Mặc dù bị địch toòng xuyên càn quét đánh phá phải di chuyển đi nhiều nơi nhưng thầy trò trường Lê Thế Hiếu vẫn bám trường, bám lớp và đặc biệt là được sự đùm bọc của nhân dân trong vùng.
Trang 1CHƯƠNG II :
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG
CẤP II
XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
MỚI
Cuối tháng 10/1950, ở Bình Trị thiên nói chung,
ở Quảng Trị nói riêng bị lụt lớn chưa từng có nên lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội và nhân dân thiếu nghiêm trọng Lợi dụng khó khăn của quân và dân ta, giặc Pháp lại tăng cường càn quét, đánh phá, khủng bố, bắt lính, lập hội Tề Chúng mở những đợt tấn công càn quét vào các vùng du kích Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh), Hải Trung, Hải Phong (Hải Lăng), Cam An (Cam Lộ); Triệu Cơ, Triệu Bình (Triệu Phong) Chúng đóng thêm vị trí và tháp canh dọc quốc lộ I, quanh thị xã tỉnh lỵ và các thị trấn Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch, ngày 10 tháng 02 năm 1951, Tỉnh ủy ra chỉ thị về kế hoạch tác chiến mùa xuân và sau đó ra các chỉ thị đẩy mạnh sản xuất, kế hoạch tác chiến đợt ba từ tháng 10 đến hết tháng 12 năm 1952 Quân dân ta đánh thắng nhiều trận Ba Dốc, Nam - Tây đường 74 đã làm nức lòng nhân dân trong tỉnh Địch rút bỏ một số vị trí, lô cốt ở Triệu Phong, Do Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ, Hải Lăng để đem quân tăng cường phòng thủ hai thị xã Quảng Trị, Đông Hà Mùa thu năm 1953, địch mở trận càn với qui mô lớn vào các căn cứ du kích của 4 huyện Triệu Hải (Quảng Trị) Phong - Quảng (Thừa Thiên) nhưng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân ta, tuy nhiên địch cũng gây cho ta nhiều thiệt hại về người và của Đông xuân năm 1953 - 1954, địch lại mở các trận
Trang 2càn vào vùng Triệu Hải, Do Linh, Cam Lộ, Vĩnh Linh hòng làm tan rã các vùng căn cứ du kích của ta nhưng đã bị ta đánh thiệt hại nặng nề, cùng với quân dân cả nước giành thắng lợi mới trong Đông xuân 1953 - 1954
Trước bối cảnh ác liệt của chiến tranh Giáo dục Quảng Trị phục vụ kháng chiến, chuẩn bị nguồn lực cho Cách mạng trên quê hương, đất nước
Vượt qua khó khăn thiếu thốn do lũ lụt lớn cuối năm 1950 và sự càn quét tàn phá ác liệt của địch, các vùng căn cứ du kích giữ vững, mọi hoạt động vẫn được duy trì và phát triển Về giáo dục, tiếp tục thực hiện Cải cách giáo dục lần thứ nhất với mục tiêu đào tạo của nhà trường
phổ thông là: "Giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người công dân lao đọng tương lai" , trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, có đủ
phẩm chất năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, kiến quốc
Ở các vùng tự do, căn cứ du kích như Triệu Nguyên (chiến khu Ba Lòng), Cam Lộ, Vĩnh Linh, Triệu Phong, Do Linh, Hải Lăng đều có trường Tiểu học
Cam Lộ có cấp 1 Lê Thế Hiếu: 10 lớp tại Cùa; cấp I Vĩnh Liêm (Vĩnh Linh)
Triệu Phong có cấp 1 Triệu Tân (lúc đó là xã Phong Tân) anh Nguyễn Hữu Ích làm Hiệu trưởng
Do Linh có cấp I Linh Quang, anh Hoàng văn Thùy làm Hiệu trưởng (thời kỳ 1953 đây là vùng địch hậu)
Trang 3Các trường tiểu học có học sinh chừng 100 em đến 200 em Trường lớp thường đặt ở nhà dân, đình, chùa Khi giặc đến thì thầy trò sơ tán Tuy vậy, các trường vẫn cố gắng thực hiện chương trình của Bộ Giáo dục Cuối năm học, các kỳ thi tiểu học diễn ra nghiêm túc tại chiến khu Ba Lòng, Cùa, Triệu Sơn, Vĩnh Hoàng Học sinh tốt nghiệp cấp I, học cấp II vào những năm 1951, 1952, 1953 tại xã hoặc lên chiến khu , nhiều nhất là tại trường Lê Thế Hiếu (Cùa)
Hình thành và phát triển trường cấp II:
Từ giữa năm 1950, tỉnh có chủ trương thành lập cấp II Lê Thế Hiếu đáp ứng nhu cầu học tập của con em Lúc đầu trường có 2 lớp 5 và 1 lớp 6 Học vào lớp 5 là các em đã hoàn thành chương trình tiểu học ở các trường tiểu học thuộc huyện Triệu Phong, Do Linh và Hải Lăng, Số đông học sinh huyện Cam Lộ vào vùng Cùa Riêng học sinh lớp 6 là số con em Quảng Trị được tỉnh gửi ra trường Trung học Hương Khê (Hà Tĩnh) học từ năm học 1949, nay tỉnh điều động trở về Năm học 1951 - 1952 trường có đầy đủ 3 lớp: 5, 6 và 7 Lúc đầu trường đặt tại đình làng Mai Xá và vài điểm ở thôn Mai Lộc, sau khi giặc đánh phá các lớp học bị cháy, thầy trò vào rừng Xon đẵn gỗ, cắt tranh về dựng lại trường học Bàn ghế, bảng đen đều do thầy trò vận động giúp đỡ của nhân dân vùng Cùa Những lúc học ban đêm, để tranh sự đánh phá của máy bay địch học sinh tự chế đèn dầu hỏa không có khói bằng lọ mực hoặc lọ Pê nê xê lin, phía trên dùng một đoạn ống thủy tinh che ngọn đèn, xung quanh bịt kín, chỉ
Trang 4chừa một lỗ đủ sáng để học và viết Vở của học sinh được gói gọn trong mo cau phòng khi bị ném bom cất dấu dễ dàng, không hư hỏng
Thầy giáo, cô giáo và học sinh ở trọ trong nhà dân thuộc các làng Mai Đàn, Mai Lộc, Cồn Mới, Trung Chỉ, Đốc Kỉnh, Lộc An Mặc dù bị địch toòng xuyên càn quét đánh phá phải di chuyển đi nhiều nơi nhưng thầy trò trường Lê Thế Hiếu vẫn bám trường, bám lớp và đặc biệt là được sự đùm bọc của nhân dân trong vùng Sự hỗ trợ về tinh thần, tình cảm vật chất của nhân dân là động lực thôi thúc thầy dạy hết mình, trò học đến nơi đến chốn Đây là trường cấp II đầu tiên của Quảng Trị mang tên vị Chủ tịch tỉnh đã hy sinh vô cùng anh dũng trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp Nagỳ nay, trên mảnh đất Cam Chính (Cùa) có trường Tiểu học và trường THPT cấp II - III tiếp tục mang tên Lê Thế Hiếu đã và đang phát huy truyền thống của cha anh những thế hệ đi trước đã gây dựng dựng lên ngôi trường này Ngành chuẩn bị đội ngũ giáo viên cấp II cho năm 1951 và những năm sau Ty Giáo dục đã chọn giáo viên có Bằng Thành Chung gửi đi đào tạo giáo viên cấp II Thời gian đầu, lớp đặt tại trường Nguyễn Chí Diễu (huyện Phong Điền) Thầy giáo giảng dạy là những thầy dạy giỏi như ông Nguyễn Kỳ dạy toán (sau này ông Nguyễn Kỳ làm Trưởng Ty Giáo dục Bình Trị Thiên cũ nay là Thứ trưởng Bộ GD & ĐT) ông Lương dạy văn Giữa chừng giặc càn, lớp đào tạo phải di chuyển vào phía Nam tỉnh Thừa Thiên (huyện Phú Lộc) Di chuyển gian khổ các giáo viên dự lớp vẫn bám trường, bám lớp Sau khi hòan thành khóa đào
Trang 5tạo, các giáo viên trở về tỉnh nhà mở các lớp cấp 2
ở nhiều xã trong năm học 1951 - 1952, đó là các thầy giáo Nguyễn Thanh, Nguyễn Công Lân, Nguyễn Kham, Nguyễn Hữu Sắt Thực hiện chỉ thị của Bộ các Ty Giáo dục Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tiếp tục bổ sung lực lượng giáo viên giỏi, giác ngộ cách mạng, tâm huyết với nghề nghiệp chi viện cho giáo dục Quảng Trị Trường cấp II Lê Thế Hiếu lúc mới thành lập 1950 đã phấn khởi đón các thầy giáo Phan Cự Nhân, Phạm Viết Trình, Đống Phan Để, Hồ Đình Lư, Nguyễn Bá Tân, Ngô Oanh, Ngô Đức Thụ, Đỗ Xuân Trạch vào dạy các môn tự nhiên, xã hội
Năm học 1951 - 1952 các xã đã mở các lớp (cấp II) Các trường cấp II nhô lên từ trường cấp I là hình thức phát triển đặc biệt của thời chiến tranh Đây là giải pháp tình thế có hiệu quả nhất trong điều kiện chúng ta vừa tiến hành giảng dạy vừa gửi đi đào tạo, đào tạo tại chỗ lực lượng giáo viên và chờ sự chi viện của giáo dục khu Bốn do thầy Phạm Đình Ái và thầy Võ Thuần Nho phụ trách Chuyến đi vào Quảng Trị lần thứ 2 năm 1952 này, thầy Võ Thuần Nho đưa vào 4 giáo viên cấp II và 17 giáo viên cấp I phần đông là người Thanh Hoúa, nghệ An Lực lượng này đã bổ sung cho Ty và phân về các trường học Đó là các trường: Trường cấp I-II Cam thủy (Cam Lộ) do thầy Nguyễn Văn Thanh làm Hiệu trưởng, Trường cấp I-II Triệu An (Triệu Phong) do thầy Nguyễn Thanh làm Hiệu trưởng, Trường cấp I-II Triệu Sơn do thầy Đặng Bá Đệ làm Hiệu trưởng, Trường cấp I-II Hải Phong (Hải Lăng) do thầy Hoàng Đức Thạc làm Hiệu trưởng Trường cấp II Chợ Cạn (Triệu Phong) do thầy Nguyễn Kham
Trang 6làm Hiệu trưởng Trường cấp II Lê Thế Hiếu có các thầy Phan Cự Nhân, Ngô Đức Oanh, Hồ Đình Lư Thầy Phan Cự Nhân làm Hiệu trưởng Trường cấp
II Vĩnh Liêm sau chuyển lên Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh) do thầy Nguyễn Công Lân làm Hiệu trưởng Ngoài các trường công, giái đoạn này ở Quảng Trị bắt đầu có trương tư thục cấp II (chỉ có lớp 5) như trường Vĩnh Liêm (Vĩnh Linh) do ông Trần Cảnh Hải tổ chức
Từ tháng 7 năm 1954 hai trường Lê Thế Hiếu và Vĩnh Liêm trước khi chuyển ra Vĩnh Linh đặt tại Vĩnh Hiền và Vĩnh Sơn Đầu năm 1955 nhập 2 trường thành cấp II Vĩnh Linh do thầy Nguyễn Tỵ làm Hiệu trưởng, thầy Phan Cự Nhân và thầy Nguyễn Trắc làm Hiệu phó Tháng 9 năm 1957 thầy Nguyễn Tỵ lên làm ủy viên thư ký Ủy ban khu vực Vĩnh Linh, thầy Nguyễn Văn Tu làm Hiệu trưởng Năm 1959 cấp II Vĩnh Linh phát triển thành cấp II-III Năm học 1961-1962 tách cấp III ra khỏi II Thời gian này các trường cấp II Vĩnh Linh đã phát triển mạnh theo hướng liên xã như trường cấp II Long - Chấp, trường cấp II Kim-Thạch, trường cấp II Lâm-Thủy, trường cấp II Hiền - Hòa, trường cấp II Quang - Tân
Tính đến cuối năm 1950 - 1951, các trường Phổ thông trong tỉnh thu hút được 6.345 học sinh, con em nhân dân đến học (Kể cả con em vùng tạm chiếm) (*) Với tầm nhìn chiến lược ngoài số con em học
ở trường Trung học Hương Khê, tỉnh còn tổ chức cho các em ra Đức Thọ, trường Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) học tập với số lượng gần hàng trăm em Trại Quảng Sinh tổ chức sản xuất, chăn nuôi để có thêm điều kiện cho các em học tập Các cô chú vừa tham gia sản xuất vừa chăm lo đời sống, quản
Trang 7lý học sinh Nhiều học sinh học tập, rèn luyện tại Quảng Sinh sau này đã trưởng thành Trong số đó có nhiều người là lãnh đạo các Sở, ban, ngành, chính quyền Đảng các cấp tỉnh, huyện, thị xã
Từ 1951 đến giữa năm 1954, giáo dục tỉnh ta đã phát triển mạnh, rõ nhất là cấp II Năm học 1951-1952 là năm mở đầu cho sự phát triển các trường cấp 2 kháng chiến Đây là sự cố gắng vượt bậc của nhân dân và của ngành Giáo dục Quảng Trị Bằng các hình thức công lập, tư thục, dân lập
Trong bối cảnh chiến tranh, ở tỉnh nhà từ khi có trường cấp II (năm 1950 trở đi) các rtường đã chú
ý xây dựng Hiệu Đòan học sinh Hiệu đoàn học sinh đã thể hiện rõ vai trò, tác dụng của tuổi trẻ trong nhà trường Hiệu Đòan trường do học sinh đảm nhiệm Trong các hoạt động của Hiệu Đòan, Chi đoàn thanh niên cứu quốc đóng vai trò nòng cốt Nhờ lực lượng tiên phong này, nhà trường cấp II
tiến hành có hiệu quả các cuộc vận động "Cải tạo học tập" trong học sinh thực hiện phương
châm học tập mới do cuộc cải cách giáo dục năm
1950 đề ra Hiệu Đòan học sinh một số trường cấp II đã tổ chức nhiều đêm văn nghệ nhân các ngày Quốc khánh, 1/5 Năm 1951, có chính sách thuế nông nghiệp, học sinh cấp II tham gia công tác tính thuế nông nghiệp cho nhân dân Để góp phần ngăn chặn giao thông của địch, thầy trò trường cấp II Lê Thế Hiếu nhiều đêm phá hoại đoạn đường 9, Đầu Mầu Vừa phá đường, vừa tuyên truyền vận động binh lính gác cầu Đầu Mầu giác ngộ cách mạng về với nhân dân Học sinh còn tham gia rất hào
Trang 8hứng việc vận chuyển lương thực lên chiến khu
Ba Lòng, không quản gian khổ, mặc cho pháo giặc bắn phá Bị thế của Hiệu Đoàn học sinh các trường trở thành lực lượng nòng cốt của cách mạng
Tháng 7 năm 1951, tại Việt Bắc, Ban chấp hành lâm thời công đoàn giáo dục Việt Nam chính thức được thành lập và đề ra chương trình công tác của Công đoàn Giáo dục gồm 4 điểm: Thúc đẩy đoàn viên thực hiện tốt chuyên môn; xây dựng tổ chức công đoàn lớn mạnh; đảm bảo thực hiện cải cách giáo dục; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đoàn viên, đoàn kết lao động trí óc và lao động chân tay, đấu tranh giải phóng
dân tộc
Với tinh thần hăng hái của một tổ chức mới ra đời, được sự phối hợp chỉ đạo của Liên đoàn lao động tỉnh, tổ chức Công đoàn giáo dục Quảng Trị được hình thành và phát triển đoàn viên tiến hành tổ chức công đoàn ở cơ quan giáo dục tỉnh do ông Nguyễn Dương Khư làm Thư ký Các trường phổ thông cấp II Triệu Sơn, Triệu Cơ, Lê Thế Hiếu cũng thành lập Công đoàn giáo dục trong giáo viên
Tuy mới thành lập nhưng Công đoàn giáo dục tỉnh thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng tình hình thời sự, học tập chính trị nhằm phát huy lòng yêu nghề, tinh thần vượt khó khăn gian khổ,
tư tưởng tự lực cánh sinh, gắn bó với nhân dân, với học sinh để xây dựng trường - lớp nhằm không ngừng phát triển sự nghiệp giáo dục cách mạng
Trang 9Tổ chức chi bộ Đảng cộng sản (lúc này là Đảng lao động Việt Nam) được thành lập tại trường cấp II Lê Thế Hiếu do một huyện ủy viên làm Bí thư kiêm dạy môn chính trị - đó là thầy giáo Hồ Sỹ Phan Một số ít học sinh trưởng thành trong kháng chiến được kết nạp Đảng đã cùng sinh hoạt tại chi bộ
Để đưa chất lượng giảng dạy theo hướng Cải cách giáo dục, giúp đội ngũ nắm bắt đường lối nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, Ty Giáo dục đã mở những lớp bồi dưỡng chính trị cho giáo viên các cấp Giữa năm 1953, toàn thể giáo viên đã dự chỉnh huấn tại chiến khu Ba Lòng Trong các lớp chỉnh huấn này, anh chị em giáo viên đã được học tập về đường lối, nhiệm vụ Cách mạng Việt Nam do Đại hội Đảng lần thứ II (1951) vạch ra học tập về đạo đức cách mạng của ngừơi cán bộ, đảng viên Qua chỉnh huấn, giáo viên và cán bộ giáo dục vừa được nâng cao tư tưởng, lập trường giai cấp, vừa có cơ sở lý luận và phương pháp đúng để làm tốt chức năng giáo dục của mình Các thầy giáo ở các trường đã thể hiện sự hiểu biết vào việc soạn giảng và giáo dục học sinh Thiếu và không có sách giáo khoa các môn tự nhiên, thầy giáo căn cứ vào chương trình do Bộ Giáo dục quy định để tìm chọn tài liệu trong sách tự nhiên bằng tiếng Pháp Ty Giáo dục có cử hai giáo viên ra Khu giáo dục Liên khu Bốn chép tài liệu nhưng không đủ phân phát cho đội ngũ giáo viên Các bộ môn Văn, Chính trị thì sử dụng Báo Cứu quốc và báo Nhân Dân Những chủ trương, đường lối cách mạng của
Trang 10Đảng được các trường thực hiện chu đáo, có hiệu quả đến việc giáo dục học sinh
Dưới sự lãnh dạo của Chi bộ, sự phối hợp của Công đoàn giáo dục, sự chủ động của Hiệu đòan học sinh, thầy trò đoàn kết đùm bọc thương yêu nhau như anh em một nhà Thầy trò chia sẻ ngọt bùi, sắn khoai Giặc đến, thầy trò sơ tán, giặc đi, thầy trò trở lại dạy và học bình thường Có hôm, thầy trò đang dạy và học, giặc cho máy bay Han Cát dội bom napan, thầy trò xuống hầm trú ẩn; có thầy bị thương, học trò băng bó động viên Lớp học bị cháy, thầy trò vào rừng chặt cây, cắt tranh dựng lại Ban ngày bị pháo bắn pháú, máy bay dội bom thì học ban đêm Thiếu phấn, thầy trò dùng đá trắng, sắn khô Ngoài giờ học tập, học sinh trong các gia đình đã tự nguyện tham gia tăng gia sản xuất cùng gia đình như trồng sắn, trồng khoai, làm cỏ lúa Vì vậy, lúc giặc càn, việc tiếp tế lương thực ở đồng bằng khó khăn, học sinh vẫn yên tâm học hành vì đã có lương thực tự làm tại chỗ Nhờ sự gắn bó tình cảm đó mà học trò
an tâm chăm chú học hành Có nhiều người đã đạt loại khá, giỏi Anh Trương Hữu Thảo, học sinh lớp 7
Lê Thế Hiếu được Khu giáo dục Khu Bốn tặng khen Cuối năm học 1953 - 1954, riêng trường cấp II
Lê Thế Hiếu đã trãi qua 3 kỳ thi tốt nghiệp Khối học sinh lớp 5 các trường cấp II Triệu Cơ, Vĩnh Sơn mới vào năm 1950 - 1951 nay cũng dự thi tốt nghiệp lần đầu
Giữa tháng 3 và 4 năm 1953, Ngành cùng Tỉnh Đoàn thanh niên mở các lớp hướng dẫn cải tạo học tập cho học sinh nhằm giúp học sinh xác định rõ