1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo án tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ của đặng trần côn

12 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 35,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO ÁN TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ (Trích Chinh phụ ngâm) Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm A. Mục tiêu bài học Giúp HS: 1. Về kiến thức Cảm nhận được nỗi đau khổ, cô đơn của người chinh phụ trong chiến tranh Nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật Hiểu được đặc trưng cơ bản của thể loại ngâm khúc Thấu hiểu được ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm: đề cao tình yêu lứa đôi, lên án chiến tranh phi nghĩa 2. Về kỹ năng Có kỹ năng đọc hiểu một tác phẩm thơ ca trung đại Phân tích, cảm nhận được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 3. Về thái độ Thương yêu, đồng cảm cho nỗi khổ đau của con người trong chiến tranh, nhất là người phụ nữ Trân trọng cuộc sống hòa bình hiện tại B. Phương pháp tiến hành: Phương pháp đàm thoại Phương pháp thuyết trình C. Phương tiện thực hiện Giáo viên: SGV, SGK, clip nhạc, máy chiếu, laptop… Học sinh: Vở soạn bài, SGK D. Cách thức tiến hành 1. Ổn định lớp 2. Kiểm tra bài cũ 3. Bài mới Lời giới thiệu: Từ xưa đến nay, mỗi mảnh hồi ức về chiến tranh là một nỗi đau không lời nhưng day dứt của biết bao con người, biết bao số phận. Chiến tranh gây nên bao tình cảnh éo le: mẹ xa con, vợ xa chồng, con xa cha…Cảm thương cho những hoàn cảnh đó, rất nhiều tác giả đã sáng tác nên những vần thơ làm lay động lòng người. Trong số đó có Đặng Trần Côn – một tác giả đời vua Lê chúa Trịnh, bằng một sự cảm thông sâu sắc, ông đã khắc họa rõ nét một bản nhạc tâm trạng với bao cung bậc của người vợ có chồng chinh chiến phương xa: lo lắng, tủi hổ, đau đớn…Đi vào đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” sẽ giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn thế giới nội tâm đầy biến động ấy.

Trang 1

GIÁO ÁN TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ

(Trích Chinh phụ ngâm)

Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn

Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm

A Mục tiêu bài học

Giúp HS:

1 Về kiến thức

- Cảm nhận được nỗi đau khổ, cô đơn của người chinh phụ trong chiến tranh

- Nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật

- Hiểu được đặc trưng cơ bản của thể loại ngâm khúc

- Thấu hiểu được ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm: đề cao tình yêu lứa đôi, lên án chiến tranh phi nghĩa

2 Về kỹ năng

- Có kỹ năng đọc hiểu một tác phẩm thơ ca trung đại

- Phân tích, cảm nhận được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật

3 Về thái độ

- Thương yêu, đồng cảm cho nỗi khổ đau của con người trong chiến tranh, nhất là người phụ nữ

- Trân trọng cuộc sống hòa bình hiện tại

B Phương pháp tiến hành:

Trang 2

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp thuyết trình

C Phương tiện thực hiện

- Giáo viên: SGV, SGK, clip nhạc, máy chiếu, laptop…

- Học sinh: Vở soạn bài, SGK

D Cách thức tiến hành

1 Ổn định lớp

2 Kiểm tra bài cũ

3 Bài mới

Lời giới thiệu: Từ xưa đến nay, mỗi mảnh hồi ức về chiến tranh là một nỗi đau không lời nhưng day dứt của biết bao con người, biết bao số phận Chiến tranh gây nên bao tình cảnh éo le: mẹ xa con, vợ xa chồng, con xa cha…Cảm thương cho những hoàn cảnh đó, rất nhiều tác giả đã sáng tác nên những vần thơ làm lay động lòng người Trong số đó có Đặng Trần Côn – một tác giả đời vua Lê chúa Trịnh, bằng một sự cảm thông sâu sắc, ông đã khắc họa rõ nét một bản nhạc tâm trạng với bao cung bậc của người vợ có chồng chinh chiến phương xa: lo lắng, tủi hổ, đau đớn…Đi vào đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” sẽ giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn thế giới nội tâm đầy biến động ấy

Hoạt động 1: GV hướng dẫn HS tìm

hiểu sơ lược về tác giả, tác phẩm,

đoạn trích

GV: Đọc Tiểu dẫn SGK/86, em hãy cho

biết những nét tiêu biểu giả về tiểu sử

I Tìm hiểu chung (15 phút)

1 Tác giả

- Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh, năm mất), sống ở nửa đầu TK

Trang 3

tác giả và dịch giả?

GV bổ sung và hướng dẫn HS gạch ý

chính SGK/86

(Có rất nhiều bản dịch “Chinh phụ

ngâm”, song bản dịch thành công nhất

là của Đoàn Thị Điểm Nhiều người cho

rằng, đó là bản dịch của Phan Huy Ích,

song đa số vẫn thống nhất của Đoàn Thị

Điểm Bởi vì, Đoàn Thị Điểm dịch tác

phẩm trong thời gian chồng bà là

Nguyễn Kiều đi sứ sang Trung Quốc

không rõ ngày về, bà nhớ nhung, lo lắng

cho chồng, lại phải ở lại nhà phụng

dưỡng mẹ chồng, chăm lo cho con

chồng nên bà đồng cảm sâu sắc với nỗi

lòng người chinh phụ.)

GV: Em hãy cho biết, tác phẩm được

sáng tác trong hoàn cảnh nào? Em biết

gì về thời đại này?

(GV:

- Chinh phụ ngâm được sáng tác vào

thời kỳ rối ren nhất trong lịch sử nhà

nước phong kiến Việt Nam, khoảng từ

1740 đến 1742

- Chính quyền Lê Trịnh (không còn

được lòng dân) trực tiếp phát động cuộc

binh biến, nhằm đàn áp nông dân nổi

dậy

- Bọn giặc cướp lợi dụng thời cơ xã hội

sa đọa, nổi lên hoành hành

 Thời đại suy sụp với cuộc chiến

tranh phi nghĩa kéo dài, gây đau thương,

tổn thất cho nhân dân Theo Lịch triều

XVIII, người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội

- Tác phẩm chính: Chinh phụ ngâm,

thơ và phú chữ Hán

- Dịch giả Chinh phụ ngâm:

+ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) + Phan Huy Ích (1750 – 1822)

2 Tác phẩm

a Xuất xứ Đầu đời Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, triều đình cất quân đánh dẹp, trai tráng phải ra trận Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là những người

vợ lính trong chiến tranh, đã viết

Chinh phụ ngâm

Trang 4

hiến chương loại chí (Phan Huy Chú):

“Sách Chinh phụ ngâm do Hương cống

Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời

Cảnh Hưng, việc binh nổi dậy, người ta

đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế

mà làm ra”)

GV: (Giới thiệu cho HS về thể loại

ngâm khúc:

- Khái niệm: “Ngâm khúc là ca khúc

trữ tình dài hơi phản ánh tâm trạng bi

kịch của con người đã có ý thức về cá

nhân trong một giai đoạn lịch sử nhất

định được viết bằng ngôn ngữ dân tộc

(chữ nôm) và thể thơ song thất lục bát”

(Ngô Văn Đức – Đề tài cấp bộ Nghiên

cứu đặc trưng thi pháp của thể loại thơ

trữ tình Ngâm khúc)

GV: HS đọc đoạn trích

GV: Em hãy xác định nội dung chính và

chia bố cục đoạn trích?

b Nguyên tác và bản diễn Nôm

- Nguyên tác chữ Hán (476 câu) + Thể trường đoản cú

- Bản diễn Nôm (412 câu):

+ Thể loại: ngâm khúc + Thể thơ song thất lục bát

c Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Giá trị nội dung:

+ Mở đầu cho trào lưu nhân đạo thế

kỉ XVIII, nói lên sự oán ghét chiến tranh phi nghĩa

+ Thể hiện khát khao hạnh phúc

- Giá trị nghệ thuật:

+ Miêu tả tâm lí xuất sắc + Ngôn ngữ điêu luyện, trong sáng + Thể thơ song thất lục bát dân tộc phát triển lên tầm cao mới

d Đoạn trích

- Vị trí đoạn trích: câu 193 – 216

- Nội dung chính: Nói về tình cảnh

và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài chồng đi đánh trận

- Bố cục: 2 phần + 16 câu đầu: Nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ

+ 8 câu sau: Nỗi nhớ chồng nơi biên ải

Trang 5

Hoạt động 2: GV hướng dẫn HS tìm

hiểu đoạn trích

GV: Tâm trạng nhân vật được thể hiện

qua những khía cạnh nào?

GV: Em hãy cho biết những hành động

của người chinh phụ được nhắc đến

trong 2 câu thơ đầu?

+ Trong câu “Dạo hiên vắng thầm gieo

từng bước” có một từ đặc biệt, theo em

là từ gì? Em có cảm nhận gì về từ

“gieo”?

(Hành động dạo không phải của một

người đang thưởng hoa ngắm nguyệt

mà nó trĩu nặng ưu tư, chất chứa nỗi

buồn…)

+ Ban đêm là không gian của lứa đôi,

của sự sum họp gia đình Vậy mà mở

đầu đoạn trích là hình ảnh của người

chinh phụ đang ưu tư, trầm ngâm, buồn

sầu Không chỉ vậy, trong cảnh đêm đó

còn có bóng dáng của một người đang

“ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” Vậy,

“rủ thác đòi phen” là gì? Tại sao người

chinh phụ lại buông rèm cuốn rèm nhiều

lần?

Từ hai hành động trên, em có nhận xét

gì về tình cảnh sống của người chinh

phụ lúc bấy giờ?

II Đọc - hiểu văn bản

1 16 câu đầu: Nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ

a Thể hiện qua hành động, cử chỉ:

- “Dạo…thầm gieo từng bước”

- “Ngồi… rủ thác đòi phen”

 Hành động âm thầm, lặp đi lặp lại trong vô thức, chất đầy tâm trạng

 Nỗi cô đơn, bế tắc đang vây bủa, tâm trạng bồn chồn, khắc khoải

- Mong ngóng, oán trách chim thước -> mong tin chồng, thất vọng vì sự

im lặng của chim, sự bặt vô âm tín của chồng

Trang 6

GV: Đọc lại một vài câu ca dao, tục ngữ

mà em biết có nhắc đến hình ảnh ngọn

đèn? Theo em, ngọn đèn trong văn học

mang ý nghĩa gì, nó gợi nhắc đến điều

gì?

GV: Riêng: sự cô độc, lẻ loi, nỗi thương

mình, sự than thở…Đó là tiếng thở dài

bất lực trước thực trạng đơn lẻ, cô

- Ngồi lẻ bóng với ngọn đèn (Độc thoại nội tâm)

+ Nhân hóa + Câu hỏi tu từ “có đèn biết chăng” + Từ khẳng định  phủ định: “có biết…chẳng biết”

+ Cấu trúc liên hoàn: “Đèn biết chăng – Đèn có biết”

-> Đèn là vật vô tri vô giác

-> “Lòng thiếp riêng bi thiết mà

thôi”

 Hai hoạt động tập trung thể hiện cuộc sống chật hẹp, mang nặng nỗi buồn lo của người chinh phụ, từ đó khắc họa tâm trạng thất vọng, đau xót cho chính tình cảnh của mình

- Gượng đốt hương, soi gương, gảy đàn

Hương gượng đốt // hồn đà mê mải Gương gượng soi // lệ lại châu chan Sắt cầm gượng gảy ngón đàn // Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng

+ Điệp từ “Gượng”  nhấn mạnh

Trang 7

GV: Người chinh phụ không có ai làm

bạn để có thể sẻ chia, nàng tìm đến

những hoạt động quen thuộc để giải

khuây Những hoạt động đó là gì?

GV: 4 câu thơ “Hương gượng đốt…

ngại chùng” sử dụng biện pháp nghệ

thuật gì? Theo em hiểu “gượng” nghĩa

là gì và lí giải tại sao người chinh phụ

lại gượng gạo, miễn cưỡng như thế?

GV: Trong cảnh sống chơi vơi cùng tâm

trạng cô đơn, người chinh phụ tìm quên

với những hoạt động quen thuộc: đốt

hương, soi gương, gảy đàn nhưng lại

càng rơi vào bi kịch Em hãy chỉ ra bi

kịch ấy là gì?

GV: Gảy đàn là gảy lên những giai điệu

đau đớn của lòng mình

GV: Nhắc đến điển tích “dây uyên”,

“phím loan”

(GV chú ý nhấn mạnh phân tích nhân

vật cần quan tâm đến hành động, cử chỉ)

thái độ miễn cưỡng, không tự nhiên, không chú tâm

+ Đốt hương, soi gương, gảy đàn

 gợi nhắc đến quá khứ hạnh phúc ngày xưa, không còn ý nghĩa trong hiện tại

+ Gượng đốt hương  lòng càng

sầu muộn

soi gương  nhìn ngoại hình ứa

nước mắt

gảy đàn  ý thức sâu sắc sự mất mát, lo sợ điềm gở cho đôi lứa

 Điệp từ, phép tiểu đối, điển tích

 Càng muốn thoát khỏi lại càng bế tắc, nỗi chán chường đeo đẳng cùng với nỗi lo sợ, bất an

Tiểu kết: Thông qua hành động,

cử chỉ đã phần nào bộc lộ tâm trạng buồn thương, cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ

b Thể hiện qua ngoại cảnh

Trang 8

GV: Em hãy chỉ ra những yếu tố ngoại

cảnh (không gian) được khắc họa trong

8 câu đầu?

GV: Hình ảnh rèm tượng trưng cho điều

gì? (gợi ý: “Bóng hoa theo bóng nguyệt

lên trước rèm”) đêm qua nằm trọ nhà

hàng, rèm thưa gió lọt lòng càng nhớ

thương

GV: Hai câu thơ sử dụng NT gì? Em có

cảm nhận gì về cách so sánh trong câu

thơ “Khắc giờ đằng đẵng như niên”?

Em thử lí giải nguyên nhân

GV: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

(Nguyễn Du) Cảnh và người có mối

- Không gian + Hiên vắng + Rèm thưa -> đơn độc

+ Hình ảnh ngọn đèn (hoa đèn – bóng người) -> lẻ loi

+ “Hòe phất phơ rủ…” -> từ láy -> chuyển động chậm chạp, dáng điệu ủ rũ

- Thời gian: “Gà eo óc gáy…”

-> gà gáy: âm thanh đặc tả thời gian -> từ láy tượng thanh “eo óc”: âm thanh thưa thớt, não nề

 Không gian, thời gian rợn ngợp, vắng lặng, đìu hiu

 Tô đậm nỗi cô đơn, ảm đạm trong lòng người

- “Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”

+ Từ láy “đằng đẵng”  thời gian kéo dài

+ Từ láy “dằng dặc”  mối sầu miên man

+ so sánh: 1 giờ = 1 năm -> t/gian tâm lí

mối sầu = miền biển xa

 Thủ pháp lấy cái vô cùng để diễn

tả vô tận

 Thể hiện nỗi buồn da diết, triền

Trang 9

quan hệ chặt chẽ với nhau Người và

cảnh xoắn xít không tách rời

GV: Em có nhận xét gì về không gian

trong 8 câu cuối so với 16 câu đầu trong

đoạn trích?

GV: “Câu thơ phong phú, đúc một mối

tình phổ vào một hình thức đơn giản

trọn vẹn” (Đặng Thai Mai)

GV: Không gian vũ trụ có tác dụng gì

trong việc thể hiện nỗi nhớ của người

chinh phụ?

GV: Nỗi nhớ chồng của người chinh

phụ được khắc họa qua câu thơ nào?

GV: Em có nhận xét gì về biện pháp

miên, ám ảnh

Tiểu kết: Nghệ thuật tả cảnh ngụ

tình  sự chờ đợi mỏi mòn, nỗi sầu muộn, lẻ loi bao trùm nội tâm nhân vật

2 Nỗi nhớ chồng nơi biên ải

- Không gian mở rộng ra theo chiều kích vũ trụ

“Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non Yên” + “Lòng này”: trực tiếp bày tỏ -> tiếng nói cá nhân

+ “nghìn vàng”: ẩn dụ lòng thương nhớ, trân trọng

+ “gió đông”: gió mùa xuân ấm áp + “non Yên”: hình ảnh ước lệ -> không gian vời vợi, xa cách

 Khát vọng gửi tâm tình theo gió đông nơi chồng đang chinh chiến -> thủy chung

 Thất vọng nhưng không tuyệt vọng

- Nỗi nhớ trải rộng theo không gian

“Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Trang 10

nghệ thuật được sử dụng trong 8 câu

cuối?

GV: Tóm lại về mạch cảm xúc trong 8

câu cuối

Mạch cảm xúc: chuyển dần từ nỗi nhớ,

từ khát khao được đồng cảm sang tâm

trạng “đau đáu” trong vô vọng Lời thơ

là lời tâm sự với người chồng hay là với

chính mình, qua đó bộc lộ trạng thái tâm

lí và sự nhận thức sâu sắc của người

chinh phụ Nàng gửi lòng vào gió mây

nhưng gió mây có lẽ không thể gửi nỗi

nhớ cho nàng, nàng gửi nỗi nhớ vào trời

đất nhưng trời đất không thấu cảm Để

rồi cuối cùng, nàng hòa tan trong cái

thảm thiết của thiên nhiên, của chính

lòng mình Hơn ai hết, nàng là một con

người ý thức sâu sắc giá trị bản thân và

hoàn cảnh sống của mình Chính vì vậy

con người ấy lại một lần nữa rơi vào bi

kịch, càng cố kiếm tìm một chỗ dựa lại

càng thấy trơ trọi, lẻ loi

Hoạt động 3: GV cùng HS hệ thống

lại kiến thức

GV: Gọi 1 HS đọc ghi nhớ SGK/88

+ Từ láy “thăm thẳm” -> độ rộng, sâu của không gian và nỗi nhớ

+ So sánh nỗi nhớ “thăm thẳm” với hình ảnh phóng đại, khoa trương

“đường lên bằng trời”

 Nỗi nhớ mãnh liệt, được cụ thể hóa qua không gian, thời gian vô cùng, vô tận

- Nỗi nhớ thấm thía, dày vò và sự lo lắng:

“Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong” + “đau đáu”: từ láy -> nỗi nhớ có chiều sâu, trăn trở, day dứt, lo âu

- Điệp ngữ liên hoàn (Non Yên – trời – nhớ) -> âm điệu triền miên, da diết

- “Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

+ “Cành cây sương đượm” -> không gian lạnh lẽo, buốt giá

+ “tiếng trùng mưa phun” -> không gian ảo não, trùng nỉ non, mưa rả rích gợi nên một thứ âm thanh trầm buồn, da diết…

 Bút pháp tả cảnh ngụ tình -> Cảnh – người hòa quyện

 Nàng trở về thực tại với tâm trạng

u sầu, bế tắc trong không khí lạnh lẽo của thiên nhiên

Trang 11

Tiểu kết: Với nghệ thuật miêu tả

diễn biến tâm trạng qua hình thức độc thoại nội tâm đã thể hiện tình cảnh cô đơn, bế tắc, nặng nề trong nỗi nhớ chồng da diết

III Tổng kết:

- Giá trị nội dung: Ghi nhớ SGK/88

- Giá trị nghệ thuật: Nghệ thuật miêu

tả nội tâm + Miêu tả qua hành động, cử chỉ + Miêu tả qua thiên nhiên

+ Độc thoại nội tâm + Sử dụng những từ ngữ có giá trị

biểu cảm cao (đằng đẵng, dằng dặc,

gượng ) cùng những biện pháp

nghệ thuật độc đáo (so sánh, nhân hóa, từ láy…)

+ Thể thơ song thất lục bát với nhạc điệu dồi dào, da diết diễn tả được tâm trạng đau buồn mang âm điệu than vãn, sầu muộn

4 Củng cố:

Trang 12

5 Dặn dò

- HS học thuộc đoạn trích

- Chuẩn bị bài tiếp theo

Ngày đăng: 18/04/2016, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w