1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch Sử Việt Nam cổ trung

8 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa lịch sử: Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược thắng lợi đã giữ vững được nền độc lập của nước nhà và đem lại cho nhân dân ta niềm tự hào, lòng tin ở sức mạnh của dân tộc.. T

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ:

LỊCH SỬ VIỆT NAM

Kiến Thức Cơ bản

I/ Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống ở TK X – XI.

1 Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất - Năm 981.

1.1 Bối cảnh:

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trường là Đinh Liễn bị ám hại Con thứ là Đinh Toàn, mới 6 tuổi, lên ngôi

Lợi dụng cơ hội đó, nhà Tống đem quân xâm lược nước ta Thế nước lâm nguy Vua còn quá nhỏ không gánh vác nổi việc nước

Triều đình đã họp bàn để chọn người chỉ huy kháng chiến Mọi người đặt niềm tin và

Thập đạo tướng quân Lê Hoàn Được sự ủng hộ của triều đình, Lê Hoàn lên ngôi (Lê Đại Hành),

lập ra nhà Lê (sử cũ gọi là nhà Tiền Lê)

1.2 Diễn biến - Kết quả:

Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy, bộ ồ ạt tiến vào xâm lược nước ta Quân thủy tiến vào theo cửa sông Bạch Đằng Quân bộ tiến vào theo đường Lạng Sơn

Vua Lê trực tiếp chỉ huy binh thuyền ra chống giặc ở Bạch Đằng Ông cho quân cắm cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn chặn chiến thuyền địch Nhiều trận chiến đầu ác liệt đã diễn ra trên sông Bạch Đằng, cuối cùng quan thủy bị đánh lui

Trên bộ, quân ta cũng chặn đánh quân Tống Quyết liệt ở Chi Lăng (Lạng Sơn), buộc chúng phải rút quânn Thừa thắng, quân ta truy kích tiêu diệt địch Quân giặc chết đến quá nửa Tướng giặc bị giết chết Cuộc kháng chiến thắng lợi

1.3 Ý nghĩa lịch sử:

Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược thắng lợi đã giữ vững được nền độc lập của nước nhà và đem lại cho nhân dân ta niềm tự hào, lòng tin ở sức mạnh của dân tộc

2.Cuộc kháng chiến chống xâm lược Tống (1075 - 1077)

1.1 Bối cảnh lịch sử.

- Nước Đại Việt thời Lý đang vươn lên trong công cuộc xây dựng đất nước

- Nhà Tống suy yếu lại gặp nhiều khó khăn ở trong nước cũng như ở ngoài biên giới Theo

đề nghị của tể tướng Vương An Thạch, vua Tống hạ lệnh chuẩn bị gấp rút cuộc xâm lược Đại Việt với mục tiêu: “Nếu thắng thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu, Hạ phải kiêng nể”

- Để đánh chiếm Đại Việt được thuận lợi, nhà Tống một mặt tích cực chuẩn bị tấn công nước ta (lập 3 căn cứ quân sự lớn ở Khâm Châu, Ung Châu, Liêm Châu với đầy đủ khí giới và lương thực) Mặt khác, xúi giục Cham pa đánh ta từ phía Nam, ra sức ngăn cản việc trao đổi buôn bán ở biên giới 2 nước và lôi kéo, kích động các tù trưởng nổi dậy

- Trước âm mưu xâm lược của quân Tống, nhà Lý đã tích cực tổ chức kháng chiến

2.2 Diễn biến và kết qủa.

a Giai đoạn 1:

- Thái uý Lý Thường Kiệt - Người chỉ đạo cuộc kháng chiến chủ trương: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem, quân đánh trước để chặn thế mạnh của giặc”

- Được sự ủng hộ của quân dân, Ông đã thực hiện chiến lược “Tiên phát chế nhân”, kết hợp với các lực lượng dân binh miền núi, đem quân đánh lên đất Bắc nhằm giáng đòn bất ngờ vào chúng

- Năm 1075, quân ta (khoảng 10 vạn) chia làm 2 đạo đánh sang đất Tống Nhằm cô lập kẻ thù và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Trung Quốc nên trên đường tiến quân, LTK cho yết bảng nói rõ mục đích tự vệ của mình

Kết quả: Các căn cứ quân sự của nhà Tống ở ven biên giới bị ta giáng những đòn bất ngờ nên thất bại liên tiếp, các kho lương của chúng đều bị ta đốt, ta vây thành Ung Châu

Trang 2

- Sau 42 ngày đêm tấn công, quân ta chiếm được thành Ung Châu LTK cho quân phá hết cầu cống rồi nhanh chóng rút quân về nước tích cực chuẩn bị cuộc kháng chiến

- Ý nghĩa: + Làm cho nhà Tống bất ngờ, phải thay đổi kế hoạch tấn công xâm lược

+ Quân Tống bị thiệt hại nặng và lâm vòa thế bị động

+ Quân đội, nhà Lý được cổ vũ, tinh thần hiến đấu và bảo vệ tổ quốc được nâng cao

+ Ta có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến

 Thể hiện tài năng, sự sáng suốt của Lý Thường Kiệt

b Giai đoạn 2:

- Sau khi giành thắng lợi trên đất Tống, LTK rút quân về nước và tích cực chuẩn bị cuộc kháng chiến Ông chọn và cho xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu – Bắc Ninh) thành một chiến luỹ kiên cố

- Đầu năm 1076, khoảng 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ dẫn đầu kéo đến bờ Bắc sông Như Nguyệt Quân Tống lúng túng vì trước mặt chúng là sông và bờ bên kia là một chiến luỹ hết sức kiên cố Quách Quỳ phải cho đóng quân ở bờ Bắc sông Như Nguyệt, chờ thuỷ binh đến

- Đoán được ý đồ của địch, nhà Lý đã cử Lý Kế Nguyên chặn đánh quân thuỷ của chúng, làm cho 2 cánh quân thuỷ, bộ bị cắt đứt Quân Tống phải cố thủ, lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, tinh thần quân sĩ mệt mỏi, chán nản

- Cuối mùa Xuân 1077, Lý Thường Kiệt mở cuộc tấn công vào trận tuyến của địch Đang đêm, quân ta lặng lẽ vượt sông Như Nguyệt, bất ngờ đánh thẳng vào doanh trại địch Quân Tống thua to (mười phần chết đến năm sáu phần)

- Quách Quỳ chấp nhận giảng hoà và rút quân về nước

2.3 Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà:

- Trong quá trình diễn ra cuộc kháng chiến chống Tống (1077), bài thơ Nam Quốc Sơn

Hà ra đời như một bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta, mãi mãi vang vọng non sông:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

- Ý nghĩa: + Khẳng định chủ quyền dân tộc.

+ Khẳng định ý chí quyết tâm đánh giặc và giành thắng lợi của nhân dân ta

2.4 Nét độc đáo trong cách đánh của nhà Lý.

- Tính chủ động của nhà Lý trong cuộc kháng chiến.

+ Chủ động giải quyết mâu thuẫn nội bộ của chính quyền trung ương, đoàn kết nhân dân chống giặc (mời tể tướng Lý Đạo Thành về triều cùng lo việc nước)

+ Chủ động tấn công sang đất Tống, chủ trương “Tiên phát chế nhân”

+ Chủ động động rút lui, xây dựng phòng tuyết sông Như Nguyệt để đợi giặc và đánh giặc + Chủ động kết thúc chiến tranh “Dùng biện sĩ hài hoà, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo tồn được tôn miếu”, xây dựng hoà hiếu với nhà Tống Lần đầu tiên xuất hiện

một phương thức kết thúc chiến tranh với giặc ngoại xâm: Ta trong thế thắng, ta vẫn chủ động giảng hòa, mở đường cho giặc rút về nước.

- Sự đồng lòng đánh giặc của quân dân nhà Lý dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Lý

Thường Kiệt: Phòng ngự chiến lược tích cực – Phản công chiến lược.

2.5 Nguyên nhân thắng lợi và Ý nghĩa lịch sử.

1.5.1 Nguyên nhân thắng lợi

- Tinh thần yêu nước, đoàn kết và chiến đấu dũng cảm của toàn quân, toàn dân Đại Việt

Trang 3

- Vai trò lãnh đạo kiệt xuất của Lý Thường Kiệt.

1.5.2: Ý nghĩa lịch sử:

- Là một trong những trận đánh tuyệt vời nhất trong lịch sử dân tộc ta

- Nền độc lập, tự chủ được giữ vững, âm mưu xâm lược của nhà Tống bị đập tan

- Để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho các cuộc kháng chiến của dân tộc ta ở các giai đoạn sau

II Ba lần kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thời Trần – TK XIII

2.1 Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần 1:

2.1.1 Sức mạnh và âm mưu xâm lược nước ta của Mông Cổ.

- Sự ra đời của nhà nước Mông Cổ

+ Thành lập vào đầu TK XIII (1206) + Sau khi thành lập, MC là đội quân hùng mạnh, tiến hành xâm lược nhiều nước Châu Á, Châu ÂU

- Âm mưu xâm lược Đại Việt: Năm 1257, Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy 3 vạn quân tiến đánh ĐV nhằm tạo bàn đạp tấn công thôn tính nước Nam Tống (TQ)

2.1.2 Diễn biến cuộc k/c.

- Theo dõi tình hình và biết rõ âm mưu xâm lược ĐV của địch, nhà Trần ban lệnh sắm sửa

vũ khí, ngày đêm luyện tập

- Tháng 1/1258, 3 vạn quân MC tiến vào nước ta theo đường sông Thao rồi xuống Bạch Hạc Khi giặc đến Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc) thì bị chặn đánh., sau đó chúng tiến vào Thăng Long

- Trước thế mạnh của giặc, vua Trần cho lui quân để bảo toàn lực lượng Triều đình tạm rời Thăng Long, xuôi về Thiên Mạc (Duy Tiên – Hà Nam) Nhân dân Thăng Long thực hiện chủ trương “Vườn không nhà trống” khiến quân giặc lâm vào cảnh thiếu lương thực, tâm lí tuyệt vọng

- Nắm được thời cơ, quân dân nhà Trần mở cuộc phản công lớn ở Đông Bộ Đầu Quân Mông Cổ thua trận phải rời Thăng Long, Đến vùng Quy Hoá bị quân Hà Bổng chặn đánh Quân giặc hốt hoảng chạy về nước

2.1.3 Nguyên nhân thắng lợi?

2.2 Lần 2:

2.2.1 Âm mưu và hành động của nhà Nguyên:

- Năm 1279, Mông Cổ hoàn toàn thống trị Trung Quốc, ráo riết chuẩn bị xâm lược Đại Việt

và Champa

- Năm 1283, Tướng nhà Nguyên là Toa Đô đã chỉ huy 10 vạn quân xâm lược Champa để làm bàn đạp tấn công Đại Việt từ phái Nam

2.2.2 Hội nghị Diên Hồng.

Hội nghị Diên Hồng là một sự kiện độc đáo của nước ta, là một trong những đỉnh cao của nghệ thuật tập hợp lực lượng Từ Hội nghị Diên Hồng, khối đoàn kết toàn dân đánh giặc được xác lập Cũng từ Hội nghị này, quyết tâm của triều đình nhà Trần đã nhanh chóng biến thành quyết tâm chung của cả nước,

Hội nghị Diên Hồng được tổ chức vào tháng Giêng năm 1285, do Thượng Hoàng Thái Tông triệu tập khi quân Nguyên Mông xâm lược Đại Việt lần thứ hai Cuộc họp tiến hành tại Điện Diên Hồng, ở kinh thành Thăng Long, gồm các bật bô lão có uy tín trong nước để nhà vua hỏi kế đánh giặc

Trong bữa tiệc ở điện DH, khi nhà vua hỏi: “Nên hoà hay nên đánh?”, các vị đồng thanh

hô lớn “Đánh” Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: “Muôn người đều nói như một miệng sinh ra”

Trang 4

Hội nghị thể hiện quyết tâm nhân dân cả nước đánh thắng giặc xâm lược Khắp nơi nhân dân thực hiện mệnh lệnh của Triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh Nếu sức địch không nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, trang 49)

Quân ta ai nấy cũng đều thích hai chữ “Sát thát” vào cánh tay của mình, sục sôi khí thế quyết chiến

2.2.3 Hịch Tướng Sĩ của Trần Quốc Tuấn.

Hịch là bài văn kêu gọi mọi người làm một việc rất quan trọng cho đất nước Lời văn hùng tráng, đi vào lòng người, có sức cổ vũ mạnh mẽ đối với quần chúng

“Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến lần hai chống Mông – Nguyên (1285) là một bản hùng ca như vậy Toàn văn bài Hịch là lời kêu gọi tha thiết, sôi nổi, thể hiện lòng yêu nước, thương dân, chí căm thù, tinh thần dũng cảm của Trần Quốc Tuấn, cũng như của toàn thể nhân dân Đại Việt quyết tâm kháng chiến chống quân Mông – Nguyên xâm lược Tinh thần, ý chí đó được thể hiện ở việc: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đằm đìa, chỉ giận chưa thể ăn thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”

Bài Hịch khẳng định chí căm thù, tinh thần quyết chiến: “Giặc Mông – Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, không lo dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc Nếu vậy, rồi đây khi dẹp yên quân giặc, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa”

Bài Hịch cổ vũ nhân dân, binh sĩ hết lòng chiến đấu vì đại nghĩa

2.2.4 Diễn biến và kết quả.

- Tháng 1/1285, 50 vạn quân Mông – Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào Đại Việt

- Quân ta sau vài trận đánh địch ở biên giới đã rút về Vạn Kiếp và cuối cùng rút về Thiên Trường để bảo toàn lực lượng

- Cùng lúc ấy, Toa Đô từ Cham pa đánh ra Nghệ An và quân Thoát Hoan mở cuộc tấn công xuống phía Nam nhằm tạo thành một gọng kìm đẻ tiêu diệt quân ta

- Quân giặc vào tới Thăng Long và bị thiếu lương thực trầm trọng

- Tháng 5/1285, lợi dụng thời cơ thuận lợi, nhà Trần tổ chức các đợt phản công đánh bại quân giặc ở nhiều nơi: Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương và tiến vào giải phóng Thăng Long

- Kết quả: Quân giặc phần bị chết, phần còn lại chạy về nước Thoát Hoan chui vào ống đồng về nước, Toa Đô bị chém đầu ở Tây Kết Cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần 2 kết thúc thắng lợi, ĐV sạch bóng quân xâm lược

2.3 Lần 3:

2.3.1 Bối cảnh và Diễn biến trên sông Bạch Đằng.

* Bối cảnh:

- Nước Đại Việt đang trong giai đoạn phát triển cao, đạt được nhiều thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá… Qua hai lần chiến thắng quân Nguyên – Mông, quân đội nhà Trần càng được củng cố vững mạnh, khối đoàn kết dân tộc được tăng cường

- Để trả thù cho hai lần thất bại trước, nhà Nguyên tích cực chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ ba Tháng 12/1287, Thoát Hoan chỉ huy 30 vạn quân Nguyên ồ ạt tiến vào nước ta

- Đầu năm 1288, Thoát Hoan chọn Vạn Kiếp xây dựng căn cứ

- Đạo quân thủy gồm 600 chiến thuyền lớn do Ô Mã Nhi cầm đầu tiến vào cửa sông Bạch Đằng để rồi hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp

- Đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ hỉ huy theo sau Nhưng đã bị quân ta bố trí phục kích và tiêu diệt

Trang 5

- Tháng 1/1288, Thoát Hoan chia làm 3 đạo quân tiến vào Thăng Long Tại đây, ta thực hiện chủ trương “Vườn không nhà trống” Khiến quân Nguyên rơi vào tình thế khó khăn, lúng túng Thoát Hoan quyết định rút quân về nước

- Nhận thấy thời cơ thuận lợi, vua Trần và Trần Quốc Tuấn quyết định mở cuộc phản công

và tiến hành bố trí quân mai phục trên sông Bạch Đằng

- Tháng 4/1288, đoàn quân do Ô Mã Nhi chỉ huy rút theo đường thuỷ trên sông Bạch Đằng Khi cáng quân này tiến gần đến bãi cọc được bố trí trên sông, quân Trần khiêu khích rồi bỏ chạy, chờ khi nước triều rút xuống liền tổ chức phản công Quân của Ô Mã Nhi bị tiêu diệt hoàn toàn

- Cánh quân do Thoát Hoan chỉ huy từ Vạn Kiếp đến Lạng Sơn rút qua Quảng Tây (Trung Quốc) cũng bị truy kích và tiêu diệt Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi

→ Chiến thắng Bạch Đằng 1288 đà mãi mãi đi vào lịch sử như một biểu tượng về truyền thống yêu nước, bất khuất, quật cường của dân tộc ta Chiến thắng này đã làm cho quân thù khiếp sợ bỏ mộng xâm lược nước ta Một lần nữa, sức mạnh của nhà Trần được khẳng định, nền độc lập được củng cố.

2.3.2 Nguyên nhân thắng lợi của 3 lần k/c.

- Các cuộc kháng chiến này đều là các cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta do giai cấp phong kiến lãnh đạo nhằm bảo vệ độc lập, chống lại sự xâm lược của phong kiến nước ngoài

- Các cuộc kháng chiến này đều huy động được mọi tầng lớp dân tộc tham gia, mang tính chất nhân dân rộng rãi

- Trần Quốc Tuấn, người có công lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần

2 và 3 đã khẳng định nguồn gốc của sức mạnh để đánh thắng quân thù là “Cả nước ra sức đánh giặc, nên quân địch đã thất bại”

- Đường lối chiến lược, chiến thuật độc đáo với mưu mẹo giỏi của tướng lĩnh nhà Trần đã góp phần làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc Cả 3 lần đều tránh được mũi nhọn của giặc, đều rút khỏi Thăng Long, thực hiện “Vườn không nhà trống” khi giặc tới, luôn phục binh, tập kích bất ngờ, lấy ít địch nhiều…

- Có công của các tướng tài như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão…

- Một phần do các cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Mông – Nguyên là những cuộc chiến tranh phi nghĩa, Hao tiền tốn của nên họ vấp phải sự phản ứng của chính nhân dân trong nước do họ bị bóc lột nặng nề để chi phí cho chiến tranh

2.3.3 Ý nghĩa lịch sử:

- Thắng lợi của 3 lần chống Mông – Nguyên đã đập tan mưu đồ xâm lược của đế chế Mông – Nguyên, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Đánh bại được một kẻ thù hung bạo, hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ

- Thắng lợi này đã khẳng định sức mạnh của dân tộc ta, chiến thắng đó đã nâng cao lòng tự cường và tự hào dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân

- Thắng lợi đó góp phần xây đắp thêm truyền thống chiến đấu chống kẻ thù, làm phong phú thêm kho tàng quân sự chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc

- Góp phần ngăn chặn những cuộc xâm lược của quân Mông – Nguyên đối với Nhật Bản

và các nước phương Nam Mở đầu cho sự sụp đổ của đế chế Mông – Nguyên trên toàn châu Á

3 Khởi nghĩa Lam Sơn:

3.1 Bối cảnh lịch sử.

- Năm 1407, sau khi lật đổ nhà Hồ (1400-1407) nhà Minh chính thức đạt ách cai trị lên nước ta

Trang 6

- Dưới ách cai trị của nhà Minh, tình hình nước ta ngày càng kiệt quệ, nhân dân đói khổ lầm than Các cuộc khởi nghĩa nhằm lật đổ ách cai trị của nhà Minh liên tiếp nổ ra

- Lê Lợi, một tù trưởng có uy tín lớn ở vùng Lam Sơn (Thanh Hoá), trước cảnh nước mất nhà tan Ông đã triệu tập binh sĩ và lập căn cứ ở Lam Sơn Hào kiệt khắp nơi nhiệt liệt hưởng ứng quy tụ về, trong đó có Nguyễn Trãi

- Đầu năm 1416, Ông cùng 18 người trong Bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa đã tổ chức hội thề

ở Lũng Nhai (Thanh Hoá) Tháng 2/1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa và tự xưng là Bình Định Vương

3.2 Diễn biến các trận tiêu biểu (Tốt Động - Chúc Động; Chi Lăng – Xương Giang)

3.2.1 Chiến Thắng Tốt Động – Chúc Động (Tháng 11/1426)

a Bối cảnh:

- Sau 8 năm khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn ngày càng trở nên vững mạnh, chiếm lại được vùng đất rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào đến Tân Bình, Thuận Hóa (Thừa Thiên-Huế ngày nay), đang chuyển hướng tấn công ra Bắc

- Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến

- Quân Minh vào thế phòng ngự bị động, buộc đối phương phải co cụm về bảo vệ Đông Quan

b Diễn biến:

- Tháng 10/1426, 5 vạn viện binh do Vương Thông chỉ huy tiến về Đông Quan, nâng số quân Minh lên 10 vạn

- Sáng 7/11/1426: Vương Thông cho quân tiến về Cao Bộ

- Nghĩa quân mai phuc đánh địch ở Tốt Động, chặn đường rút lui ở Chúc Động, đánh tan tát đội hình của giặc

c Kết quả:

- Tiêu diệt 5 vạn, bắt sống 1 vạn địch

- Nhiều tướng giặc bị giết, Vương Thông bị thương phải tháo chạy

d Ý nghĩa:

- Kết cục của trận Tốt Động - Chúc Động đã làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông, đồng thời tạo ra lợi thế cho nghĩa quân Lam Sơn buộc quân Minh phải rút về cố thủ và chấp nhận đàm phán

- Đây là trận quyết chiến, một trong những thắng lợi quyết định toàn cục của cuộc khởi nghĩa

bị động sang chủ động tiến công lực lượng chủ lực của quân Minh

3.2.2 Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang:

a Trận Chi Lăng:

- Tháng 1/1427, nhà Minh điều quân chi viện cho Vương Thông hòng cứu nguy cho quân Minh nhằm tăng cường lực lượng quân sự để đàn áp cuộc khởi nghĩa Đây là một cố gắng lớn của nhà Minh Bộ chỉ huy khởi nghĩa vạch kế hoạch “Vây thành diệt viện” Bố trí quân chuẩn bị thế trận rồi dụ nhử địch lọt vào trận địa

- Ngày 10/10/1427, Liễu Thăng dẫn hơn 100 kị binh hung hăng tiến vào ải Chi Lăng Tướng Trần Lựu giả thua rồi dụ Liễu Thăng vào trận địa mai phục Phục binh của ta nổi dậy xông

ra diệt địch Liễu Thăng bị trúng lao mà chết, ta diệt gọn 100 kị binh, quân Minh hoảng loạn Ta thừa thắng, chia cắt đội hình địch ra tiêu diệt

b Trận Xương Giang:

- Sau trận Phố Cát, ta diệt khoảng 3 vạn địch, làm cho quân Minh hoang mang tuyệt vọng Tướng Mộc Thạch vẫn chờ tin tức Liễu Thăng ở vùng biên giới

- Lê Lợi liền cho người báo tin Liễu Thăng tử trận Sau đòn nhân tâm, Mộc Thạch khiếp

sợ Đang đêm vội cho quân tháo chạy Ta tung quân đuổi đánh và diệt hơn 1 vạn

Trang 7

- Tại Xương Giang, ta càng siết chặt vòng vây Đến ngày 15/10/1427, quân ta mở cuộc tổng công kích nhất loạt tấn công vào khu vực phòng ngự của địch Ta bắt sống được Lôi Tụ, Hoàng Phúc và hơn 300 tướng địch và hơn 1 vạn quân

- Kết quả: Sau 27 ngày chiến đấu, ta diệt 10 vạn quân viện binh của Liễu Thăng và đánh

tan 5 vạn quân của Mộc Thạch Vương Thông khiếp đảm rút quân về nước Đầu năm 1428, nước

ta sạch bóng quân thù

- Ý nghĩa: Chiến dịch diệt viện là trận quyết chiến chiến lược đã định đoạt cuộc chiến

tranh GPDT Bằng thắng lợi này quân ta đã đập tan cố gắng chiến tranh lớn nhất của nhà Minh, buộc Vương Thông ra hàng, kết thúc mưu đồ xâm lược của nhà Minh

3.3 Nguyên nhân thắng lợi:

- Do biết phát huy đoàn kết chống ngoại xâm của dân tộc

- Trong một số hoàn cảnh mới, nghĩa quân Lam Sơn đã biêt qui tụ được trí tuệ và ý chí chiến đấu của mọi tầng lớp nhân dân

- Cuộc khởi nghĩa này đã duy trì được lòng dân và được nhân dân bảo vệ

- Bộ tham mưu nghĩa quân thể hiện rõ tài năng của mình về quân sự và ngoại giao Trong

đó nổi bật lên hai nhân vật kiệt xuất: Lê Lợi và Nguyễn Trãi

3.4 Bài Cáo Bình Ngô:

- Cáo Bình Ngô là bản hùng ca do Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi soạn thảo để công bố trước toàn dân, sau khi đất nước hoàn toàn sạch bóng quân thù (đầu năm 1428) Xuất phát từ niềm tự hào sâu sắc của dân tộc, đã từng “cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ mộy phương” và từ lòng căm thù giặc độc ác “Chặt hết trúc Nam Sơn cũng không ghi hết tội” Bình Ngô Đại Cáo thể hiện tinh thần nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam Lần đầu tiên có một tài liệu nêu rõ mục tiêu của cuộc kháng chiến là “vì dân”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

- Đồng thời tác giả cũng nêu cao tinh thần: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn; Đem chí nhân để thay cường bạo” của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong cuộc chiến đấu lâu dài và đầy gian khổ

- Trong cuộc chiến tranh ấy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Bộ chỉ huy khởi nghĩa ngoài dùng quân sự còn chủ trương đấu tranh nghị hoà với địch Đó là cuộc đấu tranh chính trị ngoại giao nhằm vạch trần bản chất phi nghĩa của cuộc chiến và sự ngoan cố của kẻ thù Vận động, thuyết phục đồng thời mở lối thoát cho chúng.Ta cũng tiến hành địch vận đồng thời dùng quân sự giáng những đòn chí mạng làm cho quân thù khuất phục…

4 Tây Sơn đánh tan quân Thanh:

4.1 Bối cảnh lịch sử.

- Từ năm 1786 đến giữa 1788, quân Tây Sơn đã ba lần tiến quân ra Bắc, lật đổ các tập đoàn Lê – Trịnh

- Lê Chiêu Thống trong thế cùng lực kiệt đã cầu cứu nhà Thanh Vua Thanh là Càn Long nhân cơ hội này thực hiện âm mưu xâm lược nước ta, mở rộng lãnh thổ về phía Nam

- Cuối năm 1788, nhà Thanh cử Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân, chia làm 4 đạo tiến vào nước ta

- Trước thế mạnh của giặc, nghĩa quân Tây Sơn đã lập phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn

- Tại Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho quân lính cướp bóc, đốt nhà, giết người tàn bạo → Lòng căm thù quân cướp nước, bán nước của nhân dân lên cao độ

4.2 Quá trình Quang Trung tiến quân ra Bắc.

- Khi hay tin nhà Thanh sang xâm lược, cuối năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung và tiến quân ra Bắc

- Trên đường đi, Quang Trung đã tiến hành tuyển thêm quân ở Vĩnh Doanh (Thanh Hoá)

và tổ chức các cuộc duyệt binh lớn Tại lễ tuyên thề và trong lời dụ tướng sĩ, Quang Trung đã thể

Trang 8

hiện rõ quyết tâm đánh tan quân ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc Quyết tâm đó được thể hiện bằng lời bất hủ:

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để răng đen

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”

- Kế hoạch tiến quân của Quang Trung: Ông chia quân làm 5 đạo:

+ Đạo chủ lực: Do Quang Trung chỉ huy, trực tiếp tiến theo hướng Thăng Long

+ Đạo thứ hai và thứ ba: Đánh vào tây nam Thăng Long

+ Đạo thứ tư: Tiến theo phía Hải Dương

+ Đạo thứ năm: Tiến lên Lạng Giang chặn đường rút lui của giặc

4.3.Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.

- Đêm 30 tết, quân ta vượt sông Gián Khẩu và tiêu diệt toàn bộ địch ở đồn tiền tiêu

- Đêm mồng 3 tết, quân ta bí mật bao vây đồn Hà Hồi Quân giặc bị bao vây và bị đánh bất ngờ nên nhanh chóng hạ khí giới đầu hàng

- Mờ sáng mồng 5 tết, quân ta đánh đồn Ngọc Hồi (Thanh Trì - HN)

- Cùng thời gian đó, cánh quân của đô đốc Long tiến đánh đồn Đống Đa

- Kết quả: + Tướng giặc Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử; Tôn Sĩ Nghị bàng hoàng mất vía, trốn chạy sang Gia Lâm

+ Trưa mồng 5 tết Kỉ Dậu (30/1/1789), vua Quang Trung dẫn đầu quân sĩ tiến vào Thăng Long trong tiếng reo hò của nhân dân

4.4 Ý nghĩa lịch sử:

- Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đã đi vào lịch sử như một trong những chiến công hiển hách nhất nhất trong lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc ta

- Với chiến thắng này, phong trào Tây Sơn đã bước đầu hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc

4.5 Đánh giá về công lao phong trào Tây Sơn:

- Phong trào Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn và đánh tan quân xâm lược Xiêm:

+ Từ 1773 đến năm 1783, quân Tây Sơn đánh chiếm phủ Quy Nhơn, Phú Xuân, và Gia Định Chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong bị lật đổ

+ Từ 1784 đến năm 1785, quân Tây Sơn đánh bại quân xâm lược Xiêm với chiến thắng tiêu biểu Rạch Gầm – Xoài Mút

- Phong trào Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Trịnh

+ Giữa năm 1788, Nguyễn Huệ cho quân đánh vào Thăng Long Chính quyền chúa Trịnh

bị lật đổ

+ Cùng với việc tiêu diệt chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong, việc quân Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Trịnh ở Đàng Ngoài đã tạo ra những điều kiện cơ bản thống nhất đất nước

- Phong trào Tây Sơn đánh tan quân xâm lược nhà Thanh: Với chiến thắng Ngọc Hồi – Đống

Đa, quân Tây Sơn đã đánh bại 29 vạn quân Thanh, giải phóng hoàn toàn đất nước

Như vậy công lao to lớn của quân Tây Sơn vừa thống nhất đất nước gắn liền với giành và bảo vệ độc lập dân tộc

Ngày đăng: 15/05/2018, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w