1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận đàm phán ký kết hợp đồng

17 3,2K 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 41,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn đàm phán, các bên chưa có một cam kết gì cụ thể đối với nhau và thông thường họ chưa phát sinh quyền hay nghĩa vụ pháp lý nào liên quan đến giao dịch đang đàm phán mà tro

Trang 1

Lời nói đầu:

Kinh doanh là một cuộc chiến, cạnh tranh giữa các đối thủ Tất cả đều hướng đến mục đích là bán được nhiều sản phẩm với giá hời nhất Thị trường kinh tế là một trận địa

mà những đối thủ thả sức thi tài Những ai thực sự giỏi, cung cấp dịch vụ chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng sẽ là người chiến thắng Việc đàm phán trong kinh doanh sẽ giúp người bán hàng đạt được mục tiêu cụ thể và tạo sự khác biệt trong chiến thắng – đó là chiến thắng trong đàm phán Đàm phán giúp ký kết được hợp đồng, mua bán với giá phù hợp, giải quyết các mâu thuẫn trong kinh doanh, giúp kết nối doanh nghiệp và người dùng, hiểu rõ bản chất vấn đề Trong cuộc sống, kỹ năng đàm phán thể hiện một tầm quan trọng đặc biệt Giải quyết những mâu thuẫn người với người, có thể thấy rõ tầm quan trọng của đàm phán trong các cuộc chiến tranh, giữa những phe đối lập Liên kết các mối quan hệ để tạo nên sự cộng tác, hình thành phát triển của xã hội…

I Khái niệm về đàm phán hợp đồng:

Khái niệm về đàm phán hợp đồng: Là thực hiện một hoặc nhiều cuộc đối thoại, thương lượng giữa 2 bên hoặc nhiều bên có ý muốn quan hệ đối tác với nhau nhằm mục đích tiến đến một thoả thuận chung đáp ứng yêu cầu cá nhân hoặc yêu cầu hợp tác kinh doanh của các bên tham gia đàm phán

II Vai trò của luật sư khi tham gia đàm phán:

Để có mỗi quan hệ làm ăn với đối tác, Hợp đồng là một sợi dây kết nối giữa hai bên Vai trò của Hợp đồng rất quan trọng trong quan hệ hai bên trong đó giai đoạn đàm phán Hợp đồng sẽ quyết định sự thành bại của sự hợp tác

Đàm phán hợp đồng là việc đối thoại, thương lượng giữa hai hay nhiều bên nhằm mục đích đi đến một thỏa thuận chung phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc kinh doanh của các bên tham gia đàm phán Trong giai đoạn đàm phán, các bên chưa có một cam kết gì

cụ thể đối với nhau và thông thường họ chưa phát sinh quyền hay nghĩa vụ pháp lý nào liên quan đến giao dịch đang đàm phán mà trong giai đoạn này các bên tìm hiểu

và bày tỏ với nhau về yêu cầu cũng như nguyện vọng của mỗi bên đối với bên kia xoay quanh vấn đề có liên quan đến quyền lợi của các bên để đi đến một kết quả của cuộc đàm phán là việc các bên ký kết với nhau một hợp đồng Nói một cách khác, bắt đầu thời điểm hợp đồng được ký kết, giữa các bên phát sinh các quyền và nghĩa vụ được pháp luật đảm bảo thực hiện và việc không thực hiện nghĩa vụ là cơ sở của trách nhiệm dân sự

Việc đàm phán hợp đồng đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau của người tham gia đàm phán như tư chất, các quan hệ xã hội, uy tín cá nhân, sự hiểu biết, lòng tự tin, khả năng thuyết phục, tính kiên nhẫn, biết chuẩn bị kế hoạch đàm phán và vận dụng khéo léo các chiến thuật đàm phán, biết cách vô hiệu hóa các chiến thuật của đối phương

Trang 2

Do luật sư thông thường được coi là có kỹ năng giao tiếp, truyền đạt thông tin tốt, luật

sư có thể giúp cho hai bên thương lượng có hiệu quả hơn, cuộc đàm phán diễn ra nhanh chóng và thuận lợi, suông sẻ hơn Vì thế, luật sư thường đứng ra trình bày vấn

đề, không chỉ những vấn đề pháp lý mà có thể cả những vấn đề mang tính thương mại như giá cả, các điều kiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp hợp đồng… Với vai trò là một nhà ngoại giao, trong quá trình đàm phán, luật sư cố gắng để bảo vệ thân chủ của mình một cách tốt nhất Cụ thể, luật sư sẽ cố gắng đàm phán, soạn thảo hợp đồng sao cho rõ ràng, thể hiện đúng nội dung kết quả đàm phán, không có những nội dung chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau Khi phát sinh những vấn đề mang tính pháp lý, luật

sư dùng kiến thức của mình để đưa ra những giải pháp phù hợp với pháp luật và bảo

vệ cho thân chủ

Đối với mỗi điều khoản hợp đồng, đặc biệt là những điều khoản do đối tác đưa ra, luật sư có vai trò phải giải thích rõ các rủi ro pháp lý liên quan đế quyền lợi và nghĩa

vụ của thân chủ Trong rất nhiều trường hợp, thân chủ không lường trước được những rủi ro này

Khi 2 bên đã thống nhất được với nhau về một nguyên tắc cụ thể, luật sư giúp hai bên, đặc biệt là thân chủ mình, soạn thảo ngôn từ hợp đồng diễn tả đúng, chính xác nội dung đã được thống nhất, không để xảy ra những sơ hở hay rủi ra do ngôn từ hợp đồng thiếu chặt chẽ

III Các đặc trưng cơ bản khi luật sư tham gia đàm phán hợp đồng:

- Đặc trưng cơ bản đầu tiên là giữa các bên chưa hề có sự ràng buộc bởi một quan hệ pháp lý… bằng chứng là một bên có thể ngừng việc đàm phán và đến thỏa thuận với một đối tác khác

- Quyền tự do định đoạt của các bên rộng lớn hơn

- Quá trình đàm phán thường tiến hành theo một quy trình: giải quyết các điều kiện cơ bản trước – các điều kiện thứ yếu sau; các bên tìm cách thuyết phục đối phương rằng

đề nghị của mình đưa ra là mức tối thiểu mà mình có thể thực hiện và quyền lợi của đối phương cũng vẫn được đảm bảo nếu chấp nhận đề nghị của mình; quá trình đàm phán là quá trình nhượng bộ trên nguyên tắc có đi có lại và do đó, vấn đề thời gian và mức độ nhượng bộ cần được cân nhắc một cách cẩn trọng

IV Các công việc luật sư phải làm khi tham gia vào đàm phán hợp đồng

Khác hẳn với việc soản thảo hay tư vấn soạn thảo hợp đồng, việc đàm phán đòi hỏi luật sư phải có khả năng ứng biến và xử lý tình huống nhanh nhạy ngay trên bàn đàm phán thay vì có thowifgian đọc lại các quy định pháp luật và tiền lệ để kiểm tra Về cơ bản, luật sư cần dung các kiến thức cơ bản và kỹ năng đàm phán để buộc đối tác đồng

ý với các yêu cầu của khách hàng mình đưa ra và các yêu cầu đó sẽ được ghi nhận trong hợp đồng Để làm được điều này, luật sư cần có các bước chuẩn bị kỹ lưỡng

Trang 3

trước khi thực hiện đàm phán Việc đàm phán giữa các bên thường kéo dài từ khi chưa có hợp đồng đến khi hợp đồng đã được soạn thảo Mục đích của giai đoạn chuẩn bị là để luật sư hiểu được giao dịch và thoả thuận giữa các bên, hiểu được các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch và trả lời cho các vấn đề đó, biết cái mình cần

và cái mà đối tác cần khi đàm phán, hiểu luật sư đối phương và chuẩn bị tâm lý cho mình

Các công việc mà luật sư cần phải chuẩn bị bao gồm các công việc sau đây:

1 Tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch:

Khi đàm phán, các bên hoặc luật sư của các bên sẽ trao đổi về các vấn đề pháp lý phát sinh từ mong muốn thương mại của các bên và cách thức giải quyết các vấn đề theo hướng có lợi cho phía mình Các vấn đề pháp lý có thể liên quan đến tính hợp pháp của giao dịch, các chấp thuận cần thiết từ các cơ quan nhà nước, nội bộ các bên hoặc bên thứ ba, khả năng thi hành các điều khoản cụ thể trong hợp đồng,… Luật sư cần hiểu rõ các vấn đề pháp lý phát sinh từ giao dịch để có thể xuất phát các điều khoản phù hợp trong hợp đồng và có lợi cho khách hàng của mình Nếu luật sư không thể xác định hết các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch thì rủi ro là phía đối tác có thể đưa ra các điều khoản chỉ phục vụ cho lợi ích của mình và có thể gây thiệt hại cho khách hàng sau khi ký hợp đồng

2 Tìm hiểu về thông tin đối tác khách hàng:

Một điều quan trọng khi đàm phán là luật su cần biết rõ mình và đối phương muốn đạt được mục đích gì thông qua cuộc đàm phán Bước này có thể được gọi là “biết người biết ta” Luật sư cần biết cái mình cần trong cuộc đàm phán để chuẩn bị các lỹ lẽ tranh luận phù hợp nhằm đạt được mục đích đó Ngoài ra, luật sư cũng cần biết phía đối tác cần gì để khai thác các điểm yếu đó thành lợi thế của mình khi đàm phán Luật sư có thể biết được mục đích đàm phán của đối tác thông qua các thông tin do khách hàng cung cấp hoặc các đề xuất trong dự thảo hợp đồng mà đối tác hoặc luật sư của đối tác đưa ra Phía đối tác có thể trình bày rõ các mục đích của mình đối với từng điều khoản hoặc chỉ nêu ra yêu cầu sửa đổi các điều khoản đó Công việc của luật sư là suy luận

về mục đích của đối tác khi đưa ra các đề xuất như vậy để xác định các kỹ thuật đàm phán cho phù hợp

Nếu đối tác có thuê luật sư đại diện, luật sư cũng cần tìm hiểu thông tin về luật sư đối phương và tổ chức hành nghề luật sư mà họ làm việc Mục đích của việc tìm hiểu này

là để dự đoán khả năng đàm phán của đối tác dựa trên kinh nghiệm và lĩnh vực hành

Trang 4

nghề của luật sư đối phương Nếu luật sư đối phương không có kinh nghiệm nhiều trong tư vấn về lĩnh vực liên quan đến giao dịch, luật sư có thể lựa chọn phong cách đàm phán canh tranh hơn để buộc đối tác đồng ý các điều khoản do mình đưa ra Bên cạnh các thông tin chung về luật sư đối tác, luật sư cũng nên tìm hiểu luật sư đối phương có điểm yếu gì và có thói quen gì khi làm việc để chuẩn bị chiến lược đàm phán phù hợp

3 Chuẩn bị về nhân sự đàm phán của đoàn đàm phán.

Thành phần đàm phán: Vấn đề nhân sự trong đàm phán có vị trí đặc biệt quan trọng,

đòi hỏi phải có sự chuẩn bị chu đáo Thành phần nhân sự trong đoàn đàm phán hợp đồng ngoại thương cần hội đủ chuyên gia ở 3 lãnh vực: pháp lý, kỹ thuật và thương mại Sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng của 3 loại chuyên gia này là cơ sở rất quan trọng trong quá trình đàm phán để đi đến ký kết một bản hợp đồng chặt chẽ, khả thi và hiệu quả cao

4 Lựa chọn luật áp dụng, các văn bản pháp luật cần sử dụng trong quan hệ pháp luật:

Quan hệ hợp đồng thương mại có luật chuyên ngành điều chỉnh bao gồm một số ngành sau:

– Hợp đồng thương mại (được Luật Thương mại 2005 điều chỉnh);

– Hợp đồng kinh doanh bất động sản (được Luật Kinh doanh bất động sản 2006 điều chỉnh);

– Hợp đồng bảo hiểm (được Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 điều chỉnh);

– Hợp đồng lao động (được Luật Lao động 2012 điều chỉnh)

Tất cả những loại hợp đồng nêu trên đều phải dựa trên cơ sở những quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 Điều 3 có quy định như sau:

“Điều 3 Áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật

Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này.”

Hay trong Điều 4 Luật Thương mại quy định về áp dụng Luật Thương mại và pháp luật có liên quan như đã dẫn ở trên có thể hiểu:

– Hợp đồng thương mại phải tuân theo pháp luật thương mại và đương nhiên phải phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự

– Hoạt động thương mại đặc thù như kinh doanh bất động sản, kinh doanh bảo hiểm…thì được áp dụng theo quy định của luật chuyên ngành đó

Trang 5

– Nếu các luật chuyên ngành không có quy định thì lại quay về áp dụng đạo luật cơ bản đó là Bộ luật Dân sự

Tóm lại, áp dụng pháp luật có luật chuyên ngành điều chỉnh thì buộc phải tuân theo các quy định của luật chuyên ngành đó Nếu luật chuyên ngành không có quy định hoặc quy định không rõ ràng thì có thể áp dụng các đạo luật khác có giá trị pháp lý cao hơn luật chuyên ngành để áp dụng

Áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng thương mại có một bên là thương nhân

Để hiểu được các quy định của pháp luật trong áp dụng pháp luật nếu có một bên là thương nhân, trước hết cần hiểu rõ 2 ý như sau:

– Việc xác định một hợp đồng là hợp đồng Dân sự hay hợp đồng Thương mại là nhằm xác định Chế độ Pháp lý được áp dụng cho hợp đồng đã ký kết này (Chế độ pháp lý của hợp đồng Dân sự hay Chế độ Pháp lý của hợp đồng Thương mại) Chế độ pháp lý

ở đây sẽ chính là các quy định của pháp luật được áp dụng để giải thích cho các nội dung của hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng

– Hợp đồng thương mại sẽ được điều chỉnh bởi Luật thương mại 2005 Điều này được quy định tại Điều 2 Luật thương mại 2005 như sau:

“Điều 2 Đối tượng áp dụng

1 Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật này.

2 Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.

3 Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.”

Trên cơ sở hai nội dung trên, có thể nói, chủ thể của hợp đồng thương mại có thể là cá nhân, tổ chức và tất cả các chủ thể của pháp luật dân sự, bao gồm: cá nhân, pháp nhân,

hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước…Bởi vì tất cả các chủ thể của Luật Dân sự khi tham gia ký kết một hợp đồng với một bên là Thương nhân thì khi đó họ có quyền áp dụng Luật Thương mại để giải quyết (cho dù mục đích ký kết hợp đồng của họ ko nhằm mục đích sinh lợi), căn cứ vào Khoản 3 Điều 1 của Luật Thương mại 2005:

"Điều 1 Phạm vi điều chỉnh

3 Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này."

Như vậy, hợp đồng được kí kết giữa một bên là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hay Nhà nước ký kết với một Thương nhân sẽ trở thành hợp đồng Thương

Trang 6

mại – nếu các chủ thể này lựa chọn Luật Thương mại để áp dụng Khi đó, các chủ thể này đã trở thành Chủ thể của Hợp đồng thương mại

Áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài

Về áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, Điều 5 Luật Thương mại 2005 quy định:

“Điều 5 Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế

1 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

2 Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”

Đối với giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật quốc gia có thể được áp dụng theo những điều kiện nhất định Thông thường pháp luật quốc gia được áp dụng trong các trường hợp sau: (i) Các bên trong hợp đồng thỏa thuận lựa chọn áp dụng; (ii) Điều ước quốc tế mà các quốc gia (có các chủ thể của hợp đồng mang quốc tịch của quốc gia đó) kí kết hoặc tham gia có quy định điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế là luật của một quốc gia nhất định; (iii) Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp chọn luật áp dụng (khi các bên không đạt được thỏa thuận về luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng)

Trong lĩnh vực thương mại nói chung và mua bán hàng hóa nói riêng, có rất nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương đã được thiết lập mà Việt Nam đã hoặc trong tương lai gần sẽ là thành viên Khi áp dụng điều ước quốc tế đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần phân biệt hai trường hợp: (i) Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên, nếu điều ước có quy định khác với pháp luật quốc gia thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế; (ii) Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên thì các bên trong hợp đồng mua bán có quyền thỏa thuận áp dụng nội dung không trái với những nguyện tắc cơ bản của luật Việt Nam

Một quan hệ mua bán hàng hóa đáp ứng một trong các điều kiện sau thì được coi là mua bán hàng hóa quốc tế: (i) Ít nhất một trong các bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, (ii) Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài (iii)

Trang 7

Tài sản liên quan đến quan hệ mua bán ở nước ngoài Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu

Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng, pháp luật các nước đều thừa nhận luật áp dụng cho nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước tiên là luật do các bên tham gia quan hệ hợp đồng thỏa thuận lựa chọn và sự lựa chọn này phải đáp ứng những điều kiện do chính hệ thống pháp luật đó đặt ra

Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật thế giới cho phép các bên được phép thỏa thuận chọn luật điều chỉnh đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng vẫn có những hạn chế nhất định Luật các bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được áp dụng nếu thỏa mãn các điều kiện sau:

(1) Việc chọn luật không trái với quy định của Việt Nam;

(2) Luật được chọn không trái với pháp luật Việt Nam, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà các bên là thành viên;

(3) Việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không được trái với pháp luật Việt Nam, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; và

(4) Việc chọn luật không nhằm lẩn tránh pháp luật

5 Dự thảo bản hợp đồng:

Luật sư nên chuẩn bị hai bản dự thảo hợp đồng hoặc ít nhất phải có được ý tưởng về hai dự thảo hợp đồng với nội dung mà thân chủ có thể chấp nhận được Các dự thảo này có thể do luật sư soạn thảo hoặc đầu tiên được phía đối tác cung cấp và được luật

sư sửa đổi để đảm bảo tốt hơn lợi ích của thân chủ của mình Một dự thảo với nội dung tốt nhất má thân chủ sẽ chấp nhận Một dự thảo thể hiện nội dung thấp nhất nhung thân chủ vẫn chấp nhận được Hai bản dự thảo này sẽ thể hiện cho một mức trần (tốt nhất) và một mức sàn (thấp nhất) mà trong phạm vi đó, luật sự được quyền đàm phán và quyết định Mọi vấn đề thấp hơn mức sàn đều phải được sự đồng ý của thân chủ

6 Chuẩn bị các khả năng có thể xảy ra trong buổi đàm phán:

Luật sư phải cố gắng dự đoán trước những gì mà phái đối tác có thể đưa ra để có thể lường trước, suy nghĩ, vạch sẳn những lý lẽ để có thể phản bác hoặc chỉ chấp nhận một phần các đề xuất của phái đối tác Điều này sẽ khiến cho luật sư không mất thời gian suy nghĩ nhiều trong khi họp đàm phán và không đưa ra những ý kiến vội vàng trong khi đàm phán

III Những lỗi thường gặp khi đàm phán hợp đồng:

Lưu ý khi đàm phán soạn thảo hợp đồng

Trang 8

Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng

số 777 điều Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng

có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vưc đó,

ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm … Các quy định về hợp đồng trong

Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng

Pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay, tuy có một số hạn chế nhất định đang được các nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội nhưng nhìn chung được xem là khá tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ hiện nay Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung các chế định về hợp đồng

đã phần nào quán triệt, thể chế hoá các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế –

xã hội của nhà nước, cụ thể hoá các quyền về kinh tế, dân sự của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng đã thể hiện quan điểm tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được toàn quyền quyết định

về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm

Bộ luật Dân sự quy định những vấn đề chung về hợp đồng như khái niệm hợp đồng, giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, chấm dứt hợp đồng … còn các luật chuyên ngành thì chỉ quy định các vấn đề mang tính đặc thù của hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau Trong phạm vi bải nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến các vấn đề liên

Trang 9

quan đến lỗi thường gặp trong quá trình tham gia, đàm phán, ký kết hợp đồng của doanh nghiệp, nhất là trong một số loại hợp đồng thông dụng:

Một số lỗi thường xảy ra trong quá trình đà phán, soạn thảo hợp đồng

Thứ nhất, lỗi về hình thức hợp đồng

Về nguyên tắc, các bên có quyền tự do quyết định hình thức của hợp đồng Hình thức hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ một số trường hợp pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được thể hiện bằng hình thức nhất định nhằm đảm bảo trật tự công, ví dụ như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản và phải công chứng

Doanh nghiệp cần biết rằng, để phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và việc ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, pháp luật cũng ghi nhận hình thức của hợp đồng có thể được thể hiện thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu và hình thức này được coi là hợp đồng bằng văn bản Trong trường hợp pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó Ví dụ như Hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất, bất động là là nhà chung cư, mua bán câc phương tiện như ôtô, tàu thủy… đều phải được lập thành văn bản và phải có công chứng (trường hợp mua bán câc phương tiện như ôtô, tàu thủy mà bên bán không xuất hóa đơn đỏ) Nhiều trường hợp mua bán quyền

sử dụng đất, tài sản quy định phải có công chứng… nhưng không có công chứng thì khi giao dịch khác được thiết lập song song với giao dịch này thì giao dịch có công chứng theo quy định của pháp luật được bảo vệ

Thứ hai, về ký kết hợp đồng và việc uỷ quyền ký kết hợp đồng

Bộ luật Dân sự xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thoả thuận của các bên, không phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng Do đó, về mặt nguyên tắc, hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết của bên được đề nghị Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu các bên có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết Trên cơ sở hình thức của hợp đồng, pháp luật cũng quy định cụ thể đối với từng trường hợp, ví dụ, đối với hợp đồng được giao kết bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng; đối với hợp đồng được giao kết bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản

Về mặt nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao kết, tuy nhiên doanh nghiệp cần biết rằng vẫn có các ngoại lệ đó là khi các bên có thoả thuận khác, ví dụ hợp đồng được các bên ký vào ngày 01/01/2009 nhưng các bên thoả thuận là hợp đồng được coi là ký kết vào ngày 01/02/2009 hoặc khi pháp luật có quy định khác, ví dụ theo pháp luật về đất đai thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế

Trang 10

chấp là thời điểm đăng ký chứ không phải là thời điểm các bên ký hợp đồng và công chứng xác nhận Trên thực tế nhiều doanh nghiệp không biết rõ quy định này và vì một lý do nào đó mà không đăng ký nên rủi ro pháp lý là rất lơn

Vấn đề uỷ quyền ký kết hợp đồng không được Bộ luật Dân sự quy định cụ thể, tuy nhiên, vì hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự cho nên có thể áp dụng các quy định về việc uỷ quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Theo đó cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện hợp đồng theo chế định người đại diện

Thứ ba, về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự

Theo quy định hiện hành, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác bị xâm phạm Ví dụ, A và B ký hợp đồng mua bán hàng hoá vào ngày 01/01/2007, sau đó có tranh chấp xảy ra, quyền lợi của A bị vi phạm vào ngày 01/03/2007 A chỉ có thể khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết trong khoảng thời gian

kể từ khi quyền lợi bị xâm phạm là từ ngày 01/03/2007 đến hết ngày 01/03/2009 (là 2 năm kể từ ngày quyền lợi của A bị vi phạm) Thực tế nhiều doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh thường không biết về quy định này đẫn đến việc hết thời hạn khởi kiện, khi nộp đơn ra Tòa án trả lại đơn kiện do hết thời hạn khởi kiện mới biết thì đã muộn

Lỗi thường gặp trong ký kết, thực hiện hợp đồng thương mại

1 – Lưu ý chung:

Về nguồn pháp luật điều chỉnh và có liên quan đến nội dung của hợp đồng: Ví dụ, nếu

là hợp đồng mua bán hàng hoá, thì pháp luật có liên quan là những văn bản pháp luật

về thương mại, dân sự, cụ thể là Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại (LTM), Luật Đầu

tư, Luât doanh nghiệp v.v các văn bản pháp luật hướng dẫn các Luật nêu trên; Nghị định hướng dẫn LTM về mua bán hàng hoá, Nghị định quy định danh mục các mặt hàng hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện hoặc cấm kinh doanh Nếu là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì kiến thức về thói quen thương mại, thông lệ, tập quán quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các cam kết Quốc tế song phương, đa phương, và cam kết trong khu vực của Việt Nam, pháp luật liên quan đến địa vị pháp lý của các bên cũng là những kiến thức và thông tin rất quan trọng liên quan trực tiếp đến nội dung cũng như tính hợp pháp, hợp lệ của hợp đồng Bên cạnh

đó, những người liên quan trực tiếp đến quá trình soạn thảo, đàm phán hợp đồng còn phải rà soát, lưu ý đến toàn bộ những văn bản pháp luật có liên quan đến nội dung, lĩnh vực của hợp đồng

Khi soạn thảo hợp đồng, doanh nghiệp thường không bảo đảm các yếu tố như:

– Về mặt hình thức của hợp đồng

Ngày đăng: 13/04/2018, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w