Nó liên hệ mật thiết với phong cách cổ điển mà Hồ Chí Minh đã sử dụng cũng như cảm quan về đời sống của một nhà thơ hiện đại, cụ thể của một nhà thơ cộng sản.. Những biểu hiện này cần đư
Trang 1Anh hoặc chị hãy bình giảng bài thơ Chiều tối để làm nổi rõ chất thép, vẻ đẹp cổ điển, vẻ
đẹp hiện đại, tấm lòng nhân đạo bao la của Hồ Chí Minh
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là kiểu bài bình giảng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, nhưng có định hướng rõ
rệt Trọng tâm của việc bình giảng là phải làm nổi rõ chất thép, vẻ đẹp cổ điển, vẻ đẹp hiện đại, tấm lòng nhân đạo bao la của Hồ Chí Minh.
Cần chú ý đối chiếu bản dịch thơ với nguyên tác; kết hợp giảng với bình.
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Câu khai và câu thừa là bức tranh thiên nhiên lúc chiều tối:
* Câu khai: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
- Thời gian là chiều tối (Bác đã nói ở tựa đề, không nói lại trong bài thơ).
- Không gian rất vắng vẻ, bao la Đặc biệt, chỉ nhìn một cánh chim bay, Bác lại thấm
hiểu được “chim mỏi” (quyện điểu) Hơn nữa, Bác còn khẳng định chim sẽ “về rừng tìm cây ngủ” (quy lâm tầm túc thụ) Phải là con người vô cùng thương yêu loài vật, hiểu nhiều về loài vật mới có
được sự cảm nhận tinh tế như vậy Rõ ràng, Hồ Chí Minh có một tấm lòng nhân đạo bao la
* Câu thừa: Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Câu thơ lại mở rộng một không gian khoáng đãng, bát ngát
* Đánh giá:
- Chỉ vài nét chấm phá đơn sơ: một cánh chim, một chòm mây, núi rừng và bầu trời, Hồ Chí Minh đã vẽ được một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, mang màu sắc cổ điển phương Đông
Bác dùng hình ảnh ước lệ “chim mỏi về rừng” để nói đến hoàng hôn Bác lấy điểm để tả diện – tả
“chòm mây lẻ” để gợi cái vô cùng của bầu trời Bác lấy chuyển động để gợi sự ngừng nghỉ Bác lấy
không gian để tả thời gian
- Trong chiều sâu của ý thơ còn “hé mở” cho ta thấy một thoáng ước mơ thầm kín về một mái nhà ấm, một chỗ dừng chân trên con đường dài muôn dặm của Bác
2 Câu chuyển và câu hợp là bức tranh sinh hoạt của con người:
Chú ý phân tích:
* Nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn; lối đảo ngược khéo léo “ma bao túc, bao túc ma” và
câu thơ “xay hết lò than đã rực hồng”
* Vẻ đẹp hiện đại của bài thơ: Sự chuyển đổi bất ngờ của mạch thơ đã xua đi cái lạnh
lẽo, lẻ loi, tĩnh mịch, buồn bã của vùng sơn cước vào buổi chiều tối
* Chất thép: Dù trong nghịch cảnh nhưng Bác vẫn lạc quan, yêu cảnh, yêu người, thi
hứng nồng nàn (vì thi hứng bốc cao nên bài thơ Chiều tối mới ra đời).
* Tấm lòng nhân đạo bao la, nhân đạo đến quên mình:
- Mọi vui buồn của Hồ Chí Minh đều gắn với vui buồn của dân tộc và nhân loại, chứ không phụ thuộc cảnh ngộ của riêng mình
- Hồ Chí Minh bao giờ cũng hướng về con người để cảm thông, thấu hiểu, chia sẻ với cuộc sống vất vả của con người, cụ thể là người lao động (cô gái xay ngô) trong bức tranh thơ này
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm) Bình luận về chất thơ của bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh).
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Trang 2Đề yêu cầu tìm hiểu về điểm cốt lõi trong “chất thơ” của bài “Chiều tối”, tức là cái cơ bản đã làm nên sức hấp dẫn, sức sống riêng của bài thơ này Chất thơ của “Chiều tối” có nhiều biểu hiện đa dạng Nó toát lên từ vẻ đẹp của ngôn từ và gắn liền với nghệ thuật sử dụng hình ảnh, nghệ thuật dùng nhãn tự Nó liên hệ mật thiết với phong cách cổ điển mà Hồ Chí Minh đã sử dụng cũng như cảm quan về đời sống của một nhà thơ hiện đại, cụ thể của một nhà thơ cộng sản Những biểu hiện này cần được phân tích, nhưng điều quan trọng trước hết là người viết phải cắt nghĩa được chúng từ một điểm qui chiếu nhất định, và đến lượt nó, điểm qui chiếu này phải đảm bảo được một sự phát hiện có chiều sâu về “chân dung tinh thần” của tác giả – nhà thơ Hồ Chí Minh Nói giản dị hơn, khi thực hiện đề này, học sinh phải xác định được cho bài viết của mình một cái tứ xuyên suốt Cái tứ đó có thể là: Chất thơ của bài thơ “Chiều tối”, xét cho cùng là chất thơ của một tình yêu lớn hướng tới cuộc sống con người.
B DÀN BÀI:
I MỞ BÀI: Giới thiệu bài thơ và vấn đề chất thơ.
II THÂN BÀI:
1 Thơ ca Đông Tây kim cổ có rất nhiều bài viết về buổi chiều hoặc được gợi hứng từ buổi chiều Mỗi bài thơ có một cái hay riêng, một sức hấp dẫn riêng và thể hiện một kiểu quan hệ riêng đối với đời sống Bài thơ “Chiều tối” cũng vậy Nó được người ta nhớ vì cái riêng của mình, vì cái tình đối với cuộc sống vẫn được thể hiện đậm dà ngay trong lúc tác giả của nó bị đọa đày, ngay trong lúc mà đối với người bình thường, cảm xúc thơ dễ bị triệt tiêu hoặc không cất lên nổi
2 Bài thơ mở đầu với hai câu thể hiện niềm rung động của tác giả trước vẻ đẹp đơn sơ của tạo vật lúc chiều xuống nơi xóm núi Ở trong trường hợp của một số bài thơ khác, sự xuất hiện của hình ảnh cánh chim, chòm mây có thể mang một sắc thái tự nhiên, hiển nhiên Nhưng ở bài thơ này, sự xuất hiện đó có chiều đặc biệt Điều này rất dễ nhận ra khi ta nhớ lại hoàn cảnh ra đời của bài thơ Dĩ nhiên, qua các hình ảnh này, ta thấy rõ hứng thơ dồi dào của Bác, nhưng ta còn thấy rõ hơn lòng yêu đời của Bác, dù hoàn cảnh khắc nghiệt thế nào cũng không phủ lên cảnh vật một cái nhìn u tối Thêm nữa, các hình ảnh được Bác nhắc tới cũng có cái gì đó rất gần gũi với đời sống, với cảnh ngộ của chính Bác chứ không tồn tại như những kí hiệu trừu tượng, ước lệ
3 Trong hai câu sau, Bác hướng sự chú ý vào một cảnh sinh hoạt của con người Người ta thấy rõ ở đây sự tinh luyện trong nghệ thuật thơ của Bác: Tả bóng tối mà không dùng chữ “tối”; dũng chữ “hồng” theo cách điểm nhãn Tuy nhiên, tất cả những điều đó chỉ là những biểu hiện bên ngoài của một thiên hướng quan tâm sâu sắc tới cuộc sống con người và của một cái nhìn nghệ thuật luôn thấy con người là hình ảnh trung tâm của đời sống nói chung, luôn tìm ra ánh sáng lạc quan, hi vọng trong bất cứ cảnh ngộ nào
III KẾT BÀI:
Nhìn khái quát chất thơ của “Chiều tối” là chất thơ của một tâm hồn đẹp Đọc bài thơ này, điều khiến ta rung động trước hết là sự biểu hiện sinh động của con người Hồ Chí Minh: một nhà nhân đạo lớn, một người cộng sản chân chính và một nhà thơ đích thực
(Thực hành Làm văn 12) Phân tích bài thơ Giải đi sớm ̣̣̣̣̣̣̣̣̣(Nhật kí trong tù - Hồ Chí Minh).
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Bài thơ mô tả cảnh chuyển lao trong đêm và cảnh chuyển lao lúc bình minh; đồng thời, bộc lộ tình cảm, nghị lực “thép”, tấm lòng nhân đạo mênh mông của Hồ Chí Minh
Trang 3Khi phân tích, cần bám sát văn bản, ngôn từ (cả 3 bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ); biết chọn lọc những yếu tố độc đáo nhất để làm toát lên nội dung, nghệ thuật của thi phẩm Mặt khác,
phải gắn văn bản thơ với tập Nhật kí trong tù.
Học sinh có thể chọn phương pháp phân tích cắt ngang từng cặp câu Cuối cùng, đánh giá tổng hợp cả hai khổ thơ.
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
I Cảnh chuyển lao trong đêm:
1 Bức tranh thiên nhiên:
* Rất khắc nghiệt: Đêm chưa tàn, đường xa, gió từng trận từng trận lạnh lẽo.
* Khung cảnh thi vị:
- Xuất hiện âm thanh quen thuộc của tiếng gà như một tiếng reo vui báo hiệu một ngày mới, một sự sống mới bắt đầu
- Có “Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san”.
* Bút pháp tả cảnh rất tinh tế, độc đáo:
- Dùng âm thanh (tiếng gà) để chỉ thời gian
- Tả từ gần đến xa: Tiếng gà – quần tinh – vầng trăng – đỉnh núi Thiên nhiên càng lúc càng mở rộng trong tầm mắt người tù bị giải
2 Hình ảnh tù nhân:
* Tư thế, hành động:
Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu, trận gió hàn.
Tư thế người lên đường không phải là của một người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xiềng xích”, mà là tư thế của một người đang đi chiến đấu vì chính nghĩa.
* Tâm trạng: Rất chủ động, bình thản, ung dung, sẵn sàng vươn lên số phận, hoàn cảnh
gian nan, nghiệt ngã, chứ không buông xuôi trước nghịch cảnh
II Cảnh chuyển lao lúc bình minh:
1 Bức tranh thiên nhiên:
* Rực rỡ, ấm áp, tráng lệ, chan hòa ánh sáng:
- “Bạch sắc dĩ thành hồng” (Màu trắng đã thành màu hồng).
- “U ám tàn dư tảo nhất không” (Những rơi rớt của bóng đêm sớm hết sạch).
* Ở đây có sự đối lập giữa màu hồng tươi tắn với bóng đêm u ám, lạnh lẽo.
2 Hình ảnh tù nhân:
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ Người đi thi hứng bỗng thêm nồng
* Tư thế: Hăm hở, khỏe khoắn, sang trọng.
* Tâm trạng: Sảng khoái, lạc quan, thi hứng nồng nàn, phơi phới một niềm tin, thể
hiện ở từng bước đi đĩnh đạc, thanh thoát
(Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Anh hoặc chị hãy bình giảng bài thơ Mới ra tù tập leo núi (Tân xuất ngục học đăng sơn) của
Hồ Chí Minh
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Bài thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp tích tụ, thể hiện nghị lực kiên cường, tấm lòng yêu nước thiết tha, tinh thần phấn đấu không mệt mỏi trong bất cứ hoàn cảnh khắc nghiệt nào của Hồ Chí Minh
Trang 4Bên cạnh đó, bài thơ cũng có dụng ý thông tin: Tôi vẫn bình yên, lòng tôi vẫn trong sáng Tôi luôn nhớ về đất nước, về các đồng chí.
Để làm nổi bật nội dung ấy, trong quá trình bình giảng, cần chú ý đến tâm trạng của Bác trong lúc sáng tác, nhất là hoàn cảnh ra đời của bài thơ Mặt khác, khi cần thiết, có thể đối chiếu cả
ba bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Hoàn cảnh ra đời của bài thơ:
Bài thơ này vốn không nằm trong tập Nhật kí trong tù Về sau, khi xuất bản, được đưa
thêm vào, vì bài thơ được sáng tác ngay khi Hồ Chí Minh ra tù
2 Vẻ đẹp cổ điển:
* Câu khai:
- Phiên âm: Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân.
- Dịch nghĩa: Mây ôm dãy núi, núi ôm mây.
- Dịch thơ: Núi ấp ôm mây, mây ấp núi.
Thủ pháp nhân hóa tu từ và điệp từ: “Mây ôm dãy núi, núi ôm mây” đã góp phần vẽ lên
một khung cảnh mây, núi trùng trùng điệp điệp, rất có hồn, rất đáng yêu
* Câu thừa:
- Phiên âm: Giang tâm như kính tịnh vô trần
- Dịch nghĩa: Lòng sông như gương, không chút bụi.
- Dịch thơ: Lòng sông gương sáng bụi không mờ.
Thủ pháp so sánh tu từ “lòng sông như gương” đã làm bật lên vẻ đẹp tuyệt vời của tấm
lòng Hồ Chí Minh Đó là tấm lòng thủy chung son sắt, trong sáng, thanh khiết, một lòng vì dân
vì nước trong bất kì nghịch cảnh nào của cuộc đời.
3 Tâm trạng của nhà thơ:
* Câu chuyển: “Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh”.
Nỗi niềm nhớ thương, lo lắng khôn nguôi cho vận mệnh Tổ quốc.
* Câu hợp: “Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa”.
Nỗi niềm nhớ thương bạn bè, đồng chí da diết, cháy bỏng.
* Đánh giá: Hai câu trên có sự tương phản giữa cái vô hạn với cái hữu hạn.
4 Đánh giá tổng hợp:
* Đọc bài thơ, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh của một con người có nghị lực phi thường –
nghị lực “thép”
* Bài thơ thể hiện rõ phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh Nhưng đáng ghi nhớ nhất
của bài thơ này là chủ nghĩa lạc quan cách mạng vô bờ bến của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Trang 5tình cảm, ý chí…) Nếu có nói đến những khổ ải mà Bác đã phải trải qua trong nhà tù, thì cũng nhằm nói lên ý chí, nghị lực của Bác.
Đề bài yêu cầu trình bày cảm nhận của bản thân người làm bài, thực ra cũng là phân tích
“con người tinh thần” của Hồ Chí Minh trong tập thơ, có kết hợp với bình luận và nêu cảm nghĩ
của mình
- Học sinh cần nắm vững nội dung cơ bản của tập Nhật kí trong tù, nhớ và chọn lọc những câu
thơ, bài thơ tiêu biểu thể hiện thế giới tinh thần phong phú, cao đẹp của Bác
Điều quan trọng nữa là cần quan niệm cho đầy đủ về “con người tinh thần” của Bác qua tập thơ Nhật kí trong tù về cơ bản là một tập thơ “hướng nội”, bộc lộ con người tinh thần Hồ Chí Minh
Hình tượng trữ tình bao trùm trong tập thơ là hình tượng chính con người Hồ Chí Minh Con người
tinh thần của Bác hết sức phong phú, cao cả và đẹp đẽ, nhưng cũng rất bình dị, không xa lạ với mọi người.
Để lập ý, có thể đi theo những hệ thống như: trí tuệ, tình cảm, ý chí hoặc dùng những khái
niệm có tính truyền thống như trí – nhân – dũng Cũng có thể dựa vào ý một câu thơ của Hoàng
Trung Thông để nêu hai mặt thống nhất là “thép” và “tình”
Không nên biến bài văn thành sự liệt kê các câu thơ trong một dàn ý có tính áp đặt hoặc chung chung, mà không phân tích làm rõ bức chân dung thật sự sống động, giàu sức lay động, truyền
cảm của con người tinh thần Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù.
B DÀN BÀI
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
- Nhật kí trong tù, một tập thơ được viết ra dường như ngoài chủ định của tác giả, chỉ cốt để
“ngâm ngợi cho khuây” trong những tháng ngày mà tác giả của nó – nhà cách mạng, nhà yêu nước
vĩ đại Hồ Chí Minh – bị giam giữ trong nhiều nhà tù của bọn Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch ở
tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc Nhưng tác phẩm ấy đã trở thành một sự kiện lớn trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam, có sức lay động to lớn và lâu bền trong nhiều thế hệ độc giả trong và ngoài nước.
- Giá trị lớn của Nhật kí trong tù là ở nhiều mặt Nhiều người đã nói đến giá trị phản ánh thời
đại, sức mạnh tố cáo hiện thực đen tối của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch Nhưng phải thấy rằng,
về cơ bản, Nhật kí trong tù là một tập thơ “hướng nội” Tác giả viết trước hết để cho chính mình Và
vì thế, hình tượng nổi bật và cũng là giá trị lớn lao nhất của tập thơ chính là hình tượng con người Hồ
Chí Minh Bởi vậy, sách giáo khoa Văn 12 đã nhận định: “Có thể xem Nhật kí trong tù như một bức
chân dung tự họa con người tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh”
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Đọc Nhật kí trong tù, chúng ta được tiếp cận chân dung con người tinh thần của Hồ Chí Minh
thật phong phú, cao đẹp và sâu sắc, khó nói hết được Dưới đây chỉ là một số phương diện nổi bật trong “bức chân dung” ấy
1 Khát vọng tự do:
a Một nét tâm trạng nổi bật trong Nhật kí trong tù là nỗi nóng lòng, sốt ruột như lửa đốt,
khắc khoải ngóng trông về tự do của người tù Hồ Chí Minh Mang trọng trách đại biểu cho phong
trào cách mạng Việt Nam tìm sang Trung Hoa để bàn bạc phối hợp hành động chống đế quốc, phát xít, thế mà bỗng dưng vô cớ, Bác bị bọn mật vụ Quốc dân đảng bắt giữ, rồi bị giải đi hết nhà giam này đến nhà tù khác, không được xét xử, không biết bao giờ được thả Hồ Chí Minh thấm thía nỗi đau khổ vô hạn của sự mất tự do:
Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
Trang 6Cay đắng chi bằng mất tự do (Cảnh binh khiêng lợn cùng đi) Đau khổ chi bằng mất tự do
(Bị hạn chế)
Nỗi sốt ruột nóng lòng nhiều khi thành sự bất bình, phẫn nộ, giận dữ:
Quảng Tây đi khắp, lòng oan ức Giải đến bao giờ, giải tới đâu
b Mặt khác, chúng ta cũng bắt gặp một con người hoàn toàn tự chủ về tinh thần, ung dung tự tại, tâm trí như bay lượn trong bầu trời tự do, không tù ngục nào giam hãm được.
Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Và nhiều lần, Hồ Chí Minh thấy mình là “khách tự do”, thậm chí ung dung tự tại như một
“khách tiên” (Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây, Trên đường, Đi Nam Ninh, Giải đi sớm, ) Đọc tập thơ,
chúng ta chứng kiến nhiều cuộc “vượt ngục” bằng tinh thần của người tù Hồ Chí Minh Lúc thì Người thả hồn mình theo vười vợi mảnh trăng thu, hoặc theo một cánh chim chiều, một vầng dương buổi sớm, và nhất là, tâm hồn ấy tha thiết hướng về Tổ quốc, về đồng bào đồng chí, trong cả giấc ngủ vẫn quyện với bóng cờ sao năm cánh
2 Mộât trí tuệ, một tầm tư tưởng lớn:
a Trí tuệ lớn thể hiện trong sự nhìn nhận hiện thực: Những bất công, vô lí, nghịch cảnh của
nhà tù Quốc dân đảng, nhìn rộng ra là cả một xã hội mục nát của nước Trung Hoa cũ dưới thời
Tưởng Giới Thạch)
Hơn thế nữa, từ những sự việc nhỏ, có khi là tầm thường, Hồ Chí Minh đã rút ra được những khái quát, qui luật của đời sống, qua sự chiêm nghiệm của một con người thật từng trải, nên có ý vị thâm trầm, sâu sắc
+ Một sự nhìn nhận về bản chất “thiện” của con người và tác động của hoàn cảnh, của giáo dục:
Ngủ thì ai cũng như lương thiện, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền.
Hiền dữ phải đâu là tính sắn, Phần nhiều do giáo dục mà nên.
(Nửa đêm) + Một chiêm nghiệm về Đường đời hiểm trở:
Núi cao gặp hổ mà vô sự, Đường phẳng gặp người, bị tống lao.
Những nhận định về cuộc đời của con người từng trải ấy không hề có vị yếm thế hay hư vô, mà luôn biểu hiện ý thức hành động, đặt lòng tin ở con người và hướng về cuộc sống
Đi dường mới biết gian lao, Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
(Đi đường)
b Trí tuệ lớn ấy là trí tuệ của một nhà cách mạng, có tầm nhìn xa rộng, nhận thức được
chiều hướng của lịch sử và do đó, nhìn thấu suốt tương lai Dù trong cảnh tối tăm của nhà ngục – cũng là hoàn cảnh khó khăn của thực tại lúc ấy, Người đã nhìn thấy ánh sáng của vầng dương chiếu tỏa: Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
(Buổi sớm)
Trang 7Một cuộc chuyển lao mà người tù bị dựng dậy, giải đi từ lúc nửa đêm trên con đường xa
trong gió thu “trận trận hàn”, vậy mà bỗng chốc, khung cảnh đột ngột biến đổi: ánh ban mai quét
sạch bóng tối đêm tàn và người tù đi trong ánh sáng bình minh rực rỡ với hơi ấm bao la cả vũ trụ,
con người ấy không thể không thành thi nhân với thi hứng nồng nàn (Giải đi sớm) Cái nhìn biện chứng về sự vận động của tự nhiên, của cuộc sống (Trời thu, Chiết tự) cùng với nhãn quan chính trị
xa rộng của nhà cách mạng đã tạo cơ sở cho niềm tin vững chắc vào tương lai
3 Một trái tim lớn:
Trong bài thơ Bác ơi, Tố Hữu viết:
Bác ơi tim Bác mênh mông thế, Ôm cả non sông, mọi kiếp người.
Đọc Nhật kí trong tù, điều mà ai cũng cảm nhận và rung động là tấm lòng nhân ái bao la,
tình cảm nồng nàn, cháy bỏng đối với đất nước, với nhân dân của Bác:
a Tấm lòng ấy luôn nhớ về Tổ quốc và đồng bào đồng chí:
Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng, Tin tức bên nhà bữa bữa trông.
(Tức cảnh) Khi nghe tin ở Việt Nam có biến động – tin về cuộc nổi dậy của phong trào cách mạng
trong nước, Người phấn khởi mà lại xót xa vì:
Xót mình giam hãm trong tù ngục, Chưa được xông ra giữa trận tiền.
Hình bóng Tổ quốc đã vào cả trong giấc ngủ không an của người tù ấy (Không ngủ được)
với hình ảnh ngôi sao năm cánh rất đẹp và thiêng liêng
Đến lúc thoát khỏi nhà tù, từ trên ngọn núi Tây Phong, tâm hồn sáng trong như gương ấy chỉ
một lòng trông về Tổ quốc và đồng bào đồng chí (Tân xuất ngục, học đăng sơn).
b Lòng nhân ái ở Bác Hồ là lòng nhân ái của một chủ nghĩa nhân đạo vừa rộng lớn bao la,
vừa sâu sắc thấm thía Tình thương ấy hướng trước hết vào những người lao khổ Tấm lòng ấy nhạy
bén, đồng cảm sâu sắc với mọi nỗi khổ đau, bất hạnh mà con người phải chịu đựng hàng ngày trong
nhà tù (Cháu bé trong nhà lao Tân Dương, Một người tù cờ bạc vừa chết,, ) Bác gọi những người tù cùng bị giam là “nạn hữu” (bạn tù) Bác cùng chia sẻ cảnh ngộ và nỗi niềm của họ, cùng đùa vui trong cảnh ghẻ lở (“Mặc gấm bạn tù đều khách quí, Gảy đàn trong ngục thảy tri âm”), thấu hiểu nỗi lòng nhớ quê hương, nhớ nhà của họ (Người bạn tù thổi sáo) Tình thương ấy không xa rời cơ sở giai cấp, nhưng nó mang tầm nhân loại rộng lớn phổ quát Nhà thơ nữ Ấn Độ – Amrita Pritam đã viết về Bác: “Người yêu thương nhân loại là ai đó, Bậc hiền nhân đó là ai?”.
c Tâm hồn phong phú ấy đặc biệt nhạy cảm với thiên nhiên, rung động với cái đẹp Đó thực
sự là một tâm hồn nghệ sĩ lớn, vừa mang cốt cách cổ điển phương Đông, vừa có màu sắc hiện đại
Tình yêu thiên nhiên là một phương diện rất quan trọng của tập Nhật kí trong tù Dù bị giam
hãm trong ngục tù, tâm hồn Hồ Chí Minh vẫn vượt khỏi song sắt nhà giam để giao cảm với thiên nhiên, từ ánh hồng ban mai, đám mây chiều, bông hoa hồng nở rồi tàn và nhất là trăng - người bạn
tri âm của Bác (Chiều tối, Ngắm trăng ) Trên các chặng đường chuyển lao là dịp để Người thả hồn
mình vào khung cảnh thiên nhiên Mặc dù thân thể bị cùm trói, nhưng tâm hồn Bác thật sảng khoái,
tự do (“Vui say ai cấm ta đừng”) Nhiều bài thơ được viết trong cảnh đi đày, mà như được viết từ một con người đang ung dung tự tại, một bậc hiền triết hòa đồng với thiên nhiên, vũ trụ (Chiều tối, Giải
đi sớm, Hoàng hôn)
4 Chất “thép” tuyệt vời thể hiện ở ý chí kiên định, nghị lực lớn lao, bền bỉ:
Bài thơ Đề từ của tập thơ Nhật kí trong tù đã khẳng định vai trò và sức mạnh của tinh thần đối với sự nghiệp lớn (Muốn nên sự nghiệp lớn, Tinh thần cần phải cao”.
a Chất “thép” trong Nhật kí trong tù thể hiện ở sự kiên định, vững vàng, chiến thắng mọi
gian khổ, vượt lên mọi hiểm nguy, “uy vũ bất năng khuất” trong suốt hơn một năm ròng bị đày ải nơi
Trang 8ngục tù của bọn Tưởng Giới Thạch Điều đáng chú ý là Bác Hồ luôn nhấn mạnh đến sự rèn luyện, sự kiên trì của con người, đặc biệt là người cách mạng Bởi chất “thép” không phải như một cái gì có
sẵn, được thiên phú cho những con người “siêu phàm” Với Bác, mọi gian nan là điều kiện cho con
người rèn luyện thêm vững vàng, kiên định (“tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”) và có vượt qua được mọi tai ương, đau đớn mới trở nên sáng trong, cao đẹp (Nghe tiếng giã gạo, Bốn tháng rồi).
b Chất “thép” ở Hồ Chí Minh không cần “lên giọng thép”, không cần lời thép, mà thường
toát ra một cách tự nhiên, bình dị trong tư thế ung dung, trong sự tự chủ cao độ của con người ở mọi
cảnh huống (Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh, Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù tập leo núi).
III KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Nhật kí trong tù là một bộ phận trong di sản tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Giá trị hàng đầu của tập thơ thể hiện ở “bức chân dung tự họa con người tinh thần của Hồ Chí Minh” Đó là chân
dung của một nhà cách mạng, một nhà yêu nước vĩ đại, cũng là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn,
một nhà văn hóa, một nhà thơ lớn Đó là “con người Việt Nam đẹp nhất”, nhưng cũng là con người của nhân loại, của mọi thời đại, “một con người đã qua một sự chắt lọc trong sáng nhất, đã được nâng lên đến một tầm vóc lớn” (Phêlích Pita Rôtơrighết – nhà thơ Cu Ba).
(Theo Để ôn luyện lớp 12 – Nguyễn Văn Long)
Phân tích “bức chân dung tự họa” của Hồ Chí Minh” hiện lên qua các bài thơ Chiều tối, Giải
đi sớm và Mới ra tù, tập leo núi
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là mmọt đề Văn tổng hợp đòi hỏi vừa khả năng khái quát vấn đề vừa khả năng phân tích từng tác phẩm cụ thể Để thực hiện được yêu cầu của đề, không nên phân tích lần lượt từng bài thơ mà nên rút từ các bài thơ những dẫn chứng sát hợp để minh họa cho các luận điểm về phẩm chất con người Hồ Chí Minh Một bài thơ có thể được dẫn ra nhiều lần để làm sáng tỏ những luận điểm khác nahu, do vậy, khả năng viết trùng lặp rất dễ xảy ra Để tránh khả năng này, mỗi lần dẫn thơ, người viết chỉ nên khai thác một phương diện nhất định trong ý nghĩa của nó vừa đủ chứng minh cho một luận điểm nhất định Những phương diện ý nghĩa khác sẽ tiếp tục được khai thác trong những lần dẫn sau Thêm nữa, với từng luận điểm một, chỉ cần phân tích những dẫn chứng tiêu biểu nhất Các dẫn chứng ít tiêu biểu hơn có thể chỉ nói qua
B DÀN BÀI:
I MỞ BÀI:
Các bài thơ đã nêu đều thuộc loại tác phẩm trữ tình Bản chất của thơ trữ tình là tính chủ quan Ngoài nội dung phản ánh hiện thực khách quan (theo kiểu của thơ), thơ trữ tình chủ yếu bộc lộ thế giới bên trong, thế giới tinh thần của người nghệ sĩ Hoàn toàn có cơ sở khi ta nói đến một thứ chân dung tự họa của nghệ sĩ – nhân vật trữ tình trong đó
II THÂN BÀI:
Qua các bài thơ trên, con người Hồ Chí Minh đã bộc lộ những phẩm chất cao đẹp nổi bật như sau:
1 Đó là một con người có tinh thần thép vững vàng, “kiên trì”, “nhẫn nại” trước mọi thử thách khốc liệt:
Trang 9- Chiến thắng được những đọa đày thể xác, có đức tự chủ cao.
- Luôn có khát vọng sống chiến đấu vì dân tộc
2 Đó là một con người có tâm hồn thật sự tự do:
- Luôn khao khát tự do
- Luôn giữ được sự tự do tinh thần tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh, không bao giờ để cảnh ngộ bi đát chế ngự suy nghĩ, cảm xúc của mình
3 Đó là một con người có tình yêu cuộc sống sâu nặng, thể hiện lòng nhân ái bao la:
- Rất yêu thiên nhiên tạo vật; nâng niu từng biểu hiện nhỏ của cái đẹp trong đời
- Rất quan tâm đến con người; mọi cảm xúc đều hướng tới con người
4 Đó là một con người có hồn thơ phong phú, có tài năng văn học lớn:
- Dễ rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào
- Thể hiện niềm rung động ấy qua những vần thơ cô đọng, giàu sức biểu cảm, vừa có vẻ đẹp cổ kính, vừa có vẻ đẹp hiện đại
III KẾT BÀI:
Bức chân dung tự họa cóa vẻ đẹp hoàn chỉnh Các mảng màu (các phẩm chất con người) thống nhất với nhau, hòa quyện với nhau
(Thực hành Làm văn 12)
Tình cảm nhân đạo được biểu hiện trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh.
A GỢI Ý CHUNG:
I Giải thích khái niệm: Thế nào là nhân đạo?
II Tình cảm nhân đạo được biểu hiện như thế nào trong Nhật kí trong tù?
III So sánh, mở rộng, đánh giá:
a So sánh với truyền thống nhân đọ của dân tộc.
b So sánh với tinh thần nhân đạo thể hiện trong văn học cổ, văn học hiện thực phê phán
1930 -1945
4 Tại sao Nhật kí trong tù lại thể hiện một chủ nghĩa nhân đạo cao cả, sâu sắc như vậy?
B GỢI Ý CỤ THỂ:
I Thế nào là nhân đạo? (Giải thích khái niệm)
Lòng yêu thương, thông cảm đối với con người, căm ghét những thế lực chà đạp lên con người, trân trọng, tin yêu, phát hiện những nét đẹp ở con người
II Tình cảm nhân đạo biểu hiện trong Nhật kí trong tù :
a Quên đi nỗi khổ bản thân, thương yêu, cảm thông, chia sẻ, đau với nỗi đau của người
xung quanh (Vợ người bạn tù đến thăm chồng, Cháu bé trong nhà lao Tân Dương, Người bạn tù thổi sáo, Phu làm đường, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, ).
b Vui với niềm vui của người của người xung quanh (Từ Long An đến Đồng Chính,…).
c Căm ghét những thế lực chà đạp con người như chế độ nhà tù, chế độ xã hội Trung
Quốc thời Tưởng Giới Thạch (khi phân tích dẫn chứng, phải tập trung phân tích thái độ của nhà thơ bộc lộ trong từng câu, từng chữ)
d Người đã tìm thấy trong tâm hồn người lao động những nét đẹp của con người như tình
yêu quê hương, lòng chung chủy (Vợ ngời bạn tù đến thăm chồng, Người bạn tù thổi sáo, )
Trang 10e Khát vọng tự do cho con người, ước mơ giải phóng con người (Không ngủ được, Ở Việt
Nam có biến động).
III So sánh, mở rộng, đánh giá:
a Tiếp tục và phát huy truyền thống nhân đạo của dân tộc:
• Nhiễu điều phủ lấy giá gương (ca dao).
• Bầu ơi thương lấy bí cùng… (ca dao).
b Khác với tinh thần nhân đạo trong văn học cổ điển và văn học hiện thực phê phán:
• Tình thương người gắn bó với tình cảm giai cấp, thể hiện ở lòng yêu thương người lao động nghèo khổ
• Tình thương người gắn với tình quốc tế vô sản (mở rộng tình cảm ra năm châu bốn biển)
• Yêu thương gắn liền với hành động giải phóng con người khỏi áp bức bất công
Đó chính là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.
IV Lí giải nguyên nhân:
a Người xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, lớn lên trong hoàn cảnh nước mất
nhà tan, chứng kiến bao nhiêu nỗi khổ của nhân dân
b Ba mươi năm bôn ba ở hải ngoại, làm các nghề vất vả Đó là dịp để Người có điều kiện
quan sát, hiểu biết, gần gũi với nhân dân trên thế giới
c Người có một trái tim nhân ái:
Bác để tình thương cho chúng con
(Tố Hữu)
d Vì yêu thương con người, Bác đã hiến trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giai
cấp, đấu tranh dân tộc
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh) Thiên nhiên trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh.
GỢI Ý CHUNG
Tình yêu thiên nhiên là một truyền thống của các nhà thơ phương Đông Khi đọc Thiên gia thi, Hồ Chí Minh cũng đã nhận xét:
Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ, Sơn thủy, yên hoa, tuyết nguyệt phong.
Nhật kí trong tù thể hiện tình yêu thiên nhiên trong một hoàn cảnh khắc nghiệt:
1 Những hình tượng thiên nhiên quen thuộc Đặc biệt là hình tượng trăng:
a Thiên nhiên đẹp tạo nên những bức tranh kì thú:
+ Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
+ Phương đông màu trắng chuyển sang hồng.
+ Núi ấp ôm mây, mây ấp núi.
+ Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng.
+ Đất trời một thoáng thu màn ướt, Sông núi muôn trùng trải gấm phơi.
Trang 11Trời ấm hoa cười chào gió nhẹ, Cây cao chim hót rộn cành tươi.
b Hình ảnh trăng thân mật, gần gũi:
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
c Những hình tượng thiên nhiên khắc nghiệt:
+ Rát mặt đêm thu trận gió hàn.
+ Gió sắc tựa gươm mài đá núi, Rét như dùi nhọn chích cành cây.
+ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
d Thiên nhiên tượng trưng cho những ước mơ, khát vọng:
+ Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt, Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu
(Mảnh trăng thu tượng trưng cho khát vọng tự do)
+ Trong ngục giờ đây còn tối mịt, Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
2 Vì sao hình ảnh thiên nhiên xuất hiện nhiều trong Nhật kí trong tù?
a Hồ Chí Minh rất gắn bó và yêu thích thiên nhiên.
Nơi ở, nơi làm việc của Người ở Việt Bắc cũng như ở giữa thủ đô Hà Nội đều chan hòa giữa thiên nhiên
b Người vốn có một tâm hồn nghệ sĩ rất nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên và tình
người
c Người chịu ảnh hưởng của thơ ca cổ điển phương Đông.
Lối cảm xúc của các thi nhân xưa phản ánh quan điểm triết học về sự hòa đồng giữa con người và thiên nhiên
3 Bàn luận:
a Trong Nhật kí trong tù, chỉ vài ba bài có thể gọi là tả cảnh đơn thuần Có lẽ đó là một
khuynh hướng tâm lí Vì Bác quan niệm tự nhiên trước hết là một môi trường của cuộc sống, thiên nhiên rất gần gũi với con người, không nên cô lập thiên nhiên với con người
Nhật kí trong tù có sự hài hòa rất ý nhị giữa nội tâm và tạo vật Thiên nhiên đem đến
cho con người một mối đồng cảm, một cơ hội để bộc lộ nội tâm
b Con người hài hòa trong tạo vật nhưng vẫn làm chủ tạo vật, làm cho bức tranh thiên
nhiên trở nên sống động và ấm áp hơn
c Thiên nhiên trong Nhật kí trong tù khác với thiên nhiên trong thơ cổ: Ở đây, con người
luôn giữ vai trò chủ thể Thiên nhiên như một người bạn tri âm tri kỉ (Ngắm trăng) Con người hiện
diện trong thiên nhiên với tư cách là một thi nhân Con người làm tôn vẻ đẹp của thiên nhiên và
thiên nhiên làm tôn vẻ đẹp của con người, mang lại niềm vui cho con người (Giải đi sớm khổ II, Mới
ra tù tập leo núi).
d Trong quá trình vượt qua những khắc nghiệt của thiên nhiên, con người luôn ở tư thế
chiến thắng:
+ Giày rách, đường lầy, chân lấm láp, Vẫn còn dấn bước dặm đường xa.
+ Rát mặt đêm thu trận gió hàn.
Thơ thiên nhiên trong Nhật kí trong tù có nhiều bài rất hay Có những phác họa mà chân thật
và đậm đà như một bức tranh thủy mạc cổ điển Có những cảnh lộng lẫy sinh động như những tấm
Trang 12thảm thêu Nhưng toát lên trong những bài thơ ấy là một tình yêu thiên nhiên rất nghệ sĩ của một chiến sĩ cách mạng lão thành, giàu tinh thần thép, giàu dũng khí.
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Đọc thơ Hồ Chí Minh, Hoài Thanh viết: “Khi Bác nói, trong thơ có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép ở trong thơ Có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng Không phải có nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép” (Đọc Nhật kí trong tù – NXB Tác phẩm mới,
1977)
Giải thích ý kiến trên Hãy chép ra theo trí nhớ và phân tích một bài thơ nào đấy của Bác
trong Nhật kí trong tù có “tinh thần thép” mà không “nói chuyện thép, lên giọng thép”.
A GỢI Ý CHUNG:
1 Thế nào là “thép” trong một bài thơ nói riêng và trong văn học nói chung? Hiểu thế nào là
“tinh thần thép”, “nói chuyện thép, lên giọng thép”.
2 Soi vào Nhật kí trong tù, ta nên hiểu những điều trên một cách linh hoạt như thế nào?
3 Chép và phân tích một bài thơ trong Nhật kí trong tù có “tinh thần thép” mà không “nói
chuyện thép, lên giọng thép”.
B GỢI Ý CỤ THỂ:
1 Thế nào là “thép” trong một bài thơ nói riêng và trong văn học nói chung?
a Có đề cập đến nội dung chiến đấu, cách mạng, có hình tượng người chiến sĩ.
b Giọng điệu phải hừng hực khí thế chiến đấu, cất cao lời kêu gọi cổ vũ.
c Có tác dụng như một vũ khí sắc bén chống quân thù.
d Nhà văn phải là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật.
2 Ta nên hiểu một cách linh hoạt “chất thép”, “giọng thép” trong Nhật kí trong tù như thế
a Có những bài thể hiện trực tiếp:
- Tố cáo, lên án chế độ nhà tù khắc nghiệt và chế độ xã hội bất cong, mục rỗng (Bốn
tháng rồi, Cơm tù, Chia nước, Cái cùm, Cháu bé trong nhà lao Tân Dương, Tiền vào nhà giam, v.v…).
- Thể hiện tinh thần chiến sĩ:
+ Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn, Tinh thần càng phải cao.
(Nhật kí trong tù)
Trang 13+ Thà chết chẳng cam nô lệ mãi, Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền.
Xót mình giam hãm trong tù ngục, Chưa được xông ra giữa trận tiền.
(Ở Việt Nam có biến động)
b Có những bài không nói chuyện cách mạng, chuyện chiến đấu, nhưng vẫn thể hiện tinh
Sau nụ cười ấy là những giọt nước mắt xót xa, xen lẫn một tinh thần gang thép của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh
3 Có thể chép và phân tích bài thơ Mới ra tù, tập leo núi để làm nổi rõ vấn đề trên:
Mới ra tù, tập leo núi thể hiện một phong thái ung dung, một tấm lòng son sắt hướng về quê
hương đất nước, một ý chí quyết tâm rèn luyện láy lại sức lực để trở về phục vụ Tổ quốc, nhân dân
Giọng thơ bình dị nhưng cứng cỏi “tinh thần thép”.
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh) Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn, nhưng trong Nhật kí trong tù, Người lại viết:
Ngâm thơ ta vốn không ham, Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây.
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Anh (chị) giải thích hiện tượng trên như thế nào?
A GỢI Ý CHUNG:
Bài viết cần trình bày ba ý lớn:
1 Chứng minh Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn
2 Nhấn mạnh Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, để thấy Người không lấy văn thơ làm sự nghiệp của đời mình.
Ngâm thơ ta vốn không ham.
3 Giải thích tại sao có sự mâu thuẩn ấy?
B GỢI Ý CỤ THỂ:
1 Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn:
Người không bao giờ tự nhận mình là một nhà thơ, nhà văn Thế nhưng, Bác để lại cho đời rất nhiều bài thơ hay, có giá trị lớn, với những cảm xúc dạt dào, với cái nhìn tinh tế, với một phong
cách rất đa dạng Ta có thể bắt gặp những bài phảng phất thơ Đường, Tống trong Nhật kí trong tù
hay thơ kháng chiến củaBác Ta cũng gặp những bài rất giản dị hay những bài thơ chúc Tết đậm đà phong cách cổ truyền của dân tộc
2 Thế mà, trong Nhật kí trong tù, Người lại viết:
Ngâm thơ ta vốn không ham.
Ta biết mục đích của Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước
ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai
Trang 14cũng được học hành” Vì thế, Người không lấy văn thơ làm sự nghiệp, mặc dù không bao giờ xem
thường văn chương
3 Tại sao Bác không có ý định trở thành một nhà thơ, nhà văn, nhưng lại là một nhà thơ, nhà văn lớn?
a Vì trong quá trình hoạt động cách mạng, Người thấy văn chương là một vũ khí sắc bến,
nên Người đã quyết tâm rèn luyện để có thể nắm chắc vũ khí ấy phục vụ cho sự nghiệp cách mạng
nhớ (Hòn đá to, Bài ca sợi chỉ, Ca dân cày,v.v…).
• Thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, để động viên các nhà Nho yêu nước tham gia kháng chiến, Bác đã sáng tác một số bài thơ chữ Hán gửi tặng cụ Võ Liêm Sơn, tặng cụ Bùi
b Bác có tâm hồn rất nhạy cảm của một người nghệ sĩ.
c Bác rất yêu thơ và có năng khiếu làm thơ.
d Bản thân được trao dồi học vấn từ nhỏ, trong quá trình hoạt động, Bác đi nhiều, có vốn
sống phong phú, đã từng kết thân với nhiều nhà văn, nhà thơ
Bác còn kế thừa tuyền thống văn chương của gia đình và quê hương
Vì tất cả các lí do trên, Bác đã trở thành một nhà thơ, nhà văn ngoài ý muốn
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Trong chuỗi ngày bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm, Hồ Chí Minh cảm thấy đau
khổ vô hạn vì bị mất tự do Vậy mà có lúc Người lại tự nhận là “khách tự do”, “khách tiên” Có thể
giải thích điều đó như thế nào?
GỢI Ý
1 Là người chiến sĩ cách mạng đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc, bỗng dưng vô cớ bị
bắt vào tù, bị đày đọa mà không được xét xử, Hồ Chí Minh rất bất bình, chua xót vì mất tự do
- Nhiều câu thơ cụ thể:
• Đau khổ chi bằng mất tự do…
• Trên đời ngàn vạn điều cay đắng, Cay đắng chi bằng mất tự do.
- Nhiều cảnh ngộ trớ trêu nói lên nỗi đau khổ đó: Bị trói dẫn đi với xiềng xích; đi đại tiện cũng không được bình thường
2 Tinh thần ở ngoài lao:
Thân thể ở trong lao, Tinh thần ở ngoài lao.
- Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây:
Còn lại trong tù khách tự do.
- Những cuộc “vượt ngục” bằng tinh thần: (Ngắm trăng, Đi dường, Không ngủ được )
3 Giải thích:
- Vừa mang cốt cách ung dung tự tại của nhà hiền triết phương Đông
- Vừa là bản lĩnh làm chủ của người cộng sản, nắm vững qui luật và hành động theo qui luật
Trang 15(Trong mọi hoàn cảnh vẫn lạc quan, nhìn sự vật biện chứng và phát triển…)
(Trích 135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Tâm tư trong tù” của Tố Hữu:
Cô đơn thay là cảnh thân tù!
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!
Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về…
(Theo SGK Văn học 12, tập I, tr 26)Anh hoặc chị hãy bình giảng đoạn thơ trên
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là kiểu bài bình giảng một đoạn thơ trữ tình
Khi bình giảng, cần làm nỗi rõ nỗi cô đơn, lòng yêu đời, niềm khao khát tự do mãnh liệt của nhân vật trữ tình trong những ngày bị giam cầm, tù hãm
Chú ý bình hai câu cuối của đoạn trích
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Bốn câu đầu:
* Nỗi cô đơn, buồn bã của nhân vật trữ tình khi bị tù hãm:
Cô đơn thay là cảnh thân tù!
* Tâm hồn của nhân vật trữ tình luôn khát khao tự do, gắn bó với cuộc đời Thái độ này rất tích cực:
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Trang 16Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!
2 Bốn câu sau:
Bằng trí tưởng tượng phong phú, nhân vật trữ tình đã vẽ được một bức tranh sống động ở
bên ngoài xà lim, dựa trên những âm thanh của nó: Tiếng “chim reo”, tiếng “gió mạnh”, tiếng “dơi chiều đập cánh” lúc hoàng hôn, tiếng “lạc ngựa rùng chân”, “tiếng guốc đi về ”.
Chú ý bình giảng hai câu thơ:
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về…
3 Đánh giá:
* Đây là một đoạn thơ hay nhất trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu.
* Lời thơ cô đọng, hàm súc, trong sáng, truyền cảm, lôi cuốn
* Nhịp thơ tha thiết, sôi nổi
* Cái tôi của nhân vật trữ tình hiện lên vừa lãng mạn, trẻ trung, non nớt, mới mẻ, nhạy cảm, tinh tế, vừa đáng yêu vừa hiên ngang bất khuất
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Tâm tư trong tù” của Tố Hữu:
Ôi! Bao nhiêu ảo tưởng của hồn ngây Tôi phút bỗng như quên đời thê thảm
Ở ngoài kia biết bao thân tù hãm Đọa đày trong những hố thẳm không cùng!
Tôi chiều nay giam cấm hận trong lòng Chỉ là một giữa loài người đau khổ Tôi chỉ một con chim bé nhỏ Vứt trong lồng con giữa một lồng to Chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do Tôi chỉ một giữa muôn người chiến đấu Vẫn đứng thẳng trên đường đầy lửa máu Chân kiêu căng không thoái bộ bao giờ!
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Khi phân tích, cần làm nổi rõ những suy ngẫm có tính tự biện của người chiến sĩ cách mạng đang bị tù hãm về số phận cá nhân mình và số phận của nhân dân trong hoàn cảnh đất nước đang rơi vào bàn tay hung bạo của thực dân Pháp; lời tự phê bình để thức tỉnh và hòa nhập của người chiến sĩ ngay khi còn đang bị ngồi tù
Ở phần đánh giá, nên chỉ ra những ưu điểm và hạn chếâ của trích đoạn
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Tinh thần tự phê bình của người chiến sĩ cách mạng trung thành với lí tưởng:
Ôi! Bao nhiêu ảo tưởng của hồn ngây
Cảm hứng thơ càng lúc càng thiên về lí trí, thể hiện cái tôi tự biểu hiện của con người lí trí, con người của quyết tâm và nghị lực, tự phê bình để tự thức tỉnh mình về chân lí, theo quan điểm cách mạng:
Tôi chiều nay giam cấm hận trong lòng Chỉ là một giữa loài người đau khổ
Trang 17Tôi chỉ một con chim bé nhỏ Vứt trong lồng con giữa một lồng to Chuyển đời quay theo tiếng gọi tự do Tôi chỉ một giữa muôn người chiến đấu
2 Tư thế của người chiến sĩ cách mạng trên bước đường đầy lửa máu:
Vẫn đứng thẳng trên đường đầy lửa máu
Chân kiêu căng không thoái bộ bao giờ!
3 Đánh giá:
Lời thơ trong đoạn này nặng về nghị luận, biện luận, tự phê bình, có quan niệm đối lập
“cuộc đời to” với những tình cảm riêng Hình tượng thơ thiếu sinh động Tuy nhiên, tình cảm mãnh liệt, lòng tin tuyệt đối vào ngày mai là một sức lay động mạnh
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm) Nhận định về tập thơ Từ ấy của Tố Hữu, khi nhắc đến câu thơ: “Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về” (Tâm tư trong tù), nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã có lời bình: “Một tiếng guốc dưới đường xa nhà thơ ghi vội, đã bao nhiêu năm rồi còn vang mãi trong thơ” (Hoài Thanh – Phê bình và tiểu luận, tập 1, tr, 101 - 102, NXB Văn học Hà Nội, 1960).
Theo anh (chị), cái gì đã làm nên sức rung, sức gợi lâu bền của câu thơ tưởng như rất bình thường đó?
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là kiểu bài nghị luận hỗn hợp
Phạm vi yêu cầu rất hẹp, chỉ cảm thụ một câu thơ trong một bài thơ trữ tình Vấn đề tưởng chừng dễ nhưng lại khó Học sinh cần đặt câu thơ vào đoạn thơ chứa nó và cả bài thơ để cảm nhận
Thậm chí, lại phải đặt vào bối cảnh lịch sử mà bài thơ ra đời để trả lời đúng tâm điểm: “Cái gì đã làm nên sức rung, sức gợi lâu bền của câu thơ tưởng như rất bình thường đó?”.
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Giới thiệu nội dung bài thơ Tâm tư trong tù.
2 Giới thiệu câu thơ số 16 trong mối quan hệ với đoạn thơ chứa nó và cả bài thơ
3 Để trả lời đúng yêu cầu của đề bài, cần bình được cái hay của “tiếng guốc” trong việc thể
hiện tình cảm và tâm trạng của nhà thơ
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Trang 18Tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng qua bài thơ “Tâm tư trong tù” của Tố Hữu.
GỢI Ý CỤ THỂ
1 Bài thơ có 47 câu, chia làm 3 phần:
* Phần I (từ câu 1 đến câu 24) : Buồn nhớ cuộc sống ngoài nhà tù
* Phần II (từ câu 25 đến câu 34): Suy nghĩ về số phận mình và những người đang sống ngoài nhà tù
* Phần III (từ câu 35 đến câu 47) : Tự hứa với mình là phải giữ gìn phẩm cách trong sạch, tinh thần chiến đấu cho lí tưởng
2 Phần I: Buồn, nhớ cuộc sống ngoài nhà tù.
Nhiều tác giả đã nói lên tâm trạng người chiến sĩ cách mạng phải sống trong tù Bác Hồ cũng đã từng viết:
Một ngày tù nghìn thu ở ngoài, Lời nói người xưa đâu có sai
(Bốn tháng rồi)
Tâm trạng chung của người phải vào tù là vậy, còn đối với người chiến sĩ hoạt động cách mạng thì nặng nề hơn:
Trong ngục người nhàn nhàn quá đổi, Chí cao mà chẳng đáng đồng chinh.
(Buồn)
Điều nặng nề đối với Tố Hữu là thấy mình bị tách khỏi các hoạt động cách mạng ở bên ngoài Ở tuổi mười chín, sinh lực tràn trề mà phải suốt ngày quanh quẩn trong bốn bức tường nhà giam nhỏ hẹp, tách khỏi cuộc sống bên ngoài sôi động thì hỏi sao không thấy cô đơn, buồn nhớ cuộc sống bên ngoài:
Cô đơn thay là cảnh thân tù ! Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu !
Bốn câu thơ nói lên nỗi buồn cô đơn, đồng thời nói lên nỗi nhớ nhung cuộc sống bên ngoài Vào tù, nhà thơ cảm nhận sâu sắc những ngày tự do, được hòa mình vào cuộc sống chung,
thật “Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!” Đây là tình cảm tự nhiên của tác giả, con người tha
thiết yêu đời
Nhìn vào thực tế cuộc sống bị giam cầm trong tù, nhà thơ thấy thật buồn tẻ:
Đây âm u đôi ánh lạt ban chiều Len nhẹ nhẹ qua rào ô cửa nhỏ Đây lạnh lẽo bốn tường vôi khắc khổ Đây sàn lim, manh ván ghép sầm u
Toàn cảnh là một bức tranh sắc màu xám xịt Ô cửa nhỏ cũng bị rào Ánh chiều nhạt cũng
phải “len nhẹ nhẹ” mới vào nổi Gian buồng giam “lạnh lẽo”, bốn bức tường vôi “khắc khổ”, ánh
sáng không có, tối tăm u ám Cảnh sống đó với người thường đã buồn, với Tố Hữu lại càng buồn
Trang 19Buồn, nên nhà thơ cố lắng nghe âm thanh, tưởng tượng ra cuộc sống bên ngoài Ngoài nhà
tù, cuộc sống thật đẹp, “chim reo trong gió”, “dơi chiều đập cánh”, “lạc ngựa rùng chân” Đặc biệt,
“Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về”, âm thanh rất Huế Hẳn tác giả ấm lòng khi nghe được âm thanh này Âm thanh như tiếp thêm sức sống cho nhà thơ Nhà thơ cảm thấy “nhựa sống tràn trề” Và hình ảnh hiện lên mang đầy sức sống: “gió xối trên cành cây ngọn lá”, “mênh mang sức khỏe của trăm loài” Những âm thanh đời thực gợi tác giả hình dung ra cuộc sống gần gũi bên ngoài Nhưng rồi trí tưởng tượng bay bổng lại dẫn tác giả đến những hình ảnh xa hơn, rộng hơn “mơ hồ nghe tất cả bên ngoài” Thực ra thì làm sao có âm thanh đời “hút mật” để trở thành “hoa trái”, “Hương tự do thơm ngát cả ngàn ngày”.
Những hình ảnh ấy hiện lên qua nỗi hồi tưởng cảnh những ngày tác giả chưa bị bắt
Cuộc đời “ríu rít”, “thơm ngát” Thật đẹp Nghệ thuật chủ yếu tác giả vận dụng ở phần này
Lối sử dụng điệp từ có ý nghĩa nhấn mạnh cảm xúc: sự náo nức, hăm hở của tác giả
Bản thân mình tuy có khổ vì bị giam hãm, nhưng cũng chẳng có gì nặng nề Mình chỉ như
“một con chim bé nhỏ”, “Vứt trong lồng con giữa một lồng to” Mọi người đều khổ, đều bị giam hãm cả Suy nghĩ vậy, nên tác giả quyết tâm: “Đứng thẳng trên con đường máu lửa” Quyết “không thoái bộ bao giờ”.
Điệp từ “Tôi chỉ một” nhấn mạnh nhận thức về mối quan hệ gắn bó giữa mình và tập thể, giữa cá nhân và “loài người đau khổ”, “muôn người chiến đấu”.
Thực ra thì tác giả có phần cực đoan, ngây thơ Điều đó cũng dễ hiểu, bởi lúc này, nhà thơ mới mười chín tuổi, chưa thể có sự từng trải cuộc đời Điều đáng quí ở đây là tấm lòng chân thật, nhiệt tình cách mạng
4 Phần III: Nhiệt tình, niềm say mê lí tưởng.
Ở phần này, cũng như nhiều bài thơ trong “Từ ấy”, Tố Hữu thể hiện một tâm hồn say mê lí
tưởng, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng:
Phải tranh đấu đến kỳ cùng quyết liệt Còn một giây, còn một phút tàn hơi Là còn tranh đấu mãi không thôi.
(Đôi bạn)
… Và xin thề trước bóng dáng thiêng liêng Quyết hi sinh, phá tan hết gông xiềng Cho Tổ quốc muôn muôn năm độc lập!
(Quyết hi sinh)
Tố Hữu đến với cách mạng bằng tất cả tâm hồn trong sáng của mình:
Tôi sẽ cười như kẻ sẵn lòng tin
Trang 20Giữ trinh bạch tâm hồn trong bụi bẩn.
Con người sẵn lòng tin đó nếu rơi vào mọi cảnh tù đày:
Nơi đày ải Đắc Pao, Lao Bảo Là Côn Lôn, thế giới của ưu phiền
thì cũng “sẽ cười”
Nhà thơ nói lên quyết tâm sắt đá của mình:
Tôi chưa chết, nghĩa là chưa hết hận Nghĩa là chưa hết nhục của muôn đời Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi Còn trừ diệt cả mộtn loài thú độc!
Điệp từ “nghĩa là” dồn dập, tạo nên âm hưởng vang vọng của một lời thề Và bài thơ kết thúc với âm thanh tiếng còi:
Có một tiếng còi xa trong gió rúc
Tiếng còi như đang nhắc nhở, thôi thúc tác giả giữ vững niềm tin để mai đây lên đường chiến đấu Câu kết đọng lại ý bài thơ
5 “Tâm tư trong tù” là tiếng liòng chân thật của một thanh niên học sinh sớm giác ngộ lí tưởng
Tâm hồn thanh niên đó trong sáng Anh yêu đời, yêu cuộc sống, sẵn sàng hi sinh tất cả để đưa lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân
Nói về những sáng tác buổi đầu, nhà thơ Tố Hữu tâm sự: “Trong thơ tôi buổi đầu, có tấm
lòng của con người trẻ tuổi biết thương yêu những thân phận nghèo khổ, đọa đày Nhưng cũng dễ
thấy trong “Từ ấy”, nhất là trong tập đầu (Máu lửa), cuộc đời của công nông, sức sống và lẽ phải của
công nông chưa được nói lên sức mạnh vĩ đại của nó ”
Về nghệ thuật, “Từ ấy” đáng yêu ở sự chân thành, sôi nổi của tuổi trẻ.
Tóm lại, “Thơ tôi như buổi đầu, như nhiều bạn nói, có mang được sức nóng và ánh sáng của
ngọn lửa cách mạng, nhưng cũng còn những điểm non kém về tư tưởng và nghệ thuật “Từ ấy” là
một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh, nhưng tình cảm cách mạng còn có những điều mơ hồ, chưa chín Trong quá trình cách mạng,
được Đảng giáo dục, cũng như nhiều đồng chí khác, tôi cứ lớn lên dần…” (Tố Hữu – Câu chuyện về thơ).
Nhà văn Nguyễn Đình Thi, trong “Mấy vấn đề văn học”, cũng đã nhận xét: “… Thơ Tố Hữu
trước cách mạng là ngọn lửa cháy trong tâm hồn người tuổi trẻ yêu nước, yêu đời, yêu những người cực khổ, được Đảng cho thấy con đường cách mạng, nhưng chưa kịp biết rõ cuộc sống thực, cuộc sống cơm áo, mồ hôi nước mắt của quần chúng lao động Trong nhà ngục, chí bất khuất của người thanh niên vẫn gầm lên hoặc hát lên tha thiết, anh quyết vì Đảng chiến đấu đến cùng, ngọn lửa của anh luôn luôn cháy bỏng Nhưng khi lắng nghe tiếng đập của cuộc sống bên ngoài, anh mới nghe
thấy tiếng chim kêu, gió thổi, tiếng dơi chiều, tiếng ngựa hí Khi anh nói: “Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về” mà bỗng làm ta lay động cả tâm hồn là vì anh vừa nói đến một cái gì rất thực trong cuộc
sống hàng ngày của những con người thực Tiếng hát của Tố Hữu lúc ấy sôi nổi và cảm động nhưng còn thiếu gốc rễ trong những cái rất thực ấy của đời sống quần chúng Vì vậy, tiếng hát của anh chưa thoát ra được ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn bấy giờ
Ta nghe trong “Đá uy nghiêm trầm mặc dưới trời tro” còn hơi thở của “Điêu tàn” hoặc trong
“Bạn đời ơi vui chút với đời hồng” còn phảng phất câu thơ Xuân Diệu ”
(Trích 135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh) Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Trang 21Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đann nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
HƯỚNG THỨ NHẤT
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Mười dòng thơ (5 câu lục bát) thực sự được viết bởi ngòi bút già dặn và tinh tế Khi bình giảng, có thể tách đoạn thơ ra thành hai phần: hai dòng đầu và tám dòng sau Trọng tâm bình giảng dồn vào phần sau, tức là phần tạo dựng bức tranh tứ bình về cảnh và người Việt Bắc theo chur đề: Xuân – Hạ – Thu – Đông Có thể vận dụng những thuật ngữ của hội họa để đánh giá nghệ thuật miêu tả của tác giả Không nên sa vào việc tả lại một cách rườm rà những điều tác giả đã tả mà phải tập trung làm nổi bật tài vận dụng ngôn ngữ và chọn lọc chi tiết của nhà thơ
B DÀN BÀI:
I MỞ BÀI:
- Việt Bắc ,khúc ca trữ tình nồng nàn, đắm say về những lẽ sống lớn, ân tình lớn của con
người cách mạng
- Nỗi nhớ hướng về cảnh và người ở quê hương Việt Bắc là một nội dung nổi bật của bài
thơ, được thể hiện hết sức xuất sắc trong đoạn thơ trên
II THÂN BÀI:
- Hai dòng đầu của đoạn thơ vừa giới thiệu chur đề của đoạn, vừa có tính chất như một sự đưa đẩy để nối các phần của bài thơ lại với nhau Người ra đi đã nói rõ:
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Trong nỗi nhớ của người đi, cảnh vật lẫn con người Việt Bắc hòa quyện với nhau thành một thể thống nhất
- Trong tám dòng thơ tiếp theo, tác giả tạo dựng một bộ tranh tứ bình về Việt Bắc theo chủ đề Xuân – Hạ – Thu – Đông Ngòi bút tạo hình của nhà thơ đã đạt tới trình độ cổ điển Bút pháp miêu tả nhất quán: câu lục để nói cảnh, còn câu bát dành để “vẽ” người
- Bức thứ nhất của bộ tranh tả cảnh mùa đông Màu hoa chuối đỏ tươi đã làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già Sự đối chọi hai màu xanh – đỏ ở đây rất đắt
Hình ảnh con người được nói tới sau đó chính là điểm sáng di động của bức tranh Tác giả thật khéo gài con dao ở thắt lưng người đi trên đèo cao khiến hình ảnh đó trở nên nổi bật
- Bức tranh thứ hai tả cảnh mùa xuân bằng gam màu trắng Xuân về,rừng hoa mơ bừng nở
Màu trắng tinh khiết của nó làm choáng ngợp lòng người Âm điệu hai chữ “trắng rừng” diễn tả rất
đạt sức xuân nơi núi rừng và cảm giác ngây ngất trong lòng người ngắm cảnh
Người đan nón có dáng vẻ khoan thai rất hòa hợp với bối cảnh Từ “chuốt” vừa mang tính
chất của động từ vừa mang tính chất của tình tứ
- Bức tranh thứ ba nói về mùa hè Gam màu vàng được sử dụng đắt địa Đó là “màu” của tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá Do cách diễn đạt tài tình của rừng phách,
ta có cảm tưởng tiếng ve đã gọi dậy sắc vàng của rừng phách và ngược lại sắc vàng này như đã thị giác hóa tiếng ve
Hình ảnh “cô gái hái măng một mình” xuất hiện đã cân bằng lại nét tả đầy kích thích ở trên
Nó có khả năng khơi dậy trong ta những xúc cảm ngọt ngào
Trang 22- Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu với ánh trăng dịu mát, êm đềm Trên nền bối cảnh ấy,
“tiếng hát ân tình thủy chung” ai đó cất lên nghe thật ấm lòng Đây là tiếng hát của ngày qua hay
tiếng hát của thời điểm hiện tại đang ngân nga trong lòng người sắp phải giã từ Việt Bắc?
III KẾT BÀI:
Đoạn thơ có vẻ đẹp lộng lẫy đã được viết bằng một ngòi bút điêu luyện Đọc nó, ấn tượng
sâu sắc còn lại là nghĩa tình đối với “quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa”.
HƯỚNG THỨ NHẤT
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bắc.Trong quá trình bình giảng, cần
làm nổi rõ nỗi nhớ da diết của nhà thơ về thiên nhiên thơ mộng nơi núi rừng Việt Bắc và con người ở nơi giàu tình nặng nghĩa ấy Qua đó, thấy được Tố Hữu là một hồn thơ tài hoa, một cây bút yêu thương da diết, gắn bó sâu nặng với nhân dân, với quê hương đất nước.
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Khúc dạo đầu ấy đã làm “thoảng bay” nội dung của cả đoạn thơ: Nỗi nhớ da diết về thiên nhiên thơ mộng nơi núi rừng Việt Bắc và con người ở nơi “ân tình thủy chung” ấy
* Cặp từ “ta – mình”: Một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, khơi nguồn cho dòng mạch nhớ
thương trôi chảy
* “Ta về mình có nhớ ta” là câu hỏi tu từ được dùng làm cái cớ để bộc lộ tình cảm của chính bản thân mình: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.
2 Thiên nhiên và con người Việt Bắc (“hoa” và “người”):
2.1 Thiên nhiên: Đẹp như một bức tranh tứ bình, hiện lên ở các câu lục:
- Mùa đông: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
- Mùa xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng
- Mùa hạ : Ve kêu rừng phách đổ vàng
- Mùa thu : Rừng thu trăng rọi hòa bình
2.2 Con người: Hiện lên ở các câu bát:
Con người Việt Bắc là linh hồn của bức tranh thơ, là trung tâm của nỗi nhớ mênh mang
3 Đánh giá tổng hợp bức tranh thơ kép – “hoa” và “người”:
* Thiên nhiên và con người hòa quyện, quấn quýt bên nhau và điểm tô cho nhau
* Nghệ thuật điệp cấu trúc ngữ pháp, đổi trật tự cú pháp, điệp từ được nhà thơ sử dụng rất thành công
* Nhịp thơ, âm điệu thơ hài hòa, mềm mại, uyển chuyển, làm say lòng người
* Cách xưng hô “mình – ta” rất gần với điệu hát giao duyên t6rong kho tàng ca dao – dân ca
* Sự kết hợp điêu luyện, hài hòa giữa nghệ thuật thơ ca với các yếu tố hội họa, âm nhạc, điện ảnh đã chứng tỏ Tố Hữu là một người nghệ sĩ tài hoa, yêu cảnh, yêu người, yêu quê hương đất nước sâu nặng
(Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Trang 23Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
Những đường Việt Bắc của ta, Đêm đêm rầm rập như là đất rung.
Quân đi điệp điệp trùng trùng, Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn, Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày, Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về.
Vui từ Đồng Tháp, An Khê, Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
+ Đề yêu cầu bình giảng một đoạn thơ rất tiêu biểu cho giọng “sử ca” của Tố Hữu ở bài Việt Bắc Việc vận dụng kiến thức về lịch sử dân tộc để soi sáng nội dung miêu tả trong đoạn thơ là rất
cần, nhưng nhất thiết phải tránh các xu hướng làm bài sau đây:
- Thay thế việc phân tích nghệ thuật diễn tả của tác giả bằng việc kể lể dài dòng về các sự kiện hoặc bối cảnh được gợi nhắc rất cô đọng trong đoạn thơ
- Chỉ nhấn mạnh tính chính xác sử học của đoạn thơ mà quên khám phá tính chính xác văn học của nó được thể hiện qua cách dùng từ, cách kiến tạo hình ảnh, cách đưa địa danh vào thơ
+ Ngoài ra, khi thực hiện đề này, cần có ý thức làm sáng tỏ đặc trưng phong cách nghệ thuật của Tố Hữu được thể hiện qua đoạn thơ
B DÀN BÀI:
I MỞ BÀI:
- Việt Bắc là một bài thơ hay của Tố Hữu và là một thành tựu xuất sắc của nền thơ kháng
chiến chống Pháp 1945 – 1954
- Nội dung cảm xúc chính của bài thơ là nỗi nhớ – một nỗi nhớ hướng tới nhiều đối tượng
cụ thể vừa khác biệt vừa thống nhất với nhau Ở đoạn thơ sau, nỗi nhớ như xoáy vào những ngày tháng hào hùng của cuộc kháng chiến (trích dẫn)
II THÂN BÀI:
- Trong tám câu đầu, nhà thơ vẽ lại rất sống độïng hình ảnh những đêm Việt Bắc trong mùa chiến dịch Ban ngày kẻ thù đánh phá ác liệt, nhưng ban đêm thì ưu thế thuộc về chúng ta Hai từ
“của ta” nằm cuối câu thứ nhất thể hiện rõ ý thức làm chủ của người kháng chiến đối với quê hương,
đất nước
Trang 24- Khí thế ra trận bừng bừng của quân ta được miêu tả hết sức chân thực bằng những hình ảnh gân guốc, khỏe khoắn; bằng những từ tượng hình, tượng thanhchính xác; bằng một so sánh thoáng
nhìn qua không có gì mới mẻ nhưng thực chất lại có ý vị (Đêm đêm rầm rập như là đất rung)
- Nét lãng mạn trong đời sống kháng chiến cũng được nói tới bằng hình ảnh vừa giàu ý nghĩa
tả thực, vừa thấm đẫm tính tượng trưng: Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
- Tuy mô tả cảnh ban đêm, nhưng bức tranh thơ của Tố Hữu lại giàu chi tiết nói về ánh sáng:
ánh sáng của sao trời, của lửa đuốc, của đèn pha Sự so sánh Đèn pha bật sáng như ngày mai lên tuy
có vẻ cường điệu nhưng phản ánh đúng niềm phấn chấn tràn ngập lòng người kháng chiến
- Để thể hiện không khí chiến thắng, tác giả lặp lại nhiều lần từ “vui” và đưa vào thơ một
loạt địa danh So với những nhà thơ khác như Quang Dũng, Hoàng Cầm, cách sử dụng địa danh của Tố Hữu vẫn có những nét riêng độc đáo
III KẾT BÀI:
- Đoạn thơ đã thực sự làm sống dậy không khí hào hùng của một thời kì lịch sử không thể nào quên
- Qua đoạn thơ, ta thấy rõ Tố Hữu quả là người chép sử trung thành của cách mạng và là nhà thơ có khả năng tạo dựng những bức tranh hoành tráng về lịch sử dân tộc
(Thực hành Làm văn 12)
Đề 18: Nhận định về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Việt Bắc của Tố
Hữu là khúc tình ca và cũng là khúc anh hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến”
Qua đoạn trích Việt Bắc trong sách giáo khoa, anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đề bài yêu cầu làm sáng tỏ ý kiến “Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là khúc tình ca và cũng là khúc anh hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến” Học sinh phải biết chọn lọc các dẫn chứng trong đoạn trích Việt Bắc ở sách giáo khoa để làm sáng tỏ ý kiến trên.
B HƯỚNG DẪN CỤ THỂ:
1 Việt Bắc với vẻ đẹp của cảnh và người:
- Nét độc đáo của cảnh Việt Bắc
- Sự hòa quyện giữa cảnh và người
2 Việt Bắc hào hùng trong chiến đấu:
- Khung cảnh sử thi
- Vai trò Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến
3 Việt Bắc trong cảm hứng về ngày mai:
- Vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp
- Dự đoán để ngăn ngừa sự tha hóa
Trang 25Đề 19: Trong bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu có đoạn:
Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều.
Hỡi lòng tê tái thương yêu Giữa dòng trong đục, cánh bèo lênh đênh
Ngổn ngang bên nghĩa bên tình Trời đêm đâu biết gửi mình nơi nao?
Ngẩn ngơ trông ngọn cờ đào Đành như thân gái sóng xao Tiền Đường!
Anh hoặc chị hãy phân tích đoạn thơ trên, đồng thời, liên hệ với Truyện Kiều, cuộc đời và
thời đại Nguyễn Du để làm rõ sự thương cảm của nhà thơ cách mạng đối với cảnh ngộ, số phận của nhân vật Thúy Kiều và của đại thi hào Nguyễn Du
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Phân tích đoạn thơ này, cần hướng về tâm điểm: Làm rõ sự thương cảm của nhà thơ cách
mạng đối với cảnh ngộ, số phận của nhân vật Thúy Kiều và của đại thi hào Nguyễn Du Muốn vậy,
cần tìm hiểu thêm cuộc đời, thời đại Nguyễn Du và Truyện Kiều Cần phân tích thêm các yếu tố: thể
thơ lục bát, hình thức “tập Kiều”, giọng điệu trang trọng, tha thiết, hình ảnh và ngôn ngữ cổ kính, hàm súc, ước lệ, đa nghĩa để thấy được tính dân tộc đậm đà và màu sắc cổ điển của đoạn thơ
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Hai câu đầu:
Phân tích các cụm từ:ø “nửa đêm”, “bâng khuâng” để thấy rằng Tố Hữu đã khơi gợi được
thế giới hình tượng của Truyện Kiều và đưa thẳng người đọc vào không khí thời đại Nguyễn Du, tạo
được âm hưởng chủ đạo cho bài thơ
2 Sáu câu tiếp theo:
Tố Hữu bày tỏ niềm xúc động, thương yêu, cảm thông cho cảnh ngộ, số phận của Thúy
Kiều và của tác giả Truyện Kiều (Trong quá trình phân tích, cần liên hệ với Truyện Kiều, cuộc đời và
thời đại Nguyễn Du)
3 Đánh giá:
Trang 26* Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu là một bài thơ đậm đà tính dân tộc và màu sắc cổ
điển Đoạn trích đã phần nào thể hiện cái hay đó ở các phương diện: thể thơ, giọng điệu thơ, hình ảnh và ngôn ngữ thơ
* Đoạn thơ cũng như cả bài thơ còn thể hiện được thái độ rất mực cảm thông, hết sức trân trọng, vô cùng biết ơn của Tố Hữu đối với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, sâu xa hơn là đối với những giá trị tốt đẹp mà ông cha đã để lại cho thế hệ cháu con Nhà thơ tiếp tục thể hiện, nâng cao các giá trị ấy trong thời đại mới
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
Bình giảng đoạn thơ trên, qua đó làm rõ thái độ rất mực cảm thông, hết sức trân trọng của nhà thơ cách mạng đối với sâu sắc đối với đại thi hào dân tộc
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đề bài này có hai yêu cầu: Bình giảng một đoạn bốn câu thơ và qua quá trình bình giảng, làm rõ thái độ rất mực cảm thông, hết sức trân trọng của nhà thơ cách mạng đối với sâu sắc đối với đại thi hào dân tộc Học sinh nên đặc biệt chú ý nghệ thuật dùng từ của Tố Hữu
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Câu 1: Tiếng thơ ai động đất trời
Tố Hữu cảm nhận thơ Nguyễn Du (cụ thể làTruyện Kiều) trong một tương quan đặc biệt:
Thơ Nguyễn Du không chỉ tác động đến con người mà còn tác động đến cả đất trời
Từ “động” được Tố Hữu dùng rất điêu luyện, làm tăng hiệu quả nghệ thuật biểu cảm của
lời thơ: Chính đất trời như cũng xao xuyến, nao lòng Một tiếng thơ của cá nhân “ai” có thể làm
động” đến cả đất trời Cách đánh giá như thế là rất cao.
2 Câu 2: Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Sự cảm nhận và đánh giá còn cao hơn Tiếng thơ ấy không còn là của một cá nhân thi sĩ
mà là lời non nước “Non nước” đã “vọng lời” lên qua tiếng thơ của Nguyễn Du.
“Non nước” - phạm trù không gian, một không gian vô cùng; “ngàn thu” - phạm trù thời
gian, thời gian vô tận Bằng nghệ thuật so sánh tu từ, nhân hóa tu từ, đối ngữ tương hỗ, Tố Hữu
khẳng định Truyện Kiều đã hòa vào và sẽ trường tồn trong sự trường tồn của núi sông này.
3 Câu 3: Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du muốn nhắn hỏi: Không biết 300 năm lẻ nữa, người đời có sự cảm thông, chia sẻ với mình? Tố Hữu đã khẳng định: “Nghìn năm sau”, tức là không
phải chỉ có 300 năm lẻ, người đời vẫn nhớ Nguyễn Du và tiếng thơ của ông Đây là một sự khẳng định thật dứt khoát và xác đáng
Có thể bình hai chữ “ngàn thu” (câu 2) và “nghìn năm” (câu 3) để rõ dụng công, tuy
không lớn lắm, của Tố Hữu về phương diện chắt lọc từ
4 Câu 4: Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Trang 27“Tiếng thương” là tiếng nói của tình thương, tiếng chở tình thương; là tiếng nói của chủ nghĩa nhân đạo bao la, phê phán những thế lực phong kiến chà đạp con người; tiếng nói đề cao con
người, đề cao cuộc sống trần tục Tiếng thơ của Nguyễn Du cùng giống như “tiếng mẹ ru” vỗ về con
thơ đi vào giấc ngủ yên bình
Chính Truyện Kiều đã phát ra một tiếng thương, một tiếng kêu mới về một nỗi đau đến đứt
ruột, đã khơi gợi được nỗi niềm đồng cảm của những bà mẹ Việt Nam trong xã hội xưa
5 Nhìn chung cả bốn câu thơ, lưu ý sự tăng tiến cấp dộ Mở đầu là “tiếng thơ ai” rồi thành
“lời ngàn thu”, “lời non nước” Chưa đủ, nó trở thành “tiếng thương” và cuối cùng là “tiếng mẹ ru”.
Điều đó chứng tỏ, theo Tố Hữu, thơ Nguyễn Du (Truyện Kiều) đã hòa nhập vào nguồn
mạch văn hóa, đời sống, tình cảm của cả cộng đồng dân tộc Chính vì vậy, mới có thể nói Tố Hữu đã
có “thái độ rấtmực cảm thông, hết sức trân trọng đối với đại thi hào dân tộc”.
Về mặt nghệ thuật, cần chỉ rõ Tố Hữu dùng thể thơ lục bát (Nguyễn Du viết Truyện Kiều
bằng thể thơ này), dùng hình thức tập Kiều và đã nói bằng chính ngôn ngữ của Nguyễn Du Vì thế,
âm điệu thơ trang trọng, cổ điển, không khí đượm vẻ Truyện Kiềøu.
(Trích 135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Trang 28Đề 21: Phân tích niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau, tâm sự và tiếng thơ của nhà đại thi hào
trong quá khứ được thể hiện ở bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu.
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đề yêu cầu phân tích một chủ đề nổi bật trong bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du Đó là sự cảm
thông sâu sắc của Tố Hữu, của chúng ta ngày nay đối với nỗi đau, tâm sự và tiếng thơ của nhà đại thi hào dân tộc Nguyễn Du trong quá khứ Xét theo một góc độ nào đó, đây cũng là đề yêu cầu
phân tích cả bài thơ Bởi trên thực tế, bài thơ bao gồm nhiều khổ ( đoạn ) lần lượt đề cập nỗi đau, tâm sự của Nguyễn Du, cũng như giá trị bất hủ của những sáng tác của ông, đặc biệt là
Truyện Kiều Để thực hiện tốt yêu cầu của đề, với mỗi chủ điểm cần phân tích, vừa phải chỉ ra được
tính chất của nỗi đau, tâm sự và tiếng thơ của Nguyễn Du lại vừa phải chỉ ra được thái độ đánh giá của Tố Hữu đối với chúng hòa tan trong cách kể, trong ngôn ngữ…
B DÀN BÀI:
I MỞ BÀI : Giới thiệu tổng quát về bài thơ
Kính gửi cụ Nguyễn Du được viết nhân dịp kỉ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du Nó đã thể hiện
được không chỉ niềm trân trọng, ngưỡng mộ của Tố Hữu mà còn của tất cả chúng ta đối với nhà thơ lớn Nguyễn Du, đồng thời cũng đã thể hiện được phần nào quan điểm của Đảng và Chính phủ
ta trong việc kế thừa, tiếp thu những di sản văn hóa quá khứ
II THÂN BÀI :
a Bài thơ trước hết dựng lại nỗi đau của Nguyễn Du là nỗi đau của một trái tim nhân đạo lớn
trước “những điều trông thấy”, đồng thời còn là nỗi đau do không tìm thấy đường đi trong cuộc đời
Trước nỗi đau của Nguyễn Du, Tố Hữu tỏ ra rất thông cảm, chia sẻ Tác giả dường như đã nắm bắt trúng bi kịch lớn của cuộc đời Nguyễn Du
b Theo Tố Hữu, Nguyễn Du ôm một bầu tâm sự lớn về cuộc đời đến lúc nằm xuống vẫn
“nhắm mắt chưa xong”, vẫn còn khắc khoải đợi trông sự đồng cảm của hậu thế đối với tình đời của mình Tố Hữu đã sử dụng ý thơ trong một số sáng tác của Nguyến Du (Truyện Kiều, Độc Tiểu thanh
kí ) theo tinh thần mới, theo cách hiểu mới của mình Điều đó cũng có nghĩa là tâm sự của Nguyễn
Du đã được lắng nghe chăm chú và trên tinh thần hiểu biết sâu sắc
c Tố Hữu đã có những lời đánh giá hết sức cao đối với sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
Ông khẳng định giá trị vĩnh hằng của Truyện Kiều, biểu dương tính điển hình của hình tượng Thúy
Kiều cũng như giá trị hiện thực, ý nghĩa dự báo sâu sắc của tác phẩm này
d Niềm cảm thông của Tố Hữu đối với nhà thơ lớn trong quá khứ còn được thể hiện trong
hình thức thơ mà ông đã chọn lựa Kính gửi cụ Nguyễn Du được viết theo thể lục bát, giọng phảng phất Truyện Kiều Đó là chưa kể việc tập Kiều cùng việc sử dụng lại một số từ thuộc loại đặc thù của Truyện Kiều một cách rất có ý thức
III KẾT BÀI :
Tất cả những điều này chứng tỏ Kính gửi cụ Nguyễn Du chính là một tiếng nói tri âm đối với
người xưa
(Thực hành Làm văn 12)
Đề 22a:
Trang 29Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơiSài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơiDốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trờiNgàn thước lên cao, ngàn thuốc xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đờiChiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngườiNhớ ôi Tây Tiến cơm lên khóiMai Châu mùa em thơm nếp xôi
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Anh hoặc chị hãy bình giảng đoạn thơ trên
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Để bình giảng tốt đoạn thơ trên, học sinh phải hiểu được sâu sắc nội dung của nó Đó là nỗi nhớ Tây Tiến, nhớ cảnh hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc, địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến; nhớ đồng bào, đồng đội Tây Tiến – tình quân dân sâu đẹp, thắm thiết
Mặt khác, phải thấy được những đặc sắc nghệ thuật của thơ Quang Dũng: Sự kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn; chất tài hoa; sự phối hợp điêu luyện các kĩ thuật tạo hình, hội họa, điện ảnh, điêu khắc, âm nhạc truyền thống
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Nỗi nhớ Tây Tiến:
* Nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã khôn nguôi:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- “Nhớ chơi vơi”: Cách dùng từ ngữ đặc sắc, mới lạ, giàu sáng tạo
- Câu cảm thán và điệp ngữ “nhớ” có tác dụng cộng hưởng, nhấn mạnh nỗi nhớ
* Ấn tượng về miền Tây Bắc thật mãnh liệt:
Sài khao sương lấp đoàn quân mỏiMường lát hoa về trong đêm hơi
- Hình ảnh dị thường táo bạo “xương lấp đoàn quân”, “hoa về trong đêm hơi”, “dốc thăm thẳm”, “súng ngửi trời”, “mưa xa khơi”, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”.
- Địa danh xa lạ, làm tăng cấp ấn tượng xa xôi, hoang sơ cho độc giả: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu
- Cách phối hợp thanh bằng – trắc tạo âm hưởng lạ tai, mông lung, tạo cảm giác âm
u, kích thích hứng thú phiêu lưu mạo hiểm:
+ Mường lát hoa về trong đêm hơi (6 thanh bằng)
+ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm (5 thanh trắc)
+ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi (toàn thanh bằng)
- Nghệ thuật đối ngữ tạo cảm giác hiểm trở ngợp cả người:
ngàn thước lên cao >< ngàn thuốc xuống
Trang 30- Nghệ thuật nói giảm, nói tránh:
Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đời
Nhà thơ không nói chết, mà nói “không bước nữa”, “gục lên súng mũ”, “bỏ quên đời”.
Lời thơ bi mà không lụy, bi mà tráng, bi mà hùng, mang vẻ mĩ học sâu sắc
* Nghệ thuật nhân hóa tu từ:
Chiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngườiLàm tôn thêm cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu
2 Nỗi nhớ đồng bào Tây Tiến:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khóiMai Châu mùa em thơm nếp xôi
* Lời thơ như tiếng hát của một bài ca hoài niệm vừa ngọt ngào, vừa bâng khuâng, tha thiết
* Hai chữ “nhớ ôi” không những bộc lộ tình cảm chung thủy, mà còn là nỗi nhớ cồn cào, nhớ mênh mang như một tiếng vang bật lên từ nỗi nhớ
* Hai tiếng “mùa em” có sức rung, sức gợi sâu xa
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Đề 22b: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thuốc xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Trang 31Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
A GỢI Ý CHUNG:
- Nắm được hoàn cảnh ra đời của bài thơ về đoàn quân Tây Tiến và bản thân nhà thơ Quang Dũng
- Nội dung chính của đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ về những ngày hành quân gian khổ giữa một vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở
- Tả núi đặc sắc, âm điệu phong phú luôn biến chuyển một cách linh hoạt
- Những sáng tạo về từ ngữ, hình ảnh thể hiện qua các cụm từ như “nhớ chơi vơi”, “bỏ quên đời”, “súng ngửi trời” hoặc tính đa nghĩa của các câu thơ như “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.
- Sự hòa hợp giữa những nét vẽ khỏe khoắn, gân guốc với những nét miêu tả tinh vi, giàu chất nhạc và họa
B GỢI Ý CỤ THỂ:
I MỞ BÀI:
- Bài thơ là tiếng lòng bật trào của Quang Dũng khi nhớ về một đoàn quân, một miền đất, một đoạn đời của chính nhà thơ
- Đoạn đầu nói về thiên nhiên Tây Bắc cũng như cuộc hành quân của đoàn binh Tây Tiến
II THÂN BÀI:
- Thiên nhiên và con người quyện chặt vào nhau Nói thiên nhiên là để nói về các chiến sĩ và ngược lại
- Hai câu đầu xác định rõ tâm thế sáng tạo của Quang Dũng Ba chữ “nhớ chơi vơi” được
dùng rất sáng tạo
- Hai câu tiếp khái quát được hai đặc điểm nổi bật của thiên nhiên Tây Bắc là khắc nghiệt
và thơ mộng, đồng thời bắt đầu đi vào miêu tả hành trình của người lính Tây Tiến Câu“Mường Lát hoa về trong đêm hơi” rất gợi.
- Cảnh núi non được nhìn bằng con mắt của kẻ vượt núi nên cái dốc được miêu tả kĩ Chiều cao của dốc đã được “đo” bằng hơi thở của người lính Sự phối hợp thanh điệu trong đoạn thơ hết sức sinh động, có giá trị tạo hình rất cao
- Nói về sự hi sinh của người lính, âm điệu câu thơ trầm lắng và chùng xuống Tác giả có ý thức tránh nói trực tiếp đến từ “chết”
- Vẽ lên cảnh “oai linh” của núi rừng, tác giả gián tiếp làm nổi rõ cái “oai linh” của các chiến sĩ can trường, dũng cảm
- Đoạn thơ kết thúc với giọng điệu bồi hồi Một kỉ niệm ngọt ngào về tình quân dân được
nhắc tới: “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” là câu có thanh bằng gây cảm giác chơi vơi thanh thản
tâm hồn
III KẾT BÀI:
- Sự phối hợp giữa nét tả gân guốc với nét tả tinh tế mềm mại đã đưa lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ phong phú Cảnh và người đều hiện lên rất lãng mạn
- Đoạn thơ là đứa con của cái tâm đã chín và cái tài hoa
Trang 32Đề 23: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lao nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Anh hoặc chị hãy bình giảng đoạn thơ trên
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Khi bình giảng đoạn thơ trên, cần làm nổi rõ: Vẻ đẹp thơ mộng, duyên dáng, tình tứ của thiên nhiên, của con người Tây Bắc và tâm trạng nhớ chơi vơi của nhà thơ Quang Dũng
Học sinh nên giảng tóm lược nội dung của các câu thơ trước đoạn này
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
Phần thân bài, cần làm nổi rõ các ý trọng tâm sau:
1 Bên cạnh vẻ đẹp của núi rừng biên giới là cảnh sông núi miền Tây mênh mang, mờ
ảo, thơ mộng
Trang 332 Thiên nhiên qua vài nét chấm phá của Quang Dũng hiện lên có hồn và tình tứ như
con người
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lao nẻo bến bờ
3 Thi nhân không dùng bút pháp tả mà chỉ dùng bút pháp gợi:
Có nhớ dáng người trên độc mộc
4 Như hòa hợp với con người, những bông hoa rừng cũng “đong đưa” làm duyên trên
“dòng nước lũ” Trên bức tranh thơ, có hai bông hoa rừng sóng đôi: Cô lái đò Châu
Mộc dáng thon thả, uyển chuyển trên thuyền và những bông hoa thực đang “đong đưa” bên bờ suối
(Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Đề: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gởi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng ghi lại những nỗi nhớ thiết tha của Quang Dũng về một
thời gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng, lẫm liệt của đoàn binh đặc biệt này Trong bốn đoạn của bài thơ, đoạn thơ trên (đoạn ba) có ý nghĩa quan trọng Đó là chân dung đoàn binh Tây Tiến được tả bằng ngòi bút giàu chất tạo hình, bằng cảm hứng lãng mạn, bi tráng Nếu nói rằng màu sắc thẩm mĩ
đặc biệt của bài thơ Tây Tiến chính là ở cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng thì đoạn thơ này
có lẽ là dẫn chứng tiêu biểu nhất Đây cũng là định hướng cho sự cảm nhận của người bình giảng
Nói cách khác, khi bình giảng đoạn thơ, cần làm nổi bật cảm hứng lãng mạn, âm hưởng bi tráng
trong ngôn từ, trong hình ảnh, nhịp điệu
Trang 34Về mặt phương pháp, căn cứ vào sự phát triển của nội dung cảm xúc, nên bình giảng đoạn thơ này theo từng cặp câu.
B DÀN BÀI:
I MỞ BÀI:
- Khẳng định vị trí nổi bật của Tây Tiến trong dòng thơ ca viết về anh bộ đội của nền thơ
kháng chiến chống Pháp
- Nhắc qua những nội dung của hai đoạn thơ trước để đi đến các nội dung cảm xúc ở đoạn 3 này: dựng cả chân dung đoàn binh, biểu hiện đời sống tâm hồn, ngợi ca lí tưởng cao cả và sự hi sinh
bi tráng của người lính Tây Tiến
II THÂN BÀI:
1 Cặp câu thứ nhất:
Chân dung đoàn binh Tây Tiến được dựng tả bằng nét bút vừa hiện thực, gân guốc vừa lãng mạn, hào hùng Biện pháp nghệ thuật tương phản giữa ngoại hình gầy gò, tiều tụy với sức mạnh tinh thần đã gây ấn tượng mạnh về vẻ đẹp khác thường của đoàn binh Tây Tiến
2 Cặp câu thứ hai:
Sự biểu hiện chân thực đời sống tâm hồn mộng mơ của chàng trai Tây Tiến chứ không
phải cái “mộng rớt”, “buồn rớt” như một thời nhiều người phê phán
3 Cặp câu thứ ba:
Sự kết hợp hài hòa giữa bi (câu trước) và tráng (câu sau) để thành khúc ca bi tráng về lí tưởng người lính Tây Tiến Tinh thần lãng mạn hào hùng, ý nguyện xã thân thanh thản và cao cả của
một thế hệ qua các chữ “chẳng tiếc đời xanh”.
4 Cặp câu thứ tư:
Ca ngợi sự hi sinh bi tráng của người đồng đội Tây Tiến Hình ảnh “áo bào thay chiếu” tăng thêm không khí cổ điển trang trọng Từ “về đất” ca ngợi sự hi sinh thanh thản, vô tư Khúc
“độc hành” của dòng sông Mã đang gầm lên như dội vào nỗi xót đau, như tô đậm vẻ lẫm liệt cao cả
của người lính Tây Tiến Đoạn thơ khép lại bằng một âm thanh bi tráng Âm hưởng thơ như còn ngân dài, vang xa mãi
III KẾT BÀI:
Đoạn thơ dựng nên bức tượng đài về đoàn binh Tây Tiến với những vẻ đẹp phong phú Nó là kết quả của một tình cảm mến yêu, cảm phục sâu sắc, của một ngòi bút thi sĩ tài hoa
Đề: Bình luận chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là kiểu bài bình luận một phương diện trong một tác phẩm thơ Để tránh suy diễn hoặc lạc đề, cần phải hiểu rõ khái niệm “lãng mạn” (“lãng mạn” tích cực và “lãng mạn” tiêu cực) Từ đó, xác định được “chất lãng mạn” của bài thơ thuộc về “lãng mạn” tích cực, là một nửa linh hồn của bài thơ Tây Tiến, mang đến cho Tây Tiến một vẻ đẹp riêng và bất tử, khó trộn lẫn với các bài thơ có cùng mô típ tại thời điểm ấy
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Giải thích sơ lược khái niệm “lãng mạn”.
2 Những nội dung chính cần bình luận:
2.1 Vẻ đẹp lãng mạn của Tây Tiến:
- Trước hết hiện lên qua bức tranh đầy ấn tượng bởi đèo cao, vực thẳm, tiếng gầm của thác và những cảnh tượng hoang vu
- Vẻ đẹp của Tây Tiến còn thể hiện ở những đường nét mềm mại, đầy chất thơ
Trang 352.2 Tác giả đã xây dựng thành công hình ảnh một đoàn quân dũng cảm, coi thường cái chết.
2.3 Không chỉ kiêu dũng, can trường, sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh, những người lính Tây Tiến còn là “những thi sĩ mà không làm thơ”.
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Đề 26: Anh hoặc chị hãy bình giảng bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn là hai đặc điểm nổi bật, bao trùm của bài thơ Tây Tiến Do đó, khi bình giảng bài thơ này, cần phải hướng vào trọng tâm ấy
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Cảm hứng lãng mạn về vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời
2 Cảm hứng lãng mạn về những kỉ niệm của tình quân dan thắm thiết:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Trang 36Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
3 Cảm hứng lãng mạn và cảm hứng bi tráng về đoàn quân Tây Tiến:
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gởi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm nứa chẳng về xuôi
Chú ý bình giảng khuynh hướng sử thi rõ rệt ở đoạn thơ trên
(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
Đề 27: Anh hoặc chị hãy phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng.
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là một bài thơ nổi tiếng, được truyền tụng hơn nửa thế kỉ nay Khi phân tích, cần làm nổi rõ:
- Phẩm chất anh hùng, bất khuất, tinh thần yêu nước tha thiết của các chiến binh Tây Tiến Không ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, họ luôn yêu đời, tin tưởng ở tương lai, sẵn sàng quên mình vì lí tưởng cao cả
- Vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội, mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc có sự hòa quyện với vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của các chiến binh Tây Tiến
B HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1 Đoạn 1 (từ câu 1 đến câu 14):
Cảm hứng từ cuộc hành trình đầy gian khổ, tự hào của các chiến binh Tây Tiến
2 Đoạn 2 (từ câu 15 đến câu 22):
Nỗi nhớ khôn nguôi những kỉ niệm vui vầy và hào hứng: một đêm liên hoan, một cuộc vượt thác
3 Đoạn 3 (từ câu 23 đến câu 30):
Cảm hứng bi tráng về cuộc đời chiến đấu gian khổ, hi sinh anh dũng của các chiến binh Tây Tiến
2 Đoạn 4 (bốn câu còn lại):
Những dòng chữ ghi vào mộ chí như lời thề của người chiến sĩ
Trang 37(Trích Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Làm văn 12 – Phạm Ngọc Thắm)
ĐỀ: Xét về phương diện nghệ thuật, cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng là hai nét đặc sắc cơ
bản bao trùm bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
Hãy làm sáng tỏ điều đó qua việc phân tích bài thơ
A HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đề yêu cầu phân tích Tây Tiến theo định hướng làm sáng tỏ hai nét đặc sắc cơ bản bao trùm
bài thơ này là cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng Đề có những đòi hỏi rất cao đối với việc
lập ý và tìm dẫn chứng
Để bài viết đi đúng hướng, cần giải thích qua các khái niệm: cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng Sau đó, đựa vào nội hàm của các khái niệm mà triển khai ý và đưa vào những dẫn chứng phù hợp Bài viết sẽ lạc đề, xa đề nếu đi vào phân tích bài thơ qua từng đoạn một mà không theo một định hướng nào cả (dù cho việc phân tích ấy có được tiến hành kĩ lưỡng đến đâu thì cũng vậy)
B DÀN BÀI:
I MỞ BÀI:
Giới thiệu bài thơ Tây Tiến và các nét đặc sắc của nó.
II THÂN BÀI:
1 Phân tích cảm hứng lãng mạn của bài thơ:
a Giải thích thế nào là cảm hứng lãng mạn:
Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng bày tỏ mạch cảm xúc tràn trề của cái tôi trữ tình Nói cách
khác là cảm hứng thể hiện một cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và có trí tưởng tượng phong phú, bay
bổng Bài thơ mang cảm hứng lãng mạn thường tô đậm cái phi thường, cái có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ Nó thường xuyên sử dụng thủ pháp đối lập
Trang 38b Những biểu hiện của cảm hứng lãng mạn ở bài thơ Tây Tiến :
- Cả bài thơ được bao bọc trong nỗi nhớ nồng nàn Từ “nhớ” được nhắc tới nhiều lần Tất cả
các hình ảnh trong bài thơ đều sống động nhờ kí ức, cũng có nghĩa là nhờ nỗi nhớ
- Trí tưởng tượng của nhân vật trữ tình được thử sức vẫy vùng khiến cho cả bài thơ chứa đựng
nhiều so sánh, liên tưởng độc đáo: “sương lấp”, “súng ngửi trời”, thác gầm thét”, “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”…
- Bài thơ có nhiều hình ảnh gây ấn tượng mạnh về vẻ đẹp vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa thơ mộng, trữ tình của giải đất miền Tây Băc Tổ quốc Hùng vĩ, dữ dội với dốc cao, thác dữ, mưa lớn
Thơ mộng, trữ tình với mùi “thơm nếp xôi”, với “hồn lau”, “chiều sương”, với “hoa đong đưa” trên
dòng nước lũ Tất cả đều đạt tới mức độ tuyệt đỉnh
- Cảm hứng lãng mạn của bài thơ tăng lên khi nó đi sâu miêu tả bản tính lãng mạn, mộng mơ của những người lính Tây Tiến Họ say ngắm những vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhien trên bước đường hành quan Họ hào hứng tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng, náo nhiệt Họ giữ trong tim hình ảnh những kiều nữ chốn đô thành
- Bài thơ sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập – một thủ pháp quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn Sự đối lập ở đây có nhiều cấp độ: đối lập về hình ảnh, đối lập về thanh điệu, đối lập ở các chuỗi vần, đối lập ở từ ngữ, đặc biệt là đối lập trong những nét tính cách của người lính Tây Tiến…
2 Phân tích âm hưởng bi tráng của bài thơ:
a Giải thích thế nào là âm hưởng bi tráng:
Bi tráng là buồn đau mà không bi lụy, vẫn mạnh mẽ, rắn rỏi, gân guốc
b Những biểu hiện của âm hưởng bi tráng ở bài thơ Tây Tiến :
- Bài thơ không ngần ngại nói đến những gian nan ghê gớm mà các chiến sĩ phải trải qua Dốc cao, vực sâu, thú dữ, dịch bệnh luôn đe dọa Đặc biệt, nhiều lần bài thơ nói đến cái chết
- Bên cạnh những chi tiết miêu tả cuộc sống gian khổ, bài thơ cũng chứa đựng nhiều chi tiết nói về sự can trường, mạnh mẽ của những người lính Họ sẵn sàng đương đầu với thử thách, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết chí theo đuổi đến cùng lí tưởng mình đã chọn
- Hơi thơ cổ kính cùng việc cố ý nhấn mạnh nét trượng phu của người lính cũng góp phần làm tăng tính chất bi tráng của tác phẩm
III KẾT BÀI:
Sức sống bất diệt của bài thơ
(Thực hành Làm văn 12)
Trang 39Đề 29: So sánh và phân tích những vẻ đẹp khác nhau của hình tượng người lính thời kì kháng chiến
chống Pháp trong hai bài thơ: Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu.
GỢI Ý CỤ THỂ
1 Hai bài thơ cùng ra đời năm 1948 Hai nhà thơ đều cùng trong quân ngũ (nhà thơ quân
đội) Cả hai sáng tác đều nói về vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp, tuy vậy, cũng có những nét khác nhau
2 Người lính trong Tây Tiến :
a Xuất thân:
Từ đô thành Chiến sĩ Tây Tiến (trong đó cótác giả) phần đông ra đi từ Hà Nội ngàn
năm thanh lịch Họ là những thanh niên có học Và vì vậy, họ có lúc “Đêm mơ Hà Nội”.
b Bối cảnh hoạt động:
Người lính Tây Tiến hiện ra trong khung cảnh rừng núi miền Tây Tổ quốc vừa hùng
vĩ, vừa hiểm trở, hoang dại khác thường Đó là những “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”, “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” Đó còn là nơi “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, khiến cho có khi cả “đoàn quân mỏi” trong sương lấp, có lúc người lính “không bước nữa”.
c Đặc điểm:
Chiến binh Tây Tiến mang vẻ đẹp khác thường Hình tượng các anh nổi lên vừa hào hùng, dữ dội, lại vừa hào hoa, mơ mộng
- Hào hùng, dữ dội trong dáng vẻ ngoại hình:
Cả đoàn quân “không mọc tóc”, “dữ oai hùm” lại còn thêm “mắt trừng” Các anh trở nên khác lạ sau những cơn sốt rét rừng ác liệt, sau những cuộc hành quân vượt “cồn mây, súng ngửi trời”
Đầu không còn tóc, người xanh xao, nhưng người lính vẫn oai phong, vẫn như mang cả hồn thiêng của rừng thẳm
- Hào hùng trong ý chí:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Các anh dâng tuổi thanh xuân cho đất nước không ngại ngần, tiếc nuối Cái chết rình rập và
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ” cũng không cản nổi họ bước ra chiến trường giữ vùng đất biên
cương Việt - Lào
- Hào hùng ngay trong cái chết:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Trang 40Người chiến sĩ về với đất trong hoàn cảnh có thể nói là rất buồn Theo tác giả cho biết thì đồng đội ông ngã xuống, ngay manh chiếu bó thân cũng không có Nhưng sự ra đi vĩnh viễn đó thật anh hùng Con sông Mã thay mặt núi sông cất lên lời ai điếu hùng tráng tiễn đưa người chiến sĩ.
- Hào hoa, mơ mộng ở tâm hồn, lãng mạn:
Mắt trừng gởi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Tâm hồn phải hết sức hào hoa mới “gởi mộng qua biên giới” và mơ về dáng kiều thơm
Người chiến sĩ đẹp trong giấc mơ đẹp, mơ dáng kiều diễm, thanh lịch, quyến rũ của người thiếu nữ thủ đô Đối đầu với nhọc nhằn, chết chóc, anh vẫn không quên một dáng hình thanh tú, tỏa hương Chính dáng hình này sẽ tiếp sức cho anh đi tới Ta chợt nhớ câu thơ:
Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
(Đất nước- Nguyễn Đình Thi)
Tóm lại, tái tạo vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã sử dụng bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng mạn cách mạng Chính cảm quan lãng mạn đã khiến tác giả chú ý đến vẻ đẹp khác thường của đồng đội
3 Người lính trong Đồng chí :
a Xuất thân: Là những nông dân mặc áo lính Các anh ra đi từ làng quê nghèo.
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
b Bối cảnh hoạt động: Các anh cầm súng chờ đợi giặc nơi rừng hoang sương muối Cảnh
ở đây không rõ nét hiểm trở, hoang vu như vùng đất người lính Tây Tiến hiện diện (với dốc, thác, nước lũ, cọp trêu người )
c Đặc điểm: Người chiến sĩ dưới ngòi bút Chính Hữu mang vẻ đẹp bình dị Các anh hiện
ra với dáng vẻ:
- Chất phác:
Nhớ về quê hương, các anh nhớ về “gian nhà không”, nhớ về “giếng nước gốc đa” rất bình thường, quen thuộc (Còn người lính Tây Tiến nhớ quê hương là nhớ “dáng kiều thơm” có phần mĩ lệ,
kiêu sa hơn
- Lam lũ, thiếu thốn:
Trang phục của chiến sĩ thiếu thốn Hình ảnh thực của người nông dân mặc áo lính:
Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày
Chính Hữu tả hiện thực rõ nét đến từng chi tiết Quang Dũng cũng nói đến thiếu thốn, gian truân của đồng đội nhưng thơ ông hướng tới vẻ oai hùng của người lính:
Cũng tả căn bệnh sốt rét tác động đến người chiến sĩ, Chính Hữu tả thực:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Còn Quang Dũng nghiêng về tả vẻ khác lạ, khác thường lãng mạn:
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Như vậy, bút pháp của Chính Hữu trong Đồng chí là bút pháp hiện thực Ông chú trọng vẻ
đẹp của tình đồng đội – những người chung quân ngũ, cùng lí tưởng chiến đấu Còn Quang Dũng đã khái quát vẻ đẹp chung của người chiến sĩ Tây Tiến trên đường hành quân và hoạt động ở một vùng biên giới xa xăm, nhiều hiểm trở