vũ khí để giải phóng dân tộc; để có nền kinh tế-chính trị-

xã hội như Nhật Bản

Một số người đã hỏi Phan Bội Châu rằng: “Nhật Bản và Triều Tiên có đồng chủng,đồng văn không? Vậy tại sao Nhật Bản lại đem quân xâm lược Triều Tiên Cụ kohiểu được rằng đây là thời đại của chủ nghĩa đế quốc

Trong buổi tiễn đưa Phan Bội Châu lên đường sang Nhật Bản, cụ Nguyễn Sinh Sắc

đã tiễn đưa Phan Bội Châu bằng hai câu thơ:

“Làm trai đã quyết thì hànhMưa đơn gió kép ta đành xa nhau”

Tuy nhiên, phong trào Đông Du hoạt động không được bao lâu thì thông qua mạnglưới tình báo, thực dân Pháp đã biết được có một nhóm người Việt Nam sang NhậtBản Cho nên Pháp đã yêu cầu trục xuất những du học sinh Việt Nam ra khỏi Nhật.Nhật là một đế quốc trẻ nên rất cần nền đại công nghiệp Châu Âu như nền côngnghiệp Pháp=> Đầu năm 1908, Chính phủ Nhật Bản câu kết với thực dân Pháp, ralệnh trục xuất lưu học sinh Việt Nam và những người đứng đầu khiến cho Phongtrào Đông Du nhanh chóng kết thúc

Sau khi bi trục xuất khỏi Nhật, trên đường về nước, giáp biên giới Việt-Trung, Cụnửa muốn về nửa muốn đi, sau đó cụ đã quyết định đi tiếp và dừng chân ở Thái

Trang 11

Lan Khi cụ đang sống ở Thái Lan, cuộc cách mạng tư sản ở Trung Quốc do TônTrung Sơn lãnh đạo đã nổ ra và giành được thắng lợi Được sự khích lệ của cáchmạng Tân Hợi (1911), cụ quyết định sang Quảng Châu Tại đây, đầu năm 1912

Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục hội và thủ tiêu Duy Tân hội Mục

đích của việc thành lập Việt Nam Quang phục hội là để: tập hợp lực lượng để đưalực lượng về nước đánh Pháp và GPDT; xây dựng một nước Việt Nam mới, trong

đó Kinh tế sẽ tham khảo của Nhật Bản, về Xã hội sẽ theo chủ nghĩa Tam dân củaTôn Trung Sơn

Tuy nhiên, chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội lại thiếu cụ thể, rõ ràng; hơnnữa lần này ông mắc tiếp một sai lầm đó là không thấy hết sức mạnh của Pháp ởViệt Nam và Đông Dương Hoạt động gây thanh thế của Việt Nam Quang Phụchội ở trong nước cũng chỉ được thực hiện bằng cuộc ám sát viên Tuần phủ TháiBình Nguyễn Duy Hàn và một số sĩ quan Pháp tại Hà Nội trong tháng 3 và tháng4-1913 Cuối năm 1913, Phan Bội Châu bị bắt giam tại Trung Quốc, tớ đầu năm

1917 mới được tha Đến đây, vai trò của Việt Nam Quang phục hội cũng chấm dứt.Phan Bội Châu đã phải thốt lên rằng: “đời tôi trăm lần thất bại không có một lầnthành công” Đến đầu những năm 20, khi nghe tin cách mạng tháng Mười Ngagiành thắng lợi, điều này đã cuốn hút Người đến với cách mạng Tháng Mười, đếnvới CNXH ở nước Nga Cũng từ đó Cụ nuôi ý tưởng được đi đến Nga, nhờ ngườiNga giúp đỡ Cụ đến gặp đoàn đại biểu CHính phủ nước Nga Xô viết và đã giảibày nhờ sự giúp đỡ Sau đó, Cụ đã đến Bắc Kinh gặp đại sứ quán Nga và đã đượcchấp nhận

Sau khi nhận được lời giúp đỡ, Phan Bội Châu về nước để đưa lực lượng đến nướcNga XHCN Thế nhưng trong lần về nước này Cụ đã bị Pháp bắt Cụ đã nói vớiđám học trò và chỉ tay sang nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc “Thủ nhân, tỉ nã,thập vạn hội” (Con người đó hơn tối gấp chục vạn lần, hãy hỏi con người đó conđường cứu nước)

Ngày đăng: 26/05/2018, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w