1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Con người trong thơ Đường

16 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 31,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiên địa cảm nhi vạn vật sinh.” Như vậy, từ thời xa xưa Trung Quốc đã coi con người là một bộ phận của vũ trụ, có quan hệ với vũ trụ.. Đổng Trọng Thư, tế tướng đời Hán khi đưa ra thuyết

Trang 1

A Con người trong thơ Đường

1.Cơ sở triết học của quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Đường

Quan niệm nghệ thuật về con người không đồng nhất với quan niệm triết học về

con người Nhưng giữa chúng có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ Nhiều khi quan

niệm triết học về con người làm nền tảng cho cơ sở quan niệm nghệ thuật về con người tron văn học Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người chúng

ta không thể không tìm hiểu quan niệm triết học của người Trung Quốc cổ đại

về con người, từ đó mới có cơ sở để đánh giá về quan niệm nghệ thuật về con người của thơ Đường

Kinh Dịch-vũ trụ quan tối cổ của người Trung Quốc cổ đại cho rằng “ Dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái.”

Bát quái là 8 quẻ đơn kết hợp với nhau thành 64 que Toàn bộ vũ trụ theo cách nhìn của người Trung Quốc nằm trong que đó Hai khí âm dương ( lưỡng

nghi) của Dịch là vô cùng quan trọng, chúng tương tác tương thành mà sinh ra bạn vật trong đó có con người “ Nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ Thiên địa cảm nhi vạn vật sinh.” Như vậy, từ thời xa xưa Trung Quốc đã coi con người là một bộ phận của vũ trụ, có quan hệ với vũ trụ Sau này, triết gia Lão Tử đã nói rõ hơn “ Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.” Học trò của Lão Tử

là Trang Tử cũng khẳng định “ Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất.” Như vật từ thời cổ đại người ta đã xác lập một cách rõ ràng vị trí của con người trong trời đất này Từ đây hình thành hệ thống “ tam tài” ( Thiên- Địa- Nhân) trong triết học Đổng Trọng Thư, tế tướng đời Hán khi đưa ra thuyết “ mệnh trời” và có giải thích bằng những mệnh đề “ thiên nhân cảm ứng”, “ thiên nhân tương dữ”, “ thiên nhân hợp nhất” tuy mục đích nhằm tăng thêm quyền lực cho giai cấp thống trị, thì cũng không ra ngoài quan niệm con người là một bộ phận của tự nhiên Những quan niệm của Dịch học và các triết gia trên đã tạo nên cơ sở của quan niệm triết học về con người: “ con người vũ trụ.” Quan niệm “ con người vũ trụ” trong triết học này đã chi phối hầu hết các lĩnh vực của đời sống: khoa học, nghệ

thuật, tôn giáo Thơ Đường là một bộ phận nằm trong kiến trúc thượng tầng

của xã hội cũng không nằm ngoài quy luật đó Cho nên, con người trong thơ Đường được biểu hiện dưới góc độ con người tồn tại trong mối quan hệ tương giao hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ.Tuy nhiên, con người không chi sống trong trời đất, mà cón sống trong nhân quần, xã hội và chịu sự chi phối của

Trang 2

quy luật lịch sự, xả hội, không chỉ được đo bằng thước đo của vũ trụ mà còn được đo bằng thước xã hội Do vậy, quan niệm “ con người xã hội” cũng

chiếm một tỉ lệ thích đáng trong thơ Đường, đặc biệt trong giai đoạn xã hội có nhiều biến cố lớn tác động sâu sắc đến đời sống của các giai tầng xã hội

2 Con người trong mối quan hệ thống nhất tương giao, hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ bao la

GS Phan Ngọc đã từng nhận xét rằng “ bầu trời và thiên nhiên là cái nền của thơ Đường” đã tạo nên “ con người vũ trụ” trong thơ Đường Quan niệm con người là một tiểu vũ trụ tồn tại và có mối liên hệ mật thiết với “ đại vũ trụ” mênh mông

( nhân thân tiểu thiên địa) vốn đã có từ lâu trong văn học cổ Trung Hoa Quan

niệm này đã có trong Kinh Thi, Sở từ song chưa biểu hiện tập trung cao độ Đến thơ ca Lục triều, đặc biệt trường pháo thơ thơ “ ẩn dật” của các tác giả Đào Tiềm, Tạ Linh Vận thì quan niệm “ con người vũ trụ” ngày càng thể hiện tập trung dần dần thành những ước lệ nghệ thuật Đến đời Đường quan niệm “

con người vũ trụ” trở thành vị trí trung tâm trong quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ

Vậy quan niệm “ con người vũ trụ” trong thơ Đường được biểu hiện trong quan hệ nào và được thể hiện ra sao?

Con người trong thơ Đường trước hết được biểu hiện trong quan hệ thống nhất, tương giao hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ bao la Thiên nhiên là nơi bắt đầy đi ra

và cũng là nơi trở về Cho nên “ con người vũ trụ” phải được tồn tại trong thiên nhiên rộng lớn Thiên nhiên bao la chính là “ đại vũ trụ” hàm chứ “ tiểu vũ trụ” là con người Cho nên quan hệ giữa con người với thiên nhiên là quan hệ tương giao

hòa hợp Ở đây, khác với lối tư duy phương Tây, coi thiên nhiên là đối tượng

chiếm lĩnh sở thuộc, thì người phương Đông lại coi thiên nhiên là nơi tu

dưỡng tâm hồn Quan niệm coi thiên nhiên tương giao, tương hợp với con người có lý do của nó Trung Quốc là nước nông nghiệp, mà sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên Vì phụ thuộc vào các yếu tố

tự nhiên nên mới nảy sinh ở con người thái độ ứng xử hòa hợp với thiên

nhiên.Do vậy, không phải phương Tây, mà chính là phương Đông là nơi đi

Trang 3

đầu trong phong trào bảo vệ thiên nhiên, chống lại sự can thieejo thô bạo của con người vào tự nhiên Lão Tử nói “ Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên” cũng là từ ý nghĩa đề cao cái bản tính hồn thuần của tiej nhiên Trang Tử sau này còn quyết liệt hơn khi phê phán sự can thiệp thô bạo của con người, những hành động “ nhân vi: của con người

đã phá vỡ sự sinh thái tự nhiên qua câu chuyện “ Thúc và Hốt trả ơn Hỗn Độn trong Nam hoa kinh.” Như vậy, con người với tư cách là một “ tiểu thiên địa: tồn tại tương giao với “ đại vũ trụ” Và khi xuất hiện trong trời đất này, con người luôn khẳng định cái “ tôi: siêu cá thể mang tầm vóc vũ trụ.

Người mở đầu cho “ con người vũ trụ” bước vào thơ đường một cách dõng dạc là Trần Tử Ngang, nhà thơ thời Sơ Đường- người đã tiến hành và kêu gọi sử đổi mới thi phong Hình tượng con người trong Đăng U Châu đài ca là hình tượng

tiêu biểu cho “ con người vũ trụ” Khoảnh khắc trên đàu U Châu là khoảnh

khắc con người bộc lộ tư thế vũ trụ của mình Con người đó muốn giao hòa cùng đất trời và giao hòa với cả con người Trên đài cao, một mình đứng giữa trời đẩ nhìn về quá khứ, nhìn về tương lai chỉ là khoảng trống mênh mông vì

“ bất kiến” Không có người xưa, không có người sau, chỉ có một mình nó ( Độc) đứng giữa đát trời mà nghiền ngẫn về cái mênh mông vô định của kiếp người nên mới đau lòng mà rơi lệ

“ Con người vũ trụ: bao giờ cũng gắn liền với “ đăng cao” Khi “ đăng cao” con người luôn có khát vọng tương giao hòa hợp với vũ trụ, trải lòng mình cùng thiên địa

Phong cấp thiên ca viên khiếu ai

Chử thanh sa bạch điếu phi hồi

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,

Bất tận trường giang cổn cổn lai

Vạn lý bi thu thường tác khác,

Bách niên đa bệnh độc đăng đài

Gian lao khổ hận phồn sương mấn,

Trang 4

LẠc đảo tân đình trọc tửu bôi.

( Gió gấp trời cao vượn nỉ non

Bến trong, cát trắng lượn chim cồn

Rào rào lá trút rừng cây thẳm,

Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn

Thu quạnh nghìn khơi lòng khách não,

Đài cao trăm bênh thiếc thân mòn

Gian nan khổ hận đầu thêm bạc,

Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn.”

( Đỗ Phủ- Đăng cao)- Nam Trân dịch

“ Đăng cao” là một mô típ chủ đề của thơ Đường Khi “ đăng cao” con người

hoặc giãi bày tâm sự cùng vũ trụ hoặc bày tỏ khát vọng chí hướng của mình Bài thơ của Đỗ Phủ làm trong những tháng ngày bôn ba, phiêu giạt nơi đất khách quê người những năm cuối đời, dễ hiểu vì sao chất chứa tâm sự “ mang mang thiên cổ sầu,: Bốn câu thơ đầu miêu tả cái nhìn hướng ngoại Từ điểm nhìn trên cao, tấc giả đưa tầm mắt quan sát chiều cao, chiều dài chiều rộng của thiên nhiên chủ thất bao la, bát ngát một dòng sông dàu “ cuồn cuộn” chảy về đông Không gian mở rộng, bao la nhưng hoang sơ và trống vắng Thiên nhiên nhưu đồng cảm với con người mà vược” khái ai”, điểu “ phi hồi”, rừng cây lá rụng bời bời, sông dài cuồn cuộn trôi Bốn câu thơ cuối cái nhìn thu lại hướng vào bên trong tâm cảnh của con người Trong cái bao la “ vô biên”, “ bất tận” của vũ trụ ấy con người chỉ là một sinh thể nhỏ nhoi, hữu hạn cô đơn Không những nhỏ bé đơn độc trước vũ trụ mà nó còn trải qua những

phong ba bão táo cuộc đời, trôi giạt làm thân lữ khách tha hương nên thu về càng

cô đơn:

Vạn lý bi thu thường tác khách,

Bách niên đa bệnh độc đăng đài

Gian lao khổ hận phồn sương mấn

Trang 5

Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

Đọc Đăng cao của Đỗ Phủ ta lại thấy nó khác với tư thế muốn “ đăng cao” của chính ông trong bài “ Vọng Nhạc” ( trông núi Thái Sơn)

Thái Sơn thế nào nhỉ,

Tề Lỗ thấy xanh rì

Đất trời đúc núi lạ Trước sau chi sớm tối Nôn nao tầng mấy nổi Căng mắt bóng chim về Nhất quyết lên chót đỉnh Đám núi thấy li ti

Bài thơ này tả độ cao của núi Thái Sơn Đứng ở nước Tề phía Bắc, nước Lỗ phía Nam đều thấy màu xanh của nó Núi cao chia không gian làm hai, phía dương sớm, phía âm tối, Quanh năm mây mờ bao phủ, một cánh chim bày cũng phải căng mắt mới nhìn thấy Bài thơ này được Đỗ Phủ sáng tác khi còn trẻ nên dễ hiểu khát vọng, lý tưởng hùng tâm tráng chí của ông muốn gửi gắm vào đây Tuy rằng ở đây, Đỗ Phủ mới chỉ “ vọng” chứ chưa “ đăng” song đã có ý muốn leo lên chót đỉnh.Cả hai bài thơ của Đỗ Phủ đều mang cảm xúc rẩ đặc trưng của thơ Đường Bài thơ khác như Đăng Quán Tước Lâu ( Vương Chi Hoán), Đăng Nhạc Dương lâu, Đăng lâu ( Đỗ Phủ), Độc tọa Kính Đình Sơn ( Lí Bạch), Cửu nhật Tề sơn đăng cao ( Đỗ Mục), Đồng Bách quán ( Chu Phác) là những bài thơ tạo dựng được tư thế của con người vũ trụ rất tiêu biểu của thơ Đường

Con người trong thơ Đường có khi ở tư thế “ độc đăng đài” chiếm vị trí ngất ngưởng trên cao phóng tầm mắt ra thiên nhiên bao la để thu lại vào tâm cảnh một cảm giác cô đơn rợn ngợp, có khi ở vào trạng thái được vây bọc của thiên nhiên vũ trụ, song dù ở vụ trí nào thì con người cũng đều đứng vào vụ trí trung tâm của trời đất:

Thanh sơn thành bắc quách

Trang 6

Bạch thủy nhiễu đông thành

( Núi xanh chắn ngang vùng ngoại ô phía bắc

Nước bạc uốn vòng quanh thành phía đông)

( Lí Bạch- Tống hữu nhân)

Như trên đã nói, quan niệm coi thiên nhiên là cội nguồn của con người trong triết học cổ Trung hoa dẫn đến quan niệm “ vạn vật hữu linh” Thiên nhiên như trăng, sao, mây, nước , hoa, cỏ đều trở thành những sinh thể có tâm hồn và trở thành đối tượng giãi bày tình cảm của con người Khi vui người ta cũng tìm đến với thiên nhiên vũ trụ, khi buồn người ta cũng tìm đến với thiên nhiên để giãi bày Thiên nhiên và con người trong thơ Đường tuy “ lưỡng thể “ những lại “ hợp nhất” GS Pahn Ngọc đã nhận xét chính xác rằng tính thống nhát của thơ Đường là tính thống nhất giữa con người và thiên nhiên ( Dẫn theo Nguyễn Sĩ Đại, Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, sđ d, tr 322) Thiên nhiên được nhìn nhận trong mói quan hệ với người và ngược lại

Vì vậy, một cánh hoa rơi cũng giảm vẻ tươi tốt của mùa xuân: “ Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân” ( Đỗ Phủ- Khúc giang I) Vầng trăng có thể mang nỗi sầu li biệt, tình cảm da diết cùa người bạn Lí Bạch đến cố nhân:

“ Ngã ký sầu tâm dữ minh nguyệt

Tùy quân trực đáo Dạ Lang tê

( Ta gửi nỗi dầu cùng vầng trăng sáng,

Theo anh đi tới đất Dạ Lang.)

(Lí Bạch- Văn Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thứ ký)

Phút chia tay là giây phút đau đớn nhát của con người, không chỉ” đôi vũ trụ” trong cuộc lệ ướt áo mà ngọn gió xuân cũng như thấu hiểu nỗi li biệt của con người nên:

Duy hữu xuân phong tối tương tích,

Ân cần cánh hướng thủ trung xuy

Trang 7

( Chỉ có gió xuân còn luyến tiếc,

Ân cần thổi liễu cánh tay anh)

( Dương CỰ Nguyên-Họa Luyện Tú tài dương Liễu)

Và chiếc nến chảy đến hết mà tình không dứt:

LẠp chúc hữu tâm hoàn tích biệt,

Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh

( Ngọn nến có lòng còn tiễn biệt

Thay người nhỏ lệ suốt đêm thâu)

( Đỗ Mục- Tặng biệt)

Trong thơ Đường hầu như không bao giờ thấy khoảng cách giữa con người với

thiên nhiên, Sự tồn tại của con người và thiên nhiên là sự tồn tại trong nhau,

Nên giữa con ngươi và và thiên nhiên nỗi buồn cũng như niềm vui đều được sẻ chia, tương cảm:

Thiên hạ thương tâm xứ

Lao Lao tống khách đình

Xuân phong tri biệt khổ

Bất khiển liễu điều thanh

( Chốn đau lòng dưới gầm trời

Là đình Lao Lao, nơi tiễn khách

Gió xuân biết nỗi khổ của cảnh biệt ly

Nên không khiến cho cành liễu xanh tốt)

( Lí Bạch- Lao Lao đình) Thiên nhiên như thông cảm nỗi buôn biệt ly của người đời nên ngọn gió xuân không nỡ làm liễu xanh cành, vì gợi nỗi buồn “ chiết liễu”

Trang 8

3 Con người trong mối quan hệ giao hòa với tiểu vũ trụ khác.

Con người là một “ tiểu vũ trụ” không chỉ khát khao tương cảm với thiên nhiên,

mà con khao khát giao cảm với “ tiểu vũ trụ” khác Bởi xét đến cùng con người dù mang tầm vóc vũ trụ thì nó cũng không thể tồn tại một mình, Hơn nữa thiên nhiên tuy được coi là hữu linh, song thiên nhiên lại không biết nói, lặng im trước nỗi buồn của con người Lí Bạch “ Một mình uống rượu dưới trăng” ( Nguyệt hạ độc chướn) hầu mong chia sẻ nỗi buồn nhân thế với trăng, nhưng:

Cử bôi yêu minh nguyệt

Đối ảnh thành tam nhân

Nguyệt ký bất giải ẩm,

Nguyệt ký bất giải ẩm

Ảnh đồ tùy ngã thân

( Nâng chén mời trăng sáng,

Minh với bóng là ba

Trăng đã không biết uống

Bóng chỉ quấn theo ta.)

( Lí Bạch- Nguyệt hạ độc chước)

Rốt cuộc không tiêu được nỗi buồn Vậy ai có thể chia sẻ nỗi buồn ấy cùng con người? Chỉ có thể tìm sự đồng cảm ở những những “ tiểu thiên địa “ khác Quan

hệ giữa “ tiểu vũ trụ” này với “ tiểu vũ trụ” khác thể hiện qua đề tài tình bạn Đây

là một đề tài lớn trong thơ Đường ( Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải đã làm một

khảo sát nho nhỏ trong công trình Thơ Đường gồm 2 tập do Nhà xuất bản Văn học năm 1987 đã cho kết quả 20% số bài thơ có đề tài tình bạn.) Đó là

một con số biết nói và rất có ý nghĩa Bằng hữu là một trong những “ ngũ luân” ( vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em,bạn bè) của đạo đức phongkieens, nhưng có một điều khác đặc biệt là cá phạm trù trên ít được thơ Đường đè cập, nhất là trong

thơ ca lãng mạn thời Sơ Thịnh Đường? Vì sao Vì trừ quan hệ vua tôi, thì cá

Trang 9

quan hệ còn lại chỉ là quan hệ gia đình Hơn nữa, các quan hệ trên đều chỉ là quan hệ một chiều, trong đó tình bạn là là “ thanh khí” tự nhiên và hoàn toàn mang tính chất tự nguyện bình đẳng Kết bạn là hoàn toàn dựa vào sự tín tâm, không ràng buộc thêm một trách nhiệm nào cả Do đó, tín tâm là cơ sở của quan hệ tình bạn Sự “ tri âm “ của Bá Nha với Chung Tử Kỳ xưa kia chính là biểu hiệ của quan hệ tình bạn.,của sự tín tâm cao nhất Trong thơ Đương có những tình bạn chung thủy keo sơn như Lí Bạch và Đỗ Phủ.Hai người kém nhau 11 tuổi và chỉ gặp nhau duy nhất một lần, rồi từ đó không bao giờ gặp lại nữa, song tình cảm của họ mãi mãi bền lâu Lí Bạch từng nhớ

Đỗ Phủ:

Tư quân nhược Vấn Thủy, Hạo đãng kí nam chinh

( Nhớ anh như sông Vấn Thủy, Dào dạt chảy về nam)

( Lí Bạch- Sa Khaai thành hạ ký Đỗ Phủ) Còn Đỗ Phủ cũng không thẻ nào quên nhớ người đàn anh trên thi đàn, dù ở chân trời góc bể vẫn nhớ Lí Bạch ( Thiên mạt hoài Lí Bạch) và không chỉ nhớ mà còn Mộng Lí Bạch:

Chết xa nhau nín đã đành Sống xa nhau để đinh ninh bên lòng Giang Nam hơi độc mịt mùng

Khách đi đày biết vân vồng ra sao?

Chiêm bao ta, bạn lẻn vào

Rõ ràng ta chẳng lúc nào lúc quên Biết đâu cách trở đôi miền

Sợ khi không phải hồn quen mọi ngày!

Hồn về xanh ngắt ngàn cây Hồn đi quan ải bóng mây đen rầm Bạn nay dò lưới giam cầm

Cách nào vượt được xa xăm canh dài?

Xa nhà trăng lặn rọi soi Còn như nhác thấy mặt người năm xưa!

Sông sâu, sóc nước, không bờ Giữ mình chớ để sa cơ thuồng luồng

Trang 10

( Đỗ Phủ- Mộng Lí Bạch)- Nhượng Tống

Đề tài tình bạn thường được thể hiện sâu sắc ở những cuộc ly biệt Chẳng có nỗi

buồn nào bằng nỗi buồn ly biệt, Vì thế khoảnh khắc tiễn biệt là những khaonhr

khắc của tâm trạng, là đỉnh điểm của những đợt sóng cảm xúc của tâm trạng, gợi lên biết bao tâm tư tình cảm, Trong thơ cổ nói chung và thơ Đường nói riêng,

sở dĩ ly biệt đượcq uan tâm, đặc tả là vì đó là khoảnh khắc con ngươi chia ray với tất cả những gì bình yên thân thuộc để dấn bước vào một cuộc hành trình mà phía trước đầy mịt mù lo âu, Vì thế thơ tống biệt không chỉ đề cập miêu tả tình cảm thương nhớ kẻ ở người đi mà thường còn gửi gắm tâm trạng lo âu về tiền đồ mờ mịt, Độc giả thơ Đường ngày nay dù không ở vào tâm thức của người đương thời những cũng không khỏi bùi ngùi xúc động trước những vần thơ chứa chan tâm trạng của “ thi phật” Vương Duy khi tiên bạn lên đương mà còn lo bạn “ Tây xuất Dương quan vô cố nhân” ( Dương quan ra đó ai người cố tri?)

Những cuộc ly biệt của đôi “ vũ trụ nhỏ “ ấy được miêu tả trên cái nền không gian thiên nhiên bao la rộng lớn của sống nước Thơ Đường thường không bộc lộ trực tiêp tình cảm mà thường dùng hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ kết hợp với việc vận dụng linh hoạt sáng tạo những thủ pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng để diễn tả một cách tinh tế, sâu lắng tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình,

Đó là những hình ảnh thiên nhiên giàu sức biểu cảm như “ yên hoa”, “ minh

nguyệt”, “ băng tâm”, “ ngọc hồ” trong các câu thơ sau:

-Lạc Dương thân hữu như tương vấn, Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.”

( Lạc Dương nếu có người thân hỏi Một mảnh lòng băng tại ngọc hồ.) ( Vương Xương Linh- Phù Dung lâu tống Tân Tiệm.”

-Ngã kí sầu tâm dữ minh nguyệt, Tùy quân trực đáo Dạ Lang tê

( Tấm sầu với mảnh trăng trong, Gửi theo tiễn bác tới vùng Dạ Lang)

( Lí Bạch- Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thử ký)

-Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu

Ngày đăng: 17/05/2018, 21:10

w