1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van con nguoi trong tho van nguyen cong tru

170 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 343 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dờng nh ai cũng ý thức đợctầm cỡ của nhà thơ trong làng văn Việt nam nhng đến nayvẫn cha có nhà nghiên cứu nào thực sự đặt vấn đề “Conngời trong thơ ông nói chung, thơ nôm nói riêng một

Trang 1

Mở đầu

1 lí do chọn đề tài.

1.1 Nguyễn Công Trứ (1778-1858), tự là tồn chất, hiệu ngộtrai, biệt hiệu Hi Văn, còn có tên huý là Củng ông khôngchỉ là một Yy Viễn tớng công tài ba, một nhà nông học hiện

đại có công rất lớn trong công cuộc khoai hoang cho nhândân hai huyện Tiền Hải- Kim sơn mà còn là một nhà thơlớn của dân tộc( ông sáng tác với nhiều thể loại: thơ nôm,hát nói, phú)

Trong sáng tác thơ văn của Nguyễn Công Trứ, thơ nômchiếm vị trí quan trọng và đầy ý nghĩa Cho đến naytiếp thu cả thi pháp truyền thống và thi pháp học hiện đại

đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ nôm NguyễnCông Trứ nhng hầu hết chỉ khám phá về mặt t tởng, phongcách nghệ thuật chứ cha đi sâu vào quan niệm nghệthuật về con ngời trong thơ ông

1.2 Nguyễn Công Trứ là một con nguơì đầy mâu thuẫn,phức tạp Bởi vậy đọc thơ ông luôn có cảm giác đầy mới lạ

đan xen nhau, nhận thức con ngời ông mỗi lúc mỗi khác vàcần phải khám phá tìm hiểu Dờng nh ai cũng ý thức đợctầm cỡ của nhà thơ trong làng văn Việt nam nhng đến nayvẫn cha có nhà nghiên cứu nào thực sự đặt vấn đề “Conngời trong thơ ông nói chung, thơ nôm nói riêng một cách

cụ thể, toàn diện.ý thức đợc điều này nên tôi chọn đề tài “Con ngời trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ” không chỉ có ýnghĩa đối với một tác giả văn học cụ thể mà còn đối với thipháp học hiện đại về con ngời trong văn học nói chung, văn

Trang 2

học Trung đại nói riêng.Đề tài vì vậy có ý nghĩa về mặt líthuyết.

1.3 Thơ nôm Nguyễn Công Trứ đã đợc chọn một số bàigiảng dạy ở trong nhà trờng phổ thông áp dụng cả thi pháphọc truyền thống, thi pháp học hiện đại ,tiếp thu những ýkiến, những phát hiện tơng đối mới mẻ của các nhà nghiêncứu trớc đây, tôi mong muốn đề tài “Con ngời trong thơnôm Nguyễn Công Trứ”góp phần không nhỏ vào công việcphục vụ giảng dạy ở các trờng đại học, cao đẳng, phổthông

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

2.1 Từ trớc đến nay đã có một số công trình nghiên cứu vềcuộc đời, sự nghiệp, một số biểu hiện con ngời trong thơvăn ông đã có một số công trình nghiên cứu chính vềcuộc đời của uy viễn tớng công đầy “thăng giáng”, cáchnhìn nhận của ngời đời có lúc “ lên thác , xuống ghềnh”.Thậm chí có thể xem ông nh một “hiện tợng văn học” nênkhó tránh khỏi những sai sót do góc độ nhìn hoặc thế giớiquan của mỗi nhà nghiên cứu Đó cũng vì thơ văn ông làbiểu hiện sự đa tính, phức hợp, đầy mâu thuẫn và nhiều

ẩn số về con ngời của chính nhà thơ Đứng ở phơng diệnnày ông là con ngời thế này nhng khi ông đứng ở phơngdiện khác ông lại là một cá nhân hoàn toàn khác lạ(…).ngời

ta nói con ngời Nguyễn Công Trứ có sự phân thân là vìvậy

Theo nh tôi đợc biết hiện có khoảng trên 30 công trìnhnghiên cứu và bài viết về con ngời và thơ văn ông Đây cha

Trang 3

phải là con số lớn để xứng với tầm vóc của nhà thơ trongvăn đàn dân tộc nhng đó cũng là một kết quả đáng khíchlệ,đa ông vào vị trí nhất định trong các tác giả lớn củadân tộc.

2.2 Nghiên cứu con ngời trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ làmột vấn đề hoàn toàn mới mẻ, cha đợc ai nghiên cứu Trongqúa trình làm luận văn, chúng tôi quan tâm đến các côngtrình đã đợc công bố sau:

Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách, Trơng Chính(1958) “Thơvăn Nguyễn Công Trứ’’ nxbvh.hn Có thể nói đây làmột công trình nghiên cứu khá toàn diện đầu tiên vềthơ văn Nguyễn Công Trứ Tuy nhiên các tác giả này chủyếu xem xét thơ văn ông từ nội dung t tởng của tácphẩm, phát hiện một số biểu hiện của con ngời tác giả-

đó là con ngời nho giáo, chịu ảnh hởng nặng nề củanho, phật, lão Trong ông có cả con ngời “hữu chí” vàcả con ngời hành lạc Ông không chỉ giỏi thơ văn màcòn có tài trong cả hát ca trù Ngoài sáng tác thơ nôm

ông còn sáng tác rất nhiều bài ca trù có giá trị, thểhiện đợc chí nam nhi, nợ tang bồng Ngoài ra trongphần giới thiệu tác giả còn chỉ ra tính chất hiện thựctrong thơ văn nói về nhân trình thế thái Những phát

hiện về giá trị nghệ thuật: “ thơ ông hay trớc hết là do

cái không khí phóng khoáng’’, ‘’không chịu gò bó vào vào khuôn sáo’’(tr36) Điều đặc biệt ít thấy trong thơ

văn của các nhà nho trong văn học Trung đại ở chỗNguyễn Công Trứ nói nhiều đến tình ái( tình ái của

Trang 4

chính bản thân mình) - một tối kị về mặt nội dungtác phẩm văn học Trung đại Thơ ông là một thứ thơ

đại chúng đã vận dụng rất nhiều tục ngữ, thành ngữ,lời thơ thơ giản dị, dễ hiểu và dễ thuộc đối với ngời

đọc

“Trong văn học Việt nam nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa

đầu thế kỉ XIX’’(1976),Nguyễn Lộc nxbđh và thcn.hn (táibản lần thứ 3 nxbgdhn)đã giành sự u ái đặc biệt cho rằng:Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ có vị trí đáng kể trongvăn học Việt nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX Thơ vănNguyễn Công Trứ bao hàm một nội dung khá phức tạp, kếttinh một trạng thái ý thức của thời đại: vừa ca tụng con ngờihoạt động lại vừa ca tụng lối sống hởng lạc, cầu nhàn; vừa

ca tụng nho giáo lại vừa ca tụng đạo giáo; vừa lạc quan tin ởng lại vừa bi quan thất vọng; vừa khẳng định mình lạivừa phủ định mình (tr497).Nguyễn Công Trứ là một khốimâu thuẫn lớn Nghiên cứu về thơ ông, Nguyễn Lộc tậptrung vào 3 chủ đề chính: chí nam nhi, cuộc sống nghèokhổ và thế thái nhân tình.Đặc biệt một phát hiện mới mẻnhất về biểu hiện con ngời trong thơ văn ông là triết lí cầunhàn , hởng lạc Tuy nhiên tác giả trong công trình này nhậnxét về phơng diện t tởng Nguyễn Công Trứ còn nhiều hạnchế Ông xa lìa lập trờng nhân dân trong các vấn đề xãhội Việc quan tâm của ông đến đời Sống nhân dân chỉ

t-bó hẹp trong hoạt động thực tiễn, là sự quan tâm trên ýthức hệ nho giáo-một ý thức hệ thống trị trong suốt thời kìTrung đại Chính vì vậy cho nên trong thơ văn Nguyễn

Trang 5

Công Trứ thiếu hẳn một chủ nghĩa nhân đạo rộng rãi, ítnhiều có tính chất bình dân đã đợc phát huy trong sángtác của các nhà thơ ở những thế kỷ trớc (tr?) Bàn về nghệ

thuật Nguyễn Lộc cho rằng: thơ văn ông không chạm trổ,

không nhìn ở phơng diện chí làm trai hay mộng công

danh mà là sự khẳng định thơ văn ông tồn tại với thời gian

chính ở ‘giá trị hiện thực đợc thể hiện ở văn chơng ông với

phong cách ngang tàng, dân giã mà giàu chất nhân văn triết lí(TR197).với phong cáh ngang tàng, ngất ngởng đó,

Nguyễn Công Trứ đã thể hiện mình là: một cây bút tàihoa, uyên bác Đây cũng là biểu hiện mới của con ngời tài tửxuất hiện đầu thế kỉ XVIII Ngoài ra ở chơng (?) tác giảcòn khẳng định sự đóng góp quan trọng của NguyễnCông Trứ trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc ở đủ cácthể loại văn vần, đặc biệt câu đối nôm.’’đến NguyễnCông Trứ câu đối nôm đợc dùng để tự vịnh, tự trào vớinghệ thuấtử dụng văn chơng quốc âm dí dỏm, điêuluyện’’(tr210)

_Tại Hà Nội, ngày 15 tháng 2, năm 1944 đã diễn ra cuộc Hộithảo khoa học bàn về Nguyễn Công Trứ Tại Hội thảo các

Trang 6

nhà nghiên cứu đã có nhiều bài phát biểu, những chuyênluận khác nhau khi đánh giá về con ngời ông Năm1996 tấtcả những bài này đợc tập hợp và in trong cuốn sách

"Nguyễn Công Trứ- con ngời, cuộc đời và thơ’’ (nhiều tácgiả- Hội nhà văn Hà Nội) Trong cuốn sách này nổi lên nhiềubài đáng chú ý nh Trơng Chính "phong cách Nguyễn CôngTrứ”, tác giả cho rằng đặc điểm nổi bật nhất của toàn bộ

thơ ông là thơ nôm: Nguyễn Công Trứ là ngời luôn lạc quan,

tin tởng ở tài năng của mình “Tú khí giang sơn chung đúc

lại”( trời đã sinh ra mình là có chủ ý) để thi thố tài năng.Tuy nhiên vẫn có lúc nhà thơ buồn vì thế thái nhân tình

nhng không Vì thế mà làm ông nản chí “ Hễ nói chuyện

tang bồng hồ thỉ, chuyện anh hùng vẫy vùng là nhà thơ lại hăm hở, sôi nổi”(tr68) Đứng trên lập trờng nho giáo để

đánh giá, Nguyễn Công Trứ là con ngời chuẩn mực với lí ởng “ trí quân, trạch dân’’.Tất nhiên những ngời thờng cótrách nhiệm với đời thờng không tránh khỏi những ngangtrái do chính cuộc đời mang lại Nguyễn Công Trứ cũngthuộc vào số đó, cuộc đời đã từng tôn ông lên đỉnh vinhquang nhng cũng đã đẩy ông xuống đáy của xã hội, làmanh lính thú Chính vì thế chúng ta thấy càng về sau ôngcàng có thái độ ngất ngởng kiểu nh ‘cỡi bò vàng đeo đạcngựa’

t-Từ góc độ con ngời, bài viết’’ Tính hiện đại củaNguyễn Công Trứ’’ của Vơng Trí Nhàn lại phát hiện sự trởngthành con ngời cá nhân ở Nguyễn Công Trứ Đây cũng làmột kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu

Trang 7

thơ văn ông nói chung và là một cơ sở khoa học cho tất cảnhững ngời đang nghiên cứu về ông.Vơng Trí Nhàn nhìnNguyễn Công Trứ xuất phát từ cá tính sáng tạo của ngờinghệ sĩ: “ lần đầu tiên trong văn học Việt nam một nhàthơ tự nói về mình bằng một đại từ ở ngôi thứ 3(ông).Nghĩa là tác giả nhìn mình nh’’ một kẻ khác’’ có vẻNguyễn Công Trứ đi rất gần quan niệm phân thân, trongcon ngời có vẻ có hai ba con ngời khác nhau đó là quanniệm khá mới mẻ so với hoàn cảnh đơng thời Ngoài ra tácgiả còn phát hiện Nguyễn Công Trứ đi rất gần với một quanniệm hiện sinh, chỉ thấy cuộc đời này là quan trọng, ngoài

ra từ chối mọi nghi thức ràng buộc, dù chúng đã hết sức phổbiến Tuy nhà nghiên cứu này cha đặt vấn đề nghiên cứuriêng về quan niệm con ngời trong thơ nhng những kếtluận của ông về nhà thơ lại có khả năng gợi mở một cáinhìn mới về quan niệm con ngời trong thơ văn NguyễnCông Trứ

Phạm Vĩnh C khi bàn về "Thơ hành lạc của Nguyễn CôngTrứ với dòng thơ an lạc", xem đó là mảng sáng tác rất đặcsắc lâu nay vẫn đợc coi là thơ văn cầu nhàn hởng lạc hay

là thơ văn hành lạc chiếm một vị trí đáng kể Tác giả

khẳng định “ Nhu cầu hởng thụ của con ngời, nâng nó lên

thành một triết lí có sức thu phục nhân tâm thì không mấy ai làm đợc nh Nguyễn Công Trứ” (tr122) ở Nguyễn

Công Trứ hành lạc lẫn hành đạo, cả sự hởng thú vui lẫn việcthực hiện sứ mệnh của ngời anh hùnh trên đời đều là “ sự

chơi”, “cuộc chơi” Tác giả khẳng định rằng: Bậc trợng

Trang 8

phu vì vậy vừa khao khát công danh, vừa vô cầu yên sở ngộ, vừa hăng say nhập thế, vừa biết thanh thản xuất thế, vừa biết hành vừa biết tàng, coi hành tàng thực chất không khác gì nhau( hành tàng bất nhị kì quan) Nguyễn Công

Trứ luôn thể hiện cái khí phách cứng cỏi, bản lĩnh cao cờng

của mình trong thơ.Ông vừa diễu cợt ngời đời, vùa diễu cợt bản thân mình: tiếng cời tự trào xuyên suốt qua sáng tác của Nguyễn Công Trứ từ buổi thiếu thời đến buổi già nua

là biểu hiện của năng lực làm chủ bản thân phi thờng.(131)

Với công trình “ Từ điển văn học Việt nam’’( từ nguồngốc đến Tk XIX)-Lại Nguyên Ân(1997)nxbgd,hn nhà nghiêncứu phát hiện ở Nguyễn Công Trứ có những ý chí, khátvọng của kiểu anh hùng thời loạn, cái cốt cách tài tử, phong l-

u, sự khẳng định mạnh mẽ cá nhân nh một thực thể xã hội

và riêng t với ít nhiều giá trị thực tại và khát vọng tự do Sựkhẳng định và sự tự khẳng định “ chí nam nhi’’ ởNguyễn Công Trứ mạnh mẽ khác thờng nh dự báo sự xuấthiện con ngời cá nhân ở văn học thế Thế kỉ XX

Trần Ngọc Vơng với cuốn “Nhà nho tài tử và văn học Việtnam” (1999)nxbđhqg,hn Công trình này thuộc nghiên cứu

về loại hình tác giả Nhà nghiên cứu đã xếp Nguyễn CôngTrứ là một trong 13 nhà nho tài tử của văn học Việt nam ởchơng III: “Nhà nho tài tử và sự phát triển của văn học Việtnam trong các thế kỉ XVIII_XIX” Trần Ngọc Vơng khẳng

định:Trớc Nguyễn Công Trứ không ai nói nhiều đến tài trai,chí tang bồng, chí nam nhi, chí trợng phu, đến khát vọnglàm ngời đến nh vậy (T131)

Trang 9

Cuốn "Phạm Thái - Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát’’, Vũ

D-ơng Quý tuyển chọn và biên soạn nxbgd 1999

Năm 2003 xuất hiện công trình: “Nguyễn Công Trứ tácgia và tác phẩm” do Trần Nho Thìn giới thiệu và tuyểnchọn Có thể nói đây là một công trình khoa học đầy đủ

và toàn diện từ trớc đến nay nghiên cứu về Nguyễn CôngTrứ Ngoài một số các bài đã trích dẫn trong: “Nguyễn CôngTrứ – con ngời, cuộc đời và thơ” còn có những bài có giá trịkhoa học rất cao mà các tác giả mới su tầm đợc Trong dóphải kể đến bài : “Nguyễn Công Trứ và thời đại chúng ta”của Trần Nho Thìn Tác giả bài viết đứng từ quan điểmthời hiện đại nhận xét nhân vật- tác giả… ?

Từ 1954-1975 nhiều quan điểm đứng trên lập trờnggiai cấp phê phán Nguyễn Công Trứ ( đàn áp cuộc khởinghĩa, đại biểu của giai cấp thống trị) Đến 1980 một bàiviết của Trơng Chính đã đánh dấu cho mốc lịch sử mới

nghiên cứu về ông Trơng Chính cho rằng: cái cảm giác về

khối mâu thuẫn lớn ở Nguyễn Công Trứ chỉ là do việc xem xét từng bài thơ, tách rời từng con ngời và thơ ca(…), từ đó

đến nay ngời ta mới có ‘’nhãn quan” mới trong đánh giá conngời Nguyễn Công Trứ Tác giả cũng đề cao chí nam nhi,chí lập công danh, nợ tang bồng của Ông Chí nam nhi của

ông là tinh thần nhập thế tích cực của nhà nho, là thựchiện lí tởng “ trí quân, trạch dân’’ Mặt khác ông còn thểhiện nhu cầu hởng thụ cá nhân Tất nhiên trong thơ vănNguyễn Công Trứ còn thiếu vắng hẳn đề tài về cuộc sốngcủa nhân dân Trần Nho Thìn cũng đề cập tới yếu tố hành

Trang 10

lạc, triết lí cầu nhàn, hởng lạc trong thơ Nguyễn Công Trứbiểu hiện rất rõ Đây không phải là một phát hiện mới nhng

điều đó cũng chứng tỏ các nhà nghiên cứu đã đồng nhấttrong quan điểm nhìn nhận con ngời của nhà thơ Với bàicủa Lê Thớc: “sự nghiệp và thi văn của uy viễn tớngcông”(1928) tuy cha có phát hiện mới về t tởng và con ngờiNguyễn Công Trứ,nhng đây là công trình biên khảo đầutiên có ý nghĩa nền tảng làm t liệu khi nghiên cứu Lê Thớcphân chia các giai đoạn trong cuộc đời và đánh giá nhàthơ theo tiêu chí laapj công, lập đức, lập ngôn lu trọng l lạitìm thấy niềm hoài niệm về một thời cao đẹp phóng

khoáng của những con ngời Việt nam quá khứ: Bâng

khuâng nhớ tiếc một cái gì không bao giờ còn nữa, một cái gì rất Việt nam, nhớ tiếc một thời khoáng dật, to nhớn, rộng rãi và kiêu sảc(tr100) đứng trên lập trờng của thế hệ trí

thức mới, Nguyễn Bách Khoa trong: "Tâm lí và t tởngNguyễn Công Trứ"(1944) phê phán quan niệm duy tâm vềanh hùng, về cá nhân Có thể nói tác giả bài viết này là mộttrong số ít ngời Việt nam lần đầu tiên đứng trên lập trờngduy vật biện chứng, quan điểm giai cấp để phân tích t t-ởng và thi văn Nguyễn Công Trứ Tuy nhiên cách tiếp cậnnày bên cạnh những mặt mạnh, những u việt so với cáchtiếp cận khác còn bộc lộ một số hạn chế dễ thấy do sự nhậnthức, nắm bắt và vận dụng phơng pháp cha nhuần nhuễn

Dù sao khi đặt đối tợng nghiên cứu vào bối cảnh xã hội cụthể, ông cũng đã chỉ ra đợc một số vấn đề mới mẻ về t t-ởng của Nguyễn Công Trứ mà trớc đó cha ai nói đến nh

Trang 11

“ngời anh hùng thời loạn’’, “t tởng hành lạc’’( tuy nhiên cáchgiải thích hành lạc lại không thuyết phục lắm ông cho rằnghành lạc là một cách để đẳng cấp sĩ phu phản ứng lại sựhỗn xợc của bọn thơng nhân, phú hộ giàu có và từng mộtthời khinh miệt giới sĩ phu đẳng cấp củaNguyễn CôngTrứ ) Nguyễn Bách Khoa còn cho rằng do hoàn cảnh lịch sửcủa thời đại nói chung và do hoàn cảnh đáng thơngcủaNguyễn Công Trứ nói riêng đã đẻ ra tâm lí yếm thếcủa đẳng cấp thống trị Nguyễn Công Trứ vốn là đẳngcấp này, nên cũng không tránh đợc tâm lí yếm thế ở ông

có hai phơng diện: quan niệm nhân sinh ảo mộng và thái

đọ cầu nhàn và thoát tục Đây cũng là một phát hiện có ýnghĩa đối với nghiên cứu về con ngời trong thơ nômNguyễn Công Trứ Không chỉ đợc nghiên cứu trong nớc màcòn ở nớc ngoài cũng có một số công trình nghiên cứu thơvăn ông, trong đó phải kể đến Nguyễn Khắc Hoạch với bàiviết: “ Lí tởng kẻ sĩ trong thi văn và ngoài cuộc đời NguyễnCông Trứ” ( Văn hoá á châu- sài gòn, số 10 tháng1.1959).Bài viết không đi sâu vào nghiên cứu t tởng tác giả

mà tìm hiểu quá trình trởng thành cho đến cuối đời củanhà thơ Và mỗi giai đoạn nh vậy có một lí tởng, một cáchsống riêng Thời xuất chính ông tích cực hành đạo, thời ẩndật ông lui vào hậu trờng hởng cuộc đời ‘’ nhàn lạc’’( ý tácgiả) của ngời đã làm tròn nhiệm vụ Quan trọng hơn PhạmThế Ngũ nhìn từ những khuynh hớng thời đại đi đến quanniệm sống của tác giả đã có cái nhìn tơng đối toàn diện

và sâu sắc trong bài: "Sáng tác của Nguyễn Công Trứ" cũng

Trang 12

đề cập đến những phơng diện biểu hiện của quạn niệmcon ngời nh: Chí nam nhi, quan niệm công danh, quanniệm hởng nhàn, triết lí nhân sinh đặc biệt tác giả bàiviết thấy điểm tơng đồng và khác biệt giữa Nguyễn CôngTrứ và một số nhà nho trớc nh: Nguyễn Trãi, Nguyễn BỉnhKhiêm, Nguyễn Hàng v.v.v ,đồng thời chỉ ra đặc điểm

nghệ thuật thơ luật của ông nguyễn thiên về lí trí: Cả

những bài tình cảm của ông cũng nghiêng về trào lộng Lại không phải cái trào lộng mềm mại duyên dáng của hồ xuân hơng mà là một cái trào lộng cục cằn, bộc tuệch, kém thi vị(238) Ngoài ra còn có một số bài viết khác có giá

trị về khoa học nh: Chơng Thâu, Vũ Ngọc Khánh, Kiêm Nguyễn Minh, Nguyễn Tài Th v v

Đạt-Trên đây là những công trình tiêu biểu đã nghiên cứu

về Nguyễn Công Trứ, ngoài ra còn có hàng chục bài viết,tiểu luận khác cũng có giá trị về mặt khoa học Ngời tatìm thấy ở ông một nhân cách lớn, là ngời có chí khí, cótài nhng cũng là con ngời đầy mâu thuẫn, phức tạp tuynhiên những công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Trứmới chỉ đóng góp nhất địnhtrong việc phát hiện nội dung

t tởng, hình thức nghệ thuật,phản ánh hiện thực, quanniệm sốngv v ở thơ văn ôngmột số bài có đề cập đến ph-

ơng diện biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con ngờitrong thơ văn Nguyễn Công Trứ nhng còn tản mạn, hoặc mớichỉ khai thác ở một phơng diện nào đó, một góc độ nào

đó chứ cha có sức khái quát,cụ thể, đầy đủ dới góc độ thipháp học

Trang 13

Chính vì vậy, nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ vẫn còn

là một đề tài hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bìnhvăn học và những ngời yêu thích thơ văn ông

Luận văn này là côngtrình đầu tiên đi sâu tìm hiểu,nghiên cứu “ quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơnôm Nguyễn Công Trứ ’’ một cách đầy đủ và toàn vẹnhơn

3 Đối tợng, phạm vi và giới hạn của đề tài.

3.1 Đối tợng

Nh tên đề tài đã nêu, đối tợng nghiên cứu là ‘’Con ngờitrong thơ nôm Nguyễn Công Trứ” Con ngời ở đây biểuhiện trên hai phơng diện: con ngời tác giả và đối tợng mànhà thơ nói tới Nhng luận văn chủ yếu nghiên cứu con ngời

ở phơng diện thứ nhất Vấn đề này cho đến nay vẫn cha

có một công trình khoa học nào nghiên cứu cả

Nguyễn Công Trứ sáng tác nhiều thể loại khác nhau: thơnôm, hát nói, phú, thơ chữ hán.Trong đó thơ nôm chiếm vịtrí quan trọng nhất Bởi vậy đề tài này chúng tôi chỉ khaithác ở mảng thơ nôm

3.2 Phạm vi, giới hạn

Luận văn tìm hiểu Con ngời trong thể loại thơ nômNGuyễn Công Trứ là chủ yếu Tuy nhiên trong quá trìnhnghiên cứu chúng tôi còn sử dụng, liên hệ đến các bài thơthuộc các thể loại khác trong sáng tác của ông và kết hợp cácyếu tố nh: liên hệ đến cuộc đời, thời đại ảnh hởng đến ttởng trong thơ văn NGuyễn Công Trứ

Trang 14

-Nghiên cứu “Con ngời trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ” vềvăn bản thơ của tác giả, chúng tôi dựa vào cuốn” thơ vănNguyễn Công Trứ của nhóm tác giả: Lê Thớc, Hoàng NgọcPhách, Trơng Chính giới thiệu, hiệu đính.nxb cục văn học-

bộ văn hoá HN 1958 đây là công trình khảo cứu đángtin cậy nhất về Nguyễn Công Trứ cho đến lúc này Tuynhiên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có tham khảothêm một số tài liệu khác về thơ văn Nguyễn Công Trứ

để đối chiếu, chọn lựa một số tác phẩm cần thiết

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

4.1.Nguyễn Hữu Sơn trong Vấn đề con ngời cá nhân

trong văn học cổ’ có nói : Dù trực tiếp, hay gián tiếp, hay do

sự ý thức về đối tợng có khác nhau, song bản thân vấn đềcon ngời cá nhân trong văn học nói chung, trong văn học cổnói riêng vẫn là đối tợng khảo sát tiềm tàng của các nhànghiên cứu Bởi lẽ con ngời là chủ thể sáng tạo đồng thờicũng là đối tợng nhận thức, phản ánh của văn chơng Nghiêncứu con ngời trong tác phẩm văn học tức là nghiên cứu hìnhtợng con ngời đợc thể hiện trong ấy nh thế nào Qua đó chochúng ta thấy đợc quan niệm nghệ thuật về con ngời củatác giả

Trong Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử cho rằng:’’ quan

niệm nghệ thuật về con ngời là nguyên tắc lí giải, cắtnghĩa, cảm thụ của chủ thể bằng các phơng tiện nghệthuật’’ không thể lí giải một hệ thống văn thơ mà bỏ quacon ngời đợc thể hiện ở trong đó Vấn đề quan niệm nghệthuật về con ngời thực chất là vấn đề tính năng động của

Trang 15

nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lí giải con ngờibằng các phơng tiện nghệ thuật, là vấn đề giới hạn, phạm

vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, làkhả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của

đới sống(Tr…)

Nghiên cứu con ngời trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ tức làkhám phá hình tợng con ngời trong thơ ông Tù đó chúng tathấy nhà thơ quan niệm về con ngời, nhận thức về con ng-

ời có gì đặc biệt so với những tác giả trớc đó và có đónggóp gì cho sự phát triển văn học về sau

4.2.Nh chúng ta đều biết, giới thuyết về con ngời nóichung, con ngời trong tác phẩm văn học nói riêng hiện nay

có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu, tìm hiểusâu và kĩ lỡng về nó Để tránh sự lặp lại không cần thiết,trong luận văn này chúng tôi không đi vào cụ thể vấn đềnày nữa mà đi sâu vào sự biểu hiện của quan niệm nghệthuật về con ngời trong thơ nôm của Nguyễn Công Trứ Tấtnhiên khi nghiên cứu tôi ý thức sâu sắc rằng: muốn nghiêncứu con ngời trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ phải xuấtphát từ những tiền đề, những lí luận chung về con ngờitrong tác phẩm văn học, vị trí của nó trong tác phẩm vănhọc

4.3.Vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu con ngời trongthơ nôm Nguyễn Công Trứ , chúng tôi khai thác ở 3 mảng:Con ngời nhà nho hành đạo, con ngời nhà nho tài tử, a conngời nhà nho ẩn dật Thực ra đây là những vấn đề đã đợcphát hiện và nghiên cứu trong các công trình nghên cứu

Trang 16

khoa học nh :Trần Đình Hợu, Phạm Vĩnh C, Trần Ngọc Vơngv.v… Bởi vậy đề tài của chúng tôi tiếp thu những ý kiến

đánh giá của các nhà nghiên cứu và bằng những cố gắngcủa mình,chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé đểnghiên cứu con ngời trong thơ ông một cách cụ thể, toànvẹn mang tính khoa học hơn .Khi nghiên cứu “Con ngờitrong thơ nôm Nguyễn Công Trứ”, chúng tôi cũng đề cập

đến con ngời và quan niệm nghệ thuật con ngời trong vănhọc Trung đại, sự ảnh hởng của các học thuyết nho, phật,lão đối với các nhà nho thời xa nói chung, với Nguyễn CôngTrứ nói riêng

Trang 17

Chơng 2: Con ngời nhà nho tài tử trong thơ nôm NguyễnCông Trứ …

Chơng 3: Con ngời nhà nho ẩn dật trong thơ nôm NguyễnCông Trứ

Chơng 1.

Con ngời nhà nho hành đạo trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ

M.Gorki nói “văn học là nhân học”, là nghệ thuật miêu tả

và biểu hiện con ngời Con ngời là đối tợng chủ yếu củavăn học,là “ điểm nhìn” chính yếu của chủ thể sáng tạo.Con ngời trong tác phẩm văn học lại đợc các nhà văn, nhàthơ thể hiện qua thế giới nhân vật.Với văn xuôi, đó lànhững nhân vật có tên có tuổi, cũng có thể không tên,cóngoại hình, có diễn biến tâm lí,có số phận…, với thơ,thểhiện ở nhân vật trữ tình( nhân vật trữ tình có thể làtác giả, cũng có thể là đối tuợng để tác giả phản ánh).Nhân vật chính là phơng tiện cơ bản để nhà văn kháiquát, tái tạo hiện thực cuộc sống một cách hình tợng.Conngời đợc miêu tả trong văn học đâu chỉ là sự phản ánhhiện thực cuộc sống một cách đơn thuần mà khi đã trởthành một điển hình, một hình tợng nghệ thuật thì nógóp phần biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn

về con ngời một cách toàn diện và tập trung nhất.Bởi vậycon ngời trong văn học không chỉ thể hiện hình tợng conngời đó nh thế nào trong tác phẩm mà quan trọng hơnthể hiện quan điểm, t tởng , nghệ thuật xây dựng nhân

Trang 18

riêng trong cái chung của mọi ngời Cái riêng đó chính là

đóng góp của tác giả đối với một trào lu hay rộng hơn làmột nền văn học Tất nhiên mỗi thời đại trào lu văn học

đều xây dựng cho mình một mô hình chung về con

ng-ời Nhng trong mỗi thời kì lịch sử ấy, mỗi tác giả trong mộtphạm vi nào đó lại có những kiến giải khác nhau về conngời, thậm chí tạo nên một sự đột biến trong quan niệm

về con ngời khiến cho sự khám phá thế giới trở nên đadạng và luôn là vô hạn Nghiên cứu con ngời trong thơ nômNguyễn Công trứ cũng đợc soi xét từ những góc nhìn ấy

1.1.Con ngời nhà nho hành đạo trong văn học Trung đại

Con ngời hành đạo trong văn học Trung đại thực chấtchính là bóng dáng của nhà thơ đợc gửi gắm qua hình t-ợng nhân vật trong tác phẩm của mình.Bằng các phơngtiện nghệ thuật mỗi nhà thơ thể hiện quan niệm nghệthuật về con ngời khác nhau tạo nên diện mạo riêng cho tácgiả.Nghiên cứu về kiểu tác giả văn học Trung đại( một

đặc điểm cơ bản của loại hình văn học Trung đại), cácnhà nghiên cứu có đa ra nhiều cách phân loại khác nhaunhng chung quy lại có 2 cách phân loại cơ bản:

Nhìn từ góc độloại hình thể loại văn học có kiểu tác giảthơ và kiểu tác giả văn

Nhìn từ góc độ loại hình t tởng, văn hoá có kiểu tác giảthiền gia và kiểu tác giả nho gia

Kiểu tác giả thiền gia ở văn học Trung đại Việt namtuy chiếm số lợng không đông nhng đánh dấu một mốc

Trang 19

quan trọng trong lịch sử văn học Việt nam Phật giáo vàonớc ta từ rất sớm, hình thành hai dòng : dân gian vàcung đình, ảnh hởng khá sâu sắc vào văn học đã cónhiều ý kiến khẳng định ở Việt nam không có dòng vănhọc phật giáo Thực ra dòng văn học phật giáo ở Việt namphát triển mạnh vào thời lí-trần mà các giả là các thiền s,phật tử Tuy nhiên kiểu tác giả và dòng văn học này chỉtồn tại trong một thời gian nhất địn, đặc biệt từ khi nhogiáo xuất hiện, chiếm vị trí chính thống từ thế kỉ XV_hết thế kỉ XIX thì không đợc xem trọng nh trớc và nhờnglại địa vị cho kiểu tác giả nhà nho ở Việt nam cũng nh ởTrung Quốc,Triều Tiên, Nhật Bản trong một thời gian dàinho giáo đợc coi là ý thức hệ chính thống ảnh hởng rất lớn

đến văn học nghệ thuật, đặc biệt về phơng diện t tởng

1.1.1.ảnh hởng của nho giáo vào văn học Trung

đại.

Theo quan niệm của nho giáo, văn học có một nguồn gốclinh thiêng, một chức năng xã hội cao cả nho giáo hy vọngdùng văn chơng để giáo hoá, động viên, tổ chức, hoànthiện con ngời, hoàn thiện xã hội Những xã hội chịu ảnhhởng nho giáo phải đề cao văn hoá, văn hiến, coi trọng kẻ

có học và biết làm thơ văn…Chính vì vậy nho giáo tạotâm lí hiếu học, tôn s trọng đạo, khuyến khích, độngviên các sĩ tử đi thi để lập công danh Nho giáo cũnghình thành khuôn khổ cho lối sống’’ khắc kỉ, phục lễ’’’’nhờng trên kính dới’’ ‘’quân thần, phụ tử’’…đối với con ng-

ời dới thời phong kiến

Trang 20

Nho giáo ảnh hởng tới văn học với t cách là một học thuyết,tức là một hệ thống các quan điểm về thế giới, xã hội, conngời, lí tởng…Theo GS Trần Đình Hợu trong cuốn ‘’Nho giáo

và văn học Việt nam trung cận đại”cho rằng:” nho giáo

ảnh hởng trực tiếp đến văn học qua thế giới quan của ngờiviết Cách nho giáo hiểu quan hệ giữa thiên đạo và nhân

sự, sự tồn tại của trời, sự chi phối của đạo, lí, mệnh; cáchnho giáo hình dung thực tế, vạn sự, vạn vật và lẽ biếndịch; cách nho giáo hiểu cổ kim( lịch sử); cách nho giáohình dung xã hội, sự quan trọng đặc biệt của cơng th-

ơng, đòi hỏi con ngời có trách nhiệm, có tình nghĩa chiphối cảm xúc, cách suy nghĩ, làm cho con ngời quan tâmhàng đầu đến đạo đức, lo lắng cho thế đạo, nhântâm, băn khoăn nhiều về lẽ xuất xử(…) ở nhà nho tâm hếtsức quan trọng.(t51-52)

Nghiên cứu về kiểu tác giả nhà nho, theo Trần đình Hợu

và một số nhà nghiên cứu khác nh Trần ngọc Vơng, Lạinguyên Ân đều cho rằng: trong quá trình vơn lên làm hệ

t tởng chính thống, nho giáo đã triển khai trong thực tếhai định hớng ứng xử rõ rệt: hành- tàng tơng ứng với haivấn đề xuất xử trong văn học Trung đại Từ đây hìnhthành hai loại hình nhà nho đợc coi là chính thống: nhànho hành đạo và nhà nnho ẩn dật Dĩ nhiên ngời hành đạovẫn coi là mẫu ngời chủ đạo, bởi nếu không có mẫu ngờinày làm sao có sự thắng lợi của nho giáo ở cơng vị ý thức

hệ nhà nớc chính thống

Trang 21

Vậy nhà nho hành đạo thực hiện những chức năng gì và

có vị trí nh thế nào trong xã hội?

1.1.1.1 Thực hiện lí tởng nho giáo.

Nhìn chung các nhà nho ngày xa tiến đến con đờngcông danh bằng khoa cử văn chơng, để đáp ứng đợc môhình tu thân: vinh thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.nhà nho hành đạo cũng vậy muốn giúp đời trớc hết phải tựrèn luyện bản thân để cai trị đất nớc, để giúp nhândân có cuộc sống ổn định, no ấm Nhà nho hành đạo

bao giờ cũng trao cho mình chức năng của một vị thiên

sứ.

Nhà nho hành đạo về cơ bản đợc thể chế hoá thành bộmáy quan liêu của triều đình chuyên chế Dới triều đạiHán Vũ Đế, nhà nho đã nắm giữ hầu hết những cơng vịchủ chốt trong các bộ, các nội các từ địa phơng cho đếncấp huyện Khi đã nắm vững hầu hết những quyền lựctrong tay( dĩ nhiên trừ ngôi vua, quân đội và các vùngphiên trấn) các nhà nho hành đạo nỗ lực triển khai việcứng dụng lí luận nho giáo vào quản lí xã hội Họ sẵn sàngdẫn thân nhập cuộc thực hiện lí tởng: trí quân, trạchdân, mong ớc một xã hội phong kiến mẫu mực theo môhình Nghiêu- Thuấn Bởi vậy trong các sáng tác văn chơng,hình tợng tác giả nổi lên với t cách là con ngời hoạt độngcho xã hội, u thời mẫn thế, sẵn sàng xả thân thủ nghiã.Sáng tác của nhà nho hành đạo mang màu sắc đạo lí,tính quy phạm cao trên cả hai phơng diện : nội dung vàhình thức nghệ thuật

Trang 22

Một xã hội công bằng hay bất công, phát triển hay tụthậu, thậm chí có những triều đại dễ bị loạn lạc đều phụthuộc rất nhiều đến lớp trí thức này Ngời hành đạo khôngchỉ là những ngời có trí tuệ, đợc đào tạo bài bản của cáchọc thuyết nho giáo, phật giáo, lão trang mà còn là nhữngngời có tâm, có chí.Cái tâm của họ luôn hớng về nhândân, triều đại Với họ trị quốc, an dân là nhiệm vụ caocả,là niềm hạnh phúc, thậm chí có ngời xem đó là nơi đểthoả mãn ‘’chí tang bồng hồ thỉ’’, công hiến tài năng củamình cho dân tộc

Con ngời hành đạo mang trong mình hệ thống giáo lícủa nho giáo, những vấn đề thuộc về phạm trù đạo líkhuyên răn con ngời sống có nhân cách, giữ vững trật tựcơng thờng: nhân-lễ- nghĩa-trí-dũng;vua tôi- cha- con –vợchồngv.v Đối với họ gia đình hạnh phúc, xã hội ổn địnhphải có trật tự trên dới, phải nghiêm khắc giữa các khoảngcách nhất định Mỗi ngời, mỗi gia đình đều phải tuânthủ những luật lệ đề ra của vơng triều và sẽ bị xử phạtnghiêm khắc, thậm chí bị xử tử nếu đi trái với đạo lí đãquy định Tất nhiên quan niệm về cuộc sống của con ngờihành đạo dới thời phong kiến bên cạnh những u điểm còn

có những hạn chế nhất định đối với với việc phát huy cátính sáng tạo của mối con ngời Bởi họ bị bó hẹp vào mộtkhuôn khổ nhất định, bị kiểm soát về mọi mặt Điềunày không những không làm cho xã hội phát triển mà còn

ảnh hởng tới sự phát triển của văn học Trung đại Trong mộtthời gian dài văn học Trung đại ở nớc ta phát triển trong

Trang 23

những quy định ngặt nghèo về sáng tạo dới chế độphong kiến Điều này lí giải tại sao hồn thơ của những tácphẩm văn học Trung đại lại giống nhau đến nh vậy.

nh những con chiên phải phục tùng theo mệnh lệnh củavua chiếu xuống.’’phổ thiên chi hạ mạc phi vơng thổ, suấthải chi tân mạc phi vơng thần’’.cái gì dù cái đó tầm thờngcách mấy mà chẳng là của vua, ai dới gầm trời mà chẳngphải là bề tôi của vua? Vì c dân c trú theo đơn vị huyếttộc và dòng họ, các quan hệ thân tộc có vai trò vô cùng tolớn, nên hoàng đế – thiên tử vừa phải là một ngời duy nhất(Bầu trời không thể có hai mặt trời, nớc không thể có haivua), nhng đồng thời là ngời của một dòng họ xác định.Trời giao nớc về nguyên tắc cho ngời có đức, có đại đức,

mà đại đức là hiếu sinh, là biết thơng xót, chăm sóc nuôidỡng các sinh mệnh khác Bám vào nguyên lí đó mà trongsuốt lịch sử tồn tại của mình, nho giáo luôn nhắc nhở, đềcao, nhấn mạnh hay quyết liệt đòi hỏi ngời làm vua luônphải tự thể hiện là ngời ‘’chí đức’’ Nho giáo quy định đã

ở thân phận bề tôi thì phải ‘’quân sử thần tử, thần bất

tử, bất trung; phụ sử tử vong, tử bất vong, bất hiếu”( Vua

Trang 24

khiến bề tôi phải chết, bề tôi không chịu chết là khôngtrung; cha bảo con quên mình, con không quên mình làcon bất hiếu) Tất nhiên trong quá trình cai trị đất nớcnhững bậc Đại Vơng đều rất cần đến vai trò của tầng lớpnho sĩ đó là những con ngời có học vị đợc thăng quantiến chức bằng con đờng khoa cử Bởi vậy tầng lớp nho sĩ

đều là những con ngời tài giỏi Không những tài thơ văn

mà họ còn có tài thao lợc, tài kinh bang tế thế

Nho sĩ có một vinh dự đợc gần gũi với vua, đợc sát cánhbên vua để cai trị đất nớc, giúp dân có cuộc sống yên

ổn, kinh tế phát triển Đặc biệt với nhà nho hành đạo,trách nhiệm với đất nớc càng nặng nề hơn Họ dành toàntâm toàn lực, đa đức và tài để phò vua dựng nớc Bởivậy tầng lớp này đôi lúc dễ dẫn đến ngu trung, thực hiệntheo thánh chỉ của vua truyền đến mà quên đi lẽ phải,

điều lợi cho dân.Ngời ẩn dật căn cứ vào thực tế có lí khichê trách hay nhạo báng những nhà nho hăm hở khi nhậpcuộc là” ăn phải bả phù hoa’’ “say mê thế lợi’’, nổi chìmtheo ‘’ thế tục’’

Phải chăng Nguyễn Công Trứ của chúng ta trong hailần chống cuộc khởi nghĩa của nông dân: Nông Văn Vân

và Phan bá Vành cũng đợc giới sử học nghiên cứu dới góc độnày?

1.1.3 Biểu hiện con ngời nhà nho hành đạo trong văn học Trung đại.

Văn học nho giáo chính thống là một thứ văn học ‘’chíthiện’’phải hoàn toàn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo

Trang 25

đức, đợc đo bằng nhũng thớc đo đạo đức Ngời xa có nói

tế nó thiên về phẩm bình, tìm ý nghĩa đạo lí hơn làbăn khoăn tìm hiểu

Trong văn học Trung đại mẫu hình con ngời hành đạothể hiện rất rõ ở những tác phẩm của những nhà nho theonghiệp văn chơng Đặc biệt các nhà thơ nh: Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Thanh Quan, NguyễnKhuyến, Tú Xơng , Nguyễn Công Trứ…tinh thần nhập thếthể hiện rất tích cực Đó là những con ngời có khí phách,

có chí hớng làm quan, quan tâm đến chính trị, đến

v-ơng triều, sự tồn vong của dân tộc, cuộc sống ấm no chonhân dân Đây chính là nét mới trong văn học trung đại.Trong truyện cổ tích dờng nh không có con ngời khíphách mà chỉ đợc xây dựng ở tính cách nh: thật thà,dũng cảm, trung thực mà thôi Cái khí phách ở đây đợcthể hiện ở t tởng của con ngời dám đi ngợc lại một lực lợng

đông gấp bội để bảo vệ ý chí, lí tởng của mình Trongtruyện " Thạch Sanh" thì Thạch Sanh không phải là nhânvật có khí phách mà chỉ là một con ngời lập chiến công

Trang 26

chứ cha bao giờ là ngời khí phách dám đem tinh thầnchống chọi với bạo lực Hành động của chàng cũng chỉmột phần nào đó mang tính chất bản năng mà thôi

Vậy tại sao con ngời hành đạo lại ẩn hiện rất nhiều ởcác nhà thơ này? Phải chăng đây là những nhà thơ chịu

ảnh hởng nặng nề bởi t tởng nho gia Với họ đã sinh ra trên

đời phải cống hiến tài năng mà phò vua, giúp nớc, giúpdân Sống phải có chí hớng nhng đồng thời phải mangtrong mình những nhân cách tốt đẹp Đó là cái đạo đểgiúp đời Bởi vậy đối với các nhà nho hành đạo, vấn đề

đạo đức đợc đa lên hàng đầu.Nhà thơ Nguyễn Trãi cónói

Tài thì kém đức một vài phân

Đại thi hào dân tộc nguyễn Du cũng cho rằng:

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

( truyện kiều)Với các nhà nho hành đạo, văn chơng dĩ nhiên là công

cụ chính trị, là phơng tiện để thực thi giáo hoá.Thứ vănchơng đó cũng phải hớng tới đa số nhân dân, mà phầnlớn là mù chữ,để truyền đạt những thông tin hành chínhquan phơng chứ không phải cảm xúc cá nhân Cho nên dễhình dung vì sao chúng là những “sản phẩm đồng loạt”

đợc “đúc” theo những khuôn mẫu xác định, đánh mấttính độc đáo hơn nhất, vốn là phẩm chất làm nên giá trị

đích thực của bất kì tác phẩm văn học nào Đa số nhữngnhà nho hành đạo là những ngời dày công học tập, rènluyện kĩ xảo văn chơng, không ít ngời trong số họ thực sự

Trang 27

có tài năng nghệ thuật Cả khi ca tụng cảnh thái bìnhthịnh trị, lẫn khi sống hết mình với những lí tởng- khôngtởng chính trị của mình, đặc biệt khi triều đình hayquốc gia đối diện với những khó khăn, những hiểm hoạliên quan đến sự tồn vong vận mệnh của toàn dân tộc họ

đã thể hiện nhiều xúc cảm, những tâm sự , viết nênnhiều áng văn chơng tâm huyết

Trong văn học Trung đại, con ngời hành đạo thể hiện

ở chí làm trai Đó là khát vọng lập công danh với lí tởnghành đạo phò đời, giúp nớc Hình tợng con ngời hành đạotrong thơ Nguyễn Trãi thể hiện ở tấm lòng u ái, lo nớc th-

ơng dân, những trằn trọc nghĩ suy về dân tộc:

Bui một tấc lòng u ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều dâng ( Thuật hứng V) Nguyễn Trãi ý thức đợc trách nhiệm của mình với ngờidân Ngời làm quan chính là ngời ăn lộc của dân, đợcdân nuôi sống để giúp nớc giúp dân có cuộc sống ổn

định, kinh tế phát triển Nỗi lòng ân huệ này ẩn hiện

đây đó rất nhiều trong tác phẩm của nhà thơ Đó làhình ảnh một con ngời biết: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”

Ông gắn bó với nớc với triều đình Lê Sơ không chỉbằng đạo lí mà bằng cả cuộc đời vào sinh ra tử củamình Bởi vậy khi bị bạc đãi, bị dèm pha ông muốn rút lui

ở ẩn mà vẫn bị day dứt trong vấn đề xuất xử Thái độsống nói chung là xuất hay xử? Thung dung làm bạn vớitrăng gió chim muông hay cúc cung tận tuỵ lo việc đời? Tr-

Trang 28

ớc sau ông đều ở vào cảnh bị níu kéo: một bên là quânthần đòi báo đáp, thơng sinh đòi chăm lo và một bên làvợn hạc oán hờn, níu mây vẫy gọi Là một nho sĩ, một nhà

đạo đức Nguyễn Trãi luôn nói đến trung, hiếu, con ngời

ông luôn hớng đến bổn phận thiêng liêng đối với gia đình

và tổ quốc Khi ra làm quan, khi về ở ẩn, lúc nào NguyễnTrãi cũng tâm niệm đến hai chữ trung hiếu.Hình tợngcon ngời hành đạo trong thơ Nguyễn Trãi luôn thể hiện nỗilòng canh cánh với đời, niềm trăn trở day dứt khôn nguôi

Đó là con ngời “lo trớc nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui củathiên hạ”, làm việc với tinh thần nhập thế tích cực

Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, con đờng hoạn lộ có vẻ khôngchông gai nh Nguyễn Trãi nên con ngời hành đạo hiện lêntrong thơ văn ông một t thế thoải mái và đầy hoài bão để

đa hết tài năng của mình ra phò tá cho vua cai quản đấtnớc Tuy nhiên vốn không phải vì danh lợi mà vớng mắchoạn đồ:

Lng mang vàng đâu phải là thích phong hầu

(Trung tân quán ngụ hứng)nên sau nhiều năm rong ruổi, ráng hết sức mình mà vẫnkhông xoay nổi đợc tình thế cho nhà mạc, đem lại cảnhthái bình cho đất nớc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đành ngậmngùi: “ giúp nớc thơng dân cha thoả lòng ta hồi trớc, bănkhoăn rất thẹn già không có tài: mà thú nhận nỗi bất lựccủa mình

Tế nịch phù nguy quýphạp tài

Cố viên hữu ớc trụng quy lai

Trang 29

( Ngụ hứng)( Tự thẹn kém tài với kẻ đắm đuối, đỡ kẻ nguy nan,

đã có ớc hẹn với vờn cũ, nặng tình ra về)tuy nhiên hình tợng con ngời hành đạo trong thơ ôngkhông phải là nổi bật mà là con ngời ẩn dật NguyễnBỉnh Khiêm chán ghét công danh, xem đó là phù phiếmnên dù lúc xã tắc nghiêng đổ phải dốc sức phù trì, ông vẫnmơ ớc nhàn dật quê nhà:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻNgời khôn ngời đến chốn lao xaoTìm cảnh nhàn ở nơi vắng vẻ, tránh nơi chợ lợi, đờng danhhuyên náo, nơi con ngời chen chúc xô đẩy, giành dật hãmhại nhau Nhng với ông tìm nơi vắng vẻ không chỉ là trốntránh mà còn là tìm đến nơi thích thú- cái thích thú hơikhác với những “ngời khôn”, ngời trên đời ông quan niệm

“nhàn” trớc hết là sự thoải mái “ nội đắc tâm thân lạc,ngoại vô hình dịch luỵ”(Bên trong đợc cái vui của tâm,của thân: bên ngoài khỏi cái luỵ hình dịch) (Cảm hứng)

Ta lại bắt gặp trong thơ bà Huyện thanh quan nỗi niềmtrắc ẩn với dân tộc Đó là niềm hoài cổ về qúa khứ đẹp

đẽ, là thời vàng son của bà Tâm trạng của bà cũng chính

là tâm trạng của tầng lớp nhà nho lúc bấy giờ

Quan niệm con ngời hành đạo trong văn học Trung đại do xuất phát từ t tởng nho giáo nên trong tác phẩm của họ hình tợng nhân vật ý thức rất cao về sứ mệnh cao cả trong xã hội Thực ra đây là ý thức tham gia hoạt động chính trị xã hội, tham gia vào hoạt động cai trị đất nớc, h-

Trang 30

ớng đạo, dẫn dắt nhân dân để mang lại cái mà họ coi là

ân huệ cho dân nho giáo coi con ngời là một yếu tố của tam tài: thiên- địa –nhân< cũng là con ngời của vũ trụ Đó

là con ngời kính sợ trời, tin thiên mệnh, tin huyền tởng, ỡng vọng siêu nhân Về luân lí, con ngời nho giáo thiên vềcoi trọng đạo hiếu , luân thờng nên họ thiếu hẳn ý thức

ng-về xã hội Cá nhân trong nho giáo là con ngời thông với trời,hợp với trời , chứ không hợp với xã hội Nói cách khác ý thức xã hội kém phát triển Nói nh vậy để chúng ta thấy con ngời hành đạo trong văn học Trung đại có thể xảy ra hai loại: Một loại đủ tỉnh táo để điều hoà đợc giữa hành đạo với thực tế( vấn đề xuất- xử biết sử dụng đúng thời cơ) và loại nhà nho chỉ biết hành đạo vì cứu chúa, an dân mà

dễ dẫn đến ngu trung Hầu hết con ngời hành đạo trong văn học Trung đại đều thể hiện sự trung thành với vua chúa, triều đại mà họ đang phụng sự Đó là những con ng-

ời đợc đặt trong khuôn khổ của đạo trung hiếu Nguyễn Khuyến viết:

Ơn vua cha chút báo đền,

Cúi trông thẹn đất, ngửa lên thẹn trời

Đó còn là hình ảnh những con ngời hành động xã thânvì độc lập dân tộc mà nhiều nhà nho thể hiện trongcuộc chiến đấu chống thực dân pháp cuối thế kỉ XIX, dùbiết rằng khả năng thành công mong manh Dám hy sinh,dám xả thân vì họ sống và hành độngbằng tinh thần vàtrách nhiệm cao với đời, với dân tộc:

Vì nớc tấm thân đã gửi, còn mất cũng cam,

Trang 31

Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên h nào nại

(Văn tế Trơng Định_ nguyễn Đình Chiểu)

Đó là t thế khảng khái của đấng nam nhi đợc sánh cùNGtrời đất dới thời đại Lí_Trần:

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu (Phạm Ngũ Lão)

Nh trên đã nói, nho giáo vốn là học phái chủ trơng conngời sống có trách nhiệm với đời, nhập thế, cứu thế, Nhngtrong cuộc đời xuất hay xử thì phải có điều kiện Họ vốncoi mình là trung gian giữa vua –dân, coi đích cao nhất

là giữ gìn đạo đức.Nếu nớc trị, vua biết đến đợc tindùng thì xuất, nếu ngợc lại thì xử Thế nhng đồng thờicon ngời lại có trách nhiệm, vì nghĩa phải lo lắng vì đời,tranh thủ mọi cơ hội để hành đạo Tinh thần đó đợc thểhiện rất rõ trong quan niệm nghệ thuật về con ngời hành

đạo ở tác phẩm của các nhà nho Trung đại Tuy nhiên conngời hành đạo trong mỗi tác phẩm văn học Trung đại hiệnlên không giống nhau ở t thế hoặc hoàn cảnh, thời đại v.vnhng về quan điểm đều bắt nguồn từ t tởng nho giáo.Đó

là con ngời sinh ra để lập công danh, sự nghiệp, giúp vuacai trị đất nớc, giúp dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.Với Nguyễn Công Trứ cũng thể hiện tinh thần nhập thếtích cực đó Bên cạnh những điểm giống nhau ấy, conngời hành đạo trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ còn cónhững sắc nét riêng, tạo nên diện mạo riêng trong làngthơ Việt nam

Trang 32

1.2.Con ngời hành đạo trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ.

1.2.1.Chí làm trai trong thơ nôm Nguyễn Công Trứ.

Con ngời hành đạo trong văn học Trung đại xuấthiện sớm trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão

và thể hiện rõ nhất ở chí nam nhi Đến Nguyễn Công Trứ ,chí nam nhi bộc lộ một cách manh mạnh mẽ trong tácphẩm của Nguyễn Công Trứ nói chung và trong thơ nômcủa ông nói riêng Từ Nguyễn Trãi cho đến Phạm Ngũ Lão,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá quát, Nguyễn Khuyến,Nguyễn Công Trứ v v Trong tác phẩm của họ hiện lênhình tợng tráng sĩ với khí phách cao đẹp, với khát vọng lậpnên sự nghệp vẻ vang, theo đuổi công danh sự nghiệp

để giúp vua cai trị thiên hạ Chúng ta đều biết đã có mộtQuảng Nghiêm Thiền S(1122_1190) nói:

Nam nhi tự hữu xung thiên chí,

Tu hớng nh lai hành xứ hànhMột phạm ngũ lão với:

“ nam nhi vị liễu công danh trái”

Hai ngời một là nhà nho một là nhà s nhng phơng pháp tduy của họ lại giống nhau, đó là khao khát khẳng địnhmột cái gì đó của chính mình trong cuộc đời này, khaokhát làm nên một sự nghiệp bằng hành động thực tiễnchứ không phải bằng sách vở Tuy nhiên mỗi nhà nho dớithời phong kiến có thể lựa chọn cho mình một hớng đi

Trang 33

công Bởi vậy con ngời hành đạo trong mỗi tác phẩm đềucùng một lí tởng nhng thể hiện lại không giống nhau Hơnnữa sự giống nhau đó cũng làm nên cá tính sáng tạo độc

đáo và sắc thái riêng cho từng tác giả

Chí nam nhi trong thơ Nguyễn Công Trứ giống với chínam nhi của các nhà thơ trí thức thời Lí- Trần, một mặtcũng giống nh tất cả mọi ngời thời Trung đại, ông tin rằng

có số mệnh, có trời trong số phận( Trời ban cho mình cáitài để giúp nớc) nhng mặt khác ông cũng tin vào bảnthân và sự nỗ lực của chính bản thân để đợc lu danhcùng thiên cổ:

Đã sinh ra ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông (Đi thi tự vịnh)Một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh việc Nguyễn Công Trứ

đề cao khát vọng lập công danh cá nhân hơn là lí tởngphụng sự cho đất nớc Xét về phơng diện đạo đức để

đánh giá con ngời thì đây là một t tởng không lànhmạnh, t tởng hám danh lợi Thực ra đây chính là động lựckhiến ông hăng hái lập nên những chiến tích và côngtrạng Đọc hai câu thơ chúng ta có cảm nhận rằng nhữnghoài bão, khát vọng của một đấng nam nhi đã đợc hun

đúc thành chí khí, trở thành một mục đích lớn trong đời

Trang 34

đứng giữa trời đất là phải lập nên danh nghiệp Bởi vậytrong nội dung khẳng định chí nam nhi ông thờng dùng

từ chỉ quan hệ: nguyên nhân hệ quả( đã_ phải)

Quả thực cả cuộc đời của Nguyễn Công Trứ là hànhtrình của những cống hiến cho triều đình Ngay từ khicòn là một nho sinh nho nhã 26 tuổi đã dâng bản điềutrần “ thái bình thập sách”cho vua Gia Long khi ông tuầnphủ qua nghệ an năm 1803 Từ đây trở đi Nguyễn CôngTrứ lựa chọn cho mình con đờng của các sĩ tử đi thi để

ra làm quan giúp vua cai trị đất nớc Dù bị đánh trợt mấylần nhng ông vẫn tiếp tục đi thi quyết đậu đạt mới thôi

đén năm 42 tuổi nhà thơ đã thực hiện đúng nguyệnvọng của mình Là một đại quan của truiêù nguyễn, là r-ờng cột của quốc gia trong một thời gian dài, Nguyễn CôngTrứ không chỉ giỏi thơ phú mà còn là một võ tớng giỏi vềbinh pháp, có tài thao lợc đánh giặc, dẹp loạn cho dân tộc

đặc biệt ông rất hiểu câu nói của vua lê thánh tông đạiý: thời bình dụng văn, thời loạn dùng võ.Trong quá trìnhlàm quan nhà thơ biết sử dụng hợp thời khi đứng ở hai ph-

ơng diện:

Văn dìu cánh phợng yên trăm họ

Võ thét oai hùnh dẹp bốn phơng

(Vịnh văn võ Một con ngời đầy nghị lc: Khi cha thực hiện đợckhát vọng của mình ông lại than thở nhng không vì thế

mà bi quan, ngợc lại chúng ta cảm nhận ở ông một con ngời

đầy nghị lực:

Trang 35

Cảnh muộn đi về nghĩ cũng rầu Trông gơng mà thẹn với hàm râu.

Và khi vui diễu cợt mà chơi vậyTuổi tác ngần này đã chịu đâu

Khi đã đỗ đạt làm quan, ông đem hết sức mình ra đểphụng sự cho lí tởng, hoài bão của mình( cũng là lí tởngcủa các bậc nhà nho hành đạo phụng sự cho triều đìnhphong kiến) Ông đã ghi dấu ấn trong lịch sử với hai côngtích lớn: dẹp loạn và khẩn hoang Ông không quan tâmnhiều đến bớc thăng trầm của hoạn lộ bởi đối với ông đỗthủ khoa, làm tham tán, làm tổng đốc đông chẳng quacũng là những phơng tiện để ông thực hiện những hoàibão ‘’ trí quân trạch dân” của một đạo nho mà ông mangsẵn từ khi còn là bạch diện th sinh

Cái chí của Nguyễn Công Trứ đã đợc thể hiện ở trongthơ nhng khác với nhiều ngời ở chỗ: ông hoạt động thực sự

để thực hiện cái chí đó Phải chăng một tinh thần nhậpthế tích cực, hoạt động sôi nổi ăn sâu trong tiềm thức,tâm trí của nhà thơ nên trong cuộc đời Nguyễn Công Trứ

đã có những hành động khác thờng?

Cũng phải nhận rằng chí nam nhi của Nguyễn CôngTrứ còn có một nét mới so với thời đại Lí- Trần và các nhànho khác: Một mặt tần số của chí nam nhi và các từ đồngnghĩa ( nợ công danh, tang bồng hồ thỉ, chí khí anhhùng…)xuất hiện nhiều và dày đặc trong thơ ông Mặtkhác chí nam nhi còn thể hiện một cách sôi nổi, mạnh mẽkhông kém phần quyết liệt Không chỉ bộc lộ trong thơ

Trang 36

mà ngoài đời Uy Viễn đã là một con ngời nh vậy Chỉ xéttrong phạm vi thơ nôm đã thấy từ " danh" xuất hiện rấtnhiều trong thơ nôm Trong tổng số 53 bài thơ nôm có

đến 8 bài nhắc đến công danh Ngoài ra một loạt các từchỉ chí khí nam nhi cũng xuất hiện một cách rầm rộtrong thơ nôm Nguyễn Công trứ Điều đó chứng tỏ trongtâm trí nhà thơ vấn đề công danh, sự nghiệp đặt ra với

ông thật da diết và xem đó là phận sự lớn nhất mà mệnhtrời đã ban phát cho:

“Thiên phú ngô, địa tái ngô,Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý”

- Con ngời hành đạo trong cái nhìn của Nguyễn CôngTrứ thể hiện rõ ở những dạng khác nhau: Con ngời danhphận, con ngời chức năng phận vị Dạng thái này do ảnh h-ởng của t tởng nho giáo Con ngời sinh ra đã phải học cáchthuận theo đạo trời, hành động trong vòng lễ giáo cơngthờng đạo lí, trong vòng tôn tri trật tự ở vai trò nào conngời cũng tuân theo bổn phận, trách nhiệmcủa mình

ý thức về con ngời danh phận: Chính là ý thức kẻ sĩcủa Nguyễn Công Trứ T cách bề tôi đã đợc ông thể hiệnhoàn hảo ý thức báo quốc “ thợng vị đức, hạ vị dân.Những hoài bão của con ngời trong thơ ông thực chất lànhững hoài bão để cống hiến, để phụng sự cho vua, chodân tộc Mỗi một nam nhi sinh ra và lớn lên, đặc biệt khi

đỗ đạt làm quan đều mang ý thức danh phận này Bởi cáchọc thuyết nho giáo trong thời phong kiến rèn luyện kẻ sĩ ở

đạo làm quan, đạo quân thần phụ tử, trên vì vua dới vì

Trang 37

dân Con ngời trong thời đại bấy giờ là con ngời của cộng

đồng, của cái ta chứ không thể là con ngời cá nhân riêng

lẻ Đó là chức năng, phận vị của kẻ làm tôi, của một nho sĩ.Trong thơ Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão ý thức này bộc lộ rõrệt Thế nhng khác với các nhà thơ lớp trớc con ngời danhphận hay chức năng trong thơ Nguyễn Công Trứ bên cạnhcon ngời của cộng đồng, phụng sự vì dân vì nớc dờng

nh còn mang một chút của ý thức cá nhân trong ấy Bêncạnh lập công danh để công hiến cho dân tộc nhà thơcòn muốn khẳng định vị trí của mình ở trong trời đất,trong vũ trụ

Con ngời chức năng dới con mắt của Nguyễn Công Trứkhông tỏ ra an phận với từng nhiệm vụ của mình mà luônhăm hở sục sôi với cái nợ công danh…

ý thức danh phận đi liền với ý thức hành động Con ngờitrong “lồng”( chữ dùng của Nguyễn Công Trứ) luôn đau

đáu niềm khát vọng lập công danh đã làm nên sắc thái

đặc biệt riêng trong cái nhìn về con ngời danh phận Cáinhìn không còn mang tính khuôn khổ, khô cứng mà đã

đợc thổi vào đó một linh hồn, một sắc thái sống độngcủa con ngời thực

Sinh ra và phụng sự cho triều Nguyễn đang trong hoàncảnh loạn lạc, triều đình còn lúng túng trong đờng lốichính trị, nho giáo thì bất lực, kẻ sĩ lúc bấy giờ thì tầmthờng, dốt nát nhng không vì thế mà làm ông nhụt chí,trái lại càng khơi dậy tinh thần chủ nghĩa anh hùng cánhân ở ông

Trang 38

“Vũ trụ gian giai chi phận sự, nam nhi đáo thử thị hào

1.2.2 Thực hiện đạo “quân thần, vi tử” của kẻ sĩ.

Theo truyền thống của xã hội phong kiến, các nghềnghiệp đợc phân ra làm 4 loại: sĩ, nông, công, thơng vàtheo đó sĩ đợc xem là nghề cao quý nhất, kẻ sĩ cũng đợcxem là ngời cao quý nhất Nguyễn Công Trứ rất tự hào làmình đợc làm kẻ sĩ:

Tớc hữu ngũ sĩ c kì liệtDân hữu tứ, sĩ vi chi tiên

Trang 39

Có giang sơn thì sĩ đã có tên,

Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quý

( Vịnh kẻ sĩ)Dới thời Trung đại nhiều nhà thơ cũng tự ví mình là kẻ sĩ.Vậy con ngời kẻ sĩ khác với ngời thờng ở chỗ nào? Họ hành

đạo ra sao? Hình tợng kẻ sĩ trong sáng tác của NguyễnCông Trứ thể hiện rất nhiều ở những bài hát nói( khảo satthêm) ông đã tự ghép mình vào trong các mối quan hệvua tôi, cha con, anh em v v tự thấy mình phải thờ ai,theo ai, tự biết phải giữ cái gì và bỏ cái gì, Bởi vậy nhnhững kẻ sĩ khác, ông thấy mình phải có nghĩa vụ cơngthờng, thực hiện đạo làm tôi, làm con:

Nặng nề thay hai chữ quân thân

Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ(không đầu đề)

hoặc:

Miền tộc đảng đã khen là hữu đễ,

Đạo lập thân phải giữ lấy cơng thờng

(Vịnh kẻ sĩ)Tuy trong mảng sáng tác chữ nôm, kiểu hình tợng nàyhơi mờ nhạt nhng cũng thể hiện rõ quan điểm của đạolàm tôi, làm con Mặc dầu sống trong cảnh nghèo hèn chalàm quan cho đến khi thành đạt dới nhiều cám dỗ vật chấtnhng Nguyễn Công Trứ luôn giữ mình trong sạch

Nhân nghĩa tớc trời thì phải giữ, Lợi danh đờng nhục cũng nên kinh

( vui cảnh nghèo)

Trang 40

Trớc đây Nguyễn Trãi đề cao và coi trọng “nhân nghĩa”

đến Nguyễn Công Trứ vấn đề này cũng đợc nhà thơ ýthức rất rõ- phải giữ lấy nhân nghĩa trong bất cứ hoàncảnh nào và xem danh lợi chỉ là chốn phù hoa Điều nàythể hiện nét đẹp trong nhân cách của ngời hành đạo.Nói tới kẻ sĩ là nói tới con ngời học nho và hành đạo theoquan điểm sống của nhà nho Mặc dù triều đại nhàNguyễn là một triều đại phong kiến suy tàn, dù ông ý thứcrất rõ số phận chung củ tất cả các kẻ sĩ khi vào chốn quantrờng đều phải chịu cảnh:

Ra trờng danh lợi vinh liền nhụcGiữa cuộc trần ai lhóc lộn cời ( tình cảnh lamg quan)

Nhng ông vẫn cứng rắn với lập trờng của mình về trách nhiệm với vua, với dân Bởi vậy hình tợng kẻ sĩ trong thơ

ông hiện lên là hình ảnh một vị quan tốt thực sự Không chỉ ở chốn quan trờng mà còn là một võ tớng oai hùng giữatrận mạc:

Trong lăng miếu ra tài lơng

đống

Ngoài biên thuỳ rạch mũi can tơngQuả thực cuộc đời của Nguyễn Công Trứ đã cống hiếncho thời đại không chỉ cái tài múa bút mà còn phải váccung kiếm đi trừ diệt phiến loạn Đối với việc an dân, kẻ sĩNguyễn Công Trứ đã góp công vào khai hoang giúp chonhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc Trong cuộc sốngriêng t cũng nh trong việc công, ông luôn nhớ tới trách

Ngày đăng: 23/04/2019, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w