1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Các Tổ Chức Tài Chính Phi Ngân Hàng

24 272 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 294,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời dẫn. Tuy các ngân hàng là một tổ chức tài chính mà chúng ta thường giao dịch nhất. Bạn có thể mua bảo hiểm của một công ty bảo hiểm, vay một món trả dần của một công ty tài chính hoặc mua một cổ phiếu. Trong mỗi giao dịch, bạn sẽ được tham gia vào các lĩnh vực tài chính phi ngân hàng và see4 đối phó với các tổ chức phi ngân hàng. Trong nền kinh tế của chúng ta, các tổ chức tài chính đóng một vai trì quan trọng trong việc khơi các nguồn vốn từ những người cho vay, những người tiết kiệm sẽ chuyển đến cho những người vay, người chi tiêu, giống như một ngân hàng. Hơn nữa, quá trình đổi mới tài chính và được làm mờ sự phân biệt giữa các tổ chức tài chính khác nhau. Chương này sẽ nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về các tổ chức tài chính tham gia vào lĩnh vực ngân hàng chủ yếu hoạt động như thế nào và họ diều hành ra sao. Các công ty bảo hiểm Hằng ngày chúng ta phải đối mặt với khả năng xảy ra nhưng tai họa nào đó, chúng có thể đưa chúng ta bị tổn thất tài chính lớn. Tiền thu nhập của một vợ chồng có thể mất đi do cái chết hoặc bệnh tật, một tai nạn xe hơi có thể dẫn đến hóa đơn sữa chửa tốn kém hoặc chi phí cho người bi thương. Bởi vì tổn thất tài chính do những khủng hoảng có thể là rất lớn so với nguồn tài chính của chúng ta, để bảo vệ bản thân mình bằng cách mua bảo hiểm thì cần mua một hợp đồng bảo hiểm. Hợp đông sẽ thanh toán cho chúng ta một khoản tiền nếu các tai nạn xảy ra. Các công ty bảo hiểm nhân thọ chuyên môn về các hợp đồng bảo hiểm chu cấp thu nhập nếu cá nhân đó bị chết, bị mất năng lực vì bệnh tật, hay về hưu. Các công ty bảo hiềm tai nạn và tài sản chuyên môn óa trong hợp đồng bảo hiểm các tổn thất do hậu quả tai nạn, cháy hoặc trộm cắp.

Trang 1

Bài dịch môn Tài chính- Tiền tệ nhóm 22.

sẽ nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về các tổ chức tài chính tham gia vào lĩnh vựcngân hàng chủ yếu hoạt động như thế nào và họ diều hành ra sao

Các công ty bảo hiểm

Hằng ngày chúng ta phải đối mặt với khả năng xảy ra nhưng tai họa nào đó,chúng có thể đưa chúng ta bị tổn thất tài chính lớn Tiền thu nhập của một vợ chồng cóthể mất đi do cái chết hoặc bệnh tật, một tai nạn xe hơi có thể dẫn đến hóa đơn sữa chửatốn kém hoặc chi phí cho người bi thương Bởi vì tổn thất tài chính do những khủnghoảng có thể là rất lớn so với nguồn tài chính của chúng ta, để bảo vệ bản thân mình bằngcách mua bảo hiểm thì cần mua một hợp đồng bảo hiểm Hợp đông sẽ thanh toán chochúng ta một khoản tiền nếu các tai nạn xảy ra Các công ty bảo hiểm nhân thọ chuyênmôn về các hợp đồng bảo hiểm chu cấp thu nhập nếu cá nhân đó bị chết, bị mất năng lực

vì bệnh tật, hay về hưu Các công ty bảo hiềm tai nạn và tài sản chuyên môn óa trong hợpđồng bảo hiểm các tổn thất do hậu quả tai nạn, cháy hoặc trộm cắp

Bảo hiểm nhân thọ

Các công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở Mỹ( Presbyterian Minister’s Fund ởPhiladelphia) được thành lập vào năm 1759 và hiện vẫn còn tồn tại Hiện có khoảng 1400công ty bảo hiểm nhân thọ, chúng được tở chức dưới hai hình thức: một dạng là các công

ty cổ phần và một dạng là công ty bảo hiểm tương trợ Các công ty cổ phần thuộc sở hữucủa các cổ đông, còn công ty tương trợ về kỹ thuật thuộc sở hữu của những người có hợpđồng bảo hiểm Mặc dù hơn 90% các công ty bảo hiểm nhân thọ được tổ chức theo dạngnhư các công ty bảo hiểm tương trợ, nhưng thực sự ½ số tài sản có trong công nghiệpnày do các công ty bảo hiểm tương trợ sở hữu

Các công ty bảo hiểm nhân thọ chưa từng trải qua thất bại như vỡ nợ lớn, lan rộngnhư các ngân hàng thương mại, do đó chính phủ liên bang thấy không cần điều chỉnhcông nghiệp này mà thay vào đó việc điều hành này giao cho các tiểu bang có các công tynày hoạt động Nhà nước quy định điều hành này nhằm các phương thức thực hành việc

Trang 2

bán bảo hiểm, dự phòng đủ các tài sản có tính lỏng để bồi thường tổn thất và hạn chế đớivới số lượng tài sản có rủi ro( ví dụ như cổ phiếu) mà các công ty này có thể năm giữđược Cơ quan quản lý thông thường là một ủy viên bảo hiểm tiểu bang.

Bởi vì mức độ tử vong nói chung là có thể dự báo với mức độ chắn chắc cao, cáccông ty bảo hiểm nhân thọ có thể dự báo chính xác số tiền tahnh toán cho những người

có mua bảo hiểm là bao nhiêu trong tương lai Do đó, họ nắm giữ các tài sản dài hạn vàđặc biệt khi họ không hài lòng với các trái khoán công ty hay món cho vay thế chấpthương mai cũng như môt số cổ phiếu công ty

Có hai hình thức bảo hiểm nhân thọ chủ yếu: bảo hiểm nhân thọ thườnxuyên( như bảo hiểm nhân thọ toàn vẹn, phổ thông và thay đổi) hoặc bảo hiểm nhân thọnhất thời( ví dụ như bảo hiểm theo kỳ hạn) Các họp đồng bảo hiểm nhân thọ dài hạn cóphí bảo hiểm không tahy đổi trong toàn bộ thời gian sống của hợp đồng bảo hiểm Trongnhững năm đầu của hợp đồng, tiền đóng cho bảo hiểm vượt quá số tiền cần để bảo hiểm

đề phòng cái chết bởi vì xác suất cái chết là thấp Vì vậy,các hợp đồng này xây dựng môtgiá trị tiền mặt trong những năm đầu, nhưng trong những năm sau đó số tiền bị sụp giảm

vì phí bảo hiểm không đổi đó trở nên quá nhỏ hơn số tiền cần thiết để đề phòng cái chết,xác suất cái chết bây giờ là cao hơn Người được bảo hiểm có thể vay lại số tiền của hợpđồng bảo hiểm nhân thọ đó hoặc có thể khiếu nại hủy bỏ hợp đồng

Bảo hiểm có kỳ hạn, ngược lại có một phí bảo hiểm được giữ lại cho tương xứnghăng năm với số tiền cầm thiết cho bảo hiểm để đề phòng cái chết trong suốt thời gian có

kỳ hạn( chẳng hạn như một năm hay năm năm) Kết quả, các hợp đồng bảo hiểm có kỳhạn có phí bảo hiểm tăng theo thời gian khi xác suất chết tăng lên( phí bảo hiểm hoặc cấpvới suy giảm số lương trợ cấp tử vong) Các hợp đồng bảo hiểm có kỳ hạn hông có giá trịbằng tiền mặt và do đó, trái ngược với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ lâu dài., chí cungcấp bảo hiểm không có khía cạnh tiết kiệm

Đầu tư trở lại chủ yếu về bảo hiểm nhân thọ lâu dài trong những năm 1960 và

19700 đã dẫn đến làm chậm sự tăng trưởng của nhu cầu đối bảo hiểm nhân thọ Kết quả

là một mất mát trong quá trình của nghành công nghiệp bảo hiểm nhân thọ so với cáctrung gian tài chính khác, với những chia sẻ của tổng tài sản trung gian tài chính giảm từ19,6% vào cuối năm 1960 lên 11,5% vào cuối năm 1980( xem bảng 1, mà trong nhữngchương trình phản ánh tương đối các tài sản tài chính trung gian cho mỗi trung gian tàichính được thảo luận trong chương này)

Bắt đầu từ giữa những năm 1970, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã bắt đầu tái cơcầu kinh doanh của mình để trở thành nhà quản lý tài sản cho quỹ hưu trí Một yếu tốquan trọng đằng sau tái cơ cấu này là 1974 luật khuyến khích các quỹ hưu trí để biếnquản lý trên quỹ trên cho các công ty bảo hiểm nhân thọ Bây giờ hơn một nữa só tài sảnquản lý ở độ tuổi của các công ty bảo hiểm nhân thọ dành cho qỹ lương hưu và khôngcho bảo hiểm nhân thọ Các công ty bỏ hiểm cũng đã bắt đầu bán những chiếc xe đầu tưcho nghỉ hưu như niên kim, sắp xếp theo đó khách hàng trả tiền phí bảo hiểm hằng năm

để đổi lấy một dòng tương lai của khoản thanh toàn hăng năm bắt đầu ở độ tuổi quy định

là 65 và tiếp tục cho đến khi chết Kết quả của việc kinh doanh mới này đã được thi phầncủa các công ty bảo hiểm nhân thọ là một tỷ lệ phần trăm của tổng tài sản trung gian tàichính đã được tổ chức đều đặn từ năm 1980

Bảo hiểm tài sản và tai nạn.

Trang 3

Số lượng các công ty bảo hiềm tài sản và tai nạn ở Mỹ lên tới trên 3000, trong đó

có hai công ty lớn nhất là State Farm insurance và Allstate Insurance Các công ty bảohiểm tài sản và tai nạn được tổ chức nhu các công ty cổ phiếu và các công ty tương trợ vàđược quy định bởi nhà nước Mặc dù các công ty bất động sản và bảo hiểm tai nạn cómột sự gia tăng nhẹ trong những chia sẻ của tổng tài sản trung gian tài chính 1960-1990( xem bảng 1)

Bảng 1: Phần tương đối của tổng tài chính trung gian Assest, 1960-2002 (phần trăm)

Công ty bảo hiểm

Bảo hiểm nhân thọ 19.6 15.3 11.5 12.5 13.6

Ngân hàng thương mại 38.6 38.5 36.7 30.4 29.8

S & L và các ngân hàng tiết

1980, thu nhập đầu tu đã giảm với sự sụt giảm của lãi suất, trong khi tăng các vụ kiện cóliên quan đến bảo hiểm tài sản và tai nạn và sự phát triển nhanh chóng ồ ạt về giá trị bồithường trong các vụ kiện như vậy đã gây thiệt hại, tổn thất nặng nề cho các công ty

Để có lợi nhuận, các công ty bảo hiểm đã tắng giá của họ một cách mạnh mẽ, đôikhi tăng gấp đôi hoặc thậm chí gấp ba và còn từ chối cung cấp bồi thường Họ cũng đãvận động ráo riết, tích cực cho những giới hạn đối với các món tiền thanh toán bảo hiểm,nhất là thanh toán cho sơ suất tế Vì trong việc tìm kiếm lợi nhuận, các công ty bảo hiểmcũng đang mở chi nhánh vào các lãnh thổ mà họ không được trao đặc quyền bằng cáchbảo hiểm tahnh toán lãi của những trái phiếu địa phương và công ty, cũng như các công

ty chứng khoán hỗ trợ cho việc vay thế chấp Một lo ngại là các công ty bảo hiểm có thểmang rủi ro cao để nâng cao lợi của họ lên Mối quan tâm này thấy rõ là việc điều tiết bảohiểm đạ đề cuất quy định mới sẽ áp đặt yêu cầu về vốn, rủi ro về các công ty dựa trên rủi

ro tài sản và hoạt động của họ

Trang 4

Các chính đầu tư của các công ty bị ảnh hưởng bởi hai sự kiện cơ bản là: thứ nhất

là họ phải chụi thuế thu nhập liên bang, phần lớn nhất trong tài sản của họ là những tráikhoán đại phương được miễn thuế Thứ hai, do tổn thất tài sản là ít chắn chắc so với mức

tử vong trong một khối lớn dân chúng, các công ty này có khả năng dự đoán hõ sẽ thanhtoán cho bao nhiêu cho những người được bảo hiểm so với các công ty bảo hiểm nhânthọ Tự nhiên hoặc tảm họa tự nhiên như động đất ở Los Angeles vào năm 1994 và cơnbão Floyd năm 1999 đã tàn phá các bộ phận của vùng biển Dông vào ngày 11 tháng 9năm 2001 tàn phá trung tâm thương mại Thế Giới, tiếp xúc với các công ty bất đông sản

và bảo hiểm tai nạn cho tỷ đô la thua lỗ Do đó, các công ty bất đông sản và bảo hiểm tainạn nắm giữ tài sản lỏn cao hơn các công ty bảo hiểm nhân thọ, trái phiếu và hệ thốngchứng khoán của chính phủ lớn hơn một nửa tài sản và hấu hết phần còn lại được tổ chứcvào trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu công ty

Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn sẽ đảm bảo chống lại, đề phòng các tổn thất

do hầu hết mọi bất trắc như cháy, mất trộm, so suất, động đất và tai nạn ô tô Nếu một tổnthất nào đó có thể được bảo hiểm là quá lớn đối với bất kỳ một hãng nào, thì thường vàihãng sẽ cộng tác với nhau một hợp đồng bảo hiểm để chia sẻ rủi ro Hoạt đông chia sẻphần gánh chụi rủi ro nổi tiếng nhất là của hãng Lloyd’s of Lodon, trong đó các công tybảo hiểm khác nhau có thể bảo hiếm một phần của hợp đồng bảo hiểm Lloyd’s ofLondon đã tuyên bố rằng nó sẽ đảm bảo đề phòng bất kỳ một sự độ biến nào và với giánào đó

Các mối đe dọa cạnh tranh từ ngành ngân hàng

Gần đây các ngân hàng đã rủi ro khả năng của họ để bán sản phẩm bảo hiểm nhânthọ Điều nay đã được thay đổi nhanh chóng, tuy nhiên hơn hai phần ba số bang cho phépcác ngân hàng bán bảo hiểm nah6n thọ ở dạng này hay dạng khác Trong những năm gầnđây, các cơ quan quản lý ngân hàng, đặc biệt là các văn phòng của các kiểm soát tài củatiền tệ (OCC), cũng khuyến khích các ngân hàng để nhập nghành vào lĩnh vực bảo hiểm

vì nhận được bảo hiểm làm thất bại ngân àng là ít khả năng VÍ dụ trong năm 1990 OCCphán quyết rằng bán niên kim là một hình thức đầu tư đó là ngẫu nhiên để kinh doanhngân hàng và do đó là một hoạt đông ngân hàng được phép Kết quả là, các cổ phiếu ngânhàng trên thị trường niên kim đã vượt qua 29% Hiện nay, hơn 40% các ngân hàng báncác sản phẩm bảo hiểm và con số này dự kiến sẽ tăng trong tương lai

Các công ty bảo hiểm và đại lý của họ đã phản ứng với mối đe dõa này với cả hai

vụ kiện và vận đông hành động để ngăn chặn các ngân hàng đi vào kinh doanh bảo hiểm.Những nổ lực của họ được thiết lập trở lại cao Phán quyết thiên về ngân hàng Đặc biệtquan trọng là một phán quyết có lợi cho ngân hàng Barnett tháng ba năm 1996, trong đó

tổ chức mà pháp luật nhà nước để ngăn chặn để ngăn chặn các ngân hàng bán bảo hiểm

có thể được thay thế bởi những phán quyết lien bang từ ngân hàng điều chỉnh cho phépcác ngân hàng bán bảo hiểm Quyết định cho các ngân hàng là một hướng đi mới để tiếptục hoạt động bảo hiểm và với việc thông qua Đạo luật Gramm Leach Bliley năm 1999,các ngân hàng sẽ tiếp tục tham gia vào việc kinh doanh bảo hiểm do đó làm mờ sự khácbiệt giữa các công ty bảo hiểm và ngân hàng

Quản lý bảo hiểm

Trang 5

Các công ty bảo hiểm, tương tự như các ngân hàng, thực hiện kinh doanh trunggian tài chính chuyển một dạng từ tài sản này thành một dạng khác cho công chúng Cáccông ty bảo hiểm sử dụng phí bảo hiểm thu được nhờ bán các hợp đồng bảo hiểm để đầu

tư vào các tài sản có sẵn như trái phiếu, cổ phiếu, các món vay thế chấp hoặc các mónvay khác, rồi từ những tài sản này sẽ được dùng để thanh toán cho khiếu nại đòi bồithường theo các hợp đồng đã được bán Nhưng theo thực tế thì các công ty bảo hiểmchuyển các tài sản sẵn có như trái khoan, cổ phiếu và các món vay thành các hợp đồngbảo hiểm, việc đó tạo ra nhiều dịch vụ(ví dụ như sắp xếp ổn thỏa các vụ khiếu nại đòi bồithường, các chương trình tiết kiệm, các đại lý bảo hiểm tin cậy) Nếu quá trình sản xuấtchuyển đổi tài sản của một công ty bảo hiểm cung cấp có hiệu quả cho khách hàng củamình những dịch vụ bảo hiểm xứng đáng với giá hạ và nếu nó thu được lợi tức cao trongcác vụ đầu tư của mình thì nó sẽ tạo ra lợi nhuận, cón nếu không thì nó sẽ chịu lỗ

Trong chương 9, các khái niệm kinh tế của lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức chophép chúng ta hiểu được một vài nguyên tắc quản lý ngân hàng liên quan đến rủi ro tíndụng, nhiều trong áp dụng cho các hoạt động cho vay của các công ty bảo hiểm Ở đâymột lần nữa, chúng ta lại dùng các khái niệm chon lựa bất lợi và rủi ro đạo đức đó để giảithích nhiều phương thức thực hành quản lý đặc trưng cho công nghiệp bảo hiểm nói trên

Trong trường hợp một hợp đồng bảo hiểm, rủi ro đạo đức xảy ra khi có bảo hiểm

sẽ khuến khích bên được bảo hiểm chấp nhận rỉ ro làm tăng khả năng của một tiền chi trảbảo hiểm Ví dụ, một cá nhân có bảo hiểm mất trộm ban đêm, có thể họ không thực hiệnnhiều biện pháp đề phòng để ngăn ngừa mất trộm, bởi vì có công ty bảo hiểm đền bù chongười đó phần lớn các tổn thất nếu người đó bị mất trộm Lựa chọn bất lợi xảy ra khinhững người dễ nhận được nhất các tiền bảo hiểm lớn là những người muốn mua bảohiểm nhiều nhất Ví dụ, một người đang bị chứng bệnh khó lòng mà qua khỏi sẽ muốnmau một hợp đồng bảo hiểm y tế nhân thọ lớn nhất có thể, vì thế các công ty bảo hiểmđứng trước những tồn thất lớn đang tìm ẩn Cả hai lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức đều

có thể đưa đến các tổn thất lớn cho công ty bảo hiểm vì chúng tạo ra những thanh toáncao cho các khiếu nại đòi bảo hiểm Do đó làm giảm lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức đểgiảm các khoản thanh toán này là mục tiêu quan trọng đối với các công ty bảo hiểm vàmục tiêu này giải thích một loạt các phương thíc thực hành bảo hiểm sau đây

Sàng lọc

Giảm lựa chọn bất lợi, các công ty bảo hiểm cố gắng sàng lọc ra những ngườimang bảo hiểm rủi ro tốt khỏi những người mang bảo hiểm rủi ro xấu Do vậy cácphương thúc tập hợp thông tin có hiệu quả là một nguyên tắc quan trọng trong quản lýbảo hiểm

Khi bạn nộp đơn xin bảo hiểm ôto việc đầu tiên mà nhân viên bảo hiểm làm là hỏibạn sẽ bảo hiểm và ngay cả các vấn đề cá nhân( tuổi, tình trạng hôn nhân) Nếu bạn đang

áp dụng đối với bảo hiểm nhân thọ bạn sẽ vượt qua một rào cản tương tự, nhưng bạnđược hỏi những câu còn mang tính chất cá nah6n hơn về những thứ như sức khỏe củabạn, thói quen hút thuốc, việc dùng thuốc, rược bia của bạn Các công ty bảo hiểm nhânthọ thậm chí còn khám nghiệm bạn bằng cách lấy máu và nước tiểu Cũng giống như mộtngân hàng tính điểmm tín dụng để đánh giá một con người có thể vay tiền, công ty bảohiểm này sử dụng thông tin bạn cung cấp để quy bạn vào cấp rủi ro nào đó- một phép đothống kê về khả năng bạn co thể khiếu nại hoặc bồi thường Dựa trên thông tin này, công

Trang 6

ty bảo hiểm đó có thể quyết định chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu bảo hiểm của bạn, bởi vìbạn đưa ra một bảo hiểm rủi ro quá lớn và như vậy là một trong những khách hàng khôngđem lại lợi nhuận cho công ty bảo hiểm.

Phí bảo hiểm rủi ro

Đối với công ty bảo hiểm, việc thu phí bảo hiểm trên cơ sở mức độ rủi ro của một người được bảo hiểm là một nguyên tắc hoạt đông đúng đắn Lựa chon bất lợi giải thíc tạisao nguyên tắc này quan trọng đến lợi nhuận đối với khả năng sinh ra lợi nhuận của công

ty bảo hiểm Để hiểu tại sao một công ty bảo hiểm phải cần thiết có các phí bảo hiểm rủi

ro, chúng ta hãy xem xét một ví dụ về các phí bảo hiểm rủi ro mà ban đầu có vẻ khôngcông bằng Harry và Sally, cả hai là 2 sinh viên đại học không có phiếu tai nạn hoặcphiếu lái xe quá tốc độ, nộp đơn xin bảo hiểm ô tô Thông thường Harry sẽ chụi phí bảohiểm cao hơn so với Sally Các công ty bảo hiểm làm như vậy vì những người đàn ôngthường có mức tai nạn cao hơn, tính trung bình so với phụ nữ trẻ Giả sử, một công tybảo hiểm không tính các phí bảo hiểm trên cơ sở số lượng trung bình rủi ro của nam giới

và nữ giới Khi đó Sally sẽ tốn nhiều tiền và Harry tốn ít tiền Sally có teh63 đến công tybảo hiểm khác và có một cái giá thấp hơn, khi đó Harry sẽ được kí hợp đồng bảo hiểmcủa mình Vì phí bảo hiểm của harry không đủ cao cho việc thanh toán cho các tai nạn

mà anh có thể có, tính trung bình công ty này sẽ tốn thất vì Harry Chỉ với một phí bảohiểm dựa trên một phân loại rủi ro, Harry chịu phí tổn nhiều hơn và công ty bảo hiểm này

có thể có lợi nhuận

Quy định hạn chế

Quy định hạn chế trong hợp đồng là một công cụ quản lý để giảm bớt rủi ro đạođức Các điều khoản như vậy là những người giữ hợp đồng nản lòng không thực hiệnnhững hoạt đông rủi ro làm cho khiếu nại bồi thường bảo hiểm có thể xảy ra Một điềukhoản hạn chế người giữ hợp đồng hưởng lợi vì hành vi cư xử khiến cho một vụ bồithường có thể xảy ra Ví dụ, công ty bảo hiểm nhân thọ có những khoản trong các hợpđồng của họ nhằm loại bỏ tiền trợ cấp chết nếu người được bảo hiểm tự tử trong vòng hainăm đầu tiên mà hợp đồng này có hiệu lực Các quy định, điều khoản hạn chế cũng có thểđòi hỏi một thái độ cư xử nào đó về phía người được bảo hiểm để cho một khiếu nại đòibồi thường khó có thể xảy ra Một ô tô cho thuê xe 3 bánh có thể yêu cầu cung cấp mũbảo hiểm an toàn cho người đi thuê để tránh nhiệm gắn với việc cho thuê Vai trò củanhững điều khoản hạn chế này không khác với vai trò của quy định về hạn chế các hợpđồng vay nợ được mô tả trong chương 8: cả 2 đều dùng để giảm rủi ro đạo đức bằng cáchloại bỏ thái độ cư xử không mong muốn

Phòng chống gian lận

Việc các công ty bảo hiểm phải đối mặt với rủi ro đạo đức vì một cá nhân bảohiểm có ý muốn là nói dối công ty và rối tìm cách khiếu nại đòi bồi thường dù khiếu nạinày không có căn cứ Ví dụ, một người không tuân thủ theo các điều khoản hạn chế củahợp đồng bảo hiểm có thể vẫn muốn tìm kiếm một khiếu nại Thạm chí tệ hơn, một người

có teh63 đưa ra các khiếu nại không thể xảy ra Vì vậy, một nguyên tắc quản lý quan

Trang 7

trọng cho các nhà cung cấp bảo hiểm được tiến hành điều tra để ngăn ngừa gain lận, chỉ

có bảo hiểm với khiếu nại với điều kiện hợp lý mới được bồi thường

Hủy bỏ bảo hiểm: sẵn sàng hủy bỏ các hợp đồng là một công cụ quản lý bảo hiểmkhác Các công ty bảo hiểm có thể kiềm chế và ngăn ngừa rủi ro đạo đức nếu họ đe dọađòi hủy bỏ hợp đồng khi người nào đó đang dược công ty bảo hiểm có những hoạt động

mà dễ để khiếu nại bồi thường Nếu công ty bảo hiểm ô to của bạn thấy rằng lái xe nào bịquá nhiều phiếu quá tốc độ thì họ sẽ hủy bỏ quyền bảo hộ đối với bạn, điều đó làm bạnkhông còn ý muốn chạy quá tốc độ

Các khoản khấu trừ

Khoản khấu trừ là một khoản tiền cố định được khấu bớt sự tổn thất của ngườiđược bảo hiểm khi được thanh toán Ví dụ một khoản khấu trừ 250$ đôla của một hợpđồng bảo hiểm ôtô có nghĩa là khi bạn chịu một tổn thất 1000 đôla do một tai nạn, công

ty bảo hiểm sẽ phải chi cho bạn là 750 đôla Các khấu trừ là một công cụ quản lí phụ cấpgiúp các nhà cung cấp bảo hiểm giảm rủi ro đạo đức Với một khoản khấu trừ, bạn gặpmột mất mát cùng với các công ty bảo hiểm khi bạn khiếu nại bồi thường và được thựchiện Bởi vì bạn cũng không thể kháng cự, tổn thương khi bạn có một tai nạn, điều nàylàm cho bạn có động cơ lái xe cẩn thận hơn Như vậy, một khoản khấu trừ làm do đó làmcho một người được bảo hiểm hành động phù hợp hơn với những gì là lợi nhuận chocông ty mà người đó mua bảo hiểm, rủi ro đạo đức đã được giảm.Và bởi vì rủi ro đạo đức

đã được giảm,các nhà cung cấp bảo hiểm có thể giảm phí bảo hiểm nhiều hơn đủ để bùcho sự tồn tại của các khoản khấu trừ trong hợp đồng bảo hiểm Một chức năng khác củakhấu trừ là loại trừ các chi phí hành chính xử lí các vụ kiện như buộc người được bảohiểm phải chịu những tổn thất

Bảo hiểm cộng đồng

Khi một hợp đồng bảo hiểm chia sẻ một tỷ lệ phần trăm của các thiệt hại cùng vớicác công ty bảo hiểm, sắp xếp của họ gọi là bảo hiểm cộng đồng.Ví dụ một số kế hoạchbảo hiểm y tế cung cấp bảo hiểm cho 80% các hóa đơn y tế và người ta sẽ được bảo hiểmtrả 20% sau khi số tiền khấu trừ nào đó đã được đáp ứng Bảo hiểm tai nạn làm giảmnguy cơ hại đạo đức hoàn toàn giống như cách thức mà một khoản khấu trừ tác động.Trong một hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm gánh chụi tổn thất cùng với cáccông ty bảo hiểm nên có ít động lực để hành động, chẳng hạn như việc đi chữa bệnhkhông cần thiết , có liên quan đến khiếu nại yêu cầu bồi thường nhiều hơn Do đó,bảohiểm cộng đồng là công cụ quản lí hữu ích cho các công ty bảo hiểm

Giới hạn trên lượng bảo hiểm

Một nguyên tắc quan trọng của quản lí bảo hiểm là cần phải có giới hạn đối vớiviệc cung cấp bảo hiểm, mặc dù khách hàng sẵn sàng trả tiền thanh toán để có thêm tiềnbồi thường cao hơn Tiền bồi thường bảo hiểm càng lớn thì thì người được bảo hiểm dễdàng tham gia vào các hoạt động có rủi ro Ví dụ ,nếu xe của Zelda được bảo hiểm trảhơn giá trị thật của nó, cô ấy có thể không cần phải có những biện pháp phòng ngừa thíchhợp để ngăn chặn hành vi trộm cắp của chính bản thân mình, chẳng hạn như làm cho

Trang 8

chắc chắn rằng các phím được tháo bỏ hoặc đặt trong một hệ thống báo động Nếu nó đã

bị đánh cắp, cô ấy sẽ rất phấn khởi vì việc mình sẽ nhận được tiền bảo hiểm bồi thườngnhiều hơn giá trị của chiếc xe cũ và cô ấy sẽ mua được một chiếc xe mới tốt hơn Ngượclại, khi các khoản thanh toán bảo hiểm thấp hơn giá trị chiếc xe của cô ấy, cô ấy sẽ chịumột mất mát nếu nó bị mất cắp và do đó sẽ có biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn điềunày xảy ra.Các nhà bảo hiểm phải luôn luôn đảm bảo rằng bảo hiểm của họ là không quácao, rủi ro đạo đức dẫn đến thiệt hại lớn

Quỹ hưu trí

Thực hiện chức năng tài chính trung gian của chuyển đổi tài sản, các quỹ hưu trícung cấp cho công chúng với một loại bảo vệ: thanh toán thu nhập về hưu Sử dụng laođộng, công đoàn hoặc các cá nhân có thể thiết lập các kế hoạch hưu trí, trong đó có được

quỹ thông qua đóng góp trả của người tham gia chương trình Như chúng ta thấy ở Bảng

số 1, kế hoạch hưu trí bao gồm cả công cộng và tư nhân đã trở nên quan trọng, với

những chia sẻ của tổng tài trung gian, tài chính tăng từ 10% vào cuối năm 1960 lên22,6% vào cuối năm 2002 Chính sách thuế liên bang đã là một yếu tố chính đằng sauđằng sau sự tăng trưởng nhanh chóng của các quỹ hưu trí và sử dụng lao động đóng gópcho kế hoạch hưu trí là thuế khấu trừ Hơn nữa chính sách thuế cũng đã khuyến khích sựđóng góp của nhân viên cho các quỹ hưu trí bằng cách như làm cho họ về thuế khấu trừ

và tạo điều kiện cho các cá nhân tự làm chủ mở ra các kế hoạch hưu trí trú ẩn về thuế củamình , kế hoạch Keogh và tài khoản hưu trí riêng

Vì lợi ích mang lại của các quỹ hưu trí mỗi năm rất có thể tiên đoán được, các quỹhưu trí đầu tư chứng khoán dài hạn với lượng nắm giữ tài sản của họ vào trái phiếu, cổphiếu và các khoản thế chấp dài hạn Các vấn đề quản lý chủ chốt cho các quỹ hưu trí xoay quanh quản lý tài sản : quản lý quỹ lương hưu cố gắng nắm giữ tài sản với lợinhuận kỳ vọng cao và rủi ro thấp hơn thông qua đa dạng hóa Họ cũng sử dụng kỹ thuật

mà chúng tôi thảo luận trong chương 9 để quản lý rủi ro về lãi suất tín dụng và rủi ro vềlãi suất Chiến lược đầu tư của quỹ hưu bổng đã thay đổi triệt để qua thời gian SauChiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết tài sản của quỹ hưu bổng được tổ chức trong côngtrái, với ít hơn 1% giữ trong kho Tuy nhiên, hiệu suất mạnh mẽ của cổ phiếu tronglương hưu năm 1950 và 1960 dành kế hoạch lợi nhuận cao hơn khiến họ phải thay đổidanh mục đầu tư của họ vào cổ phiếu hiện nay trên thứ tự của hai phần ba tài sản của họ.Kết quả là kế hoạch hưu trí hiện nay có một sự hiện diện mạnh mẽ hơn trong thị trườngchứng khoán : trong năm 1950, họ đã tổ chức vào thứ tự 1% của cổ phiếu công ty, hiện

Trang 9

nay họ đã tổ chức vào thứ tự 25% Quỹ hưu trí ngày nay được xem giống như là một taychơi nổi trội trên thị trường chứng khoán.

Mặc dù mục đích của tất cả kế hoạch hưu trí là giống nhau nhưng chúng có thểkhác nhau ở một số thuộc tính Trước tiên là phương pháp theo đó chi trả được chia làm:nếu lợi ích được quyết định bởi các khoản đóng góp vào kế hoạch và thu nhập của họ,tiền trợ cấp là định rõ-đóng góp kế hoạch; nếu tiền trợ cấp thu nhập tương lai (lợi ích)được xác lập trước, tiền trợ cấp là định rõ –lợi ích kế hoạch Trong trường hợp của định

rõ – lợi ích kế hoạch, thuộc tính thêm có liên quan đến như thế nào kế hoạch được cấpvốn Một kế hoạch hưởng được tài trợ hoàn toàn nếu đóng góp vào kế hoạch và thu nhậpcủa họ trong những năm qua là đủ để chi trả các lợi ích xác định khi đến hạn Nếu cáckhoản đóng góp không đủ, kế hoạch được tài trợ thiếu.Ví dụ, nếu Jan Brown đóng góp

$100 cho mỗi năm trong kế hoạch lương hưu và mức lãi suất là 10%, sau 10 năm đónggóp và thu nhập của họ sẽ có giá trị $1,753 Nếu lợi ích được xác định về kế hoạch lươnghưu trả cho cô ấy $1,753 hoặc ích hơn sau 10 năm, kế hoạch được tài trợ hoàn toàn bởi vìnhững đóng góp và thu nhập của cô ấy sẽ trả tiền đầy đủ những thanh toán này Nhưngnếu lợi ích định rõ là $2,000 kế hoạch được tài trợ thiếu vì đóng góp và thu nhập của cô

ấy không bao gồm lượng này

Một đặc tính thứ hai của kế hoạch lương hưu là trao quyền của họ, khoảng thờigian mà một người phải được ghi danh vào các kế hoạch hưu trí (bởi là một thành viêncủa một công đoàn hoặc nhân viên của một công ty) trước khi được cho phép để nhậnđược lợi ích Thường các công ty này yêu cầu một nhân viên làm việc 5 năm cho công tytrước khi được trao và đủ điều kiện để nhận trợ cấp hưu trí, nếu nhân viên rời khỏi công

ty trước 5 năm do tự nghỉ hoặc bị sa thải thì tất cả các quyền lợi sẽ bị mất

Các chương trình trợ cấp riêng

Kế hoạch hưu trí tư nhân được quản lí bởi một ngân hàng, một công ty bảo hiểmnhân thọ hoặc một quản lí quỹ trợ cấp Trong các chương trình trợ cấp do những ngườithuê công nhân đỡ đầu, các khoản đóng góp được chai sẻ giữa người thuê và người cothuê Kế hoạch lương hưu của nhiều công ty đang thiếu tiền vì họ có kế hoạch đáp ứngcác nghĩa vụ lương hưu của họ ra khỏi thu nhập hiện tại khi những lợi ích đến hạn.Miễn

là các công ty có đủ thu nhập, quỹ tạo ra không có vấn đề nhưng nếu không họ có thểkhông có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ lương hưu của họ Vì những vấn đề tiềm tàng

do quỹ của công ty, quản lí yếu kém, hành vi lừa đảo và lạm dụng của các quỹ hưu trí tưnhân (chuyển tiền trợ cấp là không mong đợi trong lĩnh vực này),quốc hội đã ban hànhđạo luật vể bảo đảm thu nhập cho hưu trí cho những người làm công vào năm 1974(ERISA) Hành động này thành lập các tiêu chuẩn tối thiểu đối với các báo cáo và công

bố thông tin, thiết lập quy tắc cho về điều kiện để thuộc vào chương trình và mức độ củaquỹ, đặt các hạn chế về thực hành đầu tư và gán trách nhiệm quản lí cho Bộ Lao Động

ERISA cũng thành lập công ty Đảm BảoTrợ cấp (gọi là Penny Benny ) thực hiệnvai trò cũng giống với của FDIC Nó đảm bảo quyền lợi trợ cấp đến một giới hạn 2250 đô

la (hiện có trên $40,000 mỗi người một năm ) nếu công ty với một chương trình trợ cấpthuộc cấp vốn thiếu đi đến chỗ phá sản hoặc không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ trợcấp của mình vì lý do khác Penny Benny kế hoạc hưu trí phần trội để trả tiền bảo hiểmnày và nó cũng mượn kinh phí tăng lên tới 100 triệu đô la Mỹ từ ngân khố của Mỹ Thật

Trang 10

đáng tiếc vấn đề về kế hoạch hưu bổng đã và đang đi xuống theo chiều hướng tệ hơntrong mấy năm gần đây.Vào năm 1993, thư ký của lao động chỉ ra rằng quỹ đã đạt đếnmức vượt quá $45 tỷ, với kế hoạch lương hưu của một công ty tư nhân, đó là công tyGeneral Motor mức tài trợ thiếu với số tiền lên tới 11.8 triệu đô la Mỹ.Kết quả là xuthuốc kích thích đảm bảo tiền trợ cấp của một trong những mỗi ba công nhân có thể phảithanh toán hóa đơn thiếu nếu công ty với số tiền trợ cấp phá sản.

Kế hoạch hưu bổng công cộng

Kế hoạch hưu bổng công cộng quan trọng nhất là an sinh xã hội (tuổi già và quỹbảo hiểm của người sống sót) trong đó bao gồm hầu như tất cả các cá nhân làm việc trongkhu vực tư nhân.Quỹ thu được từ lao động thông qua sự đóng góp bảo hiểm liên bangtrích trực tiếp (FICA) từ tiền lương của họ và từ sử dụng lao động thông qua thuế tiềnlương An sinh lợi ích xã hội bao gồm tiền lương hưu, trợ cấp cho người già và trợ giúpngười khuyết tật

Khi an sinh xã hội được thành lập từ năm 1935, chính phủ liên bang dành để hoạtđộng ,nó giống như một quỹ hưu trí tư nhân.Tuy nhiên không giống như một kế hoạchhưu trí tư nhân, lợi ích thường được trả từ các khoản đóng góp hiện tại không bị ràngbuộc chặt chẽ với những khoản đóng góp trong quá khứ của người tham gia.Điều này cónghĩa là “trả tiền khi bạn đi ”hệ thống tại một thời điểm dẫn đến một quỹ ước tính hơn

1000 tỷ USD

Các vấn đề của hệ thống an sinh xã hội có thể trở nên tồi tệ trong tương lai bởi vì

sự tăng trưởng về số người về hưu tương đương với dân số làm việc.Đại hội đã rất đauđầu với những vấn đề của hệ thống an sinh xã hội trong nhiều năm của một phần lớnngười về hưu khi vấn đề về hưu trí chưa giải quyết xong thì có 77 tỷ em bé được sinh ragiữa năm 1946 và 1964 gây bùng nổ dân số,tuy nhiên đến năm 2011 nó đã được kiểmsoát nhờ các cuộc đại cách mạng về an sinh xã hội của chính phủ(xem bảng 1)

Chính quyền tiểu bang và địa phương và chính phủ liên bang, như sử dụng laođộng tư nhân cũng đã lập kế hoạch hưu trí cho người lao động Các kế hoạch này là gầnnhư giống hệt nhau trong hoạt động cho kế hoạch hưu trí tư nhân và giữ tài sản tương tự.Quỹ của kế hoạch này cũng rất phổ biến và một số nhà đầu tư vào trái phiếu thành phố longại rằng nó có thể dẫn đến những khó khăn trong tương lai vào khả năng của chínhquyền tiểu bang và địa phương để đáp ứng các nghĩa vụ nợ của họ

Trang 11

Bảng 1

Nếu an sinh xã hội được tư hữu hóa ?

Trong những năm gần đây, sự tự tin nào trong hệ thống an sinh xã hội đã đạt đến mộtmức thấp mới Một số cuộc khảo sát cho thấy rằng những trẻ có thêm tự tin vào sự tồn tạicủa đĩa bay cao hơn là trong lời hứa của chính phủ trả tiền cho lợi ích an sinh xã hội của

họ Nếu không có sự xem xét kỹ, hệ thống an sinh xã hội sẽ không thể đáp ứng các nghĩa

vụ trong tương lai Chính phủ đã thành lập ủy ban cố vấn và đã tổ chức được phiên điềutrần để giải quyết vấn đề này

Hiện nay tài sản của hệ thống an sinh xã hội mà nằm trong một quỹ ủy thác tất cả đượcđầu tư vào đều thuộc Hoa Kỳ.Kho bạc chứng khoán.Vì cổ phiếu và trái phiếu doanhnghiệp có lợi nhuận cao hơn trái phiếu kho bạc, nhiều đề xuất để cứu hệ thống an sinh xãhội đề nghị đầu tư một phần của các quỹ tín thác vào chứng khoán của công ty và do đómột phần tư nhân hóa hệ thống

Gợi ý cho tư nhân hóa lấy ba hình thức cơ bản:

1.Đầu tư của chính phủ vào quỹ tài sản chứng khoán của công ty.Kế hoạch này có lợi thế

là có thể cải thiện tổng thể các quỹ ủy thác trong khi giảm thiểu chi phí giao dịch vì nókhai thác các nền kinh tế trong quy mô của quỹ tín thác Những nhà phê bình cảnh báorằng chính phủ sở hữu tài sản tư nhân có thể dẫn đến tăng sự can thiệp của chính phủ vàokhu vực tư nhân

2.Chuyển dịch tài sản quỹ tín thác vào tài khoản cá nhân có thể được đầu tư vào tài khoản cá nhân.Tùy chọn này có lợi thế là có thể tăng lợi nhuận trên đầu tư và không liên

quan đến chính phủ về quyền sở hữu tài sản riêng.Tuy nhiên các nhà phê bình cảnh báorằng có có thể có nguy cơ tiếp xúc với các cá nhân cao hơn và chi phí giao dịch trên tàikhoản cá nhân đó có thể là rất cao vì rất nhiều tài khoản có kích thước nhỏ

3.Tài khoản cá nhân ngoài những quỹ đầu tư Tùy chọn này có ưu điểm và nhược điểm

tương tự như tùy chọn 2 và có thể cung cấp thêm kinh phí cho cá nhân khi nghỉ hưu Tuynhiên một số thuế sẽ tăng để cung cấp vốn cho tài khoản này

Cho dù một số tư nhân hóa hệ thống an sinh xã hội xảy ra là một câu hỏi mở.Trong ngắnhạn, cải cách an sinh xã hội có khả năng liên quan đến việc tăng thuế, giảm lợi nhuậnhoặc cả hai.Ví dụ độ tuổi bắt đầu được hưởng trợ cấp được dự kiến sẽ tăng từ 65 đến 67

và có thể được tăng lên đến 70.Nó cũng có khả năng là nắp trên tiền lương chịu thuế ansinh xã hội sẽ được nâng cao hơn, do đó làm tăng thuế nộp vào hệ thống

Công ty tài chính

Công ty tài chính có được nguồn vốn bằng cách phát hành thương phiếu hoặc cổphiếu và trái phiếu hoặc vay từ các ngân hàng, họ sử dụng số tiền thu được để cho vay(thường cho một lượng nhỏ ) mà đặc biệt rất phù hợp với người tiêu dùng và nhu cầukinh doanh.Quá trình tài chính trung gian của các công ty tài chính có thể được mô tảbằng cách nói rằng họ vay với số lượng lớn nhưng thường cho vay với số lượng nhỏ, mộtquá trình hoàn toàn khác biệt so với các tổ chức ngân hàng khác mà thu nhập tiền gửi với

số lượng nhỏ rồi thường cho vay với số lượng lớn

Trang 12

Một tính năng chủ chốt của công ty tài chính là mặc dù họ cho vay đối với nhiềungười trong cùng một khách hàng vay từ các ngân hàng, họ hầu như không được kiểmsoát so với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tiết kiệm.

3 loại công ty tài chính:bán hàng, tiêu dùng, và kinh doanh:

1.Công ty tài chính bán hàng: được sở hữu bởi một bán lẻ hoặc một công ty sản

xuất nói riêng và cho vay đối với người tiêu dùng mua hàng từ công ty.Một ví dụ điểnhình dễ hiểu như công ty chấp nhận Roebuck tài trợ mua hàng tiêu dùng của tất cả các

hàng hóa dịch vụ tại các có cửa hàng của chính mình, và công ty động cơ nhận thanh

toán không điều kiện tài trợ tài chính mua xe ô tô GM nơi công ty mình đã bán động cơcho .Công ty tài chính bán hàng cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng cho vay tiêudùng và được sử dụng bởi người tiêu dùng vì các khoản vay thường có thể thu đượcnhanh hơn và thuận tiện hơn tại các địa điểm mà một mục được mua

2.Công ty tài chính tiêu dùng: cho vay đối với người tiêu dùng để mua các vật

phẩm đặc biệt như đồ nội thất hoặc đồ gia dụng,để cải thiện nhà hoặc để tái tài trợ cáckhoản nợ nhỏ Công ty tài chính tiêu dùng là các công ty riêng biệt (như công ty tài chính

hộ gia đình) hoặc được sở hữu bởi các ngân hàng (Citi group sở hữu công ty tài chínhtrực tiếp có văn phòng hoạt động trên toàn quốc ) Thông thường công ty này cho nhữngngười tiêu dùng không thể vay tín dụng vay và sẽ tính lãi suất cao hơn

3 Công ty tài chính kinh doanh: cung cấp các hình thức chuyên ngành về tín

dụng cho các doanh nghiệp bằng cách làm cho các khoản vay và mua các tài khoản phảithu (hóa đơn sở hữu đến hãng) theo giá chiết khấu, cung cấp tín dụng này được gọi là

“bao thanh toán” Ví dụ một công ty thay đồ có thể có các món nợ ( các khoản phải thu)

là $100,000 thuộc sở hữu của các cửa hàng bán lẻ đã mua trang phục của mình Bên cạnhviệc thanh toán, các công ty tài chính doanh nghiệp cũng chuyên về các thiết bị hàng đầu(như xe lửa, máy bay phản lực bào, máy tính) mà họ mua và sau đó cho các doanh nghiệpthuê một số lần ấn định trong năm

Qũy tương hỗ

Quỹ tương hỗ là trung gian tài chính bởi các nguồn lực của nhiều nhà đầu tư nhỏbằng cách bán chúng dưới dạng cổ phiếu và sử dụng tiền thu được để mua chứng khoán.Thông qua quá trình chuyển đổi tài sản của phát hành cổ phiếu có mệnh giá nhỏ và muavới khối lượng lớn các chứng khoán, các quỹ tương hỗ có thể tận dụng lợi thế của sựgiảm giá đối với hoa hồng và mua bán đa dạng cổ phần (danh mục đầu tư ) của chứngkhoán Quỹ tương hỗ cho phép các nhà đầu tư nhỏ để có được những lợi ích của chi phígiao dịch thấp hơn trong việc mua chứng khoán và tận dụng lợi thế của việc giảm rủi robằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán được tổ chức Nhiều quỹ tương hỗđều do các ngân hàng hoặc các cố vấn đầu tư độc lập như độ tập trung hay tiền phong

Quỹ tương hỗ đã thấy một sự gia tăng lớn trong thị phần của họ kể từ năm 1980(xem bảng 1) chủ yếu do thị trường chứng khoán bùng nổ sau đó Một nguồn quỹ tăngtrưởng chuyên về các công cụ nợ đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 Trước năm

1970, quỹ tương hỗ đầu tư chỉ trong cổ phiếu thường Quỹ mua cổ phiếu phổ thông phổbiến nhiều hơn nữa và đầu tư chỉ trong chứng khoán nước ngoài hoặc các ngành công

Ngày đăng: 25/05/2018, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w