Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữNôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫntrị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác.. Nhiều bản dịc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA NGỮ VĂN - -
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DẪN NHẬP
Chinh phụ ngâm khúc là một trong những tác phẩm tiêu biểu được viết bằngchữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII Tácphẩm là thi phẩm chủ yếu viết theo lối tập cổ, dài 476 câu thơ Các câu thơ trong bàidài ngắn khác nhau, theo thể trường đoản cú, câu dài nhất khoảng 12, 13 chữ, câungắn chỉ 3, 4 chữ
Tác phẩm được Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng năm 1741 giai đoạn sơ
kỳ Cảnh Hưng , đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến Chiến tranhxảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nướcchia làm hai nửa Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng Nông dân bất bình nổi dậy khởinghĩa ở khắp nơi Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con,
vợ xa chồng Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản độngcủa giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy.Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảmrộng rãi của tầng lớp Nho sĩ Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữNôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫntrị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác
Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiếnphi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứađôi của con người Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây
Trong bài thuyết trình trước, chúng ta đã cùng nhau đi tìm hiểu tác phẩm nàyqua góc nhìn: “Chinh phụ ngâm- Tiếng nói ủng hộ chiến tranh hay phản chiến” đểcùng nhau đưa ra những nhận định và kết luận có liên quan đến nội dung và tinhthần chung của tác phẩm Trong bài thuyết trình này, tiếp thu những thành quả đãlàm được từ nhóm 3, nhóm chúng tôi sẽ đi phân tích và tìm hiểu về “Nỗi niềm khaokhát hạnh phúc trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn”
Trang 41 TÌM HIỂU CHUNG:
1.1 Tác giả
Đặng Trần Côn nguyên là con cháu họ Trần, sinh vào khoảng từ (1705-1720)
cùng thời với bà Đoàn Thị Điểm (1705) và ông Phạm Đình Dư (cha Phạm Đình
Hổ) - thuộc dòng dõi của Băng Hổ tướng công Trần Nguyễn Đán (ngoại tổ Nguyễn Trãi) Có Viễn tổ là Trần Cẩn, người làng Thái Bạt, huyện Bất Bạt, phủ Quốc Oai,
tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội) Trần Cẩn sinh năm 1422, đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ sửu,
hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469), «người từng phục mệnh đi sứ Trung Quốc Năm
1498 đời vua Lê Hiến Tông làm Lại bộ Hiệp thư sung chức Đề điệu (Quan chấm
trường) Năm 1511, niên hiệu Hồng Thuận thứ 3, do người cháu Trần Cẩn là Trần
Tuân làm loạn, bị Mỹ Huệ hầu Trịnh Duy Sản giết, con cháu phải giấu biệt tôngtích, di cư đến nơi khác, đổi sang họ Đặng
Theo gia phả họ Trần ở Thượng Đình hiện nay và Gia phả họ Hồng ở Kim Lũ(Thanh Trì) chép Đặng Trần Côn nguyên trước ở Thịnh Hào (Hải Hưng), sau mớinhập tịch về xã Nhân Mục Cựu, xóm Hạ Đình (nay thuộc phường Hạ Đình, quậnThanh Xuân, Hà Nội); khi còn trẻ Đặng Trần Côn đã nổi tiếng ham học và học giỏi,
được liệt vào hàng “Thanh Trì Tứ hổ” ngày ấy gồm: Côn - Điền - Đẩu - Hiên (Đặng
Trần Côn, Hồng Điền, Trương Nguyễn Đẩu, Nguyễn Hiên).
Ông sinh đời Lê Dụ Tông, trong buổi Trịnh Cương xưng chúa, cầm quyền,phong tước An Đô Vương Lúc bấy giờ trong thành Thăng Long thường có hỏahoạn có lệnh cấm lửa Nhưng ông là người hiếu học nên đã đào hầm chong đèn, họcsuốt canh khuya Ông ưa ngâm vịnh, nghe bà Đoàn Thị Điểm hay chữ, hay thơ, bènlàm một bài thơ đến yết kiến bà Bà xem thơ, cười mà bảo rằng: "nên học thêm sẽlàm thơ" Tiên sinh lấy làm thẹn, về ra sức nghiên tinh đàn tứ
Về sau ông thi Hương đỗ Giải nguyên (khoảng từ năm 1726 đến 1738) nhưngvào đến thi Hội thì hỏng Từ đó, ông không chịu ràng buộc vào thi cử nữa, nhậmchức Huấn đạo ở một huyện, sau đó được bổ làm Tri huyện Thanh Oai, trấn SơnTây đầu thời Cảnh Hưng (1740-1786) Cho đến cuối đời ông chỉ làm đến chức Ngự
sử đài Chiếu khám là một chức quan nhỏ (hàm Tòng Bát phẩm) rồi nghỉ hưu, dạy
Trang 5học tại nhà ông Nguyễn Đình Kỳ ở làng Hạ Đình Học trò của ông nhiều người đỗđạt cao.
Đặng Trần Côn đã sống trong một giai đoạn lịch sử cực kỳ nhiễu nhương, vàođời Hậu Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) gặp buổi binh cách, lính thú đi chinhthú nhiều nơi, đã diễn nên lắm nỗi biệt ly đau đớn, xúc cảm làm bài "Chinh PhụNgâm", bởi vậy, tác phẩm "Chinh Phụ Ngâm" ra đời đã nói lên lòng oán ghét chiếntranh phi nghĩa, ước mơ đoàn tụ trong hạnh phúc của những lứa đôi Đây là tácphẩm giàu tính nhân văn với chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc và có địa vị văn học lịch
sử đặc biệt trong nền văn học cổ ở nước ta Các tác phẩm của ông đều bằng chữHán, ngoài Chinh phụ ngâm khúc, còn nhiều tác phẩm như: Phủ chưởng tânthư, Yêu hưởng thưởng xuân thiếp, Lãn Trai di thảo, Hạ Nguyễn quý hầu cập đệ giamôn vinh thịnh tự và Đề Tiêu Tương bát cảnh đồ thi thảo
Ông mất vào khoảng năm 1745, lúc đó chưa đến 40 tuổi và được chôn cất ởlàng Nhân Mục, nay thuộc tổ dân phố số 5, khu dân cư số 3, phường Hạ Đình Năm
1989, Di tích Lăng Mộ Danh nhân Đặng Trần Côn được Bộ văn hóa xếp hạng Ditích lịch sử văn hóa Quốc gia
Danh nhân văn hóa Đặng Trần Côn là người có cống hiến to lớn đối với nềnvăn học nước nhà Những tác phẩm của ông là tài sản vô giá trong kho tàng văn hóaViệt Nam Tên tuổi ông luôn sống mãi trong niềm tự hào của mỗi người dân Hà Nội
1.2 Tác phẩm
Theo các nhà khảo cứu miền Bắc cũng như miền Nam trước đây, Chinh phụngâm được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1970 đến 1972 lịch triều hiến
chương loại chí (Phan Huy Chú) có ghi rõ: "Sách chinh phụ ngâm là do Hương
cống Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh nổi dậy, người ta đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà ra" đây cũng là thời kì rối ren có những
diễn biến quan trọng trong lịch sử nước ta Việt sử thông giám cương mục chép:
"Đời vua Lê Ý Tông (1735-1740) trong lúc Trịnh Giang cầm quyền, chính sự hư hỏng, thuế khóa nặng nề, lòng người ước ao sự hoan lạc." (…) Ở Ninh Xá là Nguyễn Tuyền, Nguyễn Cừ, ở Mộ Trạch có Ngô Trác Oánh… tốp to tốp nhỏ nổi lên khắp nơi khởi binh xưng vị hiệu… Dân chúng miền Đông Nam vác cầy cuốc, mang
Trang 6gậy gộc đi theo… Đám nhiều có hàng vạn, đám ít cũng kể hàng nghìn"… Đó là
nông dân nổi dậy Chính quyền phong kiến đối phó khẩn trương: "Tăng cường lực
lượng phòng thủ, thường xuyên tuần hành ở những nơi hiểm yếu và tuyển thêm binh lính ở các trấn để bộ sung vào bộ máy đàn áp…" Đồng thời hạ lệnh cho "các lộ Sơn Tây, Thanh Hóa đều phải đặt những đồn hỏa hiệu trên các đỉnh núi, cùng dân
sở tại ngày đêm canh giữ, hễ có biến động là đốt lửa báo hiệu"
Tiếp theo là những cuộc hành quân đánh dẹp không phải một nơi, cũng khôngphải một lần Chiến tranh xảy ra liên miên Đốt phá, giết chóc không ngừng Nhândân đã khốn khổ thì nay lại càng khốn khổ hơn Đau thương, li tán chẳng chừa mộttầng lớp nào Như vậy, xét về nội dung, Chinh phụ ngâm đã in dấu ấn của thời đạilúc bấy giờ, một thời đại của nông dân khởi nghĩa và chiến tranh đàn áp của chínhquyền Lê, Trịnh
Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồngcảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sangchữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành cônglẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác
Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiếnphi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứađôi của con người Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây Ngườichinh phụ vốn dòng dõi trâm anh Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn ngườichồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý Nhưng ngay saubuổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng.Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôiđoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đếncùng cực Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy
Trang 71.3 Dịch giả
Bàn về dịch giả của Chinh Phụ Ngâm có lẽ, Vũ Hoạt là người đưa ra vấn đềdịch giả cuốn Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm Trong bài tựa cuốn
Chinh phụ ngâm khúc in năm 1902, Vũ Hoạt viết: “ Nhớ xưa, Đặng Tiên sinh làm
ra sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm” Từ đó, mọi người vẫn đinh ninh là
bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm
Sau đó, Thuần Phong Ngô Văn Phát, giáo sư Dương Quảng Hàm trong “Việt
Nam học sử yếu” và Nguyễn Đỗ Mục trong “ Chinh phụ ngâm dẫn giải”, Đặng
Thái Mai (1950) cũng khẳng định bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn ThịĐiểm
Đột nhiên, vấn đề dịch giả của bản Chinh phụ ngâm hiện hành được cáchọc giả, nhà nghiên cứu… quan tâm lật lại vấn đề là vào năm 1926
Nguyên do là báo Nam Phong số ra 106 tháng 6 năm 1926 có đăng một bài
nhan đề “Phan Dụ Am tiên sinh văn tập” của ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến Trong bài đó, tác giả viết: “Chinh phụ ngâm khúc bấy lâu nay ta vẫn truyền là bà
Điểm diễn Nôm, dễ thường không phải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra
đó chăng?’
Bài báo trên ra đời, do ông Phan Huy Chiêm, chắt 5 đời của tiến sĩ PhanHuy Ích có viết cho Đông Châu Nguyễn Văn Tiến một bức thư nói rằng, theo tộcphả họ Phan Huy , cùng lời các bô lão trong họ truyền lại, thì bản dịch Chinh phụ
ngâm hiện hành là do Phan Huy Ích “diễn ra văn Nôm, hiện giờ (1926) còn giữ
đượng bản chính vừa chữ, vừa Nôm”.Ông Chiêm còn đưa ra bài thơ chữ Hán, Phan
Huy Ích làm, sau khi hoàn thành bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc, đó là
bài “Ngẫu thuật” Tuy nhiên ông chỉ gửi bài thơ “Ngẫu thuật” làm, sau khi dịch
xong Chinh phụ ngâm, chứ không đưa ra được bản Chinh phụ ngâm vừa chữ Hán,vừa chữ Nôm như đã nêu
Sau đây là nguyên văn bài thơ “Ngẫu thuật”:
Ngẫu thuật Nhân Mục tiên sinh “Chinh phụ ngâm”, Cao tình dật diệu bá từ lâm.
Trang 8Cận lai khoái trá tương truyền tụng,
Đa vĩ thôi xao vi diễn âm.
Vận luật hạt cùng văn mạch túy, Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm.
Nhà trung phiên dịch thành tân khúc,
Tự tin suy minh tác giả tâm.
( Phan Huy Ích)
Dịch nghĩa:
Bài Chinh phụ ngâm của Đặng tiên sinh người làng Nhân Mục,
Tình cao điệu lạ đã được truyền bá khắp rừng văn.
Gần đây mọi người truyền tụng lấy làm thích thú lắm,
Đã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm.
Nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túy trong mạch văn, Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc là diễn ra thì mới được.
Nay nhân buổi nhàn hạ, ta dịch ra thành khúc mới (tân khúc),
Chắc tin rằng đã suy minh được lòng tác giả.
Năm 1943, ông Hoa Bằng trong bài “Dịch phẩm Chinh phụ ngâm phải
chăng của bà Đoàn Thị Điểm?” đăng trong tạp chí Tri tân, số 113, dựa trên ba tài
liệu chủ yếu (Lịch Triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục và Đoàn thịthực lục), cũng chỉ đưa đến xác nhận Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đều có dịchChinh phụ ngâm khúc Còn bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của ai, thì không giảiquyết được
Năm 1944 Trúc Khê về nhà họ Đoàn, tìm trong bộ Đoàn thị thực lục – Gia phảcủa họ Đoàn, không tìm thấy thông tin bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm.Ông viết: “Bản Chinh phụ ngâm khúc có thể không phải của bà Đoàn Thị Điểm”(Trúc Khê: Những tài liệu mới về Đoàn Thị Điểm, Tiểu thuyết thứ bảy, 9 – 1944).Đến năm 1953, trong cuốn “Chinh phụ ngâm bị khảo”, giáo sư Hoàng XuânHãn đã sưu tầm được 4 bản dịch Chinh phụ ngâm khúc, được sắp xếp đánh dấu theothứ tự A, B, C, D
Trang 9Bản A, là bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể songthất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902.AB.26)hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại thư viện Paris).
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn khẳng định:
Bản A, bản chinh phụ ngâm khúc hiện hành, là của Phan Huy Ích
Bản B là của Đoàn Thị Điểm, vì bản này ở đầu sách có ghi hai chữ “nữ giới”,
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Cang dựa trên cơ
sở con cháu họ Phan nhớ thuộc lòng Chinh phụ ngâm, đọc thuộc lòng được bảnChinh phụ ngâm gần giống với bản hiện hành, cũng không có sức thuyết phục Vìcon cháu họ Phan bây giờ đã sống rất xa thời Phan Huy Ích (đã 200 năm rồi) và ởViệt Nam thiếu gì người thuộc lòng Chinh phụ ngâm
Có ý kiến cho rằng bà Đoàn Thị Điểm là người đầu tiên dịch nôm tác phẩmnày với thể song thất lục bát, văn chương rất điêu luyện Bản dịch của Phan Huy Ích
ra đời muộn hơn đến 45 năm, cũng dùng chính thể thơ đó và chịu ảnh hưởng rấtnhiều của bản dịch trước Có thể nói Phan Huy Ích đã nhuận sắc lại bản dịch trướckia của Đoàn Thị Điểm, vì vậy mà bản dịch của ông hoàn hảo hơn Thực ra, ý kiếnnày cũng chỉ là suy luận đơn thuần, mới nghe có vể có lý, nhưng xét kỹ cũng không
có cơ sở
GS Nguyễn Lộc cũng cho rằng bản dịch Chinh phụ ngâm đầu tiên là của ĐoànThị Điểm
Năm 1972, giáo sư Nguyễn Văn Xuân tìm được ở Huế bản Nôm “Tân san
Chinh phụ ngâm diễn Nôm từ khúc”, ấn hành từ năm Gia Long 14 (1815) Bản
Nôm này cơ bản phù hợp với bản mà giáo sư Hoàng Nguyên Hãn cho là của PhanHuy Ích, cũng có nghĩa là phù hợp với bản nhà nghiên cứu Lại Ngọc Cang đã ghi
Trang 10được ở Sài Sơn từ hậu duệ của Phan Huy Ích Đáng chú ý trong đó có bài tựa củaNhà xuất bản “Chính Trực đường” và đặc biệt có bài nguyên tựa của dịch giả Phan
Huy Ích Giáo sư Nguyễn Văn Xuân xác quyết “ Dịch giả đích thực của cuốn sách
là tiến sĩ Phan Huy Ích, với tên sách đầy đủ là “ Tân san Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc”.
Đến đây, tưởng rằng đã rõ, có thể kết thúc một nghi vấn văn chương đã kéodài một thế kỷ, vì đã “nói có sách, mach có chứng” Nhưng tại sao vẫn chưa kếtthúc được? Có lẽ, các nhà nghiên cứu, khảo luận vẫn chưa tin tưởng, ngay cả bàinguyên tựa của dịch giả Phan Huy Ích, coi đó cũng chỉ giống như bài tựa của VũHoạt năm 1902, cho rằng Chinh phụ ngâm là của Đoàn Thị Điểm chăng?
Đến nay, các nhà nghiên cứu, giảng dạy môn văn trong nhà trường nhưNguyễn Thạch Giang, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn… vẫn coi Đoàn Thị Điểm
là tác giả bản diễn Nôm thông dụng hiện hành
Còn các ông Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Cang, Nguyễn Văn Xuân…thì cho là bản Chinh phụ ngâm thông dụng hiện hành là của Phan Huy Ích
Theo ý kiến chúng tôi, có thể không cần đi đâu xa, ta có thể tìm thấy sựthật cho câu trả lời, ngay trong hai bản A và bản B Để xác định bản nào là củaĐoàn Thị Điểm, bản nào là của Phan Huy Ích, có thể dựa trên hai tiêu chí:
1 Thứ nhất dựa trên quan điểm về dịch thuật
2 Thứ hai dựa trên chất nữ tính và nam tính trong từng câu, từng chữ củahai bản dịch
Đọc hai bản dịch A và B, ai cũng phải công nhận bản A dịch hay hơn bản B Bản A văn phong thanh thoát, vần điệu hết sức chỉnh, ta có cảm giác dịch giả
có thể bỏ ý mà không buông vần điệu, nên người đọc có cảm giác du dương, êmđềm mê đắm, ngay cả khi không hiểu hết từ ngữ chữ Hán và ý thơ Dịch giả hết sứclưu tâm đến từng câu, từng từ… Câu thơ dịch mà tự nhiên, không bị gò ép, có hìnhthức nghệ thuật cao, đậm đặc chất thơ Ta có cảm giác thơ dịch mà như thơ sáng tác,câu chữ phóng túng, cảm xúc dâng trào Chính điều này đưa ta đến một nhận xétbản A hàm chứa tình cảm của người dịch nhiều hơn hẳn bản B Bản A mang đậmsắc thái nữ tính, nỗi lòng người chinh phụ gần với người phụ nữ hơn, chỉ có thể làphụ nữ mới viết được như vậy Điểm đặc biệt nữa, là có lẽ người dịch cũng có tâm
Trang 11trạng như người chinh phụ xa chồng, mà gửi tình cảm đó vào trong văn cảnh Cóthể bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm trong thời gian ông Nguyễn Kiều,chồng bà, đi sứ sang Trung Quốc Cái tâm trạng xa chồng của bà chẳng khác gìngười chinh phụ, nhất là khi bà lấy ông Nguyễn Kiều chưa được bao lâu, thì ông đãphải nhận lệnh đi sứ sang Trung Quốc.
Trong khi đó, bản B truyền tải được nhiều ý của nguyên bản, giống ý củanguyên bản hơn bản A, thậm chí giống từng chữ, từng lời, vì vậy bị gò bó, khôngđược thanh thoát Còn bản A dịch phóng túng hơn, không lệ thuộc quá vào nguyênbản, sáng tạo những từ mới khác với nguyên bản, và thậm chí có những từ ngữ cònhay hơn nguyên bản
Có một điều đặc biệt, mà các nhà nghiên cứu, khảo luận… chưa thấy đề cậptới Đó là trong bài “Ngẫu thuật” Phan Huy Ích có viết: “Thiên chương tu hướngnhạch thanh tầm”, dịch nghĩa là: Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âmnhạc mà diễn ra thì mới được Như vậy, theo Phan Huy Ích khi dịch phải chia thànhtừng chương tiết So sánh với bản B, ta thấy bản B đúng là có chia thành cácchương tiết cẩn thận (13 chương và nhiều tiểu tiết)
Câu thứ 5 trong bài “Ngẫu thuật” có câu: “Vận luật hạt cùng văn mạch túy”.Điều này chứng minh được một điều quan trọng, là bản B có thể là của Phan HuyÍch, dịch nghĩa là: nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túytrong mạch văn Có nghĩa là, ông Phan Huy Ích chê những người dịch trước quánặng về âm luật, câu chữ chải chuốt, mà không dịch hết được ý của nguyên bản Vìvậy trong khi dịch ông theo sát nguyên bản, không quá câu nệ vào vần điệu, chữnghĩa So sánh hai bản A và bản B, ta thấy bản B theo sát nguyên bản hơn bản A
Từ hai ví dụ nêu ra ở trên, ta có thể đi đến một ý kiến gợi ý, là bản B có thể làbản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích
Để làm sáng tỏ thêm, sau đây chúng tôi xin dẫn ra một số câu ở hai bản A vàbản B, để so sánh xem bản nào dịch sát, gần với nguyên bản hơn:
1 Sứ tinh thiên môn, thôi hiểu phát,Hành nhân trọng pháp, khinh biệt ly
Sứ trời sớm giục đường mây, (bản A) Phép công là trọng, niềm tây sá nào?
Trang 12Sứ tinh sớm giục lên đường (bản B)Người đi sợ phép, xem thường biệt ly.
Bản B gần như là chuyển dịch từng chữ trong nguyên bản sang, ý văn thể hiệnquan điểm, suy nghĩ của đàn ông Còn bản A, dịch rất thoáng, không sử dụng lại cácchữ như trong nguyên bản, có nội tâm và quan điểm của người dịch là phụ nữ.Các câu sau đây cũng có nội dung tương tự:
2.Lương nhân nhị thập Ngô môn hào,Đầu bút nghiễn hề sự binh đao
Chàng tuổi trẻ, vốn dòng hào kiệt, (bản A) Xếp bút nghiên, theo việc đao cung.
Chàng hai mươi tuổi, cửa Ngô (bản B)Gác bồ nghiên bút, giở đồ cung đao
3.Dục bả liên thành hiến minh thánh,Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiều
Thành liền mong tiến bệ rồng, (bản A) Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời.
Đem thành liền ngưỡng trao Minh thánh, (bản B)Xin tấc gươm dẹp lĩnh Thiên kiêu
Tiếp theo, chúng tôi xin dẫn ra một số câu để so sánh chất nữ tính và chất namtính của hai bản A và bản B:
1.Thiên địa phong trầnHồng nhan đa truân
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,(bản A) Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Trời đất thuở gió bay, bụi nổi (bản B)Khách hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên
Hai câu này, hai bản dịch có nội dung và câu chữ tương tự, chứng tỏ ông PhanHuy Ích trước khi dịch có đọc bản A, như lời ông nói trong bài thơ “Ngẫu
thuật”: “Đã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm” Nhưng hai câu thơ ở hai bản có khác nhau một chữ quan trọng: Khách má hồng (bản A) và khách hồng
nhan (bản B) Ông Nguyễn Thạch Giang đã phân tích rất rõ và cho rằng: Trong
Trang 13quan niệm của nhân dân ta “má hồng” và “hồng nhan”có chỗ khác nhau rất rõ Haitiếng này không bao giờ lẫn lộn được “Hồng nhan” nghe như có cái gì khinh bạc,
rẻ rúng ở bên trong “Hồng nhan” bao giờ cũng đi đôi với “bạc mệnh” Như vậy, rõràng là khi dịch chữ “má hồng” người dịch rất có ý thức về giới phụ nữ và rất từngtrải, thể hiện mối thông cảm sâu sắc về thân phận người phụ nữ Còn người dịchchữ “hồng nhan” (bản B), là quan niệm của người đàn ông, quen xem nhẹ đàn bà,
bàng quan trước mọi tâm tư tủi nhục của họ trong xã hội cũ Sự lý thú ở đây còn ở
chỗ, ở bản C mà GS Hoàng Xuân Hãn cho là của Nguyễn Khản cũng dịch chữ
“hồng nhan”:
Nẻo trời đất nổi cơn gió bụi,
Kẻ hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.
Chúng ta đọc tiếp câu thơ sau đây:
2.Tư mệnh bạc, tích niên hoa,
Ty ty thiếu phụ cơ thành bà?
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa, (bản A) Gái tơ mấy chốc sảy ra nạ dòng?
Tiếc tuổi hoa cùng than phận bạc (bản B)
Ả thuyền quyên mấy đạc nên già?
Bản A, tác giả dịch phải là nữ giới mới nói được một cách chân thực nỗi lòng
và sự thật tình cảnh người chinh phụ đợi chồng phải gánh chịu Đặc biệt ta chú ýđến chữ “Ả” Chữ “Ả” để chỉ người phụ nữ với ý coi thường, có vẻ khinh miệt Rõràng tác giả dịch phải là nam giới, người từng làm quan, kẻ trên nhìn xuống kẻdưới Bà Đoàn Thị Điểm không thể tự khinh miệt giới mình
3.Tương cố bất tương kiến Thanh thanh mạch thượng tang Mạch thượng tang, mạch thượng tang, Thiếp ý, quân tâm, thùy đoản tràng?
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, (bản A) Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?
Trang 14Trông nhau mà chẳng thấy nhau, (bản B)Xanh xanh những thấy bóng dâu trên đường.
Dâu mấy hàng, có hay chăng nhẽ,Lòng đấy đây, ai kẻ vắn, dài?
Liệu có người phụ nữ nào nói với chồng quan: Lòng đấy đây, ai kẻ vắn,
dài? Câu thơ này chắc chắn là do đàn ông viết, coi mình là người bề trên mới viết
Lưng trẩy đi cung tên mang mẻ, (bản B)
Áo phân tay, xem nhẹ tình duyên
Câu thơ ở bản A có chất nữ tính, do phụ nữ viết Câu thơ ở bản B có chấtnam tính, chỉ có đàn ông mới viết “xem nhẹ tình duyên”, phụ nữ không nói như vậy
5.Liên hiệp tinh kỳ hề xuất tái sầu, Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán
Hữu oán hề phân huề, Hữu sầu hề khế khoát
Bóng cờ, tiếng trống xa xa, (bản A) Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.
Ngọ cờ ra ải đeo phiền, (bản B)Trống còi ong ỏng, dẹp bên, giã nhà
Câu thơ bản A là lời oán trách, đầy tâm trạng của người trong giới nữ Còn câuthơ bản B dửng dưng với sự việc mà mình đang mô tả, thể hiện tính đàn ông bàngquang với sự việc trước mắt, câu thơ thiếu cái tình người ở trong đó
Những ví dụ tiếp theo sau đây, đều chứng tỏ người dịch bản A là nữ giới, vàngười dịch bản B là nam giới:
6.Khách phong lưu đương chừng niên thiếu (bản A)
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Trang 15Quan sơn để cách hàn huyên sao đành?
Tuổi chưa nhiều, đấy phong lưu khách, (bản B) Đây trẻ trung muôn dịch vừa quen
Bao kham đôi trẻ thiếu niên, Đều riêng ấm lạnh, dặm nghìn ai hay?
Lễ giáo phong kiến đã ăn sâu vào máu thịt, dịch giả là nữ, và người vợ thời
xưa, liệu có dám xưng với chồng quan là: “đấy phong lưu khách” và “đây trẻ trung
muôn dịch vừa quen”, một cách “bình đẳng” và có vẻ “hơi hỗn” như vậy không?
7.Mẹ già phơ phất mái sương (bản A) Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa, Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam, Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.
Tóc dường sương, mẹ chàng tuổi tác, (bản B)
Mà con chàng trứng nước tuổi thơ
Mẹ già ngoài cửa đứng chờ,Con thơ ngồi chực sớm trưa bữa thường
Nuôi mẹ chàng, thiếp khôn làm gái,Dạy con chàng, thiếp phải làm cha
Bà Đoàn Thị Điểm được học hành, được giáo dục cẩn thận, lễ giáo phongkiến nghiêm khắc, bà không thể dịch “mẹ chàng”, “con chàng” được Đọc mấy câuthơ bản A, ta có cảm giác như chính công việc của bà Đoàn Thị Điểm vẫn phải làm,khi cha và anh mất sớm, bà phải làm nhiều việc để nuôi mẹ và các cháu
8 Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu (bản A)
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong, Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Ngoảnh trông dương liễu nơi nào, (bản B)
Ấn phong hầu, giận khát khao nỗi gì?
Nẻo trẩy đi, dặm nghìn cách trở,
Trang 16Biết lòng chàng có tựa thiếp chăng?
Ở bản A, người phụ nữ tỏ ra ân hận, khi đồng ý để chồng nhận tước phong ratrận Đây là tâm lý rất phụ nữ, chỉ phụ nữ mới có thể dịch được như vậy
Còn rất nhiều câu thơ tương tự, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một số ví dụ
Thơ là người Trong thơ mang hình bóng tác giả Ngay cả thơ dịch, cũng thểhiện phong cách, tâm hồn, vốn sống, sự từng trải, quan điểm (quan điểm sống, xửthế, nghệ thuật văn chương…) Và đặc biệt trong thơ (kể cả thơ dịch) thể hiện cáichất nữ tính và nam tính rất rõ
Đọc kỹ bản B, đúng như lời ông Phan Huy Ích đã nói trong bài “NgẫuThuật”, là ông đã cố gắng truyền tải hết ý của tác giả Đặng Trần Côn vào trong bảndịch Nôm của ông, và không thật coi trọng việc chuốt từ, tìm vần… Vì vậy khi đọcbản B, ta cảm thấy văn chương hơi bị gò ép, lời văn thiếu khoáng đạt, trau chuốt,nhiều khi dùng luôn câu chữ của tác giả Đặng Trần Côn Đôi khi ông còn lấy cả ýthơ của bà Đoàn
Thị Điểm Ví dụ câu thơ dịch sau đây của bà Đoàn Thị Điểm rất hay, rất chỉnh:
Sương như búa bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
Còn câu của ông Phan Huy Ích:
Rụng đùng đùng lá dương, sương bổ, Cây ngô đồng mưa nọ chẻ tan.
Nguyên tác:
Sương phủ tàn hề dương liễu,
Vũ cứ tổn hề ngô đồng
Bà Đoàn dùng từ “bổ mòn” và “xẻ héo”, còn ông Ích dùng
từ “bổ” và “chẻ” (gần giống xẻ) Hai chữ “bổ mòn” và “xẻ héo” không có trong
nguyên tác của Đặng Trần Côn Phải chăng, ông Phan Huy Ích đã học hai chữ nàycủa bà Đoàn Thị điểm?! Và nếu đúng như vậy, thì bản A đích thị là của bà Đoàn ThịĐiểm dịch
Từ những nhận xét và dẫn chứng nêu ra ở trên, nhìn nhận một cách tổng thể,trên cơ sở phân tích chất nữ tính trong bản A, chất nam tính trong bản B và quanđiểm dịch thơ của hai tác giả Phan Huy Ích và Đoàn Thị Điểm, cũng như trình độ,
Trang 17tầm cỡ, bề dầy thơ ca, cuộc sống và gia đình… , chúng tôi cho rằng bản A mới làbản dịch của Đoàn Thị Điểm, còn bản B là bản dịch của Phan Huy Ích
Trang 182 NỖI NIỀM KHÁT KHAO HẠNH PHÚC
Nỗi niềm: Tâm tâm tư, tình cảm riêng Nỗi niềm tâm sự
Khao khát: Mong muốn một cách đặc biệt tha thiết Khao khát tình cảm.
Khao khát tìm tòi, học hỏi, niềm khao khát
Hạnh phúc: Trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện.
Như vậy, “Nỗi niềm khao khát hạnh phúc” ở đây nghĩa là những tâm tư, tình
cảm, những khát khao và mong ước về một ý nguyện tươi đẹp được người Chinh
phụ cất giữ nơi tâm tư sâu kín, nó được người chinh phụ cất lên như tiếng nói đề
cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của mình - đây làđiều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây, đồng thời nó cũng là mong muốntha thiết rằng người chồng, người trượng phu có thể bình an mà trở về bên mình,phải chăng nó cũng là những lời tố cáo và lên án chiến tranh phi nghĩa đã làm nênnhững cuộc chia ly
2.2 Nỗi niềm khao khát hạnh phúc gắn liền với ý thức và con người cá nhân
Tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc cá nhân là một trong những đề tài được đề cập
và nhắc đến rất nhiều trong văn học, đặc biệt là trong thời kì văn học trung đại.Những tác động, những bi kịch và biến thiên của thời cuộc đã đem lại những tácđộng mạnh mẽ tới tư tưởng và nhận thức của con người, trong đó có thể thấy rằng:
ý thức cá nhân về xã hội nói chung đã được khám phá qua nhiều hướng khác nhau,
ý thức trách nhiệm, những tình cảm nhân dân lớn lao, cao cả đặc biệt được đề cao.Bên cạnh đó, con người cá nhân với ý thức cá tính, tài năng với nhu cầu tự khẳngđịnh mình và khát vọng mãnh liệt về tự do, tình yêu, hạnh phúc lại là hình tượng
Trang 19trung tâm của các tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân văn cao cả Sự chuyển biến từchỗ đặc biệt quan tâm đến hình tượng con người công dân đến chỗ đặc biệt quantâm đến hình tượng con người cá nhân thể hiện rõ nét đặc trưng của văn học ViệtNam trung đại Chủ nghĩa cá nhân giai đoạn này bắt đầu thấy rõ bóng dáng cái tôicủa cá tính trong tư cách ngang tàng phóng túng của những nhân vật như PhạmThái, Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ…kể cả những nhân vật trong
Truyện Kiều, và đặc biệt là nàng chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm
Xã hội Việt nam thế kỉ XVII – XIX được đánh giá là giai đoạn khủng hoảngsâu sắc và dữ dội của những mâu thuẫn trong xã hội phong kiến Việt Nam đượcchất chứa và kìm nén từ lâu, nó gắn liền với những mốc lịch sử quan trọng về sựsụp đổ của chế độ phong kiến, đời sống cơ cự của nhân dân và những cuộc quậtkhởi của phong trào nông dân khởi nghĩa gắn liền với những bi kịch của thời đại và
ý thức xã hội Dưới tác động của thời cuộc, giai đoạn thế kỉ này được đánh giá làmột giai đoạn tiêu biểu cho hình tượng con người với những khao khát và nỗi niềmmang đậm dấu ấn của con người cá nhân Trong đó tiêu biểu nhất phải kể tới “Nỗi
niềm khao khát hạnh phúc” trong Chinh phụ ngâm khúc của Hồng Hà nữ sĩ.(Có
bản quan điểm cho rằng của Phan Huy Ích)
Như vậy thì ý thức cá nhân trong văn học là gì? Và nó được biểu hiện cụ thểnhư thế nào? Ý thức con người cá nhân trong văn học là sự phản ánh cái tôi của tácgiả, là sự giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảm riêng của tác giả Nói cáchkhác, ý thức con người cá nhân trong văn học chính là sự tự khắc họa tâm tư, tìnhcảm, ý chí của tác giả được thể hiện thông qua những tác phẩm mà họ sáng tác Tùytheo từng giai đoạn văn học, từng thời kì văn học mà con người ý thức cá nhân cónhững đặc điểm khác nhau
Lật lại những trang viết và góc nhìn về hình tượng con người gắn liền với ýthức cá nhân trong văn học trung đại, xét trên bình diện nội dung có thể thấy rằng:
“Thứ nhất, con người cá nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài năng của
mình: thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, …
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Trang 20Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà!
Rắn đầu biếng học quyết không tha Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ, Nay thét, mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo, Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da.
Từ nay Châu Lỗ xin siêng học, Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!
(Rắn đầu biếng học – Lê Quý Đôn)
Thứ hai, con người cá nhân với nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm sự u ẩn:
Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, cá nhân vật trong Truyền kỳ mạn
lục (Nguyễn Dữ), ….
Rồi hóng mát thuở ngày trường Hoè lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dõi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ, khắp đòi phương
(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)
Thứ ba, con người với khát vọng tự do, bình đẳng, khát vọng tình yêu và
hạnh phúc: thể hiện tiêu biểu trong các ngâm khúc hình thức song thất lục bát
như Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch của Đoàn Thị Điểm?); Cung oán ngâm
khúc (Nguyễn Gia Thiều), Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân); Tự tình khúc (Cao Bá
Nhạ), Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận), Bần nữ thán (khuyết danh), …
Hồn bay ngàn dặm cũng gần, Trong năm mươi khắc năm lần thấy cha.