1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bai giang mon LUAT KINH TE

69 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 752 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành Luật Kinh tế đã hình thành tại các nước tư bản từ đầu thế kỷ XX. Tới những năm 60, 70 ở Liên Xô (cũ) ngành luật này cũng đã được hình thành. Tại Việt Nam, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đòi hỏi nhà nước phải trực tiếp tham gia tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, Luật Kinh tế với tư cách là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng được hình thành từ những năm 70 của thế kỷ XX. Cho tới những năm gần đây, trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, quan điểm của nhà nước Việt Nam về quản lý các hoạt động kinh tế thay đổi. Theo đó, nhà nước không can thiệp sâu vào các quá trình kinh tế cụ thể mà xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tạo một môi trường pháp lý, một hành lang pháp luật nhằm bảo đảm tính tự chủ, tự do kinh doanh, tự định đoạt của các chủ thể kinh doanh. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế nội dung của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế có nhiều thay đổi. Ở góc độ lý luận, ngày càng đông đảo các nhà khoa học pháp lý cho rằng, với nội dung đó tên gọi ngành Luật Kinh tế không còn phù hợp, ngành luật này cần được gọi là ngành Luật Thương mại. Bên cạnh đó, từ lâu nay, tại Việt Nam vẫn tồn tại một tên gọi khác đối với các quy định của pháp về lĩnh vực kinh tế là Luật Kinh doanh. Tuy nhiên, tên gọi này chủ yếu được hiểu với danh nghĩa một môn học.

Trang 2

CHƯƠNG I

GIỚI THIỆU VỀ LUẬT KINH TẾ

I KHÁI QUÁT VỀ LUẬT KINH TẾ

l Luật Kinh tế trong khoa học pháp lý

a Cơ sở thực tiễn của ngành Luật kinh tế

Ngành Luật Kinh tế đã hình thành tại các nước tư bản từ đầu thế kỷ XX Tới những năm 60, 70 ởLiên Xô (cũ) ngành luật này cũng đã được hình thành Tại Việt Nam, để thực hiện thắng lợi sự nghiệpgiải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đòi hỏi nhà nước phải trực tiếp tham gia tổ chức, điều hành cáchoạt động kinh tế, Luật Kinh tế với tư cách là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũngđược hình thành từ những năm 70 của thế kỷ XX Cho tới những năm gần đây, trong quá trình hội nhậpvới nền kinh tế thế giới, quan điểm của nhà nước Việt Nam về quản lý các hoạt động kinh tế thay đổi.Theo đó, nhà nước không can thiệp sâu vào các quá trình kinh tế cụ thể mà xây dựng một hệ thống phápluật hoàn chỉnh, tạo một môi trường pháp lý, một hành lang pháp luật nhằm bảo đảm tính tự chủ, tự dokinh doanh, tự định đoạt của các chủ thể kinh doanh Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu xâydựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhànước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chính vì thế nội dung của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế cónhiều thay đổi Ở góc độ lý luận, ngày càng đông đảo các nhà khoa học pháp lý cho rằng, với nội dung

đó tên gọi ngành Luật Kinh tế không còn phù hợp, ngành luật này cần được gọi là ngành Luật Thươngmại Bên cạnh đó, từ lâu nay, tại Việt Nam vẫn tồn tại một tên gọi khác đối với các quy định của pháp vềlĩnh vực kinh tế là Luật Kinh doanh Tuy nhiên, tên gọi này chủ yếu được hiểu với danh nghĩa một mônhọc

b Một số vấn đề cơ bản của ngành Luật Kinh tế

* Chủ thể tham gia quan hệ kinh tế

- Cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quản lý mọi mặt của đời sống xã hội,trong đó có lĩnh vực kinh tế Cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là hệ thống cơquan hành chính nhà nước gồm Chính phủ vả Uỷ ban nhân nhân các cấp Trong quan hệ giữa cơ quanquản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh thì các cơ quan hành chính nhà nước có quyềnlực nhà nước giữ vai trò quản lý, các chủ thể kinh doanh là đối tượng chịu sự quản lý

- Chủ thể kinh doanh

Trong nền kinh tế tập trung trước đây ở Việt Nam chỉ có hai loại chủ thể kinh doanh là doanhnghiệp quốc doanh, tổ chức kinh tế tập thể Khi xây dựng nền kinh tế thị trường có thêm một số chủ thểkinh doanh Hiện nay chủ thể kinh doanh gồm các thương nhân theo quy định của Luật Thương Mại (tổchức kinh tế, cá nhân có đăng ký kinh doanh, tổ hợp tác, hộ gia đình, thương nhân nước ngoài) Trong đóchủ thể kinh doanh cơ bản là các doanh nghiệp, vì chúng tiến hành thường xuyên, liên tục các hoạt độngkinh doanh, thương mại thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế

- Chủ thể khác

Bao gồm các tổ chức, cá nhân Việt nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài có quan hệ với thươngnhân trong quá trình thương nhân thực hiện hành vi thương mại và lựa chọn điều chỉnh quan hệ này bằngLuật Thương Mại Ngoài ra là các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam và các hoạtđộng đầu tư ra nước ngoài theo Luật Đầu tư Đây là các chủ thể không thường xuyên tiến hành các hoạtđộng kinh doanh, tuy nhiên lại có số lượng khá lớn

* Quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Kinh tế

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung là các quan hệ xã hội mà pháp luật tác động tới.Luật Kinh tế tác động tới các quan hệ sau đây:

- Quan hệ phát sinh giữa cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thểkinh doanh:

Trong quan hệ này, một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện có chức năng quản lý,một bên là các tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý nên có địa vị pháp lý không bình đẳng Căn cứ pháp lýcủa quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh là vănbản pháp luật do nhà nước ban hành

- Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau:

Trang 3

Để thực hiện hoạt động kinh tế, thương mại, các chủ thể kinh doanh cần thiết lập quan hệ kinh tếvới nhau Trong quan hệ này, các chủ thể kinh doanh bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý Cơ sở pháp lýcủa quan hệ này là hợp đồng được giao kết giữa các bên

- Quan hệ trong nội bộ chủ thể kinh doanh:

Để tiến hành các hoạt động thương mại các chủ thể kinh doanh cần lập ra nhiều phân xưởng, tổđội sản xuất, phòng, ban chuyên môn, thậm chí lập nhiều đơn vị kinh doanh độc lập Như vậy, quan hệnội bộ của các chủ thể kinh doanh khá đa dạng, trong đó gồm quan hệ quản lý, điều phối và quan hệ hợptác, hỗ trợ Cơ sở pháp lý của quan hệ này là các văn bản do chính chủ thể kinh doanh xây dựng nhưĐiều lệ, nội quy, quy chế

2 Một số khái niệm của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế

a Khái niệm Luật Kinh tế

Là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan quản lýnhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh, quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và quan

hệ giữa các chủ thể kinh doanh với các tổ chức, cá nhân khác trong quá trình các chủ thể kinh doanh thựchiện các hành vi đầu tư, thương mại vì mục đích phát sinh lợi nhuận

b Khái niệm Luật Thương mại

Là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động thương mại giữa các thương nhân vớinhau và với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền

c Khái niệm Luật Kinh doanh

Là tổng thể các quy phạm điều chỉnh các quan hệ gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa các chủ thể kinh doanh

Ngoài ra, trong thực tiễn còn tồn tại một khái niệm liên quan đến nội dung này là pháp luật kinh

tế Đây không phải là một ngành luật mà là một khái niệm tổng hợp bao gồm tổng thể các quy phạmpháp luật liên quan đến quá trình tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh gồm nhiều ngành luậtkhác nhau như Luật Kinh tế, Luật Lao động, Luật Đất đai

II GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC LUẬT KINH TÊ

1 Quan điểm về môn học Luật Kinh tế

Đối với bậc đại học, ngoài việc trang bị kiến thức pháp lý chung còn cần trang bị kiến thứcchuyên môn theo chuyên ngành đào tạo của sinh viên sau khi ra trường để phục vụ cho hoạt động nghềnghiệp của họ, cần được trang bị đầy đủ kiến thức pháp lý liên quan đến lĩnh vực kinh tế theo nghĩa rộng

để phù hợp với tất cả các chuyên ngành hẹp mà người học được đào tạo là kinh tế, kế toán, quản trị kinhdoanh

Đây là yêu cầu mang tính khoa học thuộc khoa học ngành giáo dục Mục tiêu đào tạo trên sẽ chiphối, quyết định nội dung của môn học Luật Kinh tế Từ căn cứ trên cần xác định:

- Luật kinh tế là một môn học được xây dựng theo tiêu chí của khoa học giáo dục, không xâydựng theo tiêu chí ngành luật của khoa học pháp lý

- Nội dung của môn học Luật kinh tế là các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực kinh

tế phù hợp với đối tượng và định hướng đào tạo, trong đó nội dung ngành Luật Kinh tế là chủ đạo

2 Nội dung của môn học Luật Kinh tế

Phù hợp với mục tiêu đào tạo, với các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực kinh tế,nội dung môn học luật kinh tế gồm:

a Quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của các chủ thể

Hoạt động kinh tế rất phức tạp nên có nhiều loại chủ thể tham gia Trong đó, mỗi chủ thể có một

vị trí, vai trò riêng và luật kinh tế cần phải xác định được địa vị pháp lý của từng loại chủ thể đó để thiếtlập một cơ sở pháp lý cho chúng hoạt động Qua đó sẽ duy trì một trật tự trong quan hệ kinh tế, quan hệkinh doanh, thương mại và bảo đảm sự ổn định của môi trường đầu tư, kinh doanh cũng như sự phát triểncủa nền kinh tế Các văn bản quy định về nội dung pháp lý này là Luật Tổ chức Chính phủ, Luật tổ chứcHội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã,

b Quy định của pháp luật về hành vi kinh doanh của chủ thể kinh doanh

Với tư cách là chủ thể cơ bản nên Luật Kinh tế đã có nhiều quy định về các chủ thể kinh doanh.Trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam hiện nay có nhiều loại chủ thể kinh doanh hoạt động

Trang 4

trên nhiều địa bàn, lĩnh vực, ngành nghề và theo nhiều hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau LuậtKinh tế xác định rõ hành vi kinh doanh cho mỗi chủ thể kinh doanh phù hợp với mỗi yếu tố đó nhằm tạolập môi trường đầu tư, kinh doanh tốt bảo đảm an toàn cho các chủ thể kinh doanh và sự phát triển củanền kinh tế Các văn bản quan trọng quy định về nội dung pháp lý này là Luật Doanh nghiệp, Luật Hợptác xã, Luật Đầu tư, Luật cạnh tranh

c Quy định của pháp luật về môi trường đầu tư, kinh doanh

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ngoài các lợi ích kinh tế chung, mỗi chủ thểkinh doanh đều có lợi ích kinh tế riêng, do đó dẫn đến các xung đột về lợi ích làm phát sinh tình trạngcạnh tranh không lành mạnh và các tranh chấp kinh tế Để hạn chế những yếu tố tiêu cực tất yếu sẽ diễn

ra trong nền kinh tế thị trường như vừa nêu trên, nhà nước đã sử dụng quyền "có sự quản lý của nhànước" trong lĩnh vực kinh tế để ban hành các văn băn pháp luật về nội dung này mà cơ bản là Luật Đầu

tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh

d Quy định của pháp luật về tài phán trong kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường vận hành theo quy luật cạnh tranh tất yếu dẫn đến những mâu thuẫnlàm nảy sinh tranh chấp kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh và những tranh chấp này ngày càng trở lênphức tạp Vì lợi ích của chủ thể kinh doanh, đồng thời vì lợi ích của cả nền kinh tế, nhà nước tham giagiải quyết tranh chấp kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh Luật kinh tế quy định rõ các cơ quan có quyềntài phán và trình tự, thủ tục thực hiện việc tài phán trong kinh doanh Hiện nay, các văn bản pháp luậtquan trọng quy định nội dung pháp lý này là Luật Thương Mại, Bộ Luật Tố tụng dân sự, Pháp lệnh Trọngtài thương mại

đ Quy định của pháp luật về phá sản tổ chức kinh tế và cá nhân có đăng ký kinh doanh

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt tất yếu dẫn đến hiện tượng có chức kinh tế và cánhân có đăng ký kinh doanh phát triển nhanh chóng, ngược lại có thể lâm vào tình trạng xấu về tài chính

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, như tổ chức kinh tế và cá nhân có đăng ký kinh doanhkhông kịp thích ứng với thị trường, do yếu kém trong quản lý kinh tế Trước thực tế đó, nhằm bảo vệquyền, lợi ích về tài sản của chủ nợ, bảo vệ người lao động, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và bảo vệchính tổ chức kinh tế và cá nhân có đăng ký kinh doanh lâm vào tình trạng phá sản, thông qua Luật kinh

tế nhà nước quy định về cơ quan có thẩm quyền, điều kiện, trình tự thủ tục phá sản tổ chức kinh tế Hiệnnay, văn bản pháp luật quy định về nội dung này là Luật phá sản

Trang 5

Chương II

PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

I GIỚI THIỆU VỀ QUÀN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NUỚC

VỀ KINH TẾ

1 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế

Quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về kinh tế nói riêng được nhiều môn khoa học nghiêncứu nên có nhiều khái niệm khác nhau Dưới góc độ kinh tế - pháp lý, quản lý nhà nước về kinh tế được hiểunhư sau:

Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động về mặt tổ chức và điều chỉnh mang tính chất quyền lực của nhà nước lên các quá trình kinh tế làm cho quá trình ấy phát triển phù hợp với các quy luật kinh

tế nhằm đạt tới những mục tiêu đã định trước.

2 Cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế

Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm 4 hệ thống cơ quan nhà nước Mỗi

hệ thống đó có chức năng, nhiệm vụ riêng, trong đó hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có chức năngquản lý mọi mặt đời sống xã hội, đây cũng là hệ thống cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về kinhtế

Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế của Việt Nam gồm Chính Phủ và Uỷ ban nhân dâncác cấp

Do tính chất phức tạp của hoạt động quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về kinh tếnói riêng, Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp lập các cơ quan quản lý chuyên môn để thực hiện chứcnăng quản lý theo từng ngành, lĩnh vực Do vậy, cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt nam hiệnnay được chia thành hai loại như sau:

- Cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế có thẩm quyền chung: gồm Chính phủ và Uỷ ban nhân

dân các cấp

- Cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế có thẩm quyền chuyên môn: gồm các Bộ, sở, phòng

Tuy nhiên, không phải tất các cơ quan chuyên môn của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp(Bộ, Sở, Phòng ) đều có thẩm quyền trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về kinh tế

II THẨM QUYỀN CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

1 Thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế có thẩm quyền chung

a Thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế của Chính phủ

Theo Luật Tổ chức Chính phủ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam thôngqua ngày 25 tháng 12 năm 2001, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế có thẩm quyềnchung ở cấp trung ương, Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa; củng cố và phát triển kinh tế nhà nước, chú trọng các ngành và lĩnh vực then chốt để bảo đảmvai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể tạo thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; quyếtđịnh chính sách cụ thể để phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, thúc đẩy sự hình thành, pháttriển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là nội dung quản

lý được Chính phủ thực hiện phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế được đề ra từ Đại hội Đại biểutoàn quốc của Đảng lần thứ VI, năm 1986

- Quyết định chính sách cụ thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, chú trọng côngnghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcđược tiến hành trong một phần tư thế kỷ là chặng đường dài với nhiều công việc cần phải thực hiện Phùhợp với từng bước đi, từng giai đoạn thực hiện sự nghiệp lớn này, Chính phủ cần đưa ra các quyết định

cụ thể

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hộidài hạn, năm năm, hàng năm đã trình và được Quốc hội thông qua Là cơ quan quản lý nhà nước cao nhấttrong bộ máy nhà nước, Chính phủ xây dựng các dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội trình cơ quan quyền lực tối cao là Quốc Hội thông qua Sau khi đã được thông qua, Chính phủ phải bảođảm thực hiện chúng

Trang 6

- Trình Quốc hội dự toán ngân sách nhà nước, dự kiến phân bổ ngân sách trung ương và mức bổsung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, tổng quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm;

tổ chức và điều hành thực hiện ngân sách nhà nước được Quốc hội quyết định Chính phủ cần bảo đảm

sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài chính của nhà nước Luật Ngân sách nhà nước đã quy định cụ thểnội dung này

- Quyết định chính sách cụ thể, các biện pháp về tài chính, tiền tệ tiền lương, giá cả Đây là cácvấn đề liên quan trực tiếp đến nhiều đối tượng, đến sự ổn định của đời sống xã hội Thực hiện các côngviệc này là các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Chính phủ Tuy nhiên, Chính phủ phải đưa ra cácchính sách, các biện pháp về các nội dung này trong các trường hợp cần thiết làm căn cứ để các cơ quanchuyên môn tiến hành tổ chức thực hiện

- Thống nhất quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân, tài nguyên quốc gia;thi hành chính sách tiết kiệm; thực hiện chức năng chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp

có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật Thi hành chính sách bảo vệ, cải tạo, tái sinh và sử dụnghợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Toàn bộ tài nguyên của quốc gia gồm đất đai, khoáng sản tronglòng đất, lòng biển và các tài sản khác thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu cầnđược bảo vệ, quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả vì lợi ích của nhà nước, của cộng đồng để khai thác sửdụng lâu dài phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước

- Thống nhất quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sởphát huy nội lực của đất nước, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với các quốc gia, tổ chức quốc tếtrên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất trong nước.Chính phủ quyết định chính sách cụ thể khuyến khích doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thamgia hoạt động kinh tế đối ngoại; khuyến khích đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi để người ViệtNam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước Nội dung này phù hợp với chủ trương Việt Nam muốn là bạn

và trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước đã được Đảng Cộng sản đề ra từ Đại hội đại biểu Đảngtoàn quốc lần thứ VI, năm 1986 Trong đó, cả hai nội dung cơ bản là hoạt động đầu tư và hoạt động ngoạithương thời gian qua được Chính phủ lãnh đạo thực hiện thành công Đây là tiền đề để Nhà nước đẩymạnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thu được các thành tựu lớn hơn trong hoạt động kinh tế đối ngoại

- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước Để thực hiện công việc quantrọng này, Chính phủ lập các cơ quan chuyên môn tham mưu và chỉ đạo hoạt động của các cơ quan này.Trong lĩnh vực kinh tế, số liệu thống kê, kiểm kê giúp Chính phủ nắm được tình trạng và thực lực củanền kinh tế, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế phù hợp

b Thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế của Uỷ ban nhân dân

Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước vềkinh tế có thẩm quyền chung ở địa phương, Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấpthông qua để trình cơ quan quản lý nhà nước cấp trên phê duyệt và tổ chức, kiểm tra việc thực hiện kếhoạch đó Trên cơ sở nắm chắc tình hình của địa phương, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,nhằm khai thác thế mạnh riêng của địa phương mình, Uỷ ban nhân dân các cấp xây dựng kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội hàng năm trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức, kiểm tra việc thựchiện

- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương,phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; quyết toán ngân sách địa phương; lập, điều chỉnh ngânsách địa phương trong trường hợp cần thiết trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơquan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương;hướng dẫn, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cấp dưới xây dựng, thực hiện ngân sách và kiểm tra nghị quyết củaHội đồng nhân dân cấp dưới về thực hiện ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật Đây là nộidung quan trọng nhằm thống nhất quản lý nhà nước để sử dụng hiệu quả nguồn tài chính nhà nước củađịa phương Công tác quản lý tài chính đã được quy định cụ thể trong Luật Ngân sách và các văn bản luậtliên quan

Trang 7

Ngoài thẩm quyền chung nêu trên, trong lĩnh vực kinh tế, cấp quản lý nhà nước cao nhất và cấp quản

lý nhà nước thấp nhất ở địa phương, do đặc thù về thẩm quyền quản lý của mình còn có thẩm quyền riêng cụthể như sau:

* Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

+ Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, phát triển đô thị và nôngthôn trong phạm vi quản lý; xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh trình Hội đồng nhân dân thông qua để trình Chính phủ phê duyệt

+ Tham gia với các bộ, ngành trung ương trong việc phân vùng kinh tế, xây dựng các chương trình, dự áncủa bộ, ngành trung ương trên địa bàn tỉnh; tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ thuộcchương trình, dự án được giao

+ Xây dựng đề án thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn trình Hội đồngnhân dân quyết định

+ Xây dựng đề án phân cấp chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của địaphương theo quy định của pháp luật để trình Hội đồng nhân dân quyết định; tổ chức, chỉ đạo thực hiện đề

án sau khi được Hội đồng nhân dân thông qua

+ Lập quỹ dự trữ tài chính theo quy định của pháp luật trình Hội đồng nhân dân cùng cấp và báo cáo cơquan tài chính cấp trên

+ Thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp và quyền đại diệnchủ sở hữu về đất đai tại địa phương theo quy định của pháp luật

* Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã

+ Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở địaphương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế,công trình điện, nước theo quy định của pháp luật

+ Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng củađịa phương trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, cókiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật

2 Thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế có thẩm quyền chuyên môn

a Thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế của Bộ, cơ quan ngang bộ

Là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng quản lý nhà nước đối với một ngành kinh tế trênphạm vi cả nước, thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế của các bộ, cơ quan ngang bộ bao gồm:

- Trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, cáccông trình quan trọng của ngành, lĩnh vực; tổ chức và chỉ đạo thực hiện khi được phê duyệt Là cơ quanchuyên môn, hiểu rõ điều kiện và yêu cẩu phát triển của ngành mình, các Bộ, cơ quan ngang bộ xây dựngchiến lược, quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực mình trình Chính phủ và trực tiếp tổ chức, chỉ đạothực hiện Các nội dung này phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển tổng thể, kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội chung do Chính phủ xây dựng

- Chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác theo sự phân công của Chính phủ TrìnhChính phủ việc ký kết, gia nhập, phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc ngành, lĩnh vực; tổ chức và chỉđạo thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế, điều ước quốc tế theo quy định của Chính phủ Nắm chắc cácvấn đề chuyên môn thuộc ngành và lĩnh vực quản lý của mình, để hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tếthế giới các Bộ, cơ quan ngang bộ chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh theo sự phân công và tham mưu

về việc ký kết, gia nhập, phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc ngành, lĩnh vực chuyên môn

- Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, côngnghệ; Quyết định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành.Khoa học, công nghệ đã trở thành Quốc sách, việc áp dụng khoa học, cộng nghệ quyết định sự sống còncủa cả nền kinh tế trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới Dovậy, phát triển khoa học là một sự nghiệp nên các Bộ, cơ quan ngang bộ phải coi trọng công tác này trongngành, lĩnh vực quản lý của mình

- Tổ chức bộ máy quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính phủ; trình Chính phủ quyếtđịnh phân cấp nhiệm vụ quản lý nhà nước cho Uỷ ban nhân dân địa phương về nội dung quản lý ngành,lĩnh vực để tiến hành khoa học, hiệu quả hoạt động quản lý thông qua sự phân công, phối hợp; bảo đảmthông suốt, nhịp nhàng, đồng bộ giữa các bộ phận trong nội bộ các cơ quan này và giữa các cấp quản lý

Trang 8

- Quản lý nhà nước các tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực, bảođảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật; bảođảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân do ngành, lĩnh vực mình phụ trách; thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp cóvốn nhà nước theo quy định của pháp luật Đồng thời các Bộ và cơ quan ngang bộ có thẩm quyền quản lýnhà nước đối với các tổ chức kinh tế, hội, tổ chức phi chính phủ thuộc ngành, lĩnh vực.

- Quản lý và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệuquả ngân sách nhà nước Nội dung này được các Bộ, cơ quan ngang bộ tiến hành theo quy định của LuậtNgân sách và đề án phân bổ ngân sách đã được Chính phủ phê duyệt

b Thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế của sở, ban ngành

Là cơ quan do UBND thành lập, giúp UBND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Đâychính là các cơ quan trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể (kể cả các hoạt động tác nghiệp kỹ thuật) vềkinh tế thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân các cấp như: thu thuế, quản lý tài chính, cấp giấy phépđăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư, giải thể doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước

về kinh tế, các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn còn chịu sự quản lý của cơ quan quản lý chuyên môncấp trên trực tiếp

Trang 9

CHƯƠNG III

PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ

I GIỚI THIỆU VỀ PHÁP LUẬT VÊ ĐẦU TƯ

1 Pháp luật về đầu tư của Việt Nam

a Pháp luật về đầu tư của Việt Nam trước năm 2006

Trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế tập trung, trách nhiệm đầu tư phát triển các lĩnh vực của đời sống

xã hội thuộc về nhà nước Nhà nước không khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội đầu tưphát triển sản xuất Thậm chí, nhà nước nghiêm cấm hoặc hạn chế việc đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanhcủa nhiều đối tượng trong xã hội, kể cả tổ chức, cá nhân nước ngoài Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường,Nhà nước Việt Nam đã thực hiện đa dạng hoá các nguồn đầu tư Trong giai đoạn đầu, nhà nước Việt Namthực thi hai chính sách đầu tư riêng biệt là chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và chính sách khuyếnkhích đầu tư nước ngoài

* Đối với đầu tư trong nước

Ngày 22/6/1994 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật khuyếnkhích đầu tư trong nước sau đó là Luật sửa đổi Luật khuyến khích đầu tư trong nước ngày 20/5/1998.Luật này nhằm bảo hộ, khuyến khích, đối xử bình đẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cánhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài định cư tại Việt Nam đầu tưvào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam Tại các Luật này quy định về các hình thức đầu

tư, các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhànước đối với việc khuyến khích đầu tư trong nước Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã thể hiện đầy

đủ, toàn diện quan điểm của nhà nước Việt Nam về đầu tư trong nước nói riêng nhằm khơi dậy nguồn lựctài chính trong dân cư, một trong các nguồn nội lực quan trọng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau Luật này đã không có nhiều giá trị trong thựctiễn

* Đối với đầu tư nước ngoài

Ngày 29/12/1987 Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam Ngày 12/11/1996, Quốc Hội ban hành Luật đầu tư nước ngoài thay thế Ngoài

ra, Quốc Hội nhiều lần sửa đổi, bổ sung các văn bản Luật đầu tư nước ngoài nêu trên vào ngày30/6/1990; 23/12/1992 và ngày 9/6/2000 Các văn bản Luật và Luật sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư nướcngoài tại Việt Nam ngày càng có nội dung thông thoáng và gần với thông lệ quốc tế, luật pháp quốc tế vềđầu tư Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng đã quán triệt được chính sách Việt Nam muốn là bạn

và trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước do Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra Kết hợp với môitrường đầu tư thuận lợi, tuy có nhiều bước thăng trầm nhưng nói chung hoạt động đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam đã đạt được thành quả to lớn

b Pháp luật về đầu tư của Việt Nam hiện nay

Với quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tích cực và chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở phát huy giá trị các chính sách đầu tư và phát huy thành tựu của hoạtđộng đầu tư, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã banhành Luật đầu tư thay thế cho Luật đầu tư trong nước năm 1994 được sửa đổi năm 1998 và Luật đầu tưnước ngoài năm 1996 được sửa đổi năm 2000 Như vậy, hiện nay Việt Nam thực hiện thống nhất mộtchính sách đầu tư chung, không phân biệt đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài Đây là căn cứ pháp

lý quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước, hoạt động đầu tư nước ngoài, đặc biệt là hoạt độngđầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Việt Nam Bằng chính sách này, nhà nước Việt Nam mong muốnthực hiện hiệu quả hơn hoạt động đầu tư để góp phần huy động nguồn tài chính và khoa học, công nghệcho phát triển kinh tế của đất nước qua đó góp phần xác định vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế quốc

tế và khu vực

2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về đầu tư

Luật đầu tư năm 2005 ghi nhận chính sách đầu tư của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam như sau:

- Nhà đầu tư được đầu tư trong các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tựchủ và quyết định hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 10

- Thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong nướccũng như nhà đầu tư nước ngoài.

- Đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu

tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư

- Khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư.Các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư được ghi nhận trong Luật đầu tư năm 2005

- Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp phápkhác của nhà đầu tư

- Cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư mà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam là thành viên

Chính sách đầu tư của Nhà nước Việt Nam được ghi nhận trong Luật Đầu tư năm 2005 rất rõràng và đầy đủ, đáp ứng được mong mỏi và làm thoả mãn tâm lý của các nhà đầu tư trong nước, đặc biệtnhà đầu tư ngoài nước Bởi chính sách này đã tạo ra môi trường pháp lý, môi trường đầu tư ổn định,thông thoáng cho hoạt động đầu tư nói chung Mặt khác, thực thi chính sách này vẫn bảo đảm vai tròquản lý của nhà nước Việt Nam về đầu tư phù hợp định hướng phát triển nền kinh tế của đất nước

3 Chính sách về đầu tư kinh doanh vốn nhà nước

Vốn nhà nước là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảolãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước Do tầm quan trọng

và tính chất riêng của hoạt động đầu tư vốn của nhà nước, trước đây nhà nước Việt Nam xác lập khungpháp lý riêng cho nội dung này Hiện nay, Luật đầu tư năm 2005 chỉ còn ghi nhận chính sách đối với hoạtđộng đầu tư kinh doanh vốn của nhà nước như sau:

- Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội trong từng thời kỳ

- Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước phải đúng mục tiêu và có hiệu quả, bảo đảm có phương thứcquản lý phù hợp đối với từng nguồn vốn từng loại dự án đầu tư, quá trình đầu tư được thực hiện côngkhai, minh bạch

- Nhà nước phân định rõ trách nhiệm, quyền của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong từng khâucủa quá trình đầu tư, thực hiện phân công, phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư, kinh doanh sử dụng vốnnhà nước Trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước vào tổ chức kinh tế được thực hiện thông quaTổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước Đây là tổ chức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữuvốn nhà nước tại tổ chức kinh tế có vốn nhà nước có trách nhiệm bảo toàn, phát triển và sử dụng vốn cóhiệu quả

- Dự án đầu tư thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có hiệu quảkinh tế - xã hội, có khả năng hoàn trả vốn vay được sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước

- Nhà nước đầu tư vào sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thông qua hình thức giao

kế hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu Các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được bình đẳngtham gia lĩnh vực này (trừ trường hợp đặc biệt) và hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước

- Đầu tư đúng pháp luật, đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát,khép kín

- Đấu thầu các dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước; việc đầu tư hoặc liên doanh, liên kết vớicác thành phần kinh tế khác phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư thẩm định vàchấp thuận

Những chính sách nêu trên của nhà nước Việt Nam trong hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn củanhà nước đã thể hiện cách nhìn mới, cách làm mới trong hoạt động đầu tư nguồn vốn quan trọng này.Thông qua chính sách đó không chỉ bảo đảm nhà nước vẫn quản lý được nguồn vốn của nhà nước khiđưa vào đầu tư, kinh doanh mà còn bảo đảm nguồn vốn đó được đầu tư, kinh doanh hiệu quả hơn

III LĨNH VỰC, ĐỊA BÀN VÀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ

1 Lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư

a Lĩnh vực ưu đãi đầu tư

+ Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, côngnghệ thông tin; cơ khí chế tạo

Trang 11

+ Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu, phát triển và ươmtạo công nghệ cao.

+ Sử dụng nhiều lao động

+ Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thủy sản; làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giốngvật nuôi mới

+ Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, dự án quan trọng, có quy mô lớn

+ Phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao và văn hóa dân tộc

+ Phát triển ngành, nghề truyền thống

Như vậy, đáp ứng yêu cầu của Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, lĩnh vực, ngành nghề nhà nướcViệt Nam quan tâm khuyến khích đầu tư chủ yếu là sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao phục vụ nhu cầucủa người Việt Nam cũng như phục vụ xuất khẩu Bên cạnh đó là các lĩnh vực yêu cầu đầu tư vốn lớn,khả năng sinh lợi thấp và các lĩnh vực văn hoá - xã hội nhà Nước Việt Nam đang tiến hành xã hội hóanhằm nâng cao trí tuệ, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của người Việt Nam

b Địa bàn ưu đãi đầu tư

* Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

- Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn là địa bàn vùng dân tộc thiểu số; miền núi; vùng

có kết cấu hạ tầng chưa phát triển; vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi

- Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là địa bàn vùng dân tộc thiểu số ở miềnnúi cao; hải đảo; vùng có kết cấu hạ tầng yếu kém; vùng có điều kiện tự nhiên rất không thuận lợi

Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư của nhà nước hạn chế, nguồn vốn của địa phương và dân cưkhông đáp ứng được yêu cầu đầu tư cho phát triển, để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong sựnghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa việc khuyến khích đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xãhội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là cần thiết và là một chính sáchđúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam

* Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

+ Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất côngnghiệp

+ Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàngxuất khẩu và hoạt động xuất khẩu

+ Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanhnghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao + Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệtthuận lợi cho các nhà đầu tư

Phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước các khu công nghiệp, khu chếxuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế hình thành ngày càng nhiều ở khắp các địa phương trên cả nước.Việc đầu tư vào địa bàn này rất thuận lợi cho nhà đầu tư do đã có sẵn cơ sở hạ tầng tốt phục vụ sản xuất,kinh doanh Nhà nước Việt Nam vẫn khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư trong các địabàn này vì chính sự thuận lợi trên của nhà đầu tư cũng đem lại lợi ích cho nhà nước Việt Nam trong côngtác quản lý cũng như các lợi ích kinh tế, xã hội khác

2 Lĩnh vực đầu tư có điều kiện

Là các lĩnh vực nhà đầu tư chỉ được thực hiện đầu tư với các điều kiện cụ thể như có giấy phépkinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm tráchnhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác Đây là các ngành nghề nhà nước cầnkiểm soát chặt chẽ nhằm bảo vệ chính nhà đầu tư và các lợi ích chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước,của cộng đồng Luật đầu tư năm 2005 quy định gồm các lĩnh vực sau:

+ Tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; sức khỏe cộng đồng

+ Tài chính, ngân hàng; kinh doanh bất động sản; khảo sát tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiênnhiên; môi trường sinh thái

+ Văn hóa, thông tin, báo chí, xuất bản

+ Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo

+ Dịch vụ giải trí

Trang 12

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, các lĩnh vực đầu tư có điều kiện còn phải phù hợp với lộ trìnhthực hiện cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên.

Như vậy nhà nước Việt Nam kiểm soát chặt chẽ các hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực có khảnăng ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, quốc phòng chính trị, xã hội và sự phát triển của nền kinh tế quốcgia Pháp luật của các nước khác cũng có những quy định tương tự như quy định này

3 Lĩnh vực cấm đầu tư

+ Phương hại quốc phòng, an ninh quốc gia và lợi ích công cộng

+ Phương hại di tích lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam

+ Tổn hại sức khoẻ nhân dân,

+ Hủy hoại tài nguyên, phá hủy môi trường

+ Xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóa chất độc hại hoặc sử dụngtác nhân độc hại bị quốc tế cấm

Luật Đầu tư quy định nghiêm cấm các nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào các lĩnh vực trên khôngnhằm hạn chế môi trường đầu tư của nhà đầu tư, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư mà chủ yếuhướng tới lợi ích của xã hội, của cộng đồng Việt Nam Quy định này phù hợp luật pháp quốc tế và tương

tự như pháp luật các quốc gia khác

Căn cứ vào quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và cam kết trongcác điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ Việt Nam

sẽ ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung Danh mục lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư; đầu tư có điều kiện và cấmđầu tư Các bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh không được ban hành quy định trong lĩnh vực này cũng nhưcác quy định hướng dẫn vượt khung làm ảnh hưởng môi trường đầu tư chung và gây nên các tổn thấtkhác cho nhà nước và địa phương

4 Hình thức đầu tư

a Đầu tư trực tiếp

Là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Hình thứcđầu tư này rất phổ biến và đa dạng Các nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư bằng các cách sau đây:

* Thông qua Thương nhân: Gồm:

- Lập Thương nhân: Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, cá nhân có đăng ký kinh

doanh, hộ kinh doanh… Nhà đầu tư độc lập hoặc hợp tác với các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài lậpthương nhân Trong số đó, một số loại hình thương nhân nhà đầu tư nước ngoài không được tham giathành lập

- Góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh tại Việt Nam: Nhà đầu tư thực hiệnđầu tư vào các một số loại thương nhân đang tồn tại, trong đó tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tưnước ngoài đối với một số lĩnh vực, ngành, nghề do pháp luật Điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chinhánh theo quy định của Luật Đầu tư, pháp luật về cạnh tranh và các quy định của pháp luật có liên quan

* Thông qua hợp đồng: Các nhà đầu tư hợp tác, liên kết tiến hành hoạt động sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ chung nhưng không dẫn đến lập pháp nhân mới Trong đó gồm:

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợptác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác Đốitượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợptác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng Trong lĩnh vực tìmkiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩmcòn được các luật chuyên ngành quy định

- Hợp đồng đầu tư kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng có sự tham gia của nhà nước gồm hợpđồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT); hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh(BTO); hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) Kết cấu hạ tầng gồm việc xây dựng mới, mở rộng, hiệnđại hóa và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện,cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác Điều kiện, trình tự, thủ tục và phương thức thực hiện

dự án đầu tư, quyền và nghĩa vụ của các bên… do Chính phủ quy định

* Đầu tư phát triển kinh doanh

Trang 13

Là hình thức đầu tư phát sinh sau khi nhà đầu tư đã đầu tư và có nhu cầu phát triển kinh doanh.Đây cũng là hình thức đầu tư phổ biến và tất yếu khi môi trường đầu tư và nhà đầu tư có tình trạng kinhdoanh tốt Nhà đầu tư thực hiện đầu tư phát triển kinh doanh thông qua hai hình thức sau đây:

+ Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh

+ Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường

b Đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt độngđầu tư Hiện nay, hình thức đầu tư này đang trở nên phổ biến, trong đó gồm các hình thức đầu tư cụ thểnhư sau:

+ Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác

+ Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán

+ Thông qua các định chế tài chính trung gian khác

Hình thức đầu tư gián tiếp ảnh hưởng rất nhiều tới thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt là thịtrường chứng khoán Việc đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá kháccủa tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật vềchứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan

III QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ

l Quyền của nhà đầu tư

a Quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh

Nhà đầu tư được lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn,quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án mà không bị hạn chế, ngăn cấm hay épbuộc của bất cứ tổ chức, cơ quan, cá nhân nào Tuy nhiên, sự lựa chọn của nhà đầu tư phải trong khuônkhổ pháp luật Nhà đầu tư được đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành, nghề và tự quyết định về hoạtđộng đầu tư, kinh doanh đã đăng ký Nhà đầu tư có thể tiến hành kinh doanh thông qua một thương nhânhoặc thông qua nhiều thương nhân khác nhau Trường hợp kinh doanh nhiều ngành, nghề thông qua mộtthương nhân thì các ngành nghề đó phải cùng một lĩnh vực đầu tư Trong quá trình thực hiện dự án đầu

tư, thương nhân được toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan như chọn thị trường, bạn hàng, ký hợpđồng; quyết định giá mua bán hoá, nguyên, nhiên liệu; tổ chức sản xuất kinh doanh

b Quyền tiếp cận, sử dụng nguồn lực đầu tư

Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư không thể có đủ các nguồn lực nên cần tiếpcận nhiều nguồn lực khác nhau Trước tiên là nguồn nhân lực, nhà đầu tư được thuê lao động trong nước;thuê lao động nước ngoài làm công việc quản lý, lao động kỹ thuật, chuyên gia theo nhu cầu sản xuất,kinh doanh Nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển thị trường sức lao động để đáp ứng nhu cầu về nhânlực của nhà đầu tư

Về nguồn lực tài chính, nhà đầu tư bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tíndụng, quỹ hỗ trợ; sử dụng đất đai và tài nguyên theo quy định của pháp luật Trong đó bao gồm cả vốn tíndụng và quỹ hỗ trợ của nhà nước cũng như các nguồn vốn tín dụng tự do khác trong và ngoài nước.Quyền năng này của nhà đầu tư chịu tác động nhiều bởi sự phát triển của thị trường tài chính

Một nguồn lực quan trọng khác là trang thiết bị sản xuất, kinh doanh, nhà đầu tư được thuê hoặcmua từ trong nước và nước ngoài Nhà nước khuyến khích nhà đầu tư nhập khẩu các dây truyền sản xuấthiện đại công nghệ cao Nhà đầu tư có thể thông qua pháp nhân của mình trực tiếp nhập khẩu thiết bị,máy móc từ nước ngoài

c Quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quảng cáo, tiếp thị, gia công và gia công lại liên quan đến hoạt động đầu tư

Trong nền kinh tế mở nhà đầu tư được khuyến khích tìm kiếm thị trường, bạn hàng ở nước ngoài

và trực tiếp hoặc uỷ thác nhập khẩu sản phẩm công nghệ cao, xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ về chođất nước

Quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của mình và trực tiếp ký hợp đồng quảng cáo với tổ chứcđược quyền hoạt động quảng cáo trong và ngoài nước Đây là các hình thức xúc tiến thương mại chủ yếucủa thương nhân nhằm tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường Khi thực hiện quyền năng này, nhà đầu

tư tuân thủ các quy định của Luật Thương mại

Trang 14

Hoạt động gia công, gia công lại sản phẩm; đặt gia công và gia công lại trong nước, đặt gia công

ở nước ngoài là một hình thức của hoạt động liên doanh, liên kết của nhà đầu tư Trong điều kiện khảnăng tài chính, trình độ công nghệ sản xuất của các nhà đầu tư và trình độ lao động của Việt Nam cònthấp, hoạt động này trở nên phổ biến và cần thiết

d Tiếp cận, sử dụng dịch vụ công theo nguyên tắc không phân biệt đối xử

Khi thực hiện các hoạt động đầu tư, nhà đầu tư cần sử dụng nhiều dịch vụ công do nhà nước ViệtNam cung cấp Một thời gian dài trước đây vì nhiều lý do khác nhau vẫn có hiện tượng các nhà đầu tưkhông bình đẳng với nhau khi tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công Biểu hiện rõ nhất là về giá và thứ tự ưutiên sử dụng dịch vụ công Thời gian gần đây những khác biệt này đang dần được khắc phục

đ Quyền thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Nhà đầu tư có dự án đầu tư được thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổchức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn thực hiện dự án theo quy định của pháp luật.Quy định này phù hợp với quy định của pháp luật đất đai và nhằm đáp ứng quy định của pháp luật tàichính, ngân hàng về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản khi vay vốn Tuy nhiên, phù hợp với từng loại đất

và hình thức được giao, thuê đất có nhà đầu tư có thể không được hưởng quyền năng quan trọng này

e Quyền mua ngoại tệ

Nhà đầu tư được mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được quyền kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng chogiao dịch vãng lai, giao dịch vốn và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.Chính phủ sẽ bảo đảm cân đối hoặc hỗ trợ cân đối ngoại tệ đối với một số dự án quan trọng trong lĩnh vựcnăng lượng, kết cấu hạ tầng giao thông, xử lý chất thải Đây cũng là quyền năng mang đặc trưng của nền kinh

tế mở của Việt Nam, trong đó các nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư nước ngoài coi là quyền năng quan trọng

f Quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư

Nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư Trường hợp chuyểnnhượng có phát sinh lợi nhuận thì bên chuyển nhượng phải nộp thuế thu nhập theo quy định của phápluật về thuế Một số trường hợp khi thực hiện quyền năng này nhà đầu tư phải tuân thủ các điều kiện theoquy định của Chính phủ Quy định này bảo đảm tính tự chủ cao của nhà đầu tư và tính linh hoạt của hoạtđộng đâu tư gắn với điều kiện, nguyện vọng và các tính toán của nhà đầu tư

g Quyền hưởng các ưu đãi đầu tư

Nhằm thu hút đầu tư vào một số ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn, nhà nước Việt Nam dành cho nhàđầu tư một số ưu đãi về thuế, đất đai khi đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn đó Các nhà đầu

tư sẽ phải bổ sung giấy tờ trong hồ sơ đăng ký đầu tư hay đăng ký kinh doanh để được hưởng các ưu đãinày Nội dung này dã được quy định trong Luật Đầu tư năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thực hiệnluật này

h Quyền được thông tin về pháp lý, kinh tế

Nhà đầu tư được tiếp cận các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư, các dữ liệu củanền kinh tế quốc dân, của từng khu vực kinh tế và các thông tin kinh tế - xã hội khác có liên quan đếnhoạt động đầu tư Trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang vận động nhanh chóng, những thông tinnày liên tục thay đổi, nhà đầu tư rất cần cập nhật Khi thực hiện quyền năng này, nhà đầu tư không chỉphục vụ trực tiếp hoạt động đầu tư của mình mà còn tham gia xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanhthông qua góp ý kiến về pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư

k Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đầu tư

Khi phát hiện các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cũng như các tổ chức, cá nhân khác,các đối tác… có hành vi vi phạm pháp luật đầu tư ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của mình hoặc củangười khác, của xã hội… nhà đầu tư được khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáohoặc khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng dân sự, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại và các văn bảnpháp luật liên quan Kết quả thực hiện quyền năng này của nhà đầu tư có thể là một vụ việc hành chính,dân sự, kinh tế…

2 Nghĩa vụ của nhà đầu tư

a Tuân thủ quy định của pháp luật về thủ tục đầu tư, nội dung đầu tư

Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ thủ tục đầu tư trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, thựchiện hoạt động đầu tư theo đúng nội dung đăng ký đầu tư, nội dung tại Giấy chứng nhận đầu tư Nhà đầu

tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung đăng ký đầu tư, hồ sơ dự án đầu tư vàtính hợp pháp của các văn bản xác nhận trong các hồ sơ mà nhà đầu tư gửi tới cơ quan có thẩm quyền

Trang 15

làm thủ tục đăng ký đầu tư Đây là nghĩa vụ hàng đầu của nhà đầu tư, qua đó nhà nước Việt Nam quản lýđược hoạt động tuân theo pháp luật của nhà đầu tư nhằm bảo đảm duy trì trật tự đầu tư, kinh doanh, thiếtlập môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh và quản lý được nền kinh tế

b Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính

Khi nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình tiến hành các hoạtđộng đầu tư với mục đích phát sinh lợi nhuận nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế chonhà nước Ngoài các loại thuế phổ biến như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT phù hợp với từngloại hoạt động đầu tư, nhà đầu tư phải nộp các loại thuế khác Ngoài ra, nhà đầu tư còn phải thực hiệnnhiều nghĩa vụ tài chính liên quan đến thủ tục đầu tư, thuê đất, sử dụng các dịch vụ công Nhằm bảođảm nhà đầu tư thực hiện đầy đủ nghĩa vụ này, nhà nước Việt Nam tổ chức hệ thống các cơ quan chuyênmôn và hoàn thiện khung pháp luật liên quan

c Thực hiện quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán và thống kê

Thực hiện tốt nghĩa vụ này, trước hết các nhà đầu tư sẽ kiểm soát được hoạt động tài chính, hoạtđộng sản xuất - kinh doanh và hiệu quả của nó để xây dựng kế hoạch, phương hướng hoạt động chuẩnxác hơn Mặt khác nhà nước cũng quản lý được hoạt động của mỗi nhà đầu tư, bảo đảm các nhà đầu tưthực hiện nghĩa vụ tài chính chính xác, bình đẳng; quản lý được nền kinh tế, kiểm soát môi trường đầu tư

để bổ sung, sửa đổi chính sách cho phù hợp Đồng thời kết quả của các hoạt động này cũng có ý nghĩalớn đối với các nhà đầu tư khác khi lựa chọn đối tác, bạn hàng

d Thực hiện nghĩa vụ đối với ngươi lao động

Nhà đầu tư phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm; tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người laođộng thành lập, tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các quyền lợi hợp pháp khác vềtiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội… của người laođộng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm, lao động Thực hiện tốt nghĩa vụ này đem lại lợi ích cho

cả người lao động, cho xã hội cho cả nhà đầu tư

đ Thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

Các hoạt động đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh công nghiệp là lĩnh vực ảnhhưởng mạnh đến các yếu tố môi trường Nhà đầu tư phải quan tâm thực hiện các giải pháp bảo vệ môitrường như trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, xử lý chất thải công nghiệp Nhà nước sẽ kiểm soátchặt chẽ nội dung này ngay từ khi nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư Hiện nay tiêu chuẩn vềmôi trường là một trong các yếu tố cấu thành trong thương hiệu và giá trị hàng hoá, dịch vụ… của nhàđầu tư

IV THỦ TỤC ĐẦU TƯ

1 Thủ tục đăng ký đầu tư và thẩm tra đầu tư

a Đăng ký đầu tư

* Đối với nhà đầu tư trong nước

- Trường hợp không đăng ký đầu tư:

Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư dưới 15 (mười lăm) tỷ đồng thì nhà đầu tư không phải làmthủ tục đăng ký đầu tư Quy định này nhằm đơn giản hoá thủ tục đầu tư khi nhà nước xét thấy không cầnthiết phải kiểm soát đối với các dự án đầu tư có giá trị không cao

- Trường hợp đăng ký nội dung đầu tư:

Đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm tỷ đồng đến dưới ba trăm tỷ đồng thìnhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẫu tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh với nộidung sau:

+ Tư cách pháp lý của nhà đầu tư (bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cánhân hợp pháp khác; bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệutương đương khác của tổ chức; văn bản uỷ quyền, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực

cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo uỷ quyền)

+ Mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư

+ Vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án

+ Nhu cầu sử dụng đất và cam kết về bảo vệ môi trường

+ Kiến nghị ưu đãi đầu tư (nếu có)

Trang 16

Nếu nhà đầu tư có yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấychứng nhận đầu tư.

* Đối với nhà đầu tư nước ngoài

Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư dưới ba trăm tỷ đồng thì nhà đầu

tư làm thủ tục đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh để được cấp Giấy chứng nhậnđầu tư

Hồ sơ đăng ký đầu tư bao gồm:

+ Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư (Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác;bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nơi tổ chức có trụ sở trong thời gian 3 tháng)

+ Văn bản giải trình mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư

+ Văn bản xác nhận vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án

+ Văn bản về nhu cầu sử dụng đất và cam kết về bảo vệ môi trường

+ Văn bản kiến nghị ưu đãi đầu tư (nếu có)

+ Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư

+ Hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, Điều lệ doanh nghiệp (nếu có)

Thời hạn đăng ký đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đầu tư tối đa là mười lăm ngày kể từ ngày nhận

đủ hồ sơ đăng ký đầu tư hợp lệ

Như vậy trong mọi trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đều phải thực hiện đăng ký đầu tư và thủtục này cũng chặt chẽ hơn nhà đầu tư trong nước khi luôn phải tiến hành thông qua bộ hồ sơ gồm nhiềuloại giấy tờ thể hiện nhiều nội dung hơn Tuy nhiên đó không phải là sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tưtrong nước và nhà đầu tư nước ngoài của nhà nước Việt Nam bởi nó cũng tương tự như quy định của luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây và tương đồng với pháp luật của các nước

b Thẩm tra dự án đầu tư

Đối với dự án đầu tư trong nước, dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư từ batrăm tỷ đồng trở lên thì phải thực hiện tục thẩm tra để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư Nhà đầu tư lập

hồ sơ dự án bao gồm:

+ Văn bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư

+ Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư

+ Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư

+ Giải trình kinh tế - kỹ thuật với các nội dung về mục tiêu, địa điểm đầu tư, nhu cầu sử dụng đất, quy

mô đầu tư, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, giải pháp công nghệ, giải pháp về môi trường

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hồ sơ còn bao gồm hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinhdoanh, Điều lệ doanh nghiệp (nếu có)

Thời hạn thẩm tra đầu tư không quá ba mươi ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợpcần thiết, thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá bốn mươi lăm ngày

Như vậy đối với các dự án có quy mô lớn, để nhà nước kiểm soát được các hoạt động đầu tư, nhàđầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chung thủ tục thẩm tra đầu tư và thủ tục này chặtchẽ hơn thủ tục đăng ký đầu tư

c Thủ tục đầu tư đặc biệt

* Đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện

Đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện, các nhà đầu tư (trong nước và nướcngoài) phải tiến hành thủ tục thẩm tra đầu tư với bộ hồ sơ được bổ sung thêm giải trình điều kiện mà dự ánđầu tư phải đáp ứng

* Đối với dự án đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế

Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng kýđầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Như vậy, sau khi nhà đầu tưnước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, tổ chức kinh tế của nhà đầu tư có tư cách pháp nhân Quyđịnh này tương tự như quy định của Luật đầu tư nước ngoài trước đây Trong khi đó nhà đầu tư trongnước ngoài thực hiện đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư theo quy định của Luật đầu tư còn phải thựchiện thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005

* Đối với dự án sử dụng vốn của nhà nước

Trang 17

Các dự án này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định và chấp thuận đầu tư.Riêng với các dự án quan trọng quốc gia thì phải được Quốc Hội quyết định chủ trương đầu tư Đối với

dự án quan trọng được xác định trong quy hoạch ngành có từ hai nhà đầu tư trở lên quan tâm thì việc lựachọn nhà đầu tư thực hiện dự án phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu

Như vậy khi tiến hành đầu tư, nhà đầu tư tiến hành các thủ tục đầu tư khác nhau phụ thuộc vàonhiều yếu tố khác nhau như quốc tịch của nhà đầu tư, quy mô vốn, nguồn vốn, ngành nghề, lĩnh vực đầu

tư Tuy nhiên, hai tiêu chí quốc tịch của nhà đầu tư và quy mô vốn đầu tư có tính quyết định cao hơn cảđến việc tiến hành thủ tục đầu tư của nhà đầu tư

2 Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư

Dự án đầu tư chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau đây:

- Hết thời hạn hoạt động ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư

- Theo các điều kiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, Điều lệ doanh nghiệphoặc thỏa thuận, cam kết của các nhà đầu tư về tiến độ thực hiện dự án

- Nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án

- Chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà nước quản lý đầu tư hoặc theo bản án, quyếtđịnh của tòa án, trọng tài do vi phạm pháp luật

Trong trường hợp dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư sau mười hai tháng mà nhà đầu tưkhông triển khai hoặc không có khả năng thực hiện theo tiến độ độ cam kết và không có lý do chính đángthì bị thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư và dự án đầu tư cũng chấm dứt hoạt động

Như vậy việc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư nói chung xảy ra theo hai trường hợp:

Thứ nhất nhà đầu tư tự quyết định chấp dứt hoạt động của dự án đầu tư

Thứ hai, nhà đầu tư buộc chấm dứt hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật hoặc theo quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Quy định này phù hợp với các quy định của các luật khác liên quan, đặc biệt là quy định củaLuật Doanh nghiệp

V ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Phù hợp với qúa trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, lân đầu tiên Luật Đầu tư năm 2005chính thức ghi nhận hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Việt Nam với các nội dung cơ bảnnhư sau:

1 Chính sách của nhà nước Việt Nam về đầu tư ra nước ngoài

- Nhà đầu tư được đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước tiếpnhận đầu tư

- Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài, kể cả tiếp cận các nguồn vốn tíndụng trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; bảo lãnh vay vốn đối vớicác dự án đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư

- Bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Việt Nam ở nước ngoài

- Khuyến khích đầu tư ra nước ngoài đối với những lĩnh vực xuất khẩu nhiều lao động; phát huy

có hiệu quả các ngành, nghề truyền thống của Việt Nam; mở rộng thị trường, khai thác nguồn tài nguyênthiên nhiên tại nước đầu tư tăng khả năng xuất khẩu, thu ngoại tệ

- Không cấp phép đầu tư ra nước ngoài đối với những dự án gây phương hại đến bí mật, an ninhquốc gia, quốc phòng, lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ tục của Việt Nam

Chính sách của nhà nước Việt Nam về đầu tư ra nước ngoài khá thông thoáng nhằm khuyếnkhích hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Việt Nam tương ứng với hoạt động đầu tư trongnước và hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Mặt khác chính sách này bảo đảmđược rằng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của nhà đầu tư Việt Nam không chỉ vì lợi ích của nhà đầu tư,

vì lợi ích của nhà nước, công đồng Việt Nam mà còn vì lợi ích của các nước tiếp nhận đầu tư Mặt khác,nhà nước Việt Nam vẫn quản lý được hoạt động đầu tư của nhà đầu tư, kể cả khi nhà đầu tư đang hoạtđộng đầu tư ở nước ngoài

2 Chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài

- Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Trang 18

- Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hoá, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạtđộng đầu tư sinh lợi.

- Hộ kinh doanh

- Cá nhân Việt Nam

Thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư của các tổ chức, cá nhân Việt Nam ra nước ngoài,ngoài các loại thương nhân chủ yếu, mọi cá nhân Việt Nam đều được tiến hành hoạt động đầu tư nếu đápứng đủ các điều kiện đầu tư ra nước ngoài và các quy định khác của pháp luật

3 Điều kiện đầu tư ra nước ngoài

Để được đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư phải đạt một số điều kiện theo quy định của pháp luậtViệt Nam phù hợp với từng hình thức đầu tư

a Trường hợp đầu tư trực tiếp

+ Có dự án đầu tư ra nước ngoài

+ Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam

+ Được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư

Ngoài ra, đối với các trường hợp sử dụng vốn của nhà nước để đầu tư trực tiếp ra nước ngoàiphải tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước

b Trường hợp đầu tư gián tiếp

Nhà đầu tư Việt Nam được đầu tư ra nước ngoài theo hình thức gián tiếp như mua cổ phần, cổphiếu, đăng ký quỹ đầu tư chứng khoán hoặc các chế định tài chính trung gian khác phải tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về ngân hàng, chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Việc sử dụng vốn nhà nước để đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý, sửdụng vốn nhà nước

4 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư ra nước ngoài

Phù hợp với chính sách đầu tư ra nước ngoài, với luật pháp Việt Nam và luật pháp của nướcngoài, Luật đầu tư năm 2005 quy định nhà đầu tư ra nước ngoài từ khi tiến hành những bước đầu tiên củahoạt động đầu tư đến khi kết thúc hoạt động đầu tư ở nước ngoài có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a Quyền của nhà đầu tư ra nước ngoài

+ Chuyển vốn đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu tư

+ Được hưởng các ưu đãi về đầu tư

+ Tuyển dụng lao động Việt Nam sang làm việc tại cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước ngoài

b Nghĩa vụ của nhà đầu tư ra nước ngoài

+ Tuân thủ pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư

+ Chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư ra nước ngoài về nước; khi kết thúc đầu tư ởnước ngoài, chuyển toàn bộ vốn, tài sản hợp pháp về nước, trường hợp chưa chuyển về thì phải được sựđồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tài chính và hoạt động đầu tư ở nước ngoài; thực hiện đầy đủ cácnghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam

5 Thủ tục đầu tư ra nước ngoài

a Đăng ký đầu tư

Đối với dự án có quy mô vốn đầu tư dưới mười lăm tỷ đồng thì nhà đầu tư lập hồ sơ dự án đầu tưgồm:

+ Văn bản đăng ký dự án đầu tư

+ Văn bản xác định tư cách pháp lý của nhà đầu tư

+ Hợp đồng hoặc văn bản thoả thuận với đối tác nước ngoài

Đối với nhà đầu tư là các tổ chức kinh tế Việt Nam thì hồ sơ còn bao gồm văn bản của các bộphận lãnh đạo cao nhất của tổ chức kinh tế đó

Bộ hồ sơ này được gửi tới Bộ Kế hoạch - Đầu tư, trong thời hạn 15 ngày làm việc, cơ quan nàyxem xét và cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư Trong trường hợp hồ sơ đầu tư không được chấpthuận thì Bộ Kế hoạch - Đầu tư sẽ trả lời bằng văn bản cho nhà đầu tư

b Thẩm tra đầu tư

Đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm tỷ đồng trở lên, nhà đầu tư lập hồ sơ dự án đầu

tư gồm:

+ Văn bản đề nghị thẩm tra dự án đầu tư

Trang 19

+ Văn bản xác định tư cách pháp lý của nhà đầu tư.

+ Hợp đồng hoặc văn bản thoả thuận với đối tác nước ngoài

+ Văn bản giải trình về dự án đầu tư gồm nội dung về mục tiêu đầu tư, địa điểm đầu tư, quy mô đầu tư,nguồn vốn đầu tư, việc sử dụng lao động Việt Nam, lao động nước ngoài (nếu có); tiến độ thực hiện dự

án đầu tư

+ Văn bản của các bộ phận lãnh đạo cao nhất của tổ chức kinh tế (Nếu nhà đầu tư là các tổ chức kinh tế)

Nhà đầu tư gửi hồ sơ về Bộ Kế hoạch - Đầu tư, trong thời hạn tối đa là 30 ngày, Bộ Kế hoạch - Đầu tư cấpGiấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư Trong đó, trách nhiệm thẩm tra dự án đầu tư thuộc về các Bộ, ngành liênquan và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính Các cơ quan này tiến hành thẩm tra và nêu ý kiếncủa mình trong thời hạn 15 ngày và gởi về Bộ Kế hoạch - Đầu tư làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho nhàđầu tư

c Thủ tục đầu tư đặc biệt

* Dự án thực hiện thủ tục thẩm tra đặc biệt

- Dự án đầu tư có sử dụng vốn của nhà nước từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên hoặc vốn của cácthành phần kinh tế từ 600 tỷ đồng trở lên

- Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, tài chính, tín dụng, báo chí, phátthanh, truyền hình, viễn thông có sử dụng vốn nhà nước từ 150 tỷ đồng Việt Nam trở lên hoặc vốn củacác thành phần kinh tế từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên

* Trình tự thẩm tra đầu tư

Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư là Bộ Kế hoạch - Đầu tư Nhưng trong thời hạn 25ngày, kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch - Đầu tư phải gửi toàn bộ hồ sơ thẩm tra đầu

tư, trong đó có ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành liên quan, Uỷ ban nhân nhân cấp tỉnh nơi nhà đầu

tư đặt trụ sở để xin ý kiến chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ

Như vậy, thủ tục đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Việt Nam tương tự thủ tục nhà đầu tư nướcngoài đầu tư vào Việt nam Tuy nhiên, đi vào cụ thể có nội dung thể hiện sự chặt chẽ hơn, ngược lại có nội dungđơn giản hơn Thậm chí cũng như thủ tục đầu tư tại Việt Nam, thủ tục đầu tư ra nước ngoài của nhà đầu tư khôngđồng nhất, điều đó phụ thuộc vào quy mô đầu tư, nguồn vốn cũng như ngành nghề, lĩnh vực đầu tư Mặt khác, bêncạnh thủ tục đầu tư trên, nhà đầu tư Việt Nam phải thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của nước nhận dự án đầutư

Trang 20

CHƯƠNG IV

PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

I GIỚI THIỆU VỀ DOANH NGHIỆP

1 Giới thiệu chung về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp

Trong nền kinh tế tập trung, ở Việt Nam có hai thành phần kinh tế cơ bản là kinh tế quốc doanh

và kinh tế tập thể Từ sau năm 1986, Việt Nam xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường, từ thời điểm này nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật ghi nhận sự tồntại của nhiều loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế

a Doanh nghiệp nhà nước

Được ra đời theo sắc lệnh số 104, ngày 1/1/1948 với tên gọi ban đầu là Doanh nghiệp quốc gia.Trong nền kinh tế tập trung loại hình doanh nghiệp này được ghi nhận là mục tiêu của Chế độ xã hội chủnghĩa do vậy đã được phát triển mạnh mẽ trên mọi nghề nghề, lĩnh vực địa bàn với số lượng lên tới gần12.000 doanh nghiệp và tạo ra phần lớn GDP quốc gia, đóng góp phần quan trọng vào Ngân sách nhànước Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách về loại hình doanh nghiệp này, tuy nhiên đó chỉ

là những văn bản dưới luật Năm 1995, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hànhLuật Doanh nghiệp nhà nước, năm 2003 văn bản luật này được thay thế bởi văn bản luật cùng tên Dùkhung pháp lý về doanh nghiệp nhà nước được hoàn thiện dần, song với sự thay đổi về cách nhìn nhận vềloại hình doanh nghiệp này và mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước đã cónhiều thay đổi Về vai trò, Doanh nghiệp nhà nước được xác định là cùng với kinh tế tập thể giữ vai tròchủ đạo để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam Doanhnghiệp nhà nước phải thực hiện sứ mệnh này trong điều kiện được đối xử bình đẳng với các thành phầnkinh tế khác trong nền kinh tế Hiện nay chỉ còn lại khoảng hơn 1/3 số doanh nghiệp nhà nước so vớitrước đây, tạo ra chưa tới 40% GDP và đóng góp hơn một nửa ngân sách nhà nước

b Công ty

Xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII ở Châu Âu, tại Việt Nam, các nhà nước Bảo hộ Pháp, nhà nướcPhong kiến và Chính quyền Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành Luật quy định về công ty vàocác năm 1931, 1942 và 1972 Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thừa nhận sự tồn tạicủa loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế tập trung Từ năm 1986, xây dựng nền kinh tế thịtrường, nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản luật quy định về công ty Luật Công ty năm 1990(Luật sửa đổi, bổ sung năm 1994): Quy định về 2 loại công ty là công ty cổ phần (tối thiểu 7 thành viên);công ty trách nhiệm hữu hạn (từ 2 thành viên trở lên) Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định về công ty

cổ phần (tối thiểu là 3 thành viên); công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài loại hình có nhiều thành viên (tốithiểu 2 thành viên), ghi nhận thêm loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một tổ chứcthành lập) Ngoài ra còn ghi nhận thêm một loại hình công ty mới là công ty hợp danh (do từ 2 cá nhânhợp danh trở lên thành lập) Luật Doanh nghiệp năm 2005: Quy định về các loại công ty thuộc mọi thànhphần kinh tế

Do nhà nước chưa thực sự quan tâm đến thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và những quy địnhchặt chẽ của Luật Công ty năm 1990, những năm 90 của thế kỷ XX loại hình công ty phát triển chậm.Chỉ sau Luật Doanh nghiệp năm 1999, có hiệu lực ngày 1/1/2000 loại hình công ty mới phát triển mạnh

mẽ Hiện nay đã có gần 4000 công ty cổ phần, loại hình công ty quan trọng quyết định sự ra đời, tồn tại

và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Song nhiều nhất về số lượng lại là loại hình công tytrách nhiệm hữu hạn Công ty hợp danh, không chỉ số lượng còn hạn chế mà giá trị vốn đầu tư, giải quyếtviệc làm, giá trị tạo ra trong GDP còn nhỏ

c Doanh nghiệp tư nhân

Phù hợp với mục tiêu “dân giầu, nước mạnh", năm 1990 nhà nước Việt Nam đã ban hành LuậtDoanh nghiệp tư nhân (Luật này được sửa đổi, bổ sung năm 1994) Đến năm 1999 và 2005 Luật Doanhnghiệp đã quy định về loại hình doanh nghiệp này Dù có một số quy định của pháp luật về doanh nghiệp

tư nhân gây bất lợi cho chủ doanh nghiệp và không có được sự đón nhận hồ hởi từ xã hội, loại hìnhdoanh nghiệp tư nhân vẫn phát triển nhanh về số lượng Hiện nay, loại hình doanh nghiệp này vẫn chiếmhơn một nửa trong số gần 300.000 tổ chức kinh tế tại Việt Nam Tuy nhiên, quy mô của doanh nghiệp tưnhân còn nhỏ, giá trị sản xuất chưa lớn, số lao động sử dụng ngoài lao động gia đình chưa nhiều

d Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 21

Ngay từ những năm đầu sau khi thống nhất đất nước nhà nước Việt Nam đã có văn bản quy định

về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên vì nhiều lý do, chính sách này không phát huy giá trị trongthực tiễn Ngay sau khi thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, năm 1987 nhà nước Việt Nam đã ban hànhLuật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đây là văn bản luật đầu tiên quy định về tổ chức kinh tế ngoàiquốc doanh ở Việt Nam Theo văn bản Luật này, nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp Liên doanh tại Việt Nam Với thiện chí cao đối với hoạtđộng thu hút vốn đầu tư, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam liên tục được ban hành mới thay thế và sửađổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và 2000 Bằng các quy định thông thoáng, phù hợp thông lệquốc tế và sức hấp dẫn của môi trường đầu tư hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đạtkết quả bất ngờ vào các năm 1994 - 1997, những năm 1999 - 2003 hoạt động này giảm xuống và đangtăng trưởng trở lại từ năm 2005 Hiện nay, với hơn 6000 dự án đầu tư, tổng số vốn đăng ký trên 60 tỷ đô

la, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tạo rangày càng lớn giá trị trong thu nhập quốc dân và đóng góp vào Ngân sách nhà nước, đặc biệt loại hìnhdoanh nghiệp này đã tạo ra trên 50% giá trị xuất khẩu của Việt Nam

2 Các loại doanh nghiệp

Dựa vào nhiều căn cứ khác nhau có thể chia doanh nghiệp thành nhiều loại khác nhau như sau:

a Căn cứ vào sở hữu: Có các loại doanh nghiệp sau

+ Doanh nghiệp nhà nước: Do nhà nước đầu tư và nắm giữ toàn bộ hoặc phần vốn chi phối

+ Công ty: Do một tổ chức, cá nhân hoặc nhiều tổ chức, cá nhân hùn vốn để thực hiện các hoạt động sảnxuất - kinh doanh

+ Doanh nghiệp tư nhân: Do một cá nhân đầu tư vốn thành lập và làm chủ

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thành lập, liêndoanh với bên Việt Nam thành lập hoặc mua lại, sáp nhập, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam

Trước đây, pháp luật Việt Nam lấy căn cứ này để phân chia các loại hình doanh nghiệp Pháp luật

về doanh nghiệp nói riêng, các tổ chức kinh tế nói chung đều quy định theo tiêu chí này, do đó đã hìnhthành các văn bản Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân như đã giớithiệu tại phần trên

b Căn cứ vào hình thức tổ chức: Có các loại doanh nghiệp sau:

+ Công ty: Gồm Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và nhóm công ty.+ Doanh nghiệp tư nhân (DN tư nhân có thể được nhìn nhận là cá nhân có đăng ký kinh doanh)

Hiện nay, theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các văn bản liên quan, địa vị pháp lý của doanhnghiệp được quy định cho từng loại hình doanh nghiệp dựa theo tiêu chí này Do vậy, các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế của Việt Nam đã được quy định chung trong một văn bản luật

c Căn cứ vào chức năng hoạt động: Có các loại doanh nghiệp sau:

+ Doanh nghiệp hoạt động sản xuất - kinh doanh: Thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các công đoạn từđầu tư đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích phát sinh lợi nhuận

+ Doanh nghiệp hoạt động công ích: Hoạt động trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, dịch vụ côngcộng không vì mục đích phát sinh lợi nhuận

d Căn cứ vào quy mô: Có các loại doanh nghiệp:

+ Doanh nghiệp có quy mô lớn

+ Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ

Thông thường ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới lấy các tiêu chí vốn đầu tư, doanh thu,

số lao động thường xuyên, nộp ngân sách để phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí này

3 Các loại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành

Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005, trong nền kinh tế Việt Nam có các loại doanhnghiệp sau:

a Công ty trách nhiệm hữu hạn

* Về thành viên:

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượngthành viên không vượt quá năm mươi

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu

* Về vốn: Vốn của công ty do chủ sở hữu đầu tư hoặc các thành viên góp thể hiện bằng giá trị tính ra

thành tiền

Trang 22

* Về trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác: Chủ sở hữu, các thành viên của công ty

chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệcủa công ty

* Về khả năng chuyển nhượng vốn của chủ sở hữu công ty và các thành viên: Chủ sở hữu của công ty

được chuyển một phần vốn cho tổ chức, cá nhân khác; các thành viên của công ty bị hạn chế quyềnchuyển vốn khi phải ưu tiên chuyển vốn của mình cho thành viên của công ty

* Về khả năng phát hành chứng khoán: Trong quá trình hoạt động, công ty trách nhiệm hữu hạn không

được phát hành cổ phiếu

* Về tư cách pháp nhân: Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký

kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư)

b Công ty cổ phần

* Về thành viên: Gọi là cổ đông; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba,

không hạn chế số lượng tối đa

* Về vốn của công ty: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

* Về trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác: Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong

phạm vi số vốn đã góp vào công ty

* Về khả năng chuyển vốn: Cổ đông tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ một số

trường hợp pháp luật hạn chế quyền chuyển vốn

* Về khả năng phát hành chứng khoán: Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành

tất cả các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư ) để huy động vốn trong công chúng

* Về tư cách pháp nhân: Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận

đăng ký kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư)

c Công ty hợp danh

* Về thành viên: Tối thiểu hai thành viên hợp danh, thành viên hợp danh phải là cá nhân; có thể có thành

viên góp vốn

* Về vốn của công ty: Phần vốn chủ yếu của thành viên hợp danh là danh được thể hiện bằng uy tín và

trình độ tay nghề; thành viên hợp vốn góp vốn thể hiện bằng giá trị tính thành tiền

* Về khả năng chuyển vốn: Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần

vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của tối thiểu 3/4 số thànhviên hợp danh của công ty Thành viên hợp vốn được quyền chuyển vốn cho người khác

* Về trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác: Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm

bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên hợp vốn chỉ chịu trách nhiệm vềcác khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

* Về khả năng phát hành chứng khoán: Trong quá trình hoạt động công ty hợp danh không được phát

hành bất kỳ loại chứng khoán nào

* Về tư cách pháp nhân: Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận

đăng ký kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư)

d Doanh nghiệp tư nhân

* Về thành viên: Do một cá nhân làm chủ.

* Về vốn: Thể hiện bằng giá trị tính thành tiền.

* Về chuyển vốn: Chủ doanh nghiệp tư nhân không được chuyển vốn cho tổ chức, cá nhân khác nhưng

được quyền bán, cho thuê doanh nghiệp và các tài sản của doanh nghiệp

* Về trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác: Chủ doanh nghiệp phải chịu trách

nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

* Về khả năng phát hành chứng khoán: Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp tư nhân không được

phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

* Về tư cách pháp nhân: Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.

đ Nhóm công ty

Là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thịtrường và các dịch vụ kinh doanh khác

Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây:

- Công ty mẹ - công ty con

- Tập đoàn kinh tế

Trang 23

- Các hình thức khác.

Trong đó tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn

II THÀNH LẬP, TỔ CHỨC LẠI VÀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

- Các trường hợp theo quy định của pháp luật về phá sản

Để thành lập doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân phải thực hiện thủ tục sau đây:

a Đăng ký kinh doanh

Các tổ chức, cá nhân lập bộ hồ sơ đăng ký kinh doanh gồm các loại giấy tờ sau:

+ Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyềnquy định

+ Dự thảo Điều lệ công ty (trừ doanh nghiệp tư nhân)

+ Danh sách thành viên và các giấy tờ kèm theo giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của thành viên (bảnsao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác; bản sao quyết địnhthành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản uỷquyền, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diệntheo uỷ quyền)

+ Văn bản xác nhận vốn pháp định (nếu pháp luật quy định)

+ Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân khác (nếu pháp luật quy định),riêng công ty hợp danh phải có chứng chỉ hành nghề của tất cả các thành viên hợp danh

Bộ hồ sơ này được gửi tới Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở Cơ quannày có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trongthời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ Nếu từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh thì cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp

Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi có đủ các điều kiện là ngành,nghề đăng ký kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh; có tên, trụ sở chính, hồ sơ đăng ký kinhdoanh và nộp đủ lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Từ thời điểm được cấp Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh doanh nghiệp có tư cách pháp nhân

Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quanđăng ký kinh doanh phải thông báo nội dung giấy chứng nhận đó cho cơ quan thuế, cơ quan thống kê, Uỷban nhân dân các cấp nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

b Công bố nội dung đăng ký kinh doanh

Để nhanh chóng hoà nhập với thương trường, trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày được cấpGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơquan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp về cácnội dung chủ yếu sau đây:

+ Tên doanh nghiệp

+ Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện

+ Ngành, nghề kinh doanh

+ Vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; số cổ phần và giá trị vốn cổ phần

đã góp và số cổ phần được quyền phát hành đối với công ty cổ phần; vốn đầu tư ban đầu đối với doanhnghiệp tư nhân; vốn pháp định (nếu có)

Trang 24

+ Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp phápkhác, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của chủ sở hữu, của thành viên hoặc cổ đôngsáng lập.

+ Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cánhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

+ Nơi đăng ký kinh doanh

Các tổ chức, cá nhân nước ngoài khi thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại ViệtNam không phải thực hiện thủ tục Đăng ký kinh doanh mà chỉ thực hiện thủ tục đăng ký hoặc thẩm trađầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005 Trong khi các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài việcđăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp còn phải tiến hành đăng ký đầu tư hoặc thẩmtra đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005

2 Tổ chức lại doanh nghiệp

a Các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp

* Chia doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể được chia thành một

số công ty cùng loại bằng cách chuyển toàn bộ phần tài sản của công ty hiện có để thành lập một số công

ty mới cùng loại; chuyển toàn bộ quyền và nghĩa vụ của công ty bị chia sang các công ty được chia, sau

đó công ty bị chia chấm dứt hoạt động của mình

* Tách doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể tách bằng cách

chuyển một phần tài sản của công ty hiện có để thành lập một hoặc một số công ty mới cùng loại; chuyểnmột phần quyền và nghĩa vụ của công ty bị tách sang công ty được tách mà không chấm dứt tồn tại củacông ty bị tách

* Hợp nhất doanh nghiệp: Hai hoặc một số công ty cùng loại có thể hợp nhất thành một công ty

mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồngthời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất

* Sáp nhập doanh nghiệp: Một hoặc một số công ty cùng loại có thể sáp nhập vào một công ty

khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập,đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập

* Chuyển đổi công ty

- Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc ngược lại

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thànhviên trở lên

- Công ty trách nhiệm hữu hạn là một tổ chức chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một cánhân

b Thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp

* Chuẩn bị tổ chức lại doanh nghiệp

Chủ sở hữu công ty hoặc bộ phận lãnh đạo của công ty thông qua quyết định chia, tách công ty;các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng hợp nhất, sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty hợp nhất, sápnhập

Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty mới được thành lập sau khichia, tách, hợp nhất, sáp nhập thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủtịch công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

* Đăng ký kinh doanh

Các công ty mới thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh như trường hợp doanh nghiệp được thànhlập mới Sau khi các công ty mới được đăng ký kinh doanh các công ty bị chia, bị sáp nhập, bị hợp nhất,

bị sáp nhập chấm dứt hoạt động

* Một số chú ý:

- Trường hợp chuyển đổi công ty, công ty và tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng vốn chỉ cần thoảthuận và thực hiện đăng ký kinh doanh như trường hợp thành lập mới doanh nghiệp mà không cần thực hiệnbước chuẩn bị

- Trường hợp hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp phải tuân thủ quy định của pháp luật cạnh tranh

về thống lĩnh thị trường

3 Giải thể doanh nghiệp

a Các trường hợp doanh nghiệp giải thể

Trang 25

- Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn.

- Theo quyết định của chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, thành viên hoặc của bộ phận lãnh đạo caonhất của doanh nghiệp

- Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của pháp luật trong thời hạnsáu tháng liên tục

- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Như vậy doanh nghiệp có thể tự nguyện giải thể hoặc bắt buộc phải giải thể trong một số trườnghợp nhất định

Để bảo đảm quyền lợi của các bạn hàng và sự ổn định của nền kinh tế, Luật Doanh nghiệp cònquy định doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sảnkhác Đây là điều khác biệt giữa giải thể với phá sản doanh nghiệp

b Thủ tục giải thể doanh nghiệp

* Thông qua, quyết định giải thể doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp, các thành viên của công ty thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp vớicác nội dung chủ yếu là tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; lý do giải thể; thời hạn, thủ tục thanh

lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp; thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồngkhông được vượt quá sáu tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể; phương án xử lý các nghĩa vụphát sinh từ hợp đồng lao động; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

* Thanh lý tài sản doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị hoặc Tổchức thanh lý thực hiện thanh lý tài sản doanh nghiệp Doanh nghiệp thanh toán theo thứ tự ưu tiên sauđây:

+ Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động.+ Nợ thuế và các khoản nợ khác

Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp, phần còn lại thuộc vềchủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty

* Công khai giải thể

Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể phải được gửi đến cơquan đăng ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan, người laođộng trong doanh nghiệp và niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh của doanh nghiệp Trường hợppháp luật yêu cầu thì doanh nghiệp phải đăng báo quyết định này ít nhất trên một tờ báo viết hoặc báođiện tử trong ba số liên tiếp

Sau khi thanh toán hết các khoản nợ, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơgiải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngàynhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan này xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh

Trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phảigiải thể trong thời hạn sáu tháng Sau thời hạn sáu tháng mà cơ quan đăng ký kinh doanh không nhậnđược hồ sơ giải thể doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó coi như đã được giải thể và cơ quan đăng ký kinhdoanh xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh và người đại diện, người quản lý, các thànhviên liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán

III QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA DOANH NGHIỆP

1 Quyền của doanh nghiệp

a Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư, chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích

Doanh nghiệp được toàn quyền thực hiện các hành vi kinh doanh từ việc xây dựng phươnghướng, kế hoạch sản xuất kinh doanh đến những giải pháp tổ chức thực hiện Trong việc lựa chọn ngành,nghề kinh doanh, doanh nghiệp không được lựa chọn các ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật cấm Khi

mở rộng quy mô và ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục đăng ký bổ sung và thủtục đầu tư Việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích trước đây thường được giao cho doanhnghiệp nhà nước, hiện nay nhà nước Việt Nam khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia

Trang 26

b Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn

Các doanh nghiệp được toàn quyền chọn hình thức và cách thức huy động vốn xong không phảiđều có hình thức và phương thức huy động vốn giống nhau, điều này phụ thuộc vào loại hình doanhnghiệp Doanh nghiệp được quyền quyết định việc phân bổ và sử dụng vốn gồm cả vốn của chủ sở hữudoanh nghiệp, vốn do các thành viên góp và vốn huy động Không một tổ chức, cá nhân nào, kể cả tổchức cấp vốn, cho doanh nghiệp vay vốn được hạn chế quyền phân bổ và sử dụng vốn của doanh nghiệp

c Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng

Không như các doanh nghiệp quốc doanh và tổ chức kinh tế tập thể trong nền kinh tế tập trungphải thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh nhà nước giao, trong đó có địa chỉ đầu vào và đầu ra của sản phẩm.Hiện nay, các doanh nghiệp được chủ động tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước để tiêu thụ sảnphẩm, dịch vụ của mình; tự chủ tìm kiếm khách hàng để mua nguyên, nhiên liệu, máy móc, thiết bị, côngnghệ và bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình Đồng thời, doanh nghiệp được tự ký kết hợp đồngvới các đối tác, nhà nước không quản lý các hợp đồng do doanh nghiệp ký kết, kể cả với doanh nghiệpnhà nước

d Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới thì hoạt động xuất, nhập khẩucàng có vị trí quan trọng Do đó, kinh doanh xuất khẩu trở thành một lĩnh vực, ngành nghề mà phù hợpvới quyền tự chủ kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được lựa chọn lĩnh vựcnày Bên cạnh đó các doanh nghiệp khi có thị trường, bạn hàng nước ngoài đều được trực tiếp tiến hànhcác hoạt động xuất, nhập khẩu

đ Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh

Các doanh nghiệp nói chung, kể cả doanh nghiệp nhà nước đều được tự chủ trong tuyển dụng và

bố trí lao động phù hợp với yêu cầu kinh doanh Trong đó, doanh nghiệp được quyết định thời điểmtuyển dụng, thuê lao động, số lượng lao động, chất lượng lao động Tuy nhiên, hoạt động này của doanhnghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật lao động Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp sửdụng lao động Việt Nam để góp phần cùng nhà nước thực hiện tốt công tác giải quyết việc làm, xoá đói,giảm nghèo và các vấn đề xã hội khác

e Chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh

Khoa học đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng cấu thành trong lực lượng sản xuất Trong quátrình Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, những rào cản bằng thuế quan sẽ bị xoá bỏ, doanhnghiệp cần ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để có sản phẩm tốt, giá thành hợp lý để giữ thị trường trongnước và chiếm lĩnh thị phần ở nước ngoài

f Tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ

Hoạt động sản xuất kinh doanh khá phức tạp, doanh doanh nghiệp được chủ động quyết định cáccông việc này như trong quan hệ mua bán, doanh nghiệp được quyền quyết định số lượng, chất lượng,giá cả Doanh nghiệp được lập các tổ đội, phân xưởng sản xuất, chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong

và ngoài nước, lập các phòng ban chuyên môn, hợp tác liên doanh, liên kết hay thành lập công ty con

và quyết định quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp Trong đó, những vấn đề quan trọng được ghi nhậntrong Điều lệ, Nội quy của doanh nghiệp

g Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp

Tài sản của doanh nghiệp là tài sản của chủ sở hữu đưa vào kinh doanh (trong đó có nhà nướcđối với doanh nghiệp nhà nước) hoặc tài sản do các thành viên đóng góp, do doanh nghiệp mua doanhnghiệp có tư cách là chủ sở hữu đối với các tài sản này nên toàn quyền chiếm hữu, sử đụng, định đoạt tàisản phục vụ sản xuất kinh doanh mà không bị hạn chế bởi cơ quan, tổ chức, cá nhân nào, kể cả nhà nướctrong trường hợp nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp nhà nước

h Từ chối mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định; khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

Doanh nghiệp có quyền từ chối các yêu cầu cung cấp các nguồn lực về lao động, tài chính, máymóc, công nghệ của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào để bảo toàn nguồn lực, sử dụng tốt nguồn lựcphục vụ sản xuất, kinh doanh Thâm chí, doanh nghiệp được khiếu nại, tố cáo đối với các tổ chức, cánhân, cơ quan có hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh

Trang 27

nghiệp Thủ tục khiếu nại, tố cáo đã được pháp luật khiếu nại, tố cáo các pháp luật liên quan quy định cụthể.

k Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng

Do thực hiện quyền tố cáo, khởi kiện; do phát sinh tranh chấp thương mại, dân sự, lao động…trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bịđơn hoặc các tư cách khác Doanh nghiệp có thể trực tiếp (thông qua người đại diện theo pháp luật hoặcngười được người đại diện theo pháp luật uỷ quyền) hoặc thông qua người đại diện theo uỷ quyền (thôngthường là Luật sư) tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Ngoài các quyền năng trên, doanh nghiệp còn có các quyền năng khác phù hợp với chức nănghoạt động, quy mô, tính đặc thù của loại hình doanh nghiệp…

2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp

a Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh

Ngành, nghề kinh doanh do doanh nghiệp lựa chọn và được ghi vào Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh, doanh nghiệp phải tuân thủ, trường hợp kinh doanh ngành nghề là bất hợp pháp Doanh nghiệp thựchiễn nghĩa vụ này sẽ bảo đảm cho hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế Khi đăng kýkinh doanh một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp đã giải trình về điều kiện này trong bộ

hồ sơ đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải bảo đảm các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động

b Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn

Thông qua công tác kế toán doanh nghiệp kiểm soát được hoạt động tài chính, nắm chắc đượctình hình và thực trạng tài chính của mình, từ đó doanh nghiệp đưa ra các giải pháp kịp thời, xây dựngcác kế hoạch, phương hướng hoạt động phù hợp Trên cơ sở các số liệu kế toán, doanh nghiệp lập vànộp báo cáo tài chính một cách trung thực, chính xác, đúng hạn không chỉ bảo đảm sự quản lý của nhànước đối với doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa trong việc minh bạch hoá hoạt động tài chính của doanhnghiệp Đây là một trong các yêu cầu đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

c Đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác

Để bảo đảm sự phân phối lại thu nhập cho các đối tượng trong xã hội nhà nước tiến hành thuthuế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước quản lý công tác này thông quahoạt động đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế của các doanh nghiệp Ngoài các loại thuế phổ biếnnhư thuế doanh thu, thuế VAT… Phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể, vào ngành nghề,lĩnh vực, địa bàn kinh doanh… doanh nghiệp phải nộp các loại thuế và các nghĩa vụ tài chính khác

d Bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm đối với người lao động

Sau khi tuyển dụng, thuê lao động, trong quá trình sử dụng lao động, doanh nghiệp phải bảo đảmcác quyền lợi của người lao động theo quy định của pháp luật lao động và các thoả thuận, cam kết tronghợp đồng lao động Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như các quyền lợi khác thuộc lĩnh vực an sinh

xã hội được luật bảo hiểm và các luật chuyên ngành khác quy định dành cho người lao động doanhnghiệp phải tuân thủ

đ Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố

Nhằm bảo đảm trật tự của thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng doanh nghiệp phải bảođảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch vụ cung cấp ra thị trường Tiêu chuẩn hàng hoá donhà nước ban hành hoặc doanh nghiệp tự công bố đều có giá trị bắt buộc như nhau Nếu vi phạm, doanhnghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

e Thực hiện chế độ thống kê; định kỳ báo cáo các thông tin, tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Thêm một nghĩa vụ trong lĩnh vực tài chính cho thấy tầm quan trọng của nội dung này đối vớidoanh nghiệp cũng như quyết tâm của nhà nước trong việc thực hiện công khai hoá, minh bạch hoá, lành

mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Doanh

nghiệp chịu trách nhiệm trước những thông tin đã được báo cáo, công khai, khi phát hiện các thông tinthiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung

f Tuân thủ quy đinh của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh

Trang 28

Không chỉ quan tâm đến mục tiêu kinh tế, doanh nghiệp còn phải tham gia giải quyết các vấn đề

xã hội Tuy nhiên, các vấn đề xã hội được quy định trong nghĩa vụ này của doanh nghiệp chưa hẳn làhoạt động mang tính tích cực mà chủ yếu mang tính ngăn chặn, hạn chế Bởi thực tế các hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến ảnh hưởng tới nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội, điển hình làgây ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên chưa hợp lý, phá vỡ cảnh quan, di tích

Ngoài các nghĩa vụ cơ bản nêu trên, doanh nghiệp còn phải thực hiện các nghĩa vụ khác phù hợpvới chức năng hoạt động, quy mô, tính đặc thù của loại hình doanh nghiệp…

IV CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP

Do sự khác biệt về số lượng thành viên, quy mô hoạt động, tính chất của các loại loại hình doanhnghiệp, Luật Doanh nghiệp quy định nhiều mô hình tổ chức quản lý khác nhau mà tựu chung lại có thểchia thành hai dạng là cơ cấu tổ chức quản lý giản đơn (2 hoặc 3 bộ phận) và cơ cấu tổ chức quản lý đầy

đủ (4 bộ phận)

1 Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp tư nhân

Luật Doanh nghiệp năm 2005 không quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp tưnhân mà dành cho chủ doanh nghiệp được toàn quyền lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp.Trong đó có thể tự mình làm giám đốc hoặc thuê giám đốc điều hành doanh nghiệp nhưng chủ doanhnghiệp luôn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Quy định này đã cho thấy tính giản đơntrong tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tư nhân

2 Cơ cấu tố chức quản lý của công ty hợp danh

Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty hợp danh gồm 3 bộ phận là Hội đồng thành viên, Chủ tịchHội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc)

Hội đồng thành viên gồm tất cả thành viên hợp lại, bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịchHội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty theo Điều lệ công ty Hộiđồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty khi có hai phần ba tổng sốthành viên hợp danh chấp thuận Các vấn đề đặc biệt quan trọng phải được ít nhất ba phần tư tổng sốthành viên hợp danh chấp thuận là phương hướng phát triển công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;tiếp nhận, chấp nhận cho rút khỏi hoặc khai trừ thành viên hợp danh; quyết định dự án đầu tư, việc vay,huy động vốn, cho vay với giá trị lớn; quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều

lệ của công ty; quyết định, thông qua báo cáo tài chính hằng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợinhuận chia cho từng thành viên; quyết định giải thể công ty

Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc cùng thực hiện chức năng quản lý

và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh; triệu tập và

tổ chức họp Hội đồng thành viên; ký các quyết định hoặc nghị quyết của của Hội đồng thành viên; phâncông, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh; ký các quyết định về quy chế, nộiquy và các công việc tổ chức nội bộ; tổ chức sắp xếp, lưu giữ sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và các tàiliệu; đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước kể cả trong các vụ kiện, tranh chấp thươngmại hoặc các tranh chấp khác…

Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinhdoanh hằng ngày của công ty Thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý vàkiểm soát công ty Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinhdoanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số

3 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân có hai chức danh quản lý là Chủ tịchcông ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Chủ sở hữu công ty đồng thời là Chủ tịch công ty Chủ tịch công

ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tạiĐiều lệ công ty Chủ tịch công ty có thể kiêm nhiệm hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổnggiám đốc

4 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức

Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo uỷ quyền với nhiệm kỳ khôngquá năm năm để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Cơ cấu tổ chứcquản lý của công ty này luôn gồm 3 bộ phận Trong đó, ngoài hai bộ phận Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

và Kiểm soát viên, trường hợp có ít nhất hai người được bổ nhiệm làm đại diện theo uỷ quyền thì lập Hội

Trang 29

đồng thành viên; trường hợp một người được bổ nhiệm thì lập chức danh Chủ tịch công ty do người được

bổ nhiệm làm người đại diện theo uỷ quyền nắm giữ

Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty nhân danh chủ sở hữu công ty tổ chức thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; nhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của côngty; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công việc được giao

Giám đốc hoặc Tổng giám đốc do Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty bổ nhiệm hoặcthuê với nhiệm kỳ không quá năm năm để điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty Giámđốc hoặc Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước pháp luật và Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty

về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình

Kiểm soát viên gồm từ một đến ba người do Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm với nhiệm kỳ khôngquá ba năm Kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về việc của mình

5 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên

Luật Doanh nghiệp quy định công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được tổ chứctheo hai mô hình như sau:

Công ty trách nhiệm hữu hạn dưới 11 thành viên gồm Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồngthành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này, công ty có thể thành lập Ban kiểm soát phùhợp với yêu cầu quản trị công ty

Công ty trách nhiệm hữu hạn từ 11 thành viên trở lên gồm Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hộiđồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Ban kiểm soát

Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạnnhiều thành viên được quy định cụ thể như sau:

a Hội đồng thành viên

Hội đồng thành viên gồm các thành viên, thành viên là tổ chức chỉ định người đại diện theo uỷquyền tham gia Hội đồng thành viên ít nhất mỗi năm họp một lần, ngoài ra, có thể họp bất thường Cuộchọp của Hội đồng thành viên được tổ chức tại trụ sở chính của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công tyquy định khác Chủ tịch Hội đồng thành viên chịu trách nhiệm triệu tập họp Hội đồng thành viên Cuộchọp được tiến hành khi có số thành viên dự họp đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ Trường hợp cuộc họplần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành thì được triệu tập họp lại với tỷ lệ thấp hơn hoặc không phụthuộc số thành viên dự họp và số vốn điều lệ họ nắm giữ

Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, Hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ sauđây:

- Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm; tăng, giảm vốn điều lệ; thời điểm,phương thức huy động vốn; phương thức đầu tư và dự án đầu tư lớn; giải pháp phát triển thị trường, tiếpthị và chuyển giao công nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị lớn; cơ cấu tổ chứcquản lý; thành lập công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện và quyết định tổ chức lại; giải thể hoặc yêucầu phá sản công ty

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức, ký, chấm dứt hợp đồng và quyết định mức lương, thưởng vàlợi ích khác đối với những người quản lý

- Thông qua báo cáo tài chính hàng năm, phương án sử dụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương án xử

lý lỗ của công ty

- Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty…

Hội đồng thành viên thông qua các quyết định bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiếnbằng văn bản hoặc hình thức khác Trong đó nếu Điều lệ công ty không quy định khác thì các vấn đề phảiđược thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên là: Sửa đổi, bổ sung Điều lệcông ty; quyết định phương hướng phát triển công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồngthành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; thông qua báo cáo tàichính hằng năm; tổ chức lại hoặc giải thể công ty

Các quyết định của Hội đồng thành viên có giá trị khi có số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng sốvốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận Riêng các vấn đề đặc biệt quan trọng là bán tài sản có giátrị lớn; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp và một số loại hợp đồng cầnđược số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận Nếu lấy ý kiếnbằng văn bản thì luôn cần sự đồng ý của số thành viên đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ

b Chủ tịch Hội đồng thành viên

Trang 30

Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch với nhiệm kỳ không quá năm năm Chủtịch Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty và là người đại diện theopháp luật của công ty theo Điều lệ công ty quy định với có các quyền và nhiệm vụ sau đây:

- Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên;chương trình, nội dung, tài liệu; triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc để lấy ý kiến cácthành viên

- Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên

- Ký các quyết định của Hội đồng thành viên…

c Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

Giám đốc hoặc Tổng giám đốc do Hội đồng thành viên bầu hoặc thuê là người điều hành hoạtđộng kinh doanh hằng ngày của công ty Giám đốc có thể là đại diện của doanh nghiệp nếu Điều lệ công

ty quy định Với tư cách đó, Giám đốc hoặc Tổng giăm đốc có các quyền và nhiệm vụ sau:

- Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên

- Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày; tổ chức thực hiện kế hoạch kinhdoanh và phương án đầu tư của công ty

- Ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩmquyền của Hội đồng thành viên

- Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thànhviên

- Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức công ty

- Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Hội đồng thành viên; kiến nghị phương án sử dụng lợinhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh

d Ban kiểm soát: Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Trưởng

ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy đinh

6 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

Luật Doanh nghiệp quy định công ty cổ phần được tổ chức theo hai mô hình như sau:

Công ty cổ phần dưới 11 thành viên gồm Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên,Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này, công ty có thể thành lập Ban kiểm soát với quyền, nghĩa

vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc do Điều lệ công ty quy định

Công ty cổ phần từ 11 thành viên trở lên gồm Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thànhviên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Ban kiểm soát Trường hợp công ty cổ phần có ít hơn 11 cổ đôngnhưng có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần thì cũng tổ chức theo mô hình này

Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần được quy định

cụ thể như sau:

a Đại hội đồng cổ đông

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông cố quyền biểu quyết, đó là cổ đông sở hữu phần vốn cóquyền biểu quyết Đại hội đồng cổ đông họp thường niên hoặc bất thường nhưng ít nhất mỗi năm họpmột lần, trên lãnh thổ Việt Nam để thảo luận và thông qua các vấn đề sau đây:

- Báo cáo tài chính hằng năm; báo cáo của Hội đồng quản trị đánh giá thực trạng công tác quản lý kinhdoanh ở công ty và của Ban kiểm soát về quản lý công ty của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổnggiám đốc

- Mức cổ tức đối với mỗi cổ phần của từng loại

Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65%tổng số cổ phần có quyền biểu quyết Nếu phải triệu tập lại thì số đại diện thấp hơn hoặc không phụthuộc tỷ lệ nào

Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần, Đại hội đồng cổ đông có các quyền vànhiệm vụ sau đây:

Trang 31

- Thông qua định hướng phát triển của công ty; báo cáo tài chính hằng năm.

- Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; cổ tức hằng năm củatừng loại cổ phần; đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị lớn; mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán củamỗi loại; tổ chức lại, giải thể; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát; xem xét và xử lýcác vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty

- Chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty với cổ đông và người quản lý

Đại hội đồng cổ đông thông qua các quyết định bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy

ý kiến bằng văn bản Các vấn đề Đại hội đồng cổ đông phải thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộchọp là sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; thông qua định hướng phát triển công ty; quyết định loại cổ phần

và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồngquản trị và Ban kiểm soát; quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản lớn; thông qua báo cáo tài chính hằngnăm; tổ chức lại, giải thể công ty

Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có số cổ đông đại diện ítnhất 65 % tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận Riêng quyết định về loại cổphần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chứclại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản lớn; chấp thuận một số hợp đồng quan trọng thì phải được số

cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận Trường hợplấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông phải được số cổ đông đại diện ít nhất75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận

b Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị có từ ba đến mười một thành viên, nếu Điều lệ công ty không có quy địnhkhác Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm Thành viênHội đồng quản trị không nhất thiết phải là cổ đông của công ty Hội đồng quản trị họp theo định kỳ ítnhất mỗi quý một lần tại trụ sở chính của công ty hoặc ở nơi khác và có thể họp bất thường Cuộc họp chỉđược tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên dự họp Quyết định của Hội đồng quản trịđược thông qua nếu được đa số thành viên dự họp chấp thuận Thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc hoặcTổng giám đốc không phải là thành viên Hội đồng quản trị, có quyền dự các cuộc họp và thảo luậnnhưng không được biểu quyết

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định,thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông đó là cácvấn đề sau:

- Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm; chào bán cổphần mới; huy động thêm vốn; giá chào bán cổ phần và trái phiếu; mua lại cổ phần không quá 10% tổng

số cổ phần của từng loại đã được chào bán trong mỗi mười hai tháng; phương án đầu tư, dự án đầu tư;giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ; thành lậpcông ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện; góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác; thời hạn

và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh

- Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay có giá trị lớn

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với người quản lý và quyếtđịnh mức lương và lợi ích của họ; cử người đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặcphần vốn góp ở công ty khác và quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những người đó

- Duyệt chương trình, nội dung, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổđông thông qua quyết định

- Kiến nghị mức cổ tức được trả; loại cổ phần, tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; tổchức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty

- Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinhdoanh hằng ngày của công ty

- Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông…

Hội đồng quản trị thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bảnhoặc hình thức khác Mỗi thành viên Hội đồng quản trị có một phiếu biểu quyết Phù hợp với vai trò củangười quản lý, thành viên Hội đồng quản trị có một số tiêu chuẩn và điều kiện nhất định Đứng đầu Hội

Trang 32

đồng quản trị là Chủ tịch do Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quảntrị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.

c Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số thành viên hoặc thuê người khác làm Giám đốchoặc Tổng giám đốc với nhiệm kỳ không quá năm năm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty khôngđược đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác Giám đốc hoặc Tổng giámđốc có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty với chức năng điều hành công việc kinh doanhhằng ngày của công ty Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau đây:

- Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày; lương và phụ cấp (nếu có) đốivới người lao động trong công ty

- Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị; kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư củacông ty

- Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty; phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗtrong kinh doanh

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩmquyền của Hội đồng quản trị

- Tuyển dụng lao động…

Tương tự giám đốc trong công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, Giám đốc hoặc tổnggiám đốc công ty cổ phần có tiêu chuẩn và điều kiện nhất định

d Ban kiểm soát

Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác Cácthành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng Ban với quyền và nhiệm vụ do Điều lệcông ty quy định Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có ítnhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên và không nhất thiết phải là cổ đông hoặc ngườilao động của công ty Thành viên Ban Kiểm soát phải đáp ứng một số tiêu chuẩn, điều kiện nhất định vàkhông được giữ các chức vụ quản lý công ty và không phải là người thân thích của những người quản lý

đó Ban kiểm soát có quyền và nhiệm vụ như sau:

- Giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty;kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt độngkinh doanh

- Kiểm tra công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính; thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh,báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồngquản trị và trình báo cáo thẩm định các báo cáo đó lên Đại hội đồng cổ đông

- Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động củacông ty; kiểm tra và báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra…

- Kiến nghị Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổchức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh

- Thông báo bằng văn bản với Hội đồng quản trị và yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi

vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả

Để thực hiện chức năng của mình, Ban kiểm soát có quyền sử dụng tư vấn độc lập Ban kiểmsoát có thể tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đạihội đồng cổ đông

Trang 33

CHƯƠNG V

PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ

I GIỚI THIỆU VỀ HỢP TÁC XÃ

1 Giới thiệu chung về hợp tác xã và pháp luật về hợp tác xã

Hợp tác xã đã xuất hiện trên thế giới hơn 160 năm với bản chất là "cốt làm cho người nghèo trở thànhanh em, anh em thì giúp nhau, nhờ lẫn nhau, bỏ hết thói cạnh tranh, làm sao cho ai đã có công trồng cây thìphải được ăn quả, ai muốn ăn quả thì tham gia trồng cây" Tại Việt Nam, gần 60 năm trước, từ các tổ vầncông, đổi công trong sản xuất nông nghiệp, mô hình hợp tác xã đã hình thành Sự tồn tại và phát triển của Hợptác xã là phù hợp với đạo lý người Việt Nam, phù hợp với yêu cầu đưa người lao động, đặc biệt là người nôngdân vào làm ăn tập thể của nền kinh tế quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội

Từ khi hợp tác xã mới hình thành, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về hợp tác xã.Giai đoạn 1945 - 1958, số văn bản pháp luật về hợp tác xã chưa nhiều, pháp luật mới chỉ đề ra nhữngphương hướng chung về tổ chức, xây dựng hợp tác xã Sau khi công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp ởmiền Bắc cơ bản được hoàn thành, từ năm 1960 đến năm 1988, nhà nước đã từng bước ban hành phápluật về tổ chức, hoạt động, quản lý của hợp tác xã và xã viên Với sự quan tâm đó của Đảng và Nhà nước,hợp tác xã đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô, lĩnh vực ngành nghề, địa bàn hoạt động vàhoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, hợp tác xãđược nhà nước xác định là cùng doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường.Nhà nước dần hoàn thiện khung pháp lý về tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nhằm khắc phục tìnhtrạng manh mún, tản mạn của pháp luật về hợp tác xã, đồng thời xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới

Cho đến nay, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành 2 văn bản Luật

về hợp tác xã là Luật Hợp tác xã năm 1996 và Luật này đã bị thay thế bởi Luật Hợp tác xã năm 2003.Các văn bản pháp lý quan trọng này đã đáp ứng một phần nhu cầu của người lao động, hộ sản xuất, kinhdoanh, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, khoảng trên 17.000hợp tác xã hiện nay, chủ yếu là hợp tác xã nông nghiệp đang trong tình trạng còn nhiều mặt yếu kém,năng lực nội tại hạn chế, số hợp tác xã làm ăn hiệu quả ít; lợi ích đem lại cho thành viên chưa nhiều, kinh

tế tập thể chiếm tỷ trọng thấp trong tổng sản phẩm xã hội, chưa đủ sức đảm nhiệm vai trò cùng với kinh

tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hộichủ nghĩa

Trang 34

2 Khái niệm, đặc điểm của hợp tác xã

a Khái niệm

Điều 1 - Luật Hợp tác xã năm 2003 định nghĩa về hợp tác xã như sau:

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi íchchung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật Hợp tác xã để phát huy sức mạnh tậpthể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất.kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịutrách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác củahợp tác xã theo quy định của pháp luật

b Đặc điểm của hợp tác xã

- Là tổ chức kinh tế tự chủ hoạt động như một loại hình doanh nghiệp:

Như vậy, hợp tác xã không phải là tổ chức đa tính chất như trước đây đồng thời không phải làdoanh nghiệp mà là một trong các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam Đó

là lý do hợp tác xã không tổ chức, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp mà tổ chức hoạt động theo một vănbản luật riêng là Luật Hợp tác xã Tuy nhiên, tồn tại bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong nềnkinh tế thị trường nhiều thành phần, đòi hỏi hợp tác xã phải hoạt động như doanh nghiệp, tự chủ, tự hạchtoán trong sản xuất, kinh doanh

- Hợp tác xã có tối thiểu là 7 xã viên gồm cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện lập ra donhu cầu và lợi ích chung:

Thành viên của hợp tác xã được gọi là xã viên Trước đây, số lượng thành viên của hợp tác xã docác Điều lệ mẫu hợp tác xã quy định và tuỳ thuộc vào lĩnh vực hoạt động mà số lượng thành viên tốithiểu của hợp tác xã khác nhau Hiện nay pháp luật thống nhất số xã viên tối thiểu cho hợp tác xã hoạtđộng trên tất cả các lĩnh vực là 07 xã viên hợp tác xã gồm cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân Trong đó hộgia đình là loại thành viên đặc thù của hợp tác xã Pháp nhân là loại thành viên mới được Luật Hợp tác xãnăm 2003 ghi nhận gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

- xã hội; tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghềnghiệp; Quỹ xã hội, quỹ từ thiện và các tổ chức khác Chủ thể là cá nhân khi tham gia hợp tác xã phảiđáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Một trong các điều kiện đó là xã viên tựnguyện lập ra, tham gia và ra khỏi hợp tác xã theo sự chi phối của nhu cầu và lợi ích của xã viên

- Xã viên góp vốn, góp sức vào hợp tác xã:

Để tiến hành các hoạt động sản xuất - kinh doanh chung, khi tham gia hợp tác xã, các xã viênphải góp phần vốn tối thiểu là số tiền hoặc giá trị tài sản, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, quyền sởhữu các phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật và các loại giấy tờ có giá khác được quy ra tiền Ngoài ra,các xã viên phải góp sức vào hợp tác xã bằng việc tham gia xây dựng hợp tác xã dưới các hình thức trựctiếp quản lý, lao động sản xuất, kinh doanh, tư vấn và các hình thức tham gia khác Đây là yêu cầu đặcthù đối với thành viên của loại hình tổ chức kinh tế tập thể Điều này cho thấy tính xã hội của loại hình tổchức kinh tế này khi yêu cầu các xã viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động của hợp tác xã để tươngthân, tương trợ lẫn nhau

- Vốn của hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể:

Là tổ chức kinh tế tập thể, khác với các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thànhphần của Việt Nam, vốn của doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu chung,vốn của hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể Đó là sở hữu do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân cùng góp vốn,góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theonguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi

- Hợp tác xã là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Việt Nam chịu trách nhiệm về các nghĩa vụtài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã:

Như vậy, hợp tác xã là tổ chức kinh tế thuộc nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam đượchoạt động trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, tuân thủ sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyềncủa Việt Nam và bình đẳng với các loại hình tổ chức kinh tế khác trong nền kinh tế Hợp tác xã đượcnhân danh chính mình, tự chủ tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về cácnghĩa vụ tài chính bằng chính tài sản của mình Tức là, hợp tác xã bình đẳng với các các loại hình tổ chứckinh tế khác trong nền kinh tế nhiều thành phần cả trong trách nhiệm về tài chính

Ngày đăng: 27/04/2018, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w