1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ của Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám

58 395 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 506 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I. Cơ sở lý luận 1. Một số vấn đề về quan niệm nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 2. Khái quát về phong trào Thơ mới Chương II: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng Tháng Tám 1. Khái quát về tiểu sử, con người, sự nghiệp sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu 2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng Tháng Tám 3. Nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám

Trang 1

MỤC LỤC

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

4.2 Khách thể nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

8 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

9 Nội dung chủ yếu của đề tài

Phần nội dung

Chương I Cơ sở lý luận

1 Một số vấn đề về quan niệm nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về

con người trong văn học

1.1 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người

1.1.1 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật

1.1.2 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật về con người

1.2 Vai trò của quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người qua các thời kỳ văn học viết Việt Nam

1.3.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Văn học Trung đại

1.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Văn học hiện đại

2 Khái quát về phong trào Thơ mới

2.1 Sự ra đời của phong trào Thơ mới

2.2 Quá trình hình thành và phát triển của phong trào Thơ mới

2.3 Những đóng góp cơ bản của phong trào Thơ mới

Chương II: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ của Xuân Diệu

trước Cách mạng Tháng Tám

1 Khái quát về tiểu sử, con người, sự nghiệp sáng tác và quan niệm nghệ

thuật của Xuân Diệu

66679

912171717212323

2323252525

Trang 2

1.4.1 Trước Cách mạng tháng Tám

1.4 2 Sau Cách mạng tháng Tám

2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách

mạng Tháng Tám

2.1 Con người sống nhiệt thành, say mê

2.1.1 Quan niệm về con người sống nhiệt thành, say mê

2.1.2 Những biểu hiện của con người sống nhiệt thành, say mê

2.2 Con người mang nỗi buồn vì cô đơn, lạc loài

2.2.1 Quan niệm về con người mang nỗi buồn vì cô đơn, lạc loài

2.2.2 Những biểu hiện của con người mang nỗi buồn vì cô đơn, lạc loài

2.3 Con người mộng tưởng

2.3.1 Quan niệm về con người mộng tưởng

2.3.2 Những biểu hiện của con người mộng tưởng

3 Nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân

Diệu trước Cách mạng tháng Tám

3.1 Thể thơ

3.2 Ngôn ngữ, hình ảnh nghệ thuật

3.3 Thời gian nghệ thuật

3.4 Không gian nghệ thuật

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

26262727

29292936363743434447

474852535758

Trang 3

Trong sự nghiệp sáng tạo của mình, Xuân Diệu đã giành phần lớn bút lựccho thơ Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn, ông đã được giới văn nghệ sĩ đánhgiá là người đứng vị trí hàng đầu trong phong trào Thơ mới Bài viết đầu tiên giớithiệu Xuân Diệu năm 1937, Thế Lữ - người đi tiên phong trong phong trào Thơ

mới đã có nhận xét chuẩn xác, biểu hiện sự trân trọng tài năng Xuân Diệu: "Thơ của ông không phải là văn chương nữa, đó là lời nói, là tiếng reo vui hay năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn trong những thanh âm " [21; 02] Nhà phê bình văn học Hoài Thanh cũng đã từng nhận xét Xuân Diệu

là “Nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới”, "Thơ ông mang theo một nguồn sống rạt rào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” [17; 106].

Tác phẩm của Xuân Diệu được bạn đọc nhiều thế hệ đón nhận và yêu thích,trong đó có nhiều tác phẩm được chọn dạy trong nhà trường Từ trước đến nay,việc nghiên cứu tìm hiểu tác gia Xuân Diệu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu Ở một người cầm bút tài hoa như Xuân Diệu, tính cả về số lượng vàchất lượng thì ở mỗi thể loại đều cần thiết phải có những chuyên luận nghiên cứumột cách công phu và đầy đủ

Ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang, bài học về tác gia Xuân Diệu có mặttrong chương trình chi tiết của một số ngành học, đặc biệt là đối với ngành Sưphạm Ngữ văn Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng những sáng táccủa Xuân Diệu vẫn còn rất nhiều điều chưa được khai thác, đặc biệt là những quanniệm nghệ thuật mới mẻ có tính đột phá của ông

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài " Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám" làm đối

tượng nghiên cứu Từ việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người sẽ giúpchúng tôi lí giải các phương diện khác trong thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu;đồng thời giúp giảng viên, học sinh, sinh viên và độc giả hiểu sâu sắc hơn về nhữngcống hiến của Xuân Diệu cho nền văn học hiện đại Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xuân Diệu là một gương mặt tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1932

- 1945) Với cá tính độc đáo và mạnh mẽ, ông đã đóng góp vào Thơ mới mộtphong cách nghệ thuật riêng và rất đặc trưng Xuân Diệu sáng tác ở nhiều thể loại

Trang 4

đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến sáng tác thơ của

Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám 1945 Có thể kể đến cuốn sách "Đến với thơ Xuân Diệu", đây là cuốn sách tuyển chọn và giới thiệu tư liệu về tác giả, tác

phẩm được sưu tầm Từ những bài viết trong cuốn sách này giúp bạn đọc hiểu hơn

về cuộc đời cũng như giá trị thơ của Xuân Diệu Cuốn sách thứ hai là "Xuân Diệu

-về tác gia và tác phẩm" do Lưu Khánh Thơ tuyển chọn và giới thiệu, nhà xuất bản

Giáo dục năm 2000 Trong cuốn sách này có một số bài nghiên cứu về con người

và sáng tác của Xuân Diệu ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Chúng tôi đã

tìm hiểu một số bài viết về cái tôi trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng

Tám

Trong bài "Cái tôi độc đáo, tích cực của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới" của Lê Quang Hưng có đề cập đến cái tôi tiểu tư sản trong thơ Xuân Diệu qua hai tập "Thơ Thơ" và "Gửi hương cho gió" Theo tác giả thì "Có lẽ trong các nhà Thơ mới chưa ai bộc lộ lòng ham sống đến mức thiết tha, cuồng nhiệt như Xuân Diệu" [20; 262] Lê Quang Hưng cũng đã phân tích, đó là cái tôi tiểu tư sản ý thức được

sâu sắc bản thân mình, mạnh dạn bày tỏ niềm ước vọng hưởng thụ cuộc sống Cái

tôi đó lúc thì thấy rạo rực yêu đương, sống say mê, nhiệt thành, khi lại cảm thấy

lạnh lẽo, cô đơn, lạc loài trước cuộc đời thực tại muốn lẩn trốn vào thế giới mộngtưởng

Trong bài viết "Cái tôi trữ tình và phương thức biểu hiện cái tôi tình yêu trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám", Lưu Khánh Thơ đã khẳng định

"Trong toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu trước 1945, thơ tình yêu là mảng đề tài mà ông chú tâm nhiều nhất và đồng thời nó cũng mang lại cho thơ ông một giọng điệu riêng Hơn ở bất cứ lĩnh vực tình cảm nào khác trong thế giới thơ ca trước Cách mạng, cái tôi trữ tình của nhà thơ đã được bộc lộ một cách đầy đủ và trọn vẹn, trước hết và chủ yếu qua mảng lớn những bài thơ tình yêu" [20; 288] Cái tôi trong thơ Xuân Diệu biến hóa qua nhiều hình ảnh và "mỗi biến hóa là một góc, một khía cạnh con người nhà thơ" [20; 290] Đó là cái tôi cô đơn, lạc loài; đó là cái tôi yêu đời, yêu sự sống và đó là cái tôi mộng tưởng.

Ngoài ra, có thể nhắc tới cuốn "Xuân Diệu Thơ Thơ và Gửi hương cho gió tác phẩm và dư luận" Ở đây, các nhà nghiên cứu không đề cập đến một cách cụ thể

quan niệm nghệ thuật về con người của Xuân Diệu, nhưng họ có nhắc tới trong

những bài viết như "Một hồn thơ bát ngát" của Vũ Ngọc Phan, "Thơ Thơ và Xuân Diệu" của Trần Thanh Mại, "Sự đa dạng của Xuân Diệu" của Mã Gia Lân, "Thơ Thơ

và Gửi hương cho gió những mùa hoa hương sắc một thời trong thơ"

Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về Xuân Diệu cũng như thơ văncủa ông, nhưng chúng tôi chưa thấy có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủquan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng thángTám Những bài viết trên của các nhà nghiên cứu là những tư liệu quí báu giúpchúng tôi có cơ sở lý luận để triển khai nghiên cứu đề tài theo đúng hướng

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 5

- Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trướcCách mạng tháng Tám

- Cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo cho giảng viên bộ môn Ngữ vănkhi giảng dạy về tác gia Xuân Diệu và các tác phẩm thơ của ông

- Là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữvăn trong Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang khi tìm hiểu về tác gia Xuân Diệu

và các tác phẩm của ông được dạy ở trường phổ thông

- Đề tài là tài liệu tham khảo dành cho tất cả các độc giả yêu mến tác giaXuân Diệu

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạngTháng Tám

4.2 Khách thể nghiên cứu

Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, chủ yếu là các bài thơ trong

hai tập “Thơ Thơ” và “Gửi hương cho gió”.

5 Giả thuyết khoa học

Nếu nghiên cứu thành công, kết quả của đề tài sẽ giúp giảng viên, học sinh sinh viên và độc giả hiểu đúng hơn, sâu sắc hơn quan niệm nghệ thuật về con người

-trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Từ đó, giúp chúng ta lý giải các

phương diện khác trong thể giới nghệ thuật của Xuân Diệu

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Phân tích, làm rõ quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệutrước Cách mạng Tháng Tám

7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ XuânDiệu trước Cách mạng Tháng Tám

8 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

9 Nội dung chủ yếu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung chính của đề tài được chialàm hai chương:

Chương I Cơ sở lý luận

Chương II Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trướcCách mạng tháng Tám

PHẦN NỘI DUNG

Trang 6

1.1.1 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học:“Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó” [8; 255]

Quan niệm nghệ thuật là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn Nghĩa là,hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con người và cảnh vậtphải được nhìn ở góc độ nào đó để tái hiện cuộc sống Tác giả phải hiểu cách họgiao tiếp với nhau, giao tiếp với thế giới và với bản thân; cách họ sống, hành động

và suy nghĩ, điều họ quan tâm và không quan tâm trong cuộc đời Tổng hợp tất cảnhững điều đó lại sẽ tạo thành mô hình nghệ thuật về thế giới và con người

Văn học là quá trình chiêm nghiệm của mỗi tác giả về cuộc đời và conngười Trong quá trình sáng tác của mình, mỗi nhà văn, nhà thơ đều có một quanniệm nghệ thuật riêng Đôi khi quan niệm nghệ thuật không đồng nhất hoặc có thểmâu thuẫn với nhau Tuy nhiên qua mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn văn học thì ngườinghệ sĩ luôn có sự điều chỉnh quan niệm nghệ thuật của mình cho phù hợp với tìnhhình của nền văn học

Từ cách lý giải trên, chúng ta có thể hiểu: Quan niệm nghệ thuật là cách hiểu, chiếm lĩnh, lý giải về thế giới và con người Quan niệm nghệ thuật chi phối quá trình sáng tác và là cơ sở để tạo nên tư duy nghệ thuật ở mỗi tác giả, mỗi thời

kỳ văn học.

1.1.2 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật về con người

Con người là trung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu mà các nhà văn,nhà thơ khao khát hướng đến Quan niệm nghệ thuật về con người là hạt nhân củaquan niệm nghệ thuật, là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sángtạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ nói riêng và thời

đại văn học nói chung Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: "Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [14; 15] Nghĩa là, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vào phân tích,

mổ xẻ đối tượng con người được thể hiện thành các nguyên tắc, phương tiện, biệnpháp trong tác phẩm văn học Từ đó, người đọc thấy được giá trị và chiều sâu triết

lí của tác phẩm Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa quan niệm nghệ thuật về con

người "Là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật.” [8; 275]

Trang 7

Quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa“có tính phổ quát, tột cùng mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người” [8; 276] Nhưng mọi cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải về con

người của nhà văn đều là sản phẩm của lịch sử, xã hội và văn hóa thời đại nhà vănsáng tác Chẳng hạn, thời trung đại phương Tây, người ta xem con người là sảnphẩm sáng tạo của Chúa Trời; từ thời Phục Hưng đến Khai Sáng thì con ngườiđược xem là sản phẩm của tự nhiên; từ thế kỷ XIX thì xem con người là sản phẩmvừa của tự nhiên, vừa của xã hội Quan niệm nghệ thuật về con người còn mangdấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ Bởi vậy, quanniệm nghệ thuật về con người của văn học trung đại sẽ khác văn học hiện đại, quanniệm nghệ thuật về con người của nhà văn Nguyễn Khải không giống nhà vănNguyên Ngọc Quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành nhân tố vận độngcủa nghệ thuật Khi nhà văn miêu tả những con người là kết quả của sự vận động

ấy thì sẽ làm văn học đổi mới

Như vậy, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đềunói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người Từ đó,chúng ta có thể hiểu quan niệm nghệ thuật về con người một cách khái quát như

sau: Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể.

1.2 Vai trò của quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiềusâu của nó, cho nên, đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân vănvốn có của văn học Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ranhững tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệmnghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của nhà văn và đánhgiá đúng thành tựu của họ Việc xác định quan niệm nghệ thuật về con người sẽgiúp chúng ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể.Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học có những vai trò cơbản sau đây:

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người chính là dấu hiệu chủ yếu để nhận ra sự vận động, đổi mới của một nền văn học

Nhiều nhà nghệ sĩ đã khẳng định rằng:“một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời với một con người mới” [17; 35], với cách hiểu mới về con người, hoặc

bằng việc suy nghĩ lại các khám phá nghệ thuật của những người đi trước Nhưvậy, việc đổi mới cách giải thích và cảm nhận con người có tác dụng làm cho vănhọc thay đổi căn bản

Trong lịch sử văn học, việc sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền

thống là rất phổ biến Truyện ngắn "Vợ nhặt" - một tác phẩm được đánh giá là xuất

sắc nhất của nhà văn Kim Lân cũng mang nhiều dấu ấn của văn học hiện thực phêphán Cảnh đói của gia đình anh cu Tràng, của xóm ngụ cư phảng phất những hình

Trang 8

ảnh đói kém trong "Một bữa no", "Trẻ con không được ăn thịt chó" của Nam Cao.

Nhưng chỉ với chi tiết “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới ” đã cho thấy sự vận động đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con

người của nhà văn Kim Lân rằng: những người nghèo, họ không chịu ngồi yên,không chịu chết đói Đó chính là biểu hiện của một nền nghệ thuật mới, nền nghệthuật vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng, dưới ánh sáng Cách mạng

Ngay cả những tác giả nổi tiếng thế giới như Sêchxpia, Raxin hầu như cũng chẳng

sáng tạo, hư cấu ra cốt truyện và nhân vật nào mới Cốt truyện và nhân vật của họđều vay mượn trong truyền thuyết, lịch sử hoặc huyền thoại, nhưng cách giải thích

và cảm nhận của họ là mới, tạo thành tiếng nói nghệ thuật mới

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người là tiêu chí tối ưu để nhận diện, so sánh tác giả, tác phẩm và những hiện tượng văn học lớn

Có thể so sánh quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du trong

"Truyện Kiều" với quan niệm nghệ thuật về con người của Thanh Tâm Tài Nhân trong "Kim Vân Kiều truyện" Dù "Truyện Kiều" được xây dựng dựa trên cốt truyện của

"Kim Vân Kiều truyện" nhưng Nguyễn Du đã làm bao nhiêu thế hệ người Việt từ hơn

hai thế kỷ say đắm, vì ông đã làm cho nàng Kiều hóa thân vào từng thế hệ, trở

thành nỗi ưu tư, buồn khổ, thành cái "tôi” dằn vặt với những dấu hỏi về vận số,

thành khát vọng sống của mọi người Qua đó để thấy rằng, ngòi bút của Nguyễn Dusâu sắc hơn nhiều, thể hiện tầm vóc lớn của đại thi hào dân tộc Ngay trong mộtnhà văn, sự thay đổi quan niệm về con người trong từng tác phẩm là biểu hiện cho

sự thay đổi về tư duy nghệ thuật Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu sau 1975không còn mang tính chất sử thi, không lấy quyền lợi dân tộc làm hệ qui chiếu,cũng không còn vẻ đẹp lãng mạn, toàn màu hồng như nhân vật Nguyệt, Lãm

trong "Mảnh trăng cuối rừng" mà là kiểu nhân vật tự đối diện với chính mình, đứng trước toà án lương tâm Trong tác phẩm Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa,

… Nguyễn Minh Châu đều khai thác ở góc nhìn nhân cách, là một người đối diệnvới một người Và sự đổi mới tư duy nghệ thuật ấy đã làm cho Nguyễn Minh Châutrở thành người mở đầu cho văn học trong quá trình đổi mới

1.2.3 Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó

Đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học

Đi sâu khám phá quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học là bước đi ngắnnhất để chúng ta đến gần với cái bản chất nội tại của tác phẩm Cho nên, càng khámphá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạocủa nhà văn và đánh giá đúng thành tựu của họ

Với những vai trò quan trọng trên, việc nắm được quan niệm nghệ thuật vềcon người trong tác phẩm văn học sẽ là một trong những định hướng giúp chúng tatiếp cận tác phẩm văn học sâu hơn, nắm được cái thần của văn bản trong sự sosánh, đối chiếu với các tác phẩm khác, quan niệm khác cũng như thấy được sự đổimới và phát triển của văn học

Trang 9

1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người qua các thời

kỳ văn học viết Việt Nam

1.3.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Văn học trung đại

Con người trong văn học trung đại Việt Nam rất phong phú, đa dạng Chúngtôi đã tổng hợp quan niệm nghệ thuật chung về con người chi phối văn học trungđại Việt Nam như sau:

1.3.1.1 Con người vũ trụ

Thời trung đại, con người chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên thường dựavào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống Do đó, họ tin ở sự thống nhất trong thếgiới Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người Người phương Đông xưa quanniệm: thiên nhiên có mối giao hòa, giao cảm với con người bởi con người là

một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương cảm với "đại vũ trụ" - thiên nhiên ngoại giới Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: "Thiên - Địa - Nhân" hợp thành "Tam Tài" Con người sống trong vòng "Thiên phú địa tái" (trời che, đất chở) Cho nên, quan niệm "Thiên - Địa - Nhân" hay "Thiên Nhân tương cảm" cổ xưa ấy đã

chi phối nhiều đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật Do đó, thơ văn trung đạixuất hiện con người đứng trước trời đất - con người vũ trụ

Thi đề quen thuộc của thơ trữ tình trung đại chính là con người một mình đốidiện với thiên nhiên vũ trụ, người anh hùng được nhắc đến với tầm vóc sánh ngang

vũ trụ, như trong bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung:

Trí chủ hữu hoài phù địa trục Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

Dịch là:

Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời

Hay trong bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão thì không gian nghệ

thuật hiện lên là một không gian vũ trụ khoáng đạt, rộng lớn và hoành tráng Trong

đó, con người dù nhỏ bé song vẫn cố gắng vươn lên ngang tầm và có khát vọng làmchủ trời đất, vũ trụ, chinh phục thiên nhiên:

“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu, Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”

Dịch là:

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân hùng dũng nuốt sao Ngưu

(Thuật Hoài - Phạm Ngũ Lão) Còn ở bài Tự tình của Hồ Xuân Hương, hình tượng con người vũ trụ cũng

nổi rõ: "Trơ cái hồng nhan với nước non" Ở đây, con người được đặt giữa không

gian mênh mông của vũ trụ nhưng không hòa nhập vào không gian bao la rộng lớn

ấy mà cô độc, lẻ loi một mình Có thể nói, con người trong văn học trung đại khôngxuất hiện với tư cách cá nhân, mà là cái rộng lớn của vũ trụ

Trang 10

Như vậy, hình tượng con người vũ trụ trong dòng chảy văn học trung đạiViệt Nam đã cho chúng ta thấy được quan niệm nghệ thuật về con người của cáctác giả trung đại Con người đó là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn vũ trụ, thiênnhiên qua đất trời, mây nước, cỏ cây,… với cái đạo vững bền, sâu thẳm Đây là nétkhu biệt không thể lẫn so với các kiểu con người trong thời kì sau này của văn học.

1.3.1.2 Con người đạo đức

Toàn bộ xã hội ở thời trung đại được nhìn nhận trong một hệ thống tôn giáođạo đức Cho nên, con người luôn được đánh giá ở phương diện đạo đức luân lí Vìthế, thơ văn trung đại chia xã hội thành hai tuyến: thiện - ác, tốt - xấu với mục đíchlàm nổi bật tính chất, chức năng giáo huấn của văn học:

Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

(Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)

Chính vì vậy, con người sống theo luân lí đạo đức, theo lí trí thì được coi làchân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những luân lí trần thế, nhânbản thì bị coi thường, chê trách Điều đó cũng xuất phát từ quan niệm văn chươngcủa Nguyễn Đình Chiểu - một ngôi sao sáng trong bầu trời văn học Việt Nam:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Hoặc, Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc thế kỷ thứ XV, là một nhà quân sự

thiên tài, một nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc, trong tác phẩm Gia huấn ca, ông đã

đề cao đạo đức luân lí trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội Đạo hiếuđược nhấn mạnh rất rõ:

Dù nội ngoại bên nào cũng vậy, Đừng tranh giành bên ấy, bên này.

Cù Lao đội đức cao dày, Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.

(Gia huấn ca - Nguyễn Trãi)

Còn phận làm con đối với cha mẹ thì:

Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc Xem cháo cơm thay thế mọi bề

Ra vào thăm hỏi từng khi Người đà vô sự ta thì an tâm.

Trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, hình tượng con người đạo đức cũng được xuất hiện, như Nhân Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Với hình ảnh người trí thức Tử Văn có tính tình cương trực, dũng cảm“thấy sự gian tà thì không chịu được”, Nguyễn Dữ hướng đến đề cao con người của công lý,

chính nghĩa, đồng thời phê phán và trừng trị những kẻ phi đạo đức, xảo quyệt, làmhại dân chúng

Trang 11

Tóm lại, cùng với con người vũ trụ, hình tượng con người đạo đức cũng xuấthiện nhiều trong các tác phẩm văn học trung đại Qua đó góp phần làm phong phúthêm giá trị nhân văn của thời kỳ văn học này.

1.3.1.3 Con người đấng bậc

Ngoài việc thể hiện con người vũ trụ và con người đạo đức, trong văn họctrung đại còn tồn tại một quan niệm khác về con người đó là quan niệm con người

đấng bậc Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong tác phẩm Truyện Kiều của

Nguyễn Du Cách miêu tả của Nguyễn Du chịu sự chi phối của quan niệm đấng bậc

về con người Trong quan niệm của ông, những con người như Kim Trọng, Thúy

Kiều, Từ Hải là những đấng, bậc đáng kính trọng Họ là đấng tài hoa (Đạm Tiên); bậc tài danh (Kim Trọng); bậc bố kinh (Thúy Kiều); đấng anh hùng (Từ Hải) Đối

với những nhân vật ấy, tác giả dành cho họ những lời trang trọng, tượng trưng Ví

dụ như nhân vật Kim Trọng đã được miêu tả với nét bút phác họa về những phươngdiện cần thiết khi nói đến một nhân vật thư sinh thời phong kiến; Từ Hải là anhhùng, nên tư thế rất oai phong lẫm liệt Còn bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh là bọn vôlại, chúng không mẫu mực, cho nên mỗi đứa một vẻ, đều là những con người chẳng

ra gì

Như vậy, cách quan niệm về con người đấng bậc này cũng đã chi phối sâusắc đến văn học trung đại Việt Nam

1.3.1.4 Con người có ý thức cá nhân

Trong văn học trung đại con người cá nhân được thể hiện qua nhiều bình

diện ở hai giai đoạn với những hình thái khác nhau Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII về

cơ bản con người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn mình với đạo, với tựnhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của cộng đồng Yếu tố quyền lợi cá nhânchưa được chú ý Còn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, con người trong văn học

đã nói lên nhu cầu về quyền sống cá nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhân nhưmột quyền tự nhiên Chẳng hạn, con người cá nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp vàtài năng như trong thơ Hồ Xuân Hương; con người với nhu cầu bộc lộ tình cảmriêng tư, tâm sự u uẩn thể hiện trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, thơ Nguyễn BỉnhKhiêm; con người với tình yêu lứa đôi, hạnh phúc, khát vọng nhu cầu trần thế như

trong "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ; con người cá nhân với sự lo sợ tuổi trẻ

chóng tàn trong "Chinh phụ ngâm khúc" của Đoàn Thị Điểm; con người cá nhân công

danh hưởng lạc ngoài khuôn khổ thể hiện trong thơ văn của Nguyễn Công Trứ, Cao

Bá Quát…

Như vậy, có thể thấy con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam cómột quá trình tự ý thức lâu dài nhưng mạnh mẽ Nó phản ánh quá trình vận động,giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống Tuy nhiên, việc phản ánh

cái tôi của con người cá nhân trong giai đoạn này vẫn còn hạn chế vì bị ràng buộc

bởi hệ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật, hình thức nghệ thuật của văn học lúc bấygiờ Quan niệm con người cá nhân còn được phát triển với những đổi mới, sáng tạotrong giai đoạn văn học hiện đại sau này

Trang 12

1.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Văn học hiện đại

1.3.2.1 Giai đoạn 1900 đến 1930 thể hiện quan niệm nghệ thuật về conngười yêu nước

Nhìn tổng thể, đây là giai đoạn mang rõ tính chất giao thời của hai phạm trùvăn học Từ đầu thế kỉ XX đến 1920, văn chương của các nhà nho vẫn giữ vị tríquan trọng, nhưng phân hóa và ít nhiều có những biến đổi về tư tưởng và nghệthuật Các tác giả cuối cùng của văn học trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xươngvẫn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của văn học trung đại Còn mộtlớp nhà Nho thức thời đã tìm đến tư tưởng dân chủ, khoa học của phương Tây Họdấy lên những phong trào yêu nước theo đường lối mới Văn chương trong tay họthực sự thành một vũ khí để thức tỉnh quần chúng và tầng lớp trí thức Nho học,khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự cường và khát vọng canh tân đất nước Do đó,quan niệm nghệ thuật về con người ở thời kì này là con người yêu nước với tinhthần dân chủ, canh tân, nên lý tưởng và tầm nhìn rộng mở hơn so với văn học trungđại Con người yêu nước là những con người có tư tưởng tiến bộ Ở họ sục sôi tinhthần yêu nước, khí phách anh hùng và dồi dào cảm hứng lãng mạn Tiêu biểu nhưPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh

Lòng yêu nước của con người thời kỳ này được thể hiện ở nhiệt tình cứunước, khát vọng dân chủ, duy tân Trong bối cảnh đất nước đầu thế kỉ XX, mộtthế hệ nhà Nho thức thời sớm thấm thía tình cảnh trì trệ, nhục nhã của đất nước

Họ có chung một điểm là nhiệt tình yêu nước, hăng hái vạch ra tình trạng tối tămcủa dân tộc

Sang những năm 20 diện mạo văn học nước nhà có những chuyển biến rõrệt theo hướng hiện đại trong sự biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội.Nền văn học chuyển mạnh theo hướng hiện đại hóa đã ghi được thành tựu đánglưu ý Ngoài quan niệm nghệ thuật về con người yêu nước, trong thời kì này đã

dần hình thành quan điểm nghệ thuật về con người hiện thực xã hội và con người

ý thức cá nhân.

1.3.2.2 Giai đoạn 1930 đến 1945

Trong giai đoạn 1930 - 1945 có nhiều sự kiện của lịch sử, xã hội thay đổidẫn đến sự biến đổi sâu sắc trong ý thức và tâm lí con người Giai đoạn này, cuộc

sống con người bị đẩy vào “bước đường cùng”, nén chịu bao nỗi quằn quại dưới sự

chà đạp của xã hội thực dân phong kiến Xã hội đã dồn con người vào bế tắc, cùngquẫn Chính trong bối cảnh ấy, văn học đã nảy sinh nhiều trào lưu văn học khác

nhau, nổi bật là các trào lưu văn học lãng mạn, văn học hiện thực và văn học cách mạng Ở mỗi trào lưu văn học lại có quan niệm nghệ thuật về con người khác nhau.

a Trào lưu văn học lãng mạn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người ý thức cá nhân

Con người ý thức cá nhân đã xuất hiện từ văn học trung đại, sang đến đầuthế kỷ XX với nền văn học mới, con người cá nhân mang một nội dung mới Đó là

con người với cái tôi cá nhân, cá thể có đời sống nội tâm tràn đầy tình cảm, cảm

xúc, những khát vọng và ước mơ Tiêu biểu là nhóm Tự Lực Văn Đoàn và phongtrào Thơ mới

Trang 13

Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 là“một cuộc Cách mạng trong thi ca” [17; 225] đã sáng tạo một cái tôi trữ tình kiểu mới Đó là cái tôi cá nhân, cá thể Thơ

mới mang niềm vui sướng của lớp người trẻ được thể hiện qua những vần thơ tươixanh, cuốn hút Các nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới là Xuân Diệu, HuyCận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ Họ đãmạnh dạn bày tỏ những ước muốn, khát vọng sống, khát vọng hưởng thụ và nhữngkhổ đau riêng tư của mình:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng - Xuân Diệu)

Hay:

Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm.

(Cảm xúc - Xuân Diệu)

Đó là sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân yêu đời, yêu cuộc sống thiết tha, cháy

bỏng nhưng cũng mang nỗi buồn, nỗi cô đơn, bất lực trước cuộc đời Điểm khác

biệt trong cái tôi của con người ý thức cá nhân thời kỳ này là họ dám bày tỏ, bộc

bạch cảm xúc, ham muốn của mình một cách tinh tế và đủ đầy nhất

b Trào lưu văn học hiện thực phê phán thể hiện quan niệm nghệ thuật về

con người hiện thực xã hội

Con người hiện thực xã hội thể hiện qua khuynh hướng văn học hiện thực

phê phán 1930 - 1945 Ở trào lưu văn học này đã kịp thời phản ánh lại hiện thực xã

hội những năm trước Cách mạng tháng Tám với vấn đề nổi bật đó là cuộc sống, sốphận của những người nông dân ở nông thôn và trí thức nghèo ở thành thị Các nhàvăn hướng vào đề tài có tính chất phong tục, đi vào những chuyện đời tư vặt vãnhhàng ngày để phản ánh xã hội Việt Nam nghèo đói xơ xác; phê phán tính bất công,

vô nhân đạo của xã hội Qua đó, bộc lộ sự cảm thông, thương xót đối với nhữngnạn nhân của xã hội đương thời Văn học thời kỳ này cũng phê phán, tố cáo mãnhliệt những thủ đoạn áp bức bóc lột, chính sách mị dân bịp bợm, giả dối của giai cấpthống trị, phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân; đặt ra những vấn đề sâu sắc vềcuộc sống, về thân phận con người, về vấn đề cải tạo xã hội, về tương lai của dântộc và nhân loại Những số phận con người như chị Dậu của Ngô Tất Tố, Lão Hạc,chí Phèo của Nam Cao,… đã trở thành tiêu biểu cho nỗi thống khổ của người nôngdân trước Cách mạng Chị Dậu vì một tấm thẻ sưu mà phải bán con để chuộc chồngthoát khỏi cái chết trong nỗi đau đớn bất lực, Lão Hạc phải tìm đến cái chết để có

Trang 14

thể giành tiền cưới vợ cho con, Chí Phèo bị xã hội nhào nặn từ người lương thiệnthành kẻ vô tích sự, đâm thuê chém mướn, rạch mặt ăn vạ để sống qua ngày, trởthành kẻ mất hết nhân hình, nhân tính, đến cái khát khao quay trở lại là người

lương thiện cũng không thể thực hiện được; chú bé Hồng trong "Những ngày thơ ấu"

của Nguyên Hồng cùng với người mẹ đau khổ của mình cũng không thể vượt quacái định kiến của xã hội để phải chịu biết bao tủi hờn, đau đớn ê chề,…Và còn biếtbao số phận hẩm hiu, đói khổ nữa đã được các nhà văn phản ánh với tất cả nhữngbất công trong xã hội mà họ phải gánh chịu, những đói khổ vì cơm áo, vì sự sốngtrong một hoàn cảnh xã hội đầy khó khăn trước Cách mạng tháng Tám Họ đượckhắc họa bằng tất cả sự cảm thông, yêu thương và trân trọng của những cây bútgiàu lòng nhân đạo thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán Bằng tài năng củacác nhà văn, những nhân vật ấy từ hiện thực cuộc sống đã đi vào văn học để trởthành những hình tượng tiêu biểu cho nỗi thống khổ của con người Việt Nam trướcCách mạng Chính họ đã góp phần tô vẽ thêm cho nền văn học Việt Nam phongphú với việc hoàn thành sứ mệnh, vai trò của văn học là phản ánh xã hội, phản ánhthời đại

c Trào lưu văn học cách mạng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người yêu nước

Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền Văn học Việt Nam qua cácthời kỳ, các giai đoạn văn học Tuy nhiên, đầu thế kỷ XX có một khuynh hướngvăn học mà ở đó, lòng yêu nước của con người mang những nội dung và sắc tháiriêng Đó là khuynh hướng văn học yêu nước và Cách mạng Đặc biệt, từ 1930,Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cơ sở xã hội của khuynh hướng văn học này cóthêm nét mới quan trọng Đó là phong trào đấu tranh Cách mạng của quần chúngnhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây cũng là cơ sở của sự phát triển dòng vănhọc yêu nước thời kì này

Con người yêu nước là những con người có tâm hồn rực lửa đấu tranh vàvững vàng trước mọi gian nguy, thử thách được thể hiện trong những vần thơ củacác nhà nho yêu nước, tiến bộ, các chí sĩ Cách mạng, người chiến sĩ vô sản, quầnchúng Cách mạng Từ đó, phản ánh đúng hiện thực điển hình, nóng bỏng, kêu gọi,tập hợp lực lượng giành độc lập, dân chủ Sức mạnh của nền văn học này chính làđộng viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu, giữ vững lập trường, một lòng trung thành vớiĐảng:

Tôi chỉ một giữa muôn người chiến đấu Vẫn đứng thẳng trên đường đầy lửa máu Chân kiêu căng không thoái bộ bao giờ.

(Tâm tư trong tù - Tố Hữu)

Trong xã hội phức tạp, đầy biến động thời đó, con người trong văn học vôsản thể hiện niềm tin vững chắc vào tương lai Cảm hứng lạc quan Cách mạng,niềm say tương lai ngày một nồng đượm đã góp phần tạo nên sinh khí khỏe khoắn,sức lôi cuốn mạnh mẽ Đi vào văn học, lí trí khoa học đã thành tình cảm, tràn đầycảm hứng lãng mạn Cách mạng được trang bị bằng thế giới quan Mác - Lê Nin, chủ

Trang 15

nghĩa duy vật lịch sử Từ đó, xây dựng được nhiều hình ảnh nghệ thuật là nhữngcon người tràn đầy khí thế chiến đấu và tinh thần lạc quan, vững tin vào thắng lợi,thể hiện lòng yêu nước với tinh thần, khí phách kiên cường Tiêu biểu như những

tác phẩm "Không giam được trí óc" của Xuân Thủy, "Hãy đứng dậy" hay "Từ ấy" của Tố

Hữu

Có thể nói, văn học vô sản là tiếng nói khỏe khoắn, tràn đầy sinh lực của mộtgiai cấp, một thế hệ đang lên với một chủ nghĩa yêu nước nồng cháy Nó đã hun

nóng “hồn chiến đấu” của quần chúng công nông, là “hồi chuông báo thức”, là

“tiếng gọi lên đường”, biểu hiện sức mạnh của lực lượng Cách mạng đang chiến

đấu và cầm chắc tương lai, đó là những con người yêu nước trong thời đại mới

1.3.2.3 Giai đoạn 1945 đến 1975 thể hiện quan niệm nghệ thuật về conngười sử thi

Văn học giai đoạn 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt của haicuộc chiến tranh vệ quốc và những biến cố Cách mạng lớn lao Đó là cuộc khángchiến chống Pháp và chống Mỹ Theo sát nhiệm vụ chính trị, tự ý thức mình nhưmột vũ khí tư tưởng, văn học đã tập trung mọi cố gắng lớn nhất vào việc giáo dục,

đào tạo, xây dựng "con người mới” Phát hiện “con người cộng đồng” trong mỗi cá

nhân, con người vận động theo chiều hướng tích cực và lạc quan của quan điểmCách mạng Đó là cống hiến quan trọng của văn học giai đoạn này Nhà văn muốnthông qua con người để biểu hiện lịch sử, con người trở thành phương tiện để khámphá lịch sử Sự ưu tiên cho lịch sử, cho phương diện cộng đồng hoàn toàn phù hợpvới yêu cầu thực tiễn và tâm lí công chúng Chiến tranh đặt ra vấn đề sống còn của

dân tộc, mọi quyền lợi, mọi ứng xử phải nhìn theo quan điểm “địch - ta”, con

người được nhận thức và đánh giá chủ yếu theo tiêu chí giai cấp

Chẳng hạn, con người trong thơ văn kháng chiến chống Pháp đại diện cho cảmột thế hệ mang trong mình bầu nhiệt huyết, khí thế của cuộc chiến tranh Họ lànhững người lính trong chiến tranh gian khổ, thiếu thốn nhưng vẫn lạc quan, yêuđời, anh dũng, hi sinh:

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày…

(Đồng chí - Chính Hữu)

Họ còn là những người mẹ yêu thương con, yêu thương đồng chí như những

người con ruột của mình với tình quân dân "cá nước" thắm thiết Những bài thơ "Bầm ơi", "Bà bủ"… của Tố Hữu là những bài thơ viết rất hay và xúc động về những người

mẹ ấy

Những con người như ông Hai trong truyện ngắn "Làng" của nhà văn Kim Lân, anh Sáu trong "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng, hay nhân vật Tnú trong "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành, nhân vật Việt và Chiến trong "Những đứa con trong gia đình" của Nguyễn Thi, chị Út Tịch trong "Người mẹ cầm súng"…

Trang 16

đều tiêu biểu cho những con người yêu nước, gan góc trong chiến đấu Họ đại diệncho cả một dân tộc, một thế hệ trong thời kỳ oanh liệt, hào hùng nhất của dân tộc,

họ đã tiếp nối cho vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng của dân tộc ViệtNam

Quan niệm nghệ thuật về con người sử thi trong giai đoạn này được biểuhiện qua những nội dung sau:

Một là, con người sống đời sống cộng đồng của dân tộc và Cách mạng Hai là, con người xả thân vì nghĩa lớn.

Ba là, con người tìm thấy ý nghĩa, giá trị cuộc đời mình trong sự gắn bó với

cộng đồng

Bốn là, con người hiến thân cho dân tộc và thời đại.

Có thể nói, con người sử thi trong văn học 1945 - 1975 đã góp phần làm nên

vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng trong thơ văn và làm phong phú hơncho nền văn học Việt Nam hiện đại

1.3.2.4 Giai đoạn 1975 đến nay thể hiện quan niệm nghệ thuật về con ngườiđời tư, thế sự

Sau 1975, văn học Việt Nam thể hiện quan niệm con người đời tư, thế sựkhi đất nước bước vào thời kì đổi mới Sự thức tỉnh ý thức cá nhân diễn ra mạnh

mẽ khi giá trị cá nhân được coi trọng Nếu trước 1975, các nhà văn có thiên hướngthể hiện con người theo tiêu chí giai cấp, lựa chọn nhân vật điển hình, chú trọngtính chung sao cho phù hợp với quan điểm về sự vận động tích cực và thuận chiều

của đời sống, do đó đã bỏ qua hoặc coi nhẹ phương diện “riêng tư”, “cá biệt” của

con người thì văn học sau 1975 dần dần quan tâm con người ở tư cách cá nhân

Xuất hiện con người “không trùng khít với chính mình”, con người phức tạp, nhiều chiều Chẳng hạn, truyện ngắn "Bức tranh" của Nguyễn Minh Châu khắc họa con người đối diện với chính mình, là “tòa án lương tâm” sáng suốt nhất phân xử tư

cách con người trong mối quan hệ với số đông người và với cá nhân anh thợ cắt

tóc Ở tư cách thứ nhất, người họa sĩ có lí “tôi là nghệ sĩ chứ đâu phải là một anh thợ vẽ truyền thần Công việc của người nghệ sĩ là phục vụ cả số đông chứ đâu phải chỉ phục vụ một người” Ở tư cách thứ hai, anh ta là kẻ ích kỉ, dối trá: “vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả? Có quyền lừa dối hả?” Nguyễn Khải từng triết lí trong truyện "Anh hùng bĩ vận" rằng: "cái thế giới tinh thần của con người là vô cùng phức tạp vì con người luôn nhắm tới cái thật cao và thật xa” Ông ngạc nhiên thấy có người "ăn no mà buồn, không phải lo nghĩ

mà lại buồn” Nguyễn Minh Châu từ tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành trở đi dường như liên tục làm những thử nghiệm,"đối chứng" về "tính chất kì lạ của con người" Trong các truyện ngắn Hạng, Cơn giông, Sắm vai, Chiếc thuyền ngoài xa, Dấu vết nghề nghiệp, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam đều ít

nhiều diễn tả cái phức tạp của đời sống, những giằng xé nội tâm khiến con ngườinhiều lúc như bị phân thân Quan niệm nghệ thuật về con người đời tư, thế sự tronggiai đoạn này được thể hiện ở những nội dung sau:

Một là, con người tự ý thức.

Trang 17

Hai là, con người nhận thức về cái tôi.

Ba là, con người khát vọng tìm kiếm bản thể.

Bốn là, con người ý thức về giới.

Năm là, con người theo đuổi những đam mê riêng.

Sáu là, con người bi kịch.

Nếu trong văn học 1945 - 1975 đem lại ấn tượng về con người có thể biếttrước, nhà văn nhìn con người chủ yếu như một ý thức chính trị vận động hợp quyluật lịch sử thì văn học từ sau 1975 lại khám phá những chiều sâu bí ẩn trong đờisống nội tâm của con người Các nhà văn đã phát hiện những cái khuất lấp, ẩnchìm, những sức mạnh kì lạ đã chi phối và dẫn dắt số phận riêng của mỗi cá nhân,không ai giống ai Điều đó tạo nên sức hấp dẫn của văn học thời kỳ này

Có thể nói, sau 1975 có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về conngười Mặc dù còn nhiều chuyện phải bàn, nhưng nhìn chung đó là một thành tựuquan trọng, được nhiều người thừa nhận Khuynh hướng dân chủ hóa và tinh thầnnhân bản đã giúp văn học sau 1975 thoát ra khỏi những lối mòn quen thuộc, phá vỡnhững quy phạm hình thành trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, dần dần đạt tớimột quan niệm toàn diện, nhiều chiều về con người, mở ra những chiều mới mẻ vàthú vị về đời sống đầy bí ẩn, vô cùng vô tận của những cá thể con người sinh động

và gần gũi Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học thời gianqua đã góp phần làm phong phú thêm cho nền Văn học Việt Nam

2 Khái quát về phong trào Thơ mới

2.1 Sự ra đời của phong trào Thơ mới

Buổi đầu xuất hiện, khái niệm Thơ mới được hiểu trong sự đối lập với Thơ

cũ - lối thơ cách luật gò bó, khuôn sáo trên báo chí đương thời Dần dần, Thơ mớiphát triển thành một phong trào chiếm lĩnh thi đàn Thơ mới là một trào lưu thơ ca

về cơ bản có tính chất lãng mạn tiểu tư sản, hình thành, phát triển trong văn họcViệt Nam những năm 1932 - 1945 Thơ mới là một hiện tượng văn học khá phứctạp, phong phú về quan điểm thẩm mĩ, khuynh hướng cảm xúc Ra đời trong lòngchế độ thực dân nửa phong kiến, trong hoàn cảnh đất nước chịu cảnh nô lệ, Thơmới chán ghét cái xã hội kim tiền ô trọc, đòi hỏi tự do, ước mơ hạnh phúc nhưngchưa dám đến với Cách mạng Chỗ đứng vốn chông chênh, các nhà Thơ mới lạichịu tác động của nhiều luồng gió từ các phương thổi về nên tư tưởng, tình cảm của

họ nhìn chung khá phức tạp Con đường phát triển của Thơ mới chính là quá trình

tự khẳng định, tìm cách thể hiện mình của cái tôi tiểu tư sản trong bối cảnh lịch sử

-xã hội cụ thể Phong trào Thơ mới đã mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Namhiện đại

2.2 Quá trình hình thành và phát triển của phong trào Thơ mới

2.2.1 Chặng đường từ 1932 đến 1935

Văn minh phương Tây tác động ngày một toàn diện sâu sắc vào xã hội ViệtNam, thoạt đầu ở lĩnh vực đời sống vật chất và đương nhiên sau đó đã kéo theothay đổi về mặt tâm lý, tinh thần Một lớp người mới xuất hiện ngày một đông đảo

ở các thành thị với những nhu cầu, khát vọng sống thành thực, đó là sống cho mình.Thứ thơ cách luật trở thành một chiếc áo quá chật, là thứ xiềng xích trói buộc tâm

Trang 18

hồn Nhu cầu cách tân thơ ca, xóa bỏ luật lệ được đặt ra từ những năm 20, đã đượcmột đôi người dè dặt thí nghiệm Người tiên phong trong phong trào Thơ mới là

Phan Khôi Trên báo Phụ nữ tân văn ra ngày 10/3/1932, Phan Khôi viết: "Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ" và giới thiệu bài "Tình già" Mặc dù không có giá trị nội dung, nghệ thuật gì đáng kể nhưng hình thức lạ, gần với văn xuôi của "Tình già" đã có tác dụng khích lệ lớp nhà thơ trẻ Điều quan trọng là các thế hệ thanh

niên, các thi sĩ trẻ vui mừng nhận thấy ước mong thầm kín vốn thiết tha, dồn nénbấy lâu nay trong lòng mình giờ đây mới được một bậc đàn anh có uy tín trong làngvăn thừa nhận và công khai nói hộ Trước sự kiện này, nhiều người hưởng ứng,không ít người quyết liệt phản đối Cuộc đấu tranh giữa phái mới và phái cũ diễn rasôi động, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng Đây là thời kỳ Thơ mớiđấu tranh quyết liệt phá vỡ các lề thói cũ để chiếm lĩnh chỗ đứng trên thi đàn Thơ

cũ thất bại chính vì lớp thi sĩ cuối mùa không sản sinh được một bài thơ nào có giátrị trong những năm này Trong khi đó đằng sau phong trào Thơ mới là nhu cầu, aoước của một thời đại, của lớp người tiên tiến Quyết định thắng bại cơ bản vẫn làthực tiễn sáng tác Thơ mới đã sản sinh nhiều cây bút có tài với những ý tưởng, tìnhcảm mới và có nhiều thi phẩm được đông đảo quần chúng mến mộ

Ở buổi mới ra đời, Thơ mới mang niềm vui sướng của lớp người trẻ lần đầuđược tiếp xúc với thế giới vốn bao ngày bị ngăn chặn bởi ước lệ cổ điển; được mởrộng tầm mắt, cởi trói tâm hồn, cảm xúc ngỡ ngàng, bừng nở đã làm nên những vần

thơ tươi xanh, cuốn hút Bài "Cây đàn muôn điệu" của Thế Lữ đã nêu lên một tuyên

ngôn nghệ thuật có ý nghĩa đại diện cho nhiều thi sĩ Thơ mới lúc bấy giờ Trong bàithơ này, Thế Lữ tuyên bố tâm hồn mình là cây đàn ngàn phím ngân lên cùng mọirung động, vẻ đẹp muôn hình muôn thể của ngoại giới, thanh sắc trần gian là thiliệu bất tận của người nghệ sĩ:

Anh dù bảo: tính tình tôi hay thay đổi, Không chuyên tâm, không chủ nghĩa, nhưng cần chi.

Tôi chỉ là một khách tình si, Ham vẻ đẹp có muôn hình, muôn thể.

Mượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ,

Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca

(Cây đàn muôn điệu - Thế Lữ) Cái tôi Thơ mới thời kỳ này còn e dè, ngượng ngập, chưa bộc lộ đầy đủ mọi

ham muốn cá nhân của mình Trong thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp,tình yêu thật ngây thơ, thầm kín Đó là thứ tình yêu thiết tha nhưng không dám thổ lộ,rồi một ngày kia ngồi nuối tiếc, thở than chứ chưa si mê, táo bạo trong những khátkhao vô biên, cuồng nhiệt và ồn ào như Xuân Diệu sau này Nỗi lòng cô gái ở ngàytrẩy hội chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp thật rạo rực mà trong sáng đến dễ

thương Chàng trai trong bài thơ Không nói của Lưu Trọng Lư cũng thế:

Yêu hết một mùa đông Không một lần đã nói Nhìn nhau buồn vời vợi

Có nói cũng không cùng.

Trang 19

(Không nói - Lưu Trọng Lư)

Và khi tình yêu không trọn vẹn, chàng trai thật hiền lành, dễ thương bởi coingười ấy là cô em gái để an ủi cõi lòng:

Em chỉ là người em gái thôi Người em sầu mộng của muôn đời Tình em như tuyết giăng đầu núi Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.

(Một mùa đông - Lưu Trọng Lư)

Vừa mới ra đời, trong lòng còn dư vang những sự kiện lịch sử bi hùng, oanh

liệt nên cái tôi Thơ mới thời kỳ này mang tình yêu ngậm ngùi, xa xăm Những dư

âm của không khí đấu tranh chính trị, của những ngày hoạt động sôi nổi dường như

vẫn còn phảng phất, chưa tắt hẳn trong lòng cái tôi Thơ mới:

Ta đi theo đuổi bước tương lai

Để lại bên sông kẻ ngậm ngùi Chí nặng bốn phương trời nước rộng

Từ nay thêm bận nỗi thương ai.

(Tiếng gọi bên sông - Thế Lữ) Sau niềm vui buổi đầu xuất hiện, cái tôi Thơ mới đã rất sớm tự cảm thấy

buồn chán và nuôi mộng thoát li Trong nhiều bài thơ của Thế Lữ, chúng ta bắt gặphình ảnh người bộ hành đơn độc ngơ ngác đi giữa trần thế mà thao thức hỏi tìmchân lý bí mật ở trên chốn vô cùng Ngay trước chân trời thoát li vừa mới mở, cái

tôi trong thơ Thế Lữ đã dự cảm thấy sự bế tắc Trên con đường giang hồ "ngược xuôi để vui chơi", có lúc nó dừng lại trước câu hỏi không thể trả lời "Hỡi người bạn, anh định về đâu đó?" (Con người vớ vẩn) Không ít khi cái tôi Thế Lữ buồn nát tan

vì vỡ mộng rồi tìm đến nàng Tiên Nâu để làm tê dại các giác quan, cho vơi niềm

đau khổ Nhà thơ cứ say mê nhìn "Khói huyền lên, khói huyền lên" để "Hình hài thoắt chốc bình bồng tiêu dao" (Ma túy).

Như vậy, trong chặng đường đầu tiên, phong trào Thơ mới đã kiên quyết đấutranh với thơ cũ và làm nên một cuộc Cách mạng trong thơ ca Đến phong trào Thơmới, nền thơ ca Việt Nam đã có sự thay đổi cơ bản từ quan niệm nghệ thuật đến nộidung và hình thức Đó là bước tiến tất yếu của văn học hiện đại

2.2.2 Chặng đường từ 1936 đến 1939

Bước sang năm 1936, sự toàn thắng của Thơ mới đã rõ rệt Cuộc tranh luận

cũ - mới đến đây về cơ bản đã chấm dứt Thơ mới chiếm lĩnh trọn vẹn thi đàn Độingũ những nhà Thơ mới thêm đông đảo Đây là thời kỳ Thơ mới phát triển rầm rộnhất, đạt đến độ sung mãn nhất Bên cạnh những cây bút cũ, hàng ngũ Thơ mới giờđây có thêm Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, TếHanh, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ Mỗi gương mặt Thơ mới tiêu biểu là một phongcách sáng tạo đặc sắc làm nên diện mạo phong phú của một thời đại thi ca rực rỡ

hiếm thấy trong lịch sử văn học dân tộc Điều đáng nói là cái tôi Thơ mới những

năm này không e dè, không sầu mộng man mác như trước nữa mà công khai, mạnh

Trang 20

dạn bày tỏ những ước muốn, khát vọng sống, khát vọng hưởng thụ và cả những khổđau riêng tư của mình.

Một trong những thi sĩ tiêu biểu nhất cho phong trào Thơ mới ở thời kỳ này

là Xuân Diệu Cái tôi Xuân Diệu tự ý thức cao về quyền năng của cá nhân và dám

bộc lộ một cách công khai, nhiệt thành những hoài bão riêng tư, khát vọng hưởngthụ của mình Là con người ham mê sự sống, mang tấm lòng ân ái đa tình, XuânDiệu khát khao mãnh liệt hưởng thụ hạnh phúc ngắn ngủi của tuổi trẻ và tình yêu,thiết tha kêu gọi mọi người mau mau tận hưởng

Giữa lúc mọi người đang bàng hoàng trước sức chói lọi, rực rỡ của Xuân

Diệu thì Huy Cận xuất hiện Tập "Lửa thiêng" ra đời đã gây sự ngạc nhiên cho nhiều

người nhưng cái ngạc nhiên, ngỡ ngàng ấy không giống như đối với Xuân Diệu,thậm chí có những điều trái ngược Ở độ tuổi mười chín đôi mươi, Huy Cận ngậm

ngùi đứng nhìn đời như một triết nhân Không bộc bạch nhiều góc cạnh của cái tôi

mà nhà thơ cứ dần dần khơi dậy lớp sầu đọng lại mấy ngàn năm từ đáy hồn nhân

thế "Lửa thiêng" thấm đượm nỗi buồn mênh mang, tê giá, nỗi sầu ảo não từ vạn kỉ

của một tâm hồn giàu suy nghĩ, hay chiêm nghiệm về thế cuộc, đời người Tình yêutrong tập thơ này cũng thế: không thiết tha, rạo rực như Xuân Diệu mà thường làthứ tình buồn rầu, đậm nỗi nhớ thương và hay ngậm ngùi chan chứa

Từ những năm này, Nguyễn Bính cũng là cây bút ngày càng được đông đảocông chúng mến mộ Về sức phổ cập, tính đại chúng của thơ có lẽ không ai bằngNguyễn Bính Con người Việt Nam ở mọi thời, thuộc nhiều lứa tuổi, nghề nghiệpkhác nhau đều có thể đọc và mê thơ Nguyễn Bính bởi tiếng thơ này đã làm sốngdậy con người nhà quê, cái hồn quê, tình quê thấm sâu trong mình Dường nhưhồn thơ Nguyễn Bính sinh ra là để cảm thông và nói hộ cho những nỗi đau khổthầm kín, những mối tình câm lặng, những tình cảnh đành nuốt nước mắt vào

trong "Trong dàn đồng ca nhiều bè giọng của Thơ mới, nếu như thơ Xuân Diệu cất lên tiếng kèn crompet thì thơ Nguyễn Bính là cung đàn bầu nỉ non và lắm khi

ai oán" [6; 556].

Bên cạnh Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính là Hàn Mặc Tử, Chế LanViên, Bích Khê làm nên trường thơ loạn; Tế Hanh với hồn thơ trong sáng, dịubuồn; Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Đoàn Bá Lân tiêu biểu cho khuynh hướng tả chân

Đó là dòng thơ giàu tính dân tộc và có giá trị nhân văn đáng quí

2.2.3 Chặng đường từ 1940 đến 1945

Mặt trận Dân chủ Đông Dương tan rã Đế quốc thực dân phong kiến trở lạiđàn áp, bóc lột vơ vét Đại chiến thế giới thứ hai ngày càng lan rộng Đời sống củatầng lớp nhân dân lao động vốn đã cơ cực lại càng khốn đốn trăm chiều Trước cơnsóng gió của xã hội, Thơ mới vốn mang mầm bế tắc từ trước, giờ đây đã đi đếnkhủng hoảng Chưa bao giờ lý trí bị khinh bỉ, cái vô thức, siêu hình được phụng thờnhư những năm này Huy Cận trước đây còn ôm nỗi đau đời thì lúc này ung dungthoát ra ngoài cõi tục với niềm vui vũ trụ ca Nhà thơ tưởng tượng mình ngất

ngưởng trên cỗ xe nhật nguyệt "Ngồi xe nhật nguyệt cùng thiên nhiên - Làm bạn đi đường về vô định" và "Ta đi về đâu ta chẳng biết - Chỉ biết trời xanh là ta say" (Xuân hành - Huy Cận) Chế Lan Viên từ tập "Điêu tàn" đến "Sao vàng" ngày càng thể hiện

Trang 21

thái độ phủ nhận trần thế, tìm con đường siêu thoát vào cùng thẳm hư vô, nghi ngờđến tự phủ định chính bản thân mình

Thơ mới thời kỳ này xuất hiện thêm Vũ Hoàng Chương, một thi sĩ tài năngnhưng phải cất giọng than sướt mướt cho kiếp sống lạc loài, tự cảm thấy mình đầuthai nhầm thế kỉ Chán chường trước tình yêu tan vỡ, Vũ Hoàng Chương đã tìmđường giải thoát trong những cơn say Thi sĩ này thường triền miên trong nhữngcơn say, trong bước nhảy đê mê và điên loạn để hòng quên đi tất cả Nhưng trước

mắt nhà thơ "thành sầu" vẫn cứ dựng lên sừng sững nên Vũ Hoàng Chương đau đớn,

bi phẫn cất lên "Bài hát cuồng", "Túy hậu cuồng ngâm"

Trong những năm này một số nhà thơ như Bích Khê, Đinh Hùng trăn trở tìmđường cùng với khát vọng cách tân thơ đã tiến gần đến chủ nghĩa tượng trưng với lối

thơ giàu biểu tượng, giàu chất nhạc Nhóm Xuân thu nhã tập cũng ra đời với Phạm Văn Hanh, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ Nhìn chung, đến nhóm Xuân Thu nhã tập, cái tôi Thơ mới tuyệt giao với hiện thực, với lí trí mà trở về cùng cõi vô thức, đề

cao sự linh diệu của hành động sáng tạo thơ, chất nhạc huyền bí của thơ - xa rời cuộcsống hiện thực

2.3 Những đóng góp cơ bản của phong trào Thơ mới

Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 đã tạo nên một thời đại rực rỡ hiếm thấytrong lịch sử thơ ca dân tộc Khái quát lại thời đại thơ ca này, chúng ta thấy đã cónhiều cách tân quan trọng Thơ mới có những đóng góp cho nền thơ ca dân tộc ởcác khía cạnh sau đây:

2.3.1 Thơ mới đã thực hiện một cuộc Cách mạng lớn trong quan niệm về đối tượng, chức năng của thơ ca

Thơ ca trung đại về cơ bản nằm trong phạm trù "văn dĩ tải đạo", "Thi sĩ ngôn chí" Văn thơ lúc này được xem là phương tiện để chở đạo trung quân ái quốc, để tỏ

chí của người quân tử Nhà thơ trung đại thường nhìn cái đẹp, sự chuẩn mực ở tấmgương tiền nhân Trong cảm quan của họ, Thiên, Địa, Nhân nhất thể và con ngườitìm sự an bằng trong sự hòa nhập, tuần hoàn cùng vũ trụ vô cùng, vô tận Đến thờihiện đại, con người tách mình khỏi thế giới để nhìn ngắm, khám phá nó, đồng thời

ý thức mình là một thực thể tồn tại với số phận, qui luật riêng để tự soi ngắm, giãibày Các nhà Thơ mới coi đối tượng của thơ ca chính là thế giới quanh mình với vẻđẹp muôn hình muôn thể, chính là cõi tinh thần thẳm sâu của mỗi cá nhân Với họ,thơ ca vừa miêu tả cuộc sống hiện thực vừa cất lên tiếng lòng khát vọng cá nhân tự

ý thức Do đó, trong Thơ mới có hẳn một khuynh hướng tả chân về thiên nhiên vàtình yêu trở thành những đề tài phổ biến Cũng vì thế, đến Thơ mới, trong thơ ca

Việt Nam mới có từng cái tôi trữ tình cá thể Mỗi thi sĩ tiêu biểu là một gương mặt,

một điệu tâm hồn riêng

2.3.2 Thơ mới có tinh thần dân tộc và thể hiện lòng yêu nước ngậm ngùi

xa xăm

Nội dung tích cực này được bộc lộ khác nhau ở từng thời kì, từng nhà thơ,nhưng có thể khái quát trong mấy điểm sau:

Trang 22

Một là, trong nỗi buồn chán, trong sự quay lưng của các nhà Thơ mới trước

xã hội đương thời có nỗi đau khổ của người dân bị mất nước, sự quằn quại của tâmhồn bị bóp nghẹt, lòng khát khao có một cuộc sống chân thật và tự do

Hai là, thể hiện lòng yêu mến, trân trọng những vẻ đẹp truyền thống của văn

hóa dân tộc Nhiều bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp, Đoàn Văn Cừ, Bàng BáLân, đã ghi lại thật sinh động những lễ hội, chợ tết, những sinh hoạt văn hóa dân

gian đậm đà màu sắc Việt Nam, tình yêu tiếng mẹ đẻ bởi trong đó có "hồn thiêng đất nước".

Ba là, niềm hoài vọng xa xôi quá khứ vàng son, oanh liệt như một cách phản

ứng lại xã hội đương thời trong thơ Thế Lữ, Huy Thông, Chế Lan Viên chính là thểhiện lòng yêu nước của các nhà Thơ mới

2.3.3 Thơ mới đã đem đến những cảm xúc thiết tha, trong sáng về quê hương, về thiên nhiên

Hình ảnh những vùng quê đất Việt với vẻ đẹp, cuộc sống hiện lên khá sinhđộng trong thơ của Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Tế Hanh, Nam Trân, Không ít bài thơ mới đã gợi được cái hồn quê, tình quê sâu thẳm từ miêu tả thiênnhiên, đời sống, sinh hoạt Thiên nhiên trong Thơ mới nhiều khi thật tươi non, đầysức sống bởi nó được nhìn bằng đôi mắt trẻ trung, tấm lòng rạo rực nồng nàn Điều

đó được thể hiện rất rõ nét trong thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử

2.3.4 Thơ mới đã thực hiện cuộc cách tân quan trọng về phương thức thể hiện, nhất là về giọng điệu và ngôn từ

Thơ mới không còn chịu sự qui định về số âm tiết trên dòng thơ Đơn vị câu

và dòng từ không trùng khít Một câu thơ có thể tràn ra trên nhiều dòng, một dòng

có thể bao gồm nhiều câu Thơ mới mang giọng điệu trữ tình cá thể, gắn vớiphong cách từng cá nhân Ngôn ngữ thơ vượt ra khỏi tính trang trọng ước lệ mà gợicảm và tinh tế để diễn tả bao trạng thái cảm xúc phong phú, phức tạp của con người

cá nhân Trong Thơ mới rất nhiều liên từ và hư từ gắn với giọng điệu trữ tình cáthể, tạo nên ngữ khí lời nói đa dạng, sinh động

Thơ mới đã làm nên một cuộc Cách mạng trong thi pháp và tư duy thơ, đã đưa

ra một cái nhìn cá thể hóa về thiên nhiên tạo vật thông qua cái tôi chủ thể - trữ tình.

Thơ mới là sự tổng hợp tài tình giữa phương Đông và phương Tây, giữa dân tộc vàhiện đại Từ đó mở ra một thời đại mới cho sự phát triển của thi ca Việt Nam

Tóm lại, qua việc xác định các khái niệm về quan niệm nghệ thuật, quanniệm nghệ thuật về con người, đồng thời tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về conngười qua các thời kỳ văn học viết của dân tộc cũng như khái quát về phong tràoThơ mới, chúng tôi đã có cơ sở lý luận vững chắc để tìm hiểu quan niệm nghệ thuật

về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trang 23

Chương II QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

1 Khái quát về tiểu sử, con người, sự nghiệp sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu

1.1 Tiểu sử

Nhà thơ Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, bút danh là Trảo Nha sinhngày 02 tháng 02 năm 1916 tại quê ngoại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước,

tỉnh Bình Định Quê nội ông ở làng Trảo Nha (nay là xã Đại Lộc), huyện Can Lộc,

tỉnh Hà Tĩnh Thân sinh của Xuân Diệu là ông Ngô Xuân Thọ, từng đỗ tú tài, làmột thầy đồ, vào dạy học ở Bình Định Mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp Có thể nói, yếu

tố quê hương đã ảnh hưởng rất nhiều đến con người và hồn thơ Xuân Diệu

Thuở nhỏ, Xuân Diệu học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và cả tiếng Pháp Năm

1927 xuống học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành Chung năm 1934 Thời kỳ này, Xuân

Diệu đã bắt đầu sáng tác thơ và rất mến phục Tản Đà - Người sau này đã cất "khúc dạo đầu" cho phong trào Thơ mới.

Từ 1935 - 1936, Xuân Diệu ra học tú tài phần thứ nhất ở Trung học bảo hộ

Hà Nội Từ 1936 - 1937, ông vào Huế học tú tài phần thứ hai ở trường Quốc họcHuế Tại đây, Xuân Diệu đã gặp Huy Cận và hai người bạn thơ đã kết nghĩa vớinhau Đó là một tình bạn thủy chung đến trọn đời

Từ 1938 đến 1940, Xuân Diệu ở Hà Nội cùng Huy Cận, làm giáo viên trường

tư thục Thăng Long Năm 1939, ông tập hợp các truyện ngắn của mình đã đăng trên

báo Ngày nay và cho xuất bản tập “Phấn thông vàng” Đầu năm 1940, Xuân Diệu thi tham tá Thương Chính và vào nhận việc ở Mĩ Tho (Nam Bộ) Năm 1943, khi Huy

Cận tốt nghiệp kĩ sư Canh nông thì ông xin thôi làm tham tá Thương Chính, về sốngvới bạn ở Hà Nội Ông cùng với Huy Cận tham gia Mặt trận Việt Minh

Cách mạng tháng Tám thành công, từ một thi sĩ lãng mạn, Xuân Diệu nhanhchóng trở thành một nhà thơ Cách mạng, nhiệt tình ngợi ca chế độ mới Ông được

bầu là Đại biểu Quốc hội khóa I (1946 - 1960) Khi toàn quốc bước vào cuộc kháng

chiến chống thực dân Pháp, Xuân Diệu lên chiến khu Việt Bắc, là ủy viên BanChấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam Năm 1949, ông trở thành đảng viên ĐảngCộng sản Việt Nam Sau ngày kháng chiến thắng lợi, Xuân Diệu từ chiến khu trở

về Hà Nội, tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam

Xuân Diệu mất ngày 18 tháng 12 năm 1985 ở Hà Nội Ông đã được trao tặnggiải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật lần thứ nhất năm 1996

1.2 Con người Xuân Diệu

Trang 24

Xuân Diệu là một nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới Ông viết nhiều

thể loại, bút pháp biến hóa và gây ấn tượng độc đáo Ông tiếp thu học hỏi văn hóaphương Đông từ người cha là một nhà nho, tìm về vốn kiến thức cổ, văn hóa truyềnthống một cách tích cực Mặt khác Xuân Diệu là một tri thức Tây học, đã hấp thụảnh hưởng của văn hóa phương Tây, đặc biệt là nước Pháp và các văn hóa thuộctrường phái tượng trưng một cách có hệ thống Vì thế, có thể tìm thấy ở nhà thơ sựkết hợp hai yếu tổ cổ điển và hiện đại, phương Đông và phương Tây trong tư tưởng

và tình cảm thẩm mỹ Trong đó, yếu tố Tây học được ảnh hưởng sâu đậm hơn.Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Xuân Diệu được xem là nhà thơ lãng mạn

tiêu biểu của phong trào Thơ mới qua hai tập thơ xuất sắc là "Thơ Thơ" (1938) và

"Gửi hương cho gió" (1944), không những đem lại cho thơ ca Việt Nam một tiếng

nói mới mẻ, trẻ trung và say đắm mà còn đem đến cho Thơ mới một nguồn cảmhứng lạ của một hồn thơ sôi nổi, thiết tha, thể hiện niềm khát khao giao cảm với

cuộc đời bằng một cái tôi cá thể ý thức thật rõ giá trị của bản thân Xuân Diệu thể

hiện niềm say mê khao khát cuộc sống, nồng nhiệt với tình yêu Trong con ngườiông, sống và yêu là hai hoạt động luôn song hành và sôi nổi Vì vậy, lúc nào ôngcũng muốn vươn ra khỏi giới hạn, muốn thoát ra ngoài nếp sống buồn tẻ hàng ngày

Xuân Diệu không trốn khỏi cuộc sống trần gian mà luôn mong mỏi "mãi mãi là vườn trần" Chính vì vậy, tình yêu con người, tình yêu cuộc đời và phong cảnh đất

nước lúc nào cũng ngự trị trong trái tim ông Trong khi các nhà Thơ mới khác đối

lập cái tôi của mình với cuộc đời, thì Xuân Diệu hòa cái tôi của mình vào cuộc

sống trần thế Thơ Xuân Diệu luôn thể hiện lòng yêu đời, ham sống đến cuồng

nhiệt, muốn chiếm lĩnh và hưởng thụ những giá trị tươi đẹp của cuộc đời Cái tôi

Xuân Diệu được giải phóng khỏi ước lệ phi ngã cổ điển, nhìn đời bằng cái nhìnxanh non, đầy trẻ trung Thiên nhiên và con người mang sức trẻ, đầy hương sắc vàdiệu huyền:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si.

(Vội vàng - Xuân Diệu)

Trong thơ, Xuân Diệu quan niệm nghệ thuật về con người bắt nguồn từ quanđiểm nhân sinh mới mẻ Ông có tâm hồn nhạy bén, ý thức được sự chảy trôi củathời gian một đi không trở lại nên luôn mang trong mình một nỗi ám ảnh lo sợ Nhàthơ muốn chạy đua với thời gian để giành giật sự sống, tận hưởng từng phút giâycủa cuộc đời, thể hiện niềm ham sống lành mạnh Bên cạnh niềm yêu say cuộc đời,thơ Xuân Diệu cũng thể nỗi niềm buồn chán, hoài nghi, cô đơn:

Tôi là con nai bị chiều đánh lưới, Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối

(Khi chiều giăng lưới - Xuân Diệu)

Hai trạng thái cảm xúc trên tưởng như đối lập nhưng lại rất thống nhất củamột hồn thơ khát khao giao cảm mãnh liệt với thiên nhiên, con người và của một

cái tôi có ý thức đầy đủ về sự hiện hữu và giá trị của bản thân trước cuộc đời.

Trang 25

Xuđn Diệu lă nhă thơ tiíu biểu trong văn học hiện đại cũng như của nền vănhọc dđn tộc Băi học Xuđn Diệu để lại cho đời lă tinh thần lao động nghệ thuật cần

cù, lă niềm tin yíu thiết tha đối với con người, lă ý thức chđn thănh đối với vănchương Dù đê qua hơn nửa thế kỷ nhưng thơ Xuđn Diệu vẫn đầy hấp dẫn, lôi cuốncâc thế hệ độc giả

1.3 Sự nghiệp sâng tâc

Xuđn Diệu lă một nghệ sĩ lớn, một nhă văn hóa lớn của dđn tộc Ông đê đểlại cho đời một sự nghiệp sâng tâc lớn lao vă rất có giâ trị Hơn năm mươi năm laođộng miệt măi trong thế giới nghệ thuật ấy, con người vă thơ văn của Xuđn Diệu đê

có sự chuyển biến rõ nĩt từ một nhă thơ lêng mạn thănh nhă thơ Câch mạng Đó lăbước chuyển tất yếu của một trí thức yíu nước, một tăi năng nghệ sĩ Thơ văn XuđnDiệu có đóng góp lớn văo quâ trình phât triển của văn học Việt Nam

1.3.1 Về lĩnh vực thơ ca

1.3.1.1 Trước Câch mạng thâng Tâm: Xuđn Diệu lă một nhă thơ lêng mạn

tiíu biểu trong phong trăo Thơ mới Hai tập“Thơ thơ” (1938) vă “Gửi hương cho gió” (1944) của ông đê góp phần đưa Thơ mới đến đỉnh cao huy hoăng vă rực rỡ

nhất Nội dung của thơ Xuđn Diệu trong thời kỳ năy thể hiện niềm say mí, khât

khao giao cảm mênh liệt với cuộc đời; nỗi cô đơn rợn ngợp của câi tôi bĩ nhỏ giữa

dòng thời gian vô biín, không gian vô tận; nỗi âm ảnh về thời gian khiến nhă thơnảy sinh một triết lý về nhđn sinh: lẽ sống vội văng; nỗi khât khao đến chảy bỏngđược đắm mình trọn vẹn giữa cuộc đời đầy hương sắc vă thể hiện nỗi đau đớn, xót

xa trước khât vọng bị lêng quín

1.3.1.2 Sau Câch mạng thâng Tâm: thơ Xuđn Diệu đê vươn tới chđn trời

nghệ thuật mới Nhă thơ đi từ câi tôi bĩ nhỏ đến câi ta chung của mọi người Xuđn

Diệu giờ đđy đê trở thănh một nhă thơ Câch mạng say mí, hăng say hoạt động vẵng đê có thơ hay ngay trong giai đoạn đầu Xuđn Diệu chăo mừng Câch mạng với

“Ngọn Quốc kỳ” (1945), “Hội nghị non sông” (1946), Dưới sao văng (1949).

Trước lẽ sống lớn, niềm vui lớn của Câch mạng, cùng với sự đổi mới của đất nước,

Xuđn Diệu có nhiều biến chuyển trong tđm hồn vă thơ ca Ý thức câi tôi công dđn

của một nghệ sĩ, một trí thức yíu nước trước thực tế cuộc sống, đất nước đê đemđến cho ông những nguồn mạch mới trong cảm hứng sâng tâc Nhă thơ hăng sayviết về Đảng, về Bâc Hồ, về Tổ quốc Việt Nam, về quâ trình xđy dựng chủ nghĩa

xê hội miền Bắc vă công cuộc thống nhất nước nhă ở miền Nam Câc tâc phẩm tiíu

biểu: tập “Riíng chung” (1960), “Hai đợt sóng” (1967), tập “Hồn tôi đôi cânh”

(1976)… Từ những năm sâu mươi trở đi, Xuđn Diệu tiếp tục viết thơ tình Thơ tìnhXuđn Diệu lúc năy không hề vơi cạn mă lại có những nguồn mạch, cảm hứng mới.Trước Câch mạng, tình yíu trong thơ ông hầu hết lă những cuộc tình xa câch, côđơn, chia li, tan vỡ… Nhưng sau Câch mạng, tình yíu của con người ấy không còn

lă vũ trụ bĩ nhỏ, cô đơn nữa mă đê có sự hòa điệu cùng mọi người Tình cảm lứađôi đê hòa quyện cùng tình yíu Tổ quốc Xuđn Diệu nhắc nhiều đến tình cảm thủychung gắn bó, hạnh phúc, sum vầy chứ không lẻ loi, đơn côi Tiíu biểu lă câc tâc

phẩm “Dấu nằm”, “Biển”, “Giọng nói”, “Đứng chờ em”

Trang 26

1.3.2 Về lĩnh vực văn xuôi

1.3.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám: có các tác phẩm chính là "Trường ca” (1939) và “Phấn thông vàng” (1945) Các tác phẩm này được Xuân Diệu viết theo

bút pháp lãng mạn nhưng đôi khi ngòi bút lại hướng sang chủ nghĩa hiện thực như

trong các tác phẩm "Cái Hỏa Lò", "Tỏa nhị Kiều".

1.3.2.2 Sau Cách mạng tháng Tám: có tác phẩm "Việt Nam ngàn dặm" (1946);

"Việt Nam trở dạ" (1948), "Ký sự thăm nước Hung" (1956)," Triều lên" (1958).

Ngoài ra, Xuân Diệu còn rất tài tình trong việc phê bình văn học, dịch thuậtthơ nước ngoài Dù ở phương diện nào, Xuân Diệu cũng có đóng góp to lớn cho sựnghiệp văn học Việt Nam Trong đó, thành công nhất là ở mảng thơ ca Ông đãđem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thểhiện quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo.Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi,đắm say, yêu đời thắm thiết Từ sau Cách mạng, thơ Xuân Diệu hướng mạnh vàothực tế đời sống và rất giàu tính thời sự Ông cổ vũ và hăng hái thể nghiệm khuynhhướng tăng cường chất hiện thực trong thơ Xuân Diệu là một cây bút có sức sángtạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, xứng đáng là một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn củadân tộc Việt Nam

1.4 Quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu

1.4.1 Trước Cách mạng tháng Tám

Quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám thể hiện

rất rõ qua bài thơ Cảm xúc, đây được xem như một tuyên ngôn nghệ thuật của ông:

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây

Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

(Cảm xúc - Xuân Diệu)

Xuân Diệu cho rằng, người thi sĩ phải là một người thật lãng mạn, hay mơ

mộng và rất đa sầu, đa cảm "ru với gió, mơ theo trăng, vơ vẩn cùng mây" Thi sĩ phải

hướng tâm hồn mình vào những nơi tươi đẹp, lãng mạn Quan niệm này cũng phùhợp với cách sáng tác của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Nhưng điểmkhác nhau giữa Xuân Diệu với các tác giả trên là ông luôn thiết tha với cuộc đời.Ông cho rằng, phải sống giữa cuộc đời thật, phải hòa nhập và thực sự yêu cuộc sống

để nói lên những điều tươi đẹp đang tồn tại hiện hữu ngay trên trần thế này XuânDiệu ví tâm hồn thi sĩ phải như cây đàn muôn điệu để thấu hiểu hết mọi cung bậc

tình cảm của con người "ràng buộc bởi muôn dây" chia sẻ bởi "trăm tình yêu mến".

Xuân Diệu là nhà thơ lớn của niềm khát vọng "vô biên" và "tuyệt đích", trái tim

thi sĩ luôn khát khao giao cảm với đời Trước Cách mạng tháng Tám, nhà thơ luôn

cảm thấy cô đơn rợn ngợp của cái tôi nhỏ bé giữa dòng thời gian vô biên, giữa

không gian vô tận vừa mang nỗi khát khao nồng cháy được đắm mình trọn vẹntrước cuộc đời đầy những hương sắc, vừa thể hiện nỗi đau đớn, xót xa trước khát

Trang 27

vọng bị lãng quên phũ phàng trước cuộc đời Nên nhiều khi Xuân Diệu tìm đến vớithế giới mộng tưởng để thả hồn mình vào đó, để được tận hưởng cuộc sống bằng

mọi giác quan Đây chính là sự biểu hiện cái tôi trữ tình đầy đủ nhất của Xuân Diệu

cũng như bộc lộ rõ nhất quan niệm nghệ thuật về con người của nhà thơ

1.4.2 Sau Cách mạng tháng Tám

Sau Cách mạng tháng Tám thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dạt dào ở chốnnước non có cuộc đời đổi mới Ông cũng như một số các nhà Thơ mới khác có sự

"lột xác" và "nhận đường" đi theo Cách mạng, đi theo kháng chiến Nhà thơ sung

sướng khi tìm ra được con đường đúng đắn cho bản thân, như nhìn thấy được ánh

sáng của ngày mới Ánh sáng đấy chính là ánh sáng của Đảng soi đường Từ cái tôi

cá nhân tiểu tư sản, Xuân Diệu đã đến với Cách mạng, với Đảng, với nhân dân.Ông hân hoan, hồ hởi chào đón cuộc đời mới với một tâm hồn hòa nhập Thơ củaông như đã có sự tỏa sáng, ấm áp với những cảm xúc tràn đầy yêu thương

2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám

Quá trình phát triển của phong trào Thơ mới là quá trình phát triển của cái

tôi tiểu tư sản trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám Xuân Diệu trở thành đỉnh

cao của phong trào Thơ mới ở độ tròn đầy, sung mãn nhất Bởi vì, ông là người có

ý thức cao về cái tôi cá nhân và nhiệt tình phơi trải tấm lòng khát khao hưởng thụ trần tục với người đời Chính và thế mà Hoài Thanh nhận xét Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” [17; 106]

Đến với Xuân Diệu ta bắt gặp một cái tôi với nỗi đam mê mãnh liệt, một tấm lòng “ân ái đa tình” Trong các nhà Thơ mới, Xuân Diệu là người diễn tả sự đam

mê nổi trội và độc đáo nhất của hình tượng cái tôi Ông bày tỏ lòng ham muốn hưởng thụ “vô biên”, bày tỏ nỗi hốt hoảng trước sự trôi chảy của thời gian Ông

khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy tận tâm, siêng năng mà sống, mà yêu cho trọn vẹn

tuổi thanh xuân Và những vần thơ si mê đầy cuốn hút ấy là“những cái bỏng lưỡi hay những cái đau răng vì đã uống tham lam vào suối mặt trời, đã ăn hăm hở vào trái mùa xuân” [17; 201] Đến Xuân Diệu, cái tôi Thơ mới không dè dặt, bóng gió

như trước nữa Nó gạt bỏ giấc mộng sầu man mác ở Lưu Trọng Lư, mọi hoài bão

mơ hồ của Thế Lữ, mà phát biểu bằng những ước muốn riêng tư, khát khao sống để

hưởng thụ cuộc sống trần tục của mình Đến Xuân Diệu, cái tôi tiểu tư sản ngang

nhiên đòi hỏi được thỏa mãn một cách tối đa những nhu cầu của cuộc sống vật

chất, của những tình cảm, cảm giác phức tạp, mãnh liệt Cái tôi trong thơ Xuân

Diệu đã nói lên được một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản

ngã, tự do cá nhân Cái tôi đó như "con ngựa trẻ không cương", "Chân nổi gió cứ mặt trời thẳng tiến", "đạp phăng cả hàng rào", "chẳng chịu khung nào hết", chỉ muốn nâng hồn mình lên "những đỉnh cao", "để hóng gió từ ngàn phương thổi tới" (Mênh mông - Xuân Diệu).

Trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám hay nói tới "lòng" và "hồn"

để bộc lộ cái sâu kín, riêng tư nhất của con người Qua đó, bộc lộ khát vọng và lòng

mê say cuộc sống của mình Nếu như trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du "tấm lòng"

Trang 28

nhiều khi được xem như một tín vật để bày tỏ phẩm chất thì "tấm lòng" trong thơ Xuân Diệu lại là cách thức để phơi bày tình cảm, phơi trải cái tôi cá nhân Nói đến

"lòng" là nói đến những trạng thái tình cảm khác nhau của nhân vật trữ tình: cô đơn,

buồn, đau, lòng yêu đời, sự thất vọng Ngoài ra, nó còn dùng để bộc lộ những

phẩm chất nào đó của cái tôi như: lòng e thẹn, lòng xanh, lòng xuân, lòng tươi,

ám chỉ sự ngây thơ, trinh bạch, lòng yêu cuộc sống Từ “lòng” xuất hiện với tần số

cao làm cho thơ Xuân Diệu đậm chất trữ tình và do đó cảm xúc trở nên chân thựchơn Nó cho ta thấy hình ảnh một con người rất giàu tình cảm, cảm xúc Xuân Diệu

cũng rất hay nói đến "hồn" "Hồn" không chỉ dùng để biểu thị tình cảm mà còn biểu thị phần tinh túy nhất trong con người "Hồn" là biểu tượng cho một cá thể cô đơn, lưu lạc, bơ vơ trong không gian Việc nói nhiều đến "hồn" là biểu hiện của sự đào sâu

vào thế giới tâm linh của con người

Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng

tháng Tám chính là sự biểu hiện đầy đủ nhất của cái tôi cá nhân trong cảm thụ thẩm

mĩ của tác giả Điều đó được thể hiện tập trung qua hai tập thơ tiêu biểu của ông

thời kỳ này Đó là tập “Thơ Thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1944) Ở mỗi

tập thơ đều có những bài thơ hay, thể hiện phong cách và quan niệm nghệ thuật của

Xuân Diệu Tập “Thơ Thơ” tiêu biểu có các bài: Bài thơ tuổi nhỏ, Bên ấy bên này, Biệt ly êm ái, Ca tụng, Cảm xúc, Chiều, Dối trá, Đây mùa thu tới, Đơn sơ, Giờ tàn, Hẹn hò, Huyền diệu, Lạc quan, Muộn màng, Mùa thi, Nguyên đán, Nhị hồ, Nụ cười xuân, Nói phải, Tình trai, Thở than, Trăng, Tương tư chiều, Vì sao, Viễn khách, Vô biên, Vội vàng, Với bàn tay ấy, Xa cách, Yêu, Ý thu Và tập thơ“Gửi hương cho gió” tiêu biểu có các bài: Lời thơ vào tập gửi hương, Buồn trăng, Dại khờ, Dâng, Đẹp, Giã từ thân thể, Giục giã, Gửi hương cho gió, Hết ngày hết tháng, Im lặng, Khi chiều giăng lưới, Kỷ niệm (I), Lời kỹ nữ, Lưu học sinh, Mênh mông, Mơ xưa, Mời yêu, Ngẩn ngơ, Nguyệt cầm, Nhớ mông lung, Nước đổ lá khoai, Rạo rực, Riêng tây, Sầu, Sương mờ, Tặng bạn bây giờ, Tặng thơ, Thu, Tình thứ nhất, Xuân đầu, Xuân rụng, Yêu mến, Ý thoáng

Nhận xét về hai tập thơ này, Huy Cận cho rằng: “ Thơ Thơ có nhiều chất non tơ, rạo rực, thiết tha, và hồn thơ trong trẻo Gửi hương cho gió đằm như than hồng phủ một lớp tro mỏng và cũng có xen vị đắng cay trong tình đời và tình yêu” [20; 226] "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" là hai tập thơ đặc sắc nhất của Xuân Diệu,

thể hiện rõ phong cách nghệ thuật rất riêng của nhà thơ trong phong trào Thơ mới

Nhà thơ đã thể hiện thành công cái tôi trữ tình đầy bản sắc Đó là khát vọng sống

nồng nàn, tha thiết, say mê; nỗi buồn, cô đơn; sự băn khoăn về cuộc đời Tất cảcho thấy một quan điểm nghệ thuật mới mẻ với những cách tân nghệ thuật độc đáo,một phong cách thơ vừa truyền thống vừa hiện đại, tiêu biểu cho phong trào Thơmới và quá trình hiện đại hoá thơ ca hiện đại Việt Nam

Ngoài hai tập thơ trên, trước Cách mạng tháng Tám Xuân Diệu còn có một

số bài thơ được đăng trên các số báo đương thời Tiêu biểu như bài "Hy Mã Lạp Sơn" (1935), "Thanh niên", (1936), Phơi trải (1937), "Xuân không mùa" (1939), "Tứ tuyệt

Trang 29

tương tư" (1940) Tất cả đều thể hiện cái tôi trữ tình đầy bản sắc của Xuân Diệu, đó

là sự trải lòng đến tận cùng của nhà thơ trước thiên nhiên, cuộc sống và con người

Khi nghiên cứu về các tác phẩm thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng thángTám, chúng tôi nhận thấy: với quan niệm đề cao con người cá nhân, xem con người

là trung tâm thế giới, cái tôi trong thơ Xuân Diệu luôn được khẳng định một cách

mạnh mẽ Chủ thể trữ tình thường xuất hiện dưới dạng bộc lộ cảm xúc một cáchtrực tiếp, rõ ràng Chính quan niệm ấy đã làm nên những nét đặc trưng, sống động,riêng biệt trong các tác phẩm của Xuân Diệu Con người trong thơ Xuân Diệu

mang nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau: có khi đó là cái tôi mang nỗi buồn vì cô đơn, lạc loài; có khi đó là cái tôi khát vọng sống mãnh liệt, nhiệt thành, say mê; có khi đó là cái tôi mộng tưởng để thi vị hóa thực tế Từ những khái quát về nội dung

thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, chúng tôi tìm hiểu quan niệm nghệthuật về con người trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám ở ba khíacạnh Đó là: con người sống nhiệt thành, say mê; con người mang nỗi buồn vì côđơn, lạc loài và con người mộng tưởng

2.1 Con người sống nhiệt thành, say mê

2.1.1 Quan niệm về con người sống nhiệt thành, say mê

Về phương diện nhân bản, con người sống nhiệt thành, say mê trước hết là thểhiện ở nhiệt huyết của họ Thiếu bầu nhiệt huyết này con người dễ trở nên lơ đãng,chểnh mảng với mọi tương quan trong đời sống Lòng nhiệt thành tạo nên niềm vuisống và là yếu tố chủ chốt để khởi đầu và hoàn thành công việc Nhiệt thành vớicông việc, nhiệt tình với mọi người, với chính bản thân mình sẽ giúp con người sốngmột cách sung mãn và đáng yêu trong từng giây phút hiện tại của đời mình

Trong bài "Thơ Thơ ra đời lời đưa duyên của tác giả" Xuân Diệu đã tự giới thiệu: " đây là lòng tôi đang thời sôi nổi, đây là hồn tôi vừa lúc ngân vang, và đây

là tuổi xuân của tôi, và đây là sự sống của tôi nữa; tôi đem tặng cho người trong mấy vần thơ đây" [19; 36] Tác giả đã trực tiếp bộc bạch nỗi lòng của mình trong

thơ, khao khát thực hiện bằng thơ cái nhu cầu đối thoại, giao tiếp với con người vàcuộc sống Xuân Diệu cho rằng, con người sống nhiệt thành, say mê là những conngười khát khao được sống, được yêu, được hiến dâng tuổi trẻ và tình yêu của mìnhcho người và cho cuộc đời Niềm khát khao ấy được Xuân Diệu nói lên một cáchchân thành và táo bạo Cường độ cảm xúc được biểu hiện bằng thứ ngôn ngữ sinh

động, giàu sức gợi cảm Đây chính là nguyên nhân khiến cho thơ ông "mang theo một nguồn sống rạt rào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này - Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình" [17; 106] Thơ Xuân Diệu bộc lộ hồn thơ trẻ

trung, nồng nàn và tình yêu cuộc sống đến độ đam mê, thể hiện quan niệm nhânsinh của tác giả trước Cách mạng tháng Tám

2.1.2 Những biểu hiện của con người sống nhiệt thành, say mê

Trong thơ Xuân Diệu luôn có một "nguồn sống rạt rào", lòng say mê yêu đời

và niềm khát khao giao cảm với đời ở độ nồng nàn, tha thiết nhất Chính khát vọngsống mãnh liệt này đã mang đến cho thơ Xuân Diệu một phẩm chất trữ tình có sứcquyến rũ lạ lùng

Ngày đăng: 05/02/2022, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường. Từ điển văn học Việt Nam; NXB Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam
Nhà XB: NXBGiáo dục
2. Lê Bảo. Xuân Diệu - Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường; NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường
Nhà XB: NXB Giáodục
3. Nguyễn Bích Hảo. Xuân Diệu - Thơ chọn lọc; NXB Văn học, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu - Thơ chọn lọc
Nhà XB: NXB Văn học
4. Phương Lựu. Lí luận văn học; NXB Giáo dục,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Đăng Na. Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại - Những vấn đề văn xuôi tự sự; NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại - Những vấn đềvăn xuôi tự sự
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Nhiều tác giả. Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập 1; NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập 1
Nhà XB: NXB Đại họcsư phạm
7. Nhiều tác giả. Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam; NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam
Nhà XB: NXBGiáo dục
8. Nhiều tác giả. Từ điển thuật ngữ Văn học; NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Nhiều tác giả. Giảng văn Văn học Việt Nam; NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn Văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nhiều tác giả. SGK - SGV lớp 11; NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK - SGV lớp 11
Nhà XB: NXB giáo dục
11. Nguyễn Đức Quyền. Xuân Diệu - Thơ và lời bình; NXB Thanh niên, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu - Thơ và lời bình
Nhà XB: NXB Thanh niên
12. Trần Đình Sử. Giáo trình Thi pháp học; NXB ĐH sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thi pháp học
Nhà XB: NXB ĐH sư phạm thành phố HồChí Minh
13. Trần Đình Sử. Mấy vấn đề Thi pháp văn học trung đại Việt Nam; NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề Thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: NXBGiáo dục
14. Trần Đình Sử. Thi pháp văn học trung đại Việt Nam; NXB ĐH quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: NXB ĐH quốc giaHà Nội
15. Trần Đình Sử. Giáo trình lý luận văn học tập I; NXB Đại học sư phạm, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận văn học tập I
Nhà XB: NXB Đại học sưphạm
16. Trần Đình Sử (chủ biên). Giáo trình lý luận văn học tập II; NXB Đại học sư phạm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận văn học tập II
Nhà XB: NXB Đại họcsư phạm 2005
17. Hoài Thanh - Hoài Chân. Thi nhân Việt Nam; NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Trần Thị Băng Thanh. Những suy nghĩ từ văn học Trung đại; Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những suy nghĩ từ văn học Trung đại
19. Lưu Khánh Thơ. Xuân Diệu - Tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật; NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu - Tác phẩm văn chương và lao động nghệthuật
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Lưu Khánh Thơ. Xuân Diệu - Về tác gia và tác phẩm; NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w