1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiên tính nữ qua tác phẩm truyện kiều nguyễn du, cung oán ngâm khúc nguyễn gia thiều và chinh phụ ngâm khúc đặng trần côn

128 193 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 847,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, khi xem xét lịch sử vấn đề nghiên cứu, ta thấy những tác phẩm trên chủ yếu được tìm hiểu, đánh giá trên các phương diện của văn học nghệ thuật, xã hội học, văn hóa học, lịch s

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG TRẦN CÔN

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG TRẦN CÔN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THU Y ẾN Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực

Tác giả luận văn

Tr ần Thị Ngọc Ly

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất quý báu của Thầy cô, gia đình, bạn bè và anh chị đồng nghiệp

Trân trọng cảm ơn Quý Thầy cô Phòng Sau Đại Học – Trường Đại học

Sư phạm TP.HCM đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác

Trân trọng cảm ơn Quý Ban Giám Hiệu, các thầy cô tại các trường Ngô

Th ời Nhiệm, Quận 9, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành lu ận văn này

Cu ối cùng, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS

Lê Thu Y ến, người hướng dẫn khoa học đã tận tâm giúp đỡ, dạy bảo và động viên tôi

Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, song luận văn sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy Cô, anh chị em đồng nghiệp và các bạn!

Tp.HCM tháng 8 năm 2015

Người thực hiện luận văn

Tr ần Thị Ngọc Ly

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI NIỆM THIÊN TÍNH NỮ VÀ VẤN ĐỀ THIÊN TÍNH N Ữ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 12

1.1 Khái niệm thiên tính nữ 12

1.1.1.Nhìn từ góc độ lý luận nhận thức 12

1.1.2.Nhìn từ góc độ tác phẩm văn học 13

1.2 Vấn đề thiên tính nữ trong văn học trung đại và vài nét về các tác giả 15

1.2.1 Vấn đề thiên tính nữ trong văn học trung đại 15

1.2.2 Vài nét về tác giả Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Du 16

Chương 2 THIÊN TÍNH NỮ QUA CẢM HỨNG SÁNG TÁC TRONG “CHINH PH Ụ NGÂM KHÚC” - ĐẶNG TRẦN CÔN, “CUNG OÁN NGÂM KHÚC” - NGUYỄN GIA THIỀU VÀ “TRUY ỆN KIỀU”- NGUYỄN DU 23

2.1 Cảm hứng về con người qua góc nhìn thiên tính nữ 23

2.1.1 Cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ 23

2.1.2 Cảm hứng thương xót người phụ nữ 33

2.2.Tiếng nói khát vọng về quyền sống con người qua góc nhìn thiên tính nữ 48

2.2.1 Khát vọng sống trong nhung lụa êm ấm 48

2.2.2 Khát vọng tự do 51

2.2.3 Khát vọng về hạnh phúc lứa đôi 56

2.3 Thiên tính nữ qua cảm hứng về thiên nhiên 69

2.3.1 Thiên nhiên mang vẻ đẹp trần thế của người phụ nữ 69

2.3.2.Thiên nhiên mang tâm trạng con người 71

Trang 6

Chương 3 HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN THIÊN TÍNH NỮ 77

3.1.Thể thơ 77

3.2 Ngôn ngữ 86

3.2.1 Hệ thống từ ngữ 86

3.2.2 Hệ thống biểu tượng 98

3.3 Giọng điệu 105

K ẾT LUẬN 116

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 119

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Chức năng chính của văn học không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức,

nuôi dưỡng khả năng cảm thụ nghệ thuật mà còn hướng con người đến “chân –

thi ện – mĩ” Văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng

không nằm ngoài những mục đích ấy Soi vào dòng chảy văn học, ta không chỉ thấy

hiện thực lịch sử của đất nước mà ta còn thấy vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Đặc biệt, văn

học Việt Nam những năm cuối thế kỉ XVIII tạo được một tiếng vang lớn xoay quanh những nội dung của chủ nghĩa nhân đạo Đề tài người phụ nữ được nhắc đến không chỉ nhiều mà còn rất đặc sắc, tiến bộ Có thể khẳng định rằng: “Chinh phụ

ngâm” – Đặng Trần Côn, “Cung oán ngâm khúc” – Nguyễn Gia Thiềuvà tuyệt tác

“Truy ện Kiều” – đại thi hào Nguyễn Du là những tác phẩm xuất sắc viết về đề tài

người phụ nữ trong xã hội phong kiến đương thời

Có thể thấy, nhận định trên đã được minh chứng qua những công trình khoa

học của giới nghiên cứu, phê bình Việt Nam và thế giới Tuy nhiên, khi xem xét

lịch sử vấn đề nghiên cứu, ta thấy những tác phẩm trên chủ yếu được tìm hiểu, đánh giá trên các phương diện của văn học nghệ thuật, xã hội học, văn hóa học, lịch sử,

và giới tính… Người viết nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu kĩ

những đóng góp của ba tác phẩm trên góc nhìn của thiên tính nữ - một hướng nghiên cứu, tiếp cận khoa học mới trong hai thập kỉ gần đây Đó là lí do vì sao người viết xin được mạn phép trình bày những hiểu biết, suy nghĩ của bản thân

trong đề tài Thiên tính nữ qua tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” – Đặng Trần

Côn, “Cung oán ngâm khúc” – Nguy ễn Gia Thiều và “Truyện Kiều” – Nguyễn

Du

2 L ịch sử vấn đề

- Về tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” - Nguyễn Gia Thiều, “Chinh phụ

ngâm” - ĐặngTrần Côn và “Truyện Kiều” - Nguyễn Du, đã có vô số những công

trình nghiên cứu khoa học theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau như văn học, triết

học, xã hội học, văn hóa học, nhân học, giới tính Ở lĩnh vực nghiên cứu nào thì

cả ba tác phẩm trên đều đã có rất nhiều những thành tựu khoa học rất có giá trị

Trang 8

Nhìn chung, nghiên cứu ba tác phẩm trên thường xoay quanh việc tìm hiểu văn bản, chú thích, thân thế, sự nghiệp tác giả Từ đầu thế kỉ XX, giới nghiên cứu chủ yếu

tập trung nghiên cứu ba tác phẩm theo hướng xã hội học Hàng loạt những công trình khoa học ra đời xoay quanh những vấn đề mang tính xã hội như: ca ngợi, bênh

vực, nêu cao quyền sống con người; lên án, tố cáo xã hội và những thế lực chà đạp lên quyền sống con người… Ngoài ra, cũng có rất nhiều những công trình nghiên

cứu về thi pháp – tìm ra những đặc sắc trên phương diện nghệ thuật của ba tác

phẩm…

Không chỉ đứng trên quan điểm xã hội học để bênh vực, đề cao con người,

chống lại xã hội phong kiến, từ trong những năm 80 của thế kỉ XX đến nay, các tác

phẩm còn được tiếp cận ở một hướng nghiên cứu mới: nghiên cứu về ảnh hưởng

của đạo Phật trong văn học, thuyết “tài mệnh tương đố”, bi kịch con người cá nhân, truyền thống văn hóa Việt,… Đặc biệt, hướng tiếp cận nghiên cứu nhìn từ quan điểm “giới”, về “tính dục”, “thiên tính nữ”, “nữ quyền” thật sự thu hút được nhiều

sự quan tâm của giới nghiên cứu và phê bình văn học Nhìn ở hướng nghiên cứu này, mỗi tác phẩm cũng có rất nhiều những ý kiến đồng thuận và phản đối khi bàn

luận về tính “dục” trong các sáng tác “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn, “Cung

oán ngâm khúc” – Nguy ễn Gia Thiều và tuyệt tác “Truyện Kiều” –Nguyễn Du

Thành tựu của hướng nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa này đã được ghi nhận qua các công trình của Tản Đà, Hoài Thanh, Phan Ngọc, Lê Nguyên Cẩn, Đỗ Lai Thúy,

Lê Trí Viễn, Trần Đình Sử, Nguyễn Lộc, Lê Hoài Nam, Hoàng Hữu Yên, Lã Nhâm Thìn, Lê thu Yến, Nguyễn Hữu Sơn, Trần Mạnh Hảo, Trần Nho Thìn, Trương Tửu, Thanh Lê, Nguyễn Trác, Nguyễn Đăng Châu, Nguyễn Huệ Chi, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Ngọc Bích, Vũ Minh Tâm, Trần Thị Băng Thanh, Phạm Thế Ngũ,…và nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ khác

Tuyệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du được xem là một “tác

phẩm lớn” của văn học khi nhận được rất nhiều sự chú ý, quan tâm của giới nghiên

cứu, phê bình trên nhiều phương diện:

Trong công trình khoa học “Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa” (Nxb

Thông tin và Truyền thông), Lê Nguyên Cẩn đã cho rằng: “Truyện Kiều không chỉ

Trang 9

là câu chuy ện về một con người, một cuộc đời, một số phận mà nó trải rộng ra với

m ột tấm lòng, một cốt cách, một tinh thần Việt Nam Truyện Kiều tạo ra cách nhìn dân t ộc, làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam, làm say đắm lòng người đọc mỗi thời đại” [6, tr.3] Với công trình nghiên cứu này, tác giả Lê Nguyên Cẩn

không chỉ cho thấy vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều mà ông còn khẳng định: đó là

những nét đẹp mang đậm truyền thống văn hóa Việt Nam

Nhà lí luận phê bình văn học Trần Đình Sử trong “Thi pháp Truyện Kiều” đã

viết: “Từ khi ra đời đến nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành một bộ phận

không th ể tách rời của đời sống tâm hồn dân tộc Việt Nam nói chung và đời sống văn học nói riêng…” [9, tr.9] Nói như thế, tác giả nhằm khẳng định: giá trị của thi

phẩm không chỉ trên hai phương diện nội dung, nghệ thuật mà còn gắn liền với chiều sâu văn hóa của dân tộc Việt

Hoài Thanh đã nhận xét: “Truyện Kiều được hoan nghênh nhiều mà cũng bị

bài xích nhi ều Số phận Truyện Kiều cũng long đong như số phận nàng Kiều Kể từ khi nó ra đời, nó chưa bao giờ được ngồi một chỗ yên Người khen rất mực, người chê cũng hết lời” [72, tr.2] (“Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguy ễn Du”, Hội văn hóa Việt Nam) Sở dĩ thi phẩm “Truyện Kiều được hoan nghênh nhi ều mà cũng bị bài xích nhiều” là bởi tác phẩm không chỉ nêu bật lên

tiếng nói chống lại chế độ phong kiến lạc hậu mà còn ở phương diện đề cao, đòi quyền sống con người Trong đó, có khát vọng tự do yêu đương mang đậm góc nhìn

về giới tính

“Chinh ph ụ ngâm” – Đặng Trần Côn và tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” –

Nguyễn Gia Thiều cũng được xem là những tác phẩm mang tư tưởng nhân đạo tiến

bộ của thời đại Không chỉ thế, tác phẩm còn đề cao quyền sống con người trên bình

diện giới tính Vì thế, cũng như “Truyện Kiều”, hai sáng tác trên cũng nhận được

nhiều lời khen - chê trái chiều từ giới nghiên cứu, phê bình văn học Chẳng hạn:

Nhà phê bình Đặng Thanh Lê trong “Cung oán ngâm khúc trên bước đường

phát tri ển của thể song thất lục bát” phê phán yếu tố nhục cảm: “Tuy nhiên, Cung oán ngâm khúc v ẫn có phần chưa lành mạnh Tràn đầy khúc ngâm là một không khí

nh ục cảm Cung nữ say sưa nói đến những hạnh phúc của thời kì được sủng ái và

Trang 10

ch ủ yếu là khoái cảm xác thịt với những cảm giác đắm đuối khó tả …” [26, tr.2]

Cũng như Đặng Thanh Lê, nhà phê bình Nguyễn Trác, Nguyễn Đăng Châu cũng đứng trên quan điểm giai cấp, ra sức phê bình người cung nữ chỉ biết đam mê xác thịt mà quên đi tình yêu trong sáng, đẹp đẽ Trong “Cung oán ngâm khúc, khảo

thích và gi ới thiệu”, hai tác giả đã viết: “Toàn khúc ngâm triền miên một thế giới đặc biệt toàn ái ân mây mưa Mới thời con gái, chưa bước chân vào cuộc đời, tự hào v ề nhan sắc người thiếu nữ đã nghĩ tới: Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.(…) Với những ý nghĩ táo bạo sớm nở về tình dục kiểu ấy, khi được tuyển vào cung, người cung nữ chỉ có thể hân hoan vì những sự thỏa nguyện về xác thịt.” [50,

tr.45 -46]

Thi ết nghĩ, việc phê phán yếu tố nhục cảm trong tác phẩm “Cung oán ngâm

khúc” là một góc nhìn chỉ đứng quan điểm giai cấp, trên định kiến xã hội Nhìn chung, các nhà phê bình trên chưa thật sự nhìn người cung nữ bằng con mắt nhân văn, tiến bộ, chưa thực sự nghĩ đến quyền sống chính đáng của con người Vì thế,

yếu tố nhục cảm bị xem là “tội lỗi”, là “không thể chấp nhận” Đây cũng chính là sự

hạn chế trong cách nhìn của các nhà nghiên cứu trên về quyền sống của con người Trái với quan điểm của Đặng Thanh Lê, Nguyễn Trác, Nguyễn Đăng Châu,… nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài viết “Giá trị hư ảo, vô nghĩa của cá nhân

con người trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều” đã viết: “Ông miêu

t ả cảnh hành dục không như một tội lỗi kiểu Truyền kì mạn lục mà như một niềm kiêu hãnh, sung sướng Ở đây, con người cá nhân cũng xuất hiện như một phát hiện

l ại, đi ngược giáo lý (…) Quyền sống của con người trần thế, giá trị con người thân xác v ới bao thứ “dục” chính đáng của nó là trung tâm điểm của giá trị Bất kỳ cái gì chà đạp giá trị ấy, quyền sống ấy thì đều là cái ác, cái xấu, cái đáng oán

h ận” [41, tr.168]

Với công trình “Rực rỡ và khắc khoải”, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cũng

đã đánh gái rất cao đóng góp của Nguyễn Gia Thiều: “Xưa nay, trong văn học cổ

Vi ệt Nam, mọi khoái cảm xác thịt chỉ được diễn tả một cách lấp lửng, nửa vời, nếu không nói là gi ấu biệt đi, bảo nhau không nên đả động đến Ở Cung oán ngâm khúc, người phụ nữ mất hết vẻ e thẹn vốn có, nàng sẵn sàng khoe ra tài năng, vẻ

Trang 11

đẹp và cả khả năng quyến rũ của mình” [34, tr.4]

Cùng quan điểm với nhà phê bình Trần Đình Sử, Vương Trí Nhàn, Vũ Minh Tâm, Trần Thị Băng Tâm trong công trình nghiên cứu về tác phẩm “Cung oán

ngâm khúc” cũng khẳng định rằng: yếu tố xác thịt trong thi phẩm là biểu hiện của nhân tình, nhân tính, của quyền sống, nhu cầu sống chính đáng của con người Có

thể thấy, hướng nhìn nhận, đánh giá mới này đã góp phần rất lớn cho việc mở ra hướng tiếp cận mới về hình ảnh người phụ nữ trong giai đoạn sau này, mà đỉnh cao

là hướng tiếp cận nghiên cứu nhìn từ quan điểm giới, thiên tính nữ hay từ nữ quyền

Về tác phẩm “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn, giới phê bình chủ yếu nhìn

nhận, đánh giá tác phẩm trên hai phương diện nội dung, nghệ thuật Người chinh

phụ chủ yếu được ngợi ca về phẩm chất chung thủy (chờ chồng, nuôi con thơ – mẹ già) Với thi phẩm này, vấn đề nữ tính, tính dục, quyền sống ít bị chỉ trích vì khao khát thể xác không được miêu tả nhiều như tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” và

“Truy ện Kiều” Trong “Chinh phụ ngâm khúc giảng luận”, nhà phê bình Thuần

Phong viết: “Ái tình ở đây không nghiến răng, nghiến lưỡi trong một cử chỉ phản

kháng, nhưng cũng chưa hề hướng dẫn tâm hồn đến một cõi đời siêu thoát Dù có

b ực bội với hoàn cảnh thì ý niệm của khổ chủ cũng vẫn quanh quẩn trên thực tế và

d ịu dàng ngoan ngoãn xin với đời sống những cái mà đời sống có thể cung cấp cho

cu ộc đời thế tục mà thôi.”

Tóm lại, ta thấy hầu hết những công trình nghiên cứu các tác phẩm trên đều được nghiên cứu, xem xét, đánh giá ở trên nhiều phương diện, góc độ tiếp cận và hướng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu ba tác phẩm “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn, “Cung oán ngâm

khúc” – Nguy ễn Gia Thiều và “Truyện Kiều” – đại thi hào Nguyễn Du trên góc nhìn

thiên tính nữ một cách đầy đủ, trọn vẹn và khoa học Hướng tiếp cận này sẽ cho người đọc thêm một cái nhìn mới đầy tính nhân văn, tiến bộ hơn về ba tác phẩm trên

-Về lịch sử tìm hiểu thiên tính nữ, ta thấy, nghiên cứu tác phẩm văn học dưới cách tiếp cận của thiên tính nữ là hướng tiếp cận mới trong hai thập kỉ gần đây Và hướng nghiên cứu theo thiên tính nữ được tìm hiểu trên rất nhiều lĩnh vực nghệ

Trang 12

thuật, đặc biệt là văn học nghệ thuật Ở Việt Nam nói chung và nền văn học Việt Nam nói riêng, hướng nghiên cứu mới này đang được rất nhiều nhà khoa học quan tâm và đạt được một số thành tựu nhất định Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thiên tính nữ ở Việt Nam diễn ra còn khá rời rạc, chỉ dừng lại ở những bài nghiên cứu

nhỏ về khái nhiệm, biểu hiện của thiên tính nữ trong văn học Hoặc giả chỉ là những bài nghiên cứu liên quan, “gần kề” với vấn đề thiên tính nữ trong tác phẩm văn học như: giới tính, nguyên lý tính mẫu, tính dục, nữ quyền… Chẳng hạn:

Trong bài viết “Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ

trong văn học nghệ thuật” đăng trên Tạp chí sông Hương – số 236 (tháng 10), Phan

Tuấn Anh đã viết: “Diễn trình giải phóng dục tính nữ trong lịch sử là một quá trình

ở đó, giới nữ đi từ khách thể dục tính đến chủ thể dục tính Tính dục của giới nữ

đi từ quan niệm “như là nghĩa vụ và thiên chức” (làm mẹ) chuyển sang “như là đam mê và quyền lực” (cái đẹp) Vai trò người đàn ông cũng chuyển hoá từ kẻ

th ống trị và chiếm đoạt, trở thành một đối tác, thậm chí, là một công cụ” Với bài

viết này, tác giả đã cho thấy sự phát triển của tính dục trong đời sống nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng Đây cũng là một hướng tiếp cận rất mới, rất có giá trị dưới góc nhìn thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật

Bàn về nguyên lý tính Mẫu trong tác phẩm “Mẫu thượng ngàn” của Nguyễn

Xuân Khánh, Nguyễn Quang Huy cho rằng: “ Nguyên lý tính Mẫu trước hết là ca

t ụng những phẩm tính huyền diệu của người mẹ” Tính nữ của người mẹ, thiên

chức của người mẹ đã được nhắc đến trong bài viết với những biểu hiện thật cụ thể Không chỉ vậy, bài viết còn nghiên cứu đến những “cổ mẫu” được xem là biểu hiện

của nguyên lý tính Mẫu như: trăng, nước, rừng, hang đá…Thiết nghĩ, nguyên lí tính

Mẫu cũng là một phương diện biểu hiện của thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật

Nữ quyền được hiểu là quyền bình đẳng của người phụ nữ trên mọi lĩnh vực

của cuộc sống Ở cấp độ hẹp, nữ quyền có liên quan đến các khái niệm về “giới tính”, “phái tính” trong văn học – đây là tiêu chí nhằm khu biệt nam nữ - một khía

cạnh có liên quan đến vấn đề thiên tính nữ Ở Việt Nam, trong những năm gần đây

có công trình nghiên cứu của Hồ Khánh Vân về vấn đề nữ quyền: “Từ lý thuyết nữ

quy ền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990

Trang 13

đến nay”

Về hướng nghiên cứu dưới góc nhìn thiên tính nữ ở Việt Nam trong những năm gần đây vẫn chưa thật sự có công trình nghiên cứu cụ thể Chủ yếu chỉ là

những bài nghiên cứu ở cấp độ những bài báo khoa học, những công trình khóa luận

tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ Đặc biệt là ở bộ phận văn học hiện đại Nhiều tác giả, tác phẩm văn học thời kì hiện đại được xem xét, phân tích, đánh giá dưới góc nhìn khoa học mới Đó là những tác giả nổi tiếng của văn học thời kì hiện đại và hậu

hiện đại như: Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Xuân Khánh, Chu Văn Sơn, Đỗ Lai Thúy, Hoàng Ngọc Hiến,….Chẳng hạn:

Khi nghiên cứu về nhân vật nữ trong những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hoàng Ngọc Hiến đã đưa ra rất nhiều khái niệm và phần luận giải về thiên tính nữ trong bài viết “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió” Chẳng hạn:

“Trong các nhân v ật nữ, có những người ưu tú, nhiều người được gọi là liệt

n ữ Nó là sự hiện thân của nguyên tắc tư tưởng tạo ra cảm hứng chủ đạo của tác

gi ả, có thể nói là nguyên tắc tính nữ hay thiên tính nữ” [2, tr.15]

“Thiên tính n ữ trước hết là tinh thần của cái Đẹp và tất cả các nhân vật nữ này đều đẹp mỗi người một vẻ” [2, tr.16]

“Thiên tính n ữ trước hết là cái Đẹp, là tinh thần vị tha, đức hi sinh, là thiên tính làm m ẹ…, là hiện thân của sức sống phồn thực.” [2, tr.17]

Trong bài viết “Đường tới cỏ lau cỏ lau của Nguyễn Minh Châu”, tác giả

Chu Văn Sơn đăng trên Tạp chí văn học và tuổi trẻ, số 1 (103) - 2005 khi đề cập

đến vẻ đẹp mẫu tính cũng đã đưa ra khái niệm về thiên tính nữ : “Mẫu tính là phẩm

ch ất mẹ ở con người, trước hết là ở người nữ Nó là bản năng sinh ra sự sống và

b ản năng hi sinh cho sự sống”

Tóm lại, thiên tính nữ là một hướng nghiên cứu rất mới của giới phê bình văn

học trong hai thập kỉ gần đây Vì vậy, khi tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu của vấn đề,

ta chỉ có thể bước đầu tìm hiểu về khái niệm, những biểu hiện của thiên tính nữ trong một số tác phẩm văn học hiện đại Tuy nhiên, việc nghiên cứu thiên tính nữ trong những sáng tác thuộc lĩnh vực văn học trung đại Việt Nam vẫn chưa thật sự có nhiều công trình nghiên cứu Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhìn ở

Trang 14

góc độ giới tính trong thơ Nôm truyền bản Hồ Xuân Hương, “Truyền kỳ mạn lục” –

Nguyễn Dữ, “Cung oán ngâm khúc” – Nguyễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn, và tác phẩm “Truyện Kiều” – Nguyễn Du…

Tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu về giới, về thiên tính nữ trong văn học trung đại Việt Nam là một hướng đi mới đầy thú vị cho những ai say mê tìm hiểu, nghiên cứu văn học hiện nay Ta có thể nghiên cứu những sáng tác của các tác giả trung đại từ sau thế kỉ XVI như Nguyễn Dữ, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, thơ nôm truyền bản Hồ Xuân Hương… Thế

nhưng, ngoài luận văn thạc sĩ “Thiên tính nữ trong thơ nôm truyền bản của Hồ

Xuân Hương” của Trần Thị Lệ ( ĐH Thái Nguyên, 2012), vẫn chưa có công trình

nào nghiên cứu nhiều về các tác phẩm, tác giả trong thời kì văn học trung đại

Tiếp tục kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước, trong luận văn này, người viết xin mạn phép được tìm hiểu những tác phẩm “Cung

oán ngâm khúc” – Nguy ễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn, và tác

phẩm “Truyện Kiều” – Nguyễn Du dưới góc nhìn mới – góc nhìn thiên tính nữ

3 M ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Về khoa học cơ bản, người viết muốn tìm hiểu, phân tích một cách có hệ

thống, khoa học những biểu hiện, đặc điểm về thiên tính nữ trong ba tác phẩm

“Cung oán ngâm khúc” – Nguy ễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn,

và tác phẩm “Truyện Kiều” – Nguyễn Du Không chỉ trình bày một cách có hệ

thống về các biểu hiện của thiên tính nữ trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong các tác phẩm, người viết còn tìm cách lí giải những nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng đến các tác giả Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn

Du trong quá trình sáng tác của mình

- Về khoa học thực tiễn, ta nhận thấy, trong chương trình giảng dạy văn học ở

trường THCS và THPT, các tác phẩm “Truyện Kiều” - Nguyễn Du, “Cung oán

ngâm khúc” - Nguy ễn Gia Thiều và “Chinh phụ ngâm khúc” - Đặng Trần Côn đều

là những sáng tác đặc sắc Việc nghiên cứu ba tác phẩm này theo hướng tìm hiểu

mới sẽ đóng góp thêm một góc nhìn khoa học, nhân văn, tiến bộ nữa cho việc giảng

dạy của giáo viên và học tập của học sinh Từ đó, người viết muốn đưa việc học

Trang 15

văn, dạy văn ngày một “gần” hơn, thiết thực, bổ ích và gắn với thực tiễn cuộc sống nhiều hơn

Nhìn trên phương diện xã hội, đề tài đã phân tích những biểu hiện và lí giải

những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc ba tác giả nam viết về người phụ nữ với cái nhìn của thiên tính nữ còn là đóng góp quan trọng về việc bình đẳng giới, về

giới tính của con người – một vấn đề đang được xã hội hiện nay rất quan tâm Thiết nghĩ, đây cũng là mục đích rất quan trọng của đề tài này

- Với những mục đích cụ thể trên, đề tài đã đặt ra cho người viết những nhiệm

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, người viết đã sử dụng những phương pháp nghiên

cứu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này giúp người viết tìm ra

những cơ sở dữ liệu cụ thể, khoa học nhằm chứng minh cho bài viết Khi dùng phương pháp này, người viết sẽ tránh được lỗi võ đoán, suy luận thiếu cơ sở khi đưa

ra những nhận xét, đánh giá trong quá trình nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là thao tác chính trong bài viết Đi từ

những cơ sở dữ liệu đã khảo sát, người viết tiến hành phân tích thật khoa học, cụ

thể, để từ đó sẽ rút ra những nhận định, kết luận cuối cùng thật khách quan, có giá

trị

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Việc tìm ra những điểm tương đồng và

khác biệt về nội dung và nghệ thuật nhìn từ góc độ thiên tính nữ sẽ giúp cho những

nhận xét, phân tích, đánh giá của người viết thuyết phục, có cơ sở khoa học hơn

Trang 16

Ngoài ra, trong bài viết, người viết còn so sánh ba tác phẩm “Chinh phụ ngâm”,

“Cung oán ngâm khúc” và “Truy ện Kiều” với một số tác giả, tác phẩm cùng thời có

cùng đề tài viết về người phụ nữ dưới góc độ thiên tính nữ để có thể kết luận khách quan về những đóng góp của ba tác giả Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn Du

- Phương pháp liên ngành: Vấn đề thiên tính nữ trong văn học không chỉ dừng

lại ở lĩnh vực nghiên cứu văn học mà còn liên quan đến nhiều ngành khoa học xã

hội khác như: xã hội học, văn hóa học, tâm lí học, lịch sử…Vì vậy, người viết đã

vận dụng thao tác liên ngành trong bài viết Đặc biệt là việc lí giải những nguyên nhân, những nhân tố chi phối cái nhìn đậm thiên tính nữ của các tác giả nam khi

viết về nữ giới

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thiên tính nữ trong ba tác phẩm trên phương diện tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

Như tên đề tài đưa ra, người viết xin được khảo sát tư liệu trên ba tác phẩm

“Truy ện Kiều” - Nguyễn Du, “Cung oán ngâm khúc” - Nguyễn Gia Thiều và

“Chinh ph ụ ngâm khúc” - Đặng Trần Côn

6 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tìm hiểu khái niệm thiên tính nữ và những biểu hiện của thiên

tính nữ trong tác phẩm văn học Từ đó, phân tích vấn đề thiên tính nữ trong văn học trung đại Việt Nam nói chung và góc nhìn thiên tính nữ của các tác giả Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn trong các sáng tác “Truyện Kiều”, “Cung oán

ngâm khúc” và “Chinh ph ụ ngâm”

Chương 2: Trên cơ sở lý luận từ chương 1, tác giả tiếp tục tìm hiểu, phân tích,

đánh giá những biểu hiện của thiên tính nữ qua cảm hứng sáng tác trong tác phẩm

“Chinh ph ụ ngâm” – Đặng Trần Côn, “Cung oán ngâm khúc” – Nguyễn Gia Thiều

và “Truy ện Kiều” – Nguyễn Du Từ đó, phát hiện, lí giải những điểm tương đồng và

khác biệt về nội dung của ba tác giả nam dưới góc nhìn thiên tính nữ

Trang 17

Chương 3: Không chỉ tìm hiểu về nội dung mà ở chương 3 này, người viết

còn nghiên cứu về hình thức nghệ thuật thể hiện thiên tính nữ trong ba tác phẩm trên các phương diện về thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu Từ đó sẽ đi đến phần kết

luận, đánh giá và nêu lên hướng nghiên cứu mở rộng của đề tài khoa học này

Trang 18

Chương 1 KHÁI NIỆM THIÊN TÍNH NỮ VÀ VẤN ĐỀ THIÊN TÍNH N Ữ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

1.1 Khái ni ệm thiên tính nữ

1.1.1 Nhìn t ừ góc độ lý luận nhận thức

Thiên tính nữ là một khái niệm mới được đúc kết qua một số bài báo, nghiên

cứu của các tác giả như Đỗ Lai Thúy, Chu Văn Sơn, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Quang Huy… và một số bài phê bình văn học của các nhà văn nữ trong thời gian

gần đây

Đỗ Lai Thúy đã cho rằng “Khởi thủy là đàn bà” khi lí giải các nhân vật nữ

trong truyền thuyết Việt Nam ( Mị Nương, Mị Châu, …) đều gắn với từ “mị” (nghĩa

là “đẹp”) Theo giáo sư, khởi thủy là phái đẹp, là nữ tính

Trong bài nghiên cứu “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”, Hoàng

Ngọc Hiến đã cho rằng: “Thiên tính nữ trước hết là cái Đẹp, là tinh thần vị tha, đức

hi sinh, là thiên tính làm m ẹ…, là hiện thân của sức sống phồn thực”

Nhà văn Chu Văn Sơn trong bài viết “Đường tới cỏ lau của nhà văn Nguyễn

Minh Châu ” cũng đã nêu khái niệm về mẫu tính: “Mẫu tính là phẩm chất mẹ ở con

người, trước hết là ở người nữ Nó là bản năng sinh ra sự sống và bản năng hi sinh cho s ự sống”

Nguyễn Quang Huy khi tìm hiểu về tác phẩm “Mẫu thượng ngàn” – Nguyễn

Xuân Khánh lại cho rằng: “Nguyên lý tính Mẫu trước hết là tụng ca những phẩm

tính huy ền diệu của người mẹ”

Từ những khái niệm, định nghĩa trên, nhìn từ góc độ lý luận nhận thức, ta có

thể định nghĩa thiên tính nữ như sau:

Th ứ nhất, đó là những biểu hiện thiên về tính nữ, mang vẻ đẹp của người phụ

n ữ

Th ứ hai, đó là những vẻ đẹp, khả năng thiên bẩm của người phụ nữ

Nói như thế có nghĩa là thiên tính nữ chính là thiên chức mà tạo hóa giao phó cho những người phụ nữ để phân biệt với nam giới, để thế giới nhị nguyên này tồn

Trang 19

tại Đó là phẩm chất dịu dàng, đảm đang, khéo léo, mềm mỏng, chịu thương chịu khó, nhạy cảm tinh tế, lòng vị tha, bao dung, đức hi sinh …và cả khả năng sinh sản, thiên chức làm mẹ

Như vậy, nguyên lý tính mẫu, mẫu tính là một trong những biểu hiện của thiên tính nữ Hay nói khác đi, thiên tính nữ là một khái niệm theo nghĩa rộng chỉ những nét tính cách, khả năng thiên bẩm của nữ giới nhằm phân biệt với nam giới

1.1.2 Nhìn t ừ góc độ tác phẩm văn học

Nhìn ở góc độ tác phẩm văn học, ta thấy đã có rất nhiều tác phẩm văn học

Việt Nam viết về nữ giới (nam giới viết về nữ giới, nữ giới viết về giới mình) Trong văn học trung đại, ngoài Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Diệu Liên, Lam Anh,… còn có nhiều tác phẩm viết về nữ của các tác giả nam như Phạm Thái, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… Đặc biệt, hình ảnh người phụ nữ dưới cái nhìn về giới cũng

đã được các tác giả văn học giai đoạn thế kỉ XVIII, XIX nhìn nhận, đánh giá thấu

đáo, sâu sắc hơn Các tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” - Đặng Trần Côn, “Cung

oán ngâm khúc” - Nguy ễn Gia Thiều, “Truyện Kiều”- Nguyễn Du cũng không là

ca, tự hào, tự khẳng định giá trị bản thân mình

Trong khi đó, những thi sĩ nam như Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng

Trần Côn, Nguyễn Du,… cũng có những góc nhìn rất khác khi viết về phái nữ dưới góc nhìn thiên tính nữ Vì khác giới nên cảm hứng, cách cảm nhận, miêu tả, đánh giá …của các tác giả nam về phái nữ, phái yếu cũng có nhiều điểm tương đồng và

Trang 20

khác biệt so với những sáng tác của chính nữ sĩ viết về giới mình Góc nhìn thiên tính nữ của nam nhi về phái nữ là góc nhìn đầy yêu thương, trân trọng, cảm thông, say đắm, si mê, …

Khi viết bằng cảm hứng yêu thương, trân quý người phụ nữ là lúc các tác giả nam đang đứng về người phụ nữ để cảm thông, chia sẻ với những bi kịch cuộc đời

mà họ phải gánh chịu Ngoài ra, các tác giả nam không chỉ phát hiện, ca ngợi vẻ đẹp

“thiên về tính nữ” của phái yếu mà còn “bị lôi cuốn, bị hấp dẫn” đến “ham muốn đắm say” bởi vẻ đẹp của phái thứ hai trong thế giới nhị nguyên này Lúc này đây,

mắt nhìn của các thi nhân nam về người nữ là góc nhìn của người đàn ông trước “vẻ đẹp tuyệt đỉnh” của nữ giới Vì vậy, vẻ đẹp hình thể, vóc dáng, tài năng, phẩm chất

của người phụ nữ không chỉ được nhìn nhận, đánh giá dưới góc nhìn phát hiện, ngợi

ca mà còn rất mê đắm, gợi tình Ham muốn nhục dục, ham muốn, “được thành

thực” (Văn Tâm) là khát vọng bản năng của người đàn ông trước sự hấp dẫn, gợi tình của phái đẹp Đọc những sáng tác của nam giới viết về phái đẹp, ta dễ dàng

nhận thấy sự khác biệt này trên góc nhìn thiên tính nữ

Ngoài ra, khi viết về phái nữ, các tác giả nam không chỉ “đứng trên cao, đứng bên ngoài” để viết về nữ giới mà còn đứng ở vị trí “người trong cuộc” để cảm nhận,

thấu hiểu về phái đẹp Và vì đứng ở vị trí “người trong cuộc” nên khi viết về phái

nữ, các thi sĩ nam cũng đã và đang viết về chính bản thân mình Thuyết “mượn

giọng” trong nghệ thuật đã được vận dụng thật khéo léo dưới góc nhìn thiên tính nữ Mượn tiếng nói, tiếng lòng, tiếng tâm trạng của người nữ, các thi sĩ nam nhằm bộc

bạch, tỏ bày tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và quan niệm sống của chính mình về thời

cuộc, về xã hội, về nhân tình thế thái…

Rõ ràng, góc nhìn thiên tính nữ của phái nữ viết về giới mình và phái nam viết

về phụ nữ có nhiều điểm tương tương đồng và khác biệt khi nhìn xem xét từ góc độ

lý luận nhận thức và góc độ tác phẩm văn học Tuy nhiên, chính sự tương đồng và khác biệt này đã tạo nên giá trị chung và đặc sắc riêng cho nền văn học dưới góc nhìn mới – góc nhìn thiên tính nữ Phần lý luận này sẽ được soi chiếu, minh chứng

rõ ràng trong đề tài Thiên tính nữ qua tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” – Đặng

Tr ần Côn, “Cung oán ngâm khúc” – Nguyễn Gia Thiều và “Truyện Kiều” –

Trang 21

Nguy ễn Du

1.2 V ấn đề thiên tính nữ trong văn học trung đại và vài nét về các tác giả 1.2.1.V ấn đề thiên tính nữ trong văn học trung đại

1.2.1.1 Bi ểu hiện thiên tính nữ trong văn học trung đại

Như đã nói ở trên, tình hình lịch sử, văn hóa truyền thống, nền giáo dục Nho

học…là những nguyên nhân khiến văn học trung đại Việt Nam hiếm khi, ít khi viết

về thiên tính nữ Chỉ vài gương mặt nữ tiêu biểu viết về giới mình như Bà huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương… Cùng với đó là một số tác giả nam cũng viết về người phụ nữ dưới cái nhìn về giới, về thiên tính nữ như Nguyễn

Dữ, Phạm Thái, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến,

Tú Xương…

Soi vào khái niệm thiên tính nữ trên, ta có thể thấy được biểu hiện tính nữ trong văn học trung đại thể hiện rõ ở các phương diện sau:

V ẻ đẹp hình thể là sự phân biệt đầu tiên của phụ nữ và nam giới Nếu nam

giới được miêu tả với vóc dáng “Râu hùm, hàm én, mày ngài – Vai năm tấc rộng

thân mười thước cao”, là dáng cây tùng, cây bách đứng vững giữa phong ba bão táp

nhằm “xoay chuyển càn khôn”, “tung hoành ngang dọc” thì phụ nữ lại tượng trưng cho phái đẹp, phái yếu Đó là vóc hạc mình mai, liễu yếu đào tơ, yểu điệu thục nữ,

với tài “cầm, kì, thi, họa”; thêu, thùa, may, vá; công, dung, ngôn, hạnh…

Bên cạnh vẻ đẹp hình thể, tài năng thì phẩm chất, tính cách của người phụ nữ

đã góp phần thể hiện thật rõ thiên tính nữ Đó là sự dịu dàng, thùy mị, nết na; là cách sống nhạy cảm, tinh tế, giàu tình yêu thương; là lòng vị tha, nhân hậu, sẵn sàng

hi sinh vì người khác; hay lòng thủy chung son sắt, luôn cam chịu nhẫn nhịn…Tất

cả những biểu hiện ấy đã tạo nên tính cách rất độc đáo, riêng biệt ở nữ giới

1.2.1.2 Các tác gi ả nam viết về nữ giới trong văn học trung đại

Trước thế kỉ XVI, có rất ít tác phẩm viết về nữ giới Và cũng có không nhiều

những sáng tác của các tác giả nam viết về người phụ nữ Để lí giải điều này, ta có

thể tìm hiểu từ sự chi phối của tư tưởng Nho học Theo quan niệm Nho giáo, những

định kiến “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, nam nhi phải gánh vác trọng trách

“T ề gia, trị quốc, bình thiên hạ” đã khiến cho hình ảnh nữ nhi trong cuộc sống và

Trang 22

trong văn học xuất hiện vô cùng nhạt nhòa Thêm vào đó, văn học trung đại giai đoạn này mang tính quy phạm rất chặt chẽ Trên phương diện đề tài, tác phẩm văn

học chỉ xoay quanh hai vấn đề chính: “Thi dĩ ngôn chí”, “Văn dĩ tải đạo”… Thực tế cho thấy, nếu có hình ảnh nữ nhi xuất hiện trong sáng tác của các tác giả nam thì chỉ

là hình ảnh mờ nhạt, ít ý nghĩa Thậm chí, nữ nhi chỉ là đối tượng, phương tiện để các tác giả nam thuyết giáo đạo đức, lí lẽ

Sang thế kỉ XVI, lịch sử phong kiến Việt Nam có nhiều biến động thăng trầm

lớn: Lê – Mạc nội chiến, nạn ngoại xâm phương Bắc liên miên Đáng nói nhất là giai đoạn cuối thế kỉ XVIII - XIX, khi phân tranh giữa đàng trong – đàng ngoài với hai thế lực của chúa Nguyễn – vua Lê chúa Trịnh, rồi các cuộc khởi nghĩa nông dân

xảy ra khắp mọi nơi mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn dẹp yên quân Thanh xâm lược để thống nhất đất nước Chẳng bao lâu, nhà Tây Sơn cũng sụp đổ Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, củng cố lại vương triều phong kiến đang ở giai đoạn cuối cùng của sự mục ruỗng, suy vi Như vậy, chỉ trong vài thế kỷ, đã có rất nhiều triều đại sụp đổ và dựng lên một cách nhanh chóng Có thể thấy, xã hội loạn

lạc, mục nát; mọi quan hệ đạo đức suy đồi, thối rữa…Chính đặc điểm lịch sử đầy

biến động này đã chi phối làm thay đổi diện mạo văn học giai đoạn này Hình ảnh người phụ nữ được quan tâm thật chu đáo với nhiều nguồn cảm hứng khác nhau: khi ngợi ca, trân trọng; lúc đau đớn, xót xa, phẫn uất, căm giận…

Điều đáng ghi nhận của các tác giả nam viết về nữ giới ở giai đoạn này là họ

đã có cái nhìn thật tiến bộ, mới mẻ và đầy tinh thần nhân đạo Đặc biệt, cái nhìn

bằng con mắt nam giới, bằng định kiến Nho gia đã có nhiều sự thay đổi Thậm chí

có nhiều tác giả nam viết về nữ giới dưới góc nhìn tiến bộ của thiên tính nữ Thể

hiện rõ nhất là ở các sáng tác Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…

1.2.2 Vài nét v ề tác giả Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Du

1.2.2.1 Thân th ế, sự nghiệp

Đặng Trần Côn (1710?-1750?), hiệu là Bính Trì, người làng Nhân Mục, tên

nôm là làng Mọc, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Nhân Chính, quận Đống Đa, Hà Nội Chưa rõ năm sinh năm mất nhưng Đặng Trần Côn sống ở nửa

Trang 23

đầu thế kỉ XVIII Bản thân ông là người chăm học, từng thi đỗ Hương cống nhưng thi Hội hỏng Từng được bổ chức làm Tri huyện Thanh Oai và làm đến chức Ngự

sử đài Chiếu khám

Đặng Trần Côn là người hào phóng, thích uống rượu, làm thơ, Thơ của ông trau chuốt, bóng bẩy, đi sâu vào khai thác tình cảm, tìm hiểu nỗi lòng trắc ẩn, phức

tạp, sâu kín của con người, đặc biệt là người phụ nữ Đương thời, thơ ông được các

sĩ tử đương thời rất yêu mến và ra sức học hỏi

Ngoài tác phẩm “Chinh phụ ngâm”, ông còn có những bài thơ khác như: “Tiêu

tương bát cảnh”, “Trương Hàn tư thuần lô”, “Trương lương bố y”, “Khấu môn thanh”,…“Chinh ph ụ ngâm” là tác phẩm thơ chữ Hán đặc sắc của ông Tác phẩm

được viết theo thể trường đoản cú, gồm 476 câu thơ và đã được nhiều dịch giả dịch sang chữ Nôm như Phan Huy Ích, Đoàn Thị Điểm,

Nguy ễn Gia Thiều (1741 – 1798), ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện

Siêu Loại, phủ Thuận Thành, trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh) Ông xuất thân trong một gia đình quyền quý, thuộc dòng dõi quý tộc:ông nội Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Châu – một võ tướng tài ba, thông kinh sử lược; cha là Nguyễn Gia Cư – một

võ quan cao cấp được phong tước hầu; ông ngoại là chúa Trịnh Cương, mẹ là quận chúa Quỳnh Liên

Năm 6 tuổi, Nguyễn Gia Thiều được vào phủ chúa học Năm 18 tuổi, giữ chức

Hiệu úy, quản Trung mã tả đội Sau đó làm chỉ huy Thiêm sự, Tổng binh ở Hưng Hóa Ông được chúa Trịnh tin dùng, đươc phong là Ôn Như Hầu

Năm 1789, Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, lập triều Tây Sơn, Nguyễn Gia Thiều từng được mời ra làm quan cho nhà Tây Sơn nhưng ông cáo bệnh từ

chối, về ở ẩn tại quê nhà gần 10 năm sau đó, thọ 57 tuổi

Nguyễn Gia Thiều là một võ quan, nhưng lại có hiểu biết sâu rộng trên các lĩnh vực văn học, sử học, triết học, âm nhạc , hội họa , kiến trúc, mĩ thuật…

Tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình và xã hội, ta thấy, từ bé cho đến lớn, Nguyễn Gia Thiều đã được sống trong cảnh “cung vàng điện ngọc”, giàu sang và quyền lực Đây là những năm tháng Nguyễn Gia Thiều chứng kiến cuộc sống xa hoa lãng phí

của chốn cung đình Ông cũng có cơ hội chứng kiến những số phận gian truân , bi

Trang 24

đát của những người cung nữ Vì thế, không chỉ hiểu sâu sắc về thân phận, hoàn

cảnh của người cung nữ, ông còn phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của

kiếp “liễu yếu đào tơ” Đặc biệt, cả những bi kịch đớn đau mà các nàng phải gánh

chịu cũng được ông thấu hiểu, miêu tả thật tỉ mỉ, tường tận trong sáng tác của mình

Về văn chương, ngoài tập thơ chữ Hán là “Ôn Như thi tập” (khoảng 1000 bài nhưng bị thất truyền), ông còn có những sáng tác bằng chữ Nôm như: “Cung oán

ngâm khúc”, “Tây H ồ thi tập” và “Tứ trai thi tập”…

Trong đó, “Cung oán ngâm khúc” là tác phẩm xuất sắc nhất của Ôn Như

Nguyễn Gia Tác phẩm được viết theo thể thơ song thất lục bát, gồm 356 câu thơ Tác phẩm viết về đề tài người cung nữ, cung oán trong xã hội phong kiến – một đề tài rất phổ biến trong văn học bác học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII

Có thể thấy, Nguyễn Gia Thiều là một trong những nhà thơ tài hoa của dân

tộc Cũng như con người, thơ của ông luôn có sự kết hợp hài hòa giữa thi ca, nhạc

họa, triết học…Ngoài ra, mỗi tác phẩm của ông được xem là sự “lắng đọng” đẹp

nhất của một tâm hồn thẩm mỹ

Nguy ễn Du (1765 -1820), sinh tại Thăng Long, tên chữ là Tố Như, hiệu là

Thanh Hiên Bản thân ông xuất thân trong một gia đình thuộc dòng dõi quyền quý: cha là Nguyễn Nghiễm – từng giữ chức Tể tướng trong triều đình Lê – Trịnh Mẹ là

Trần Thị Tần

Tuổi thơ Nguyễn Du chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh Năm 13 tuổi, Nguyễn Du

trở thành đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải đến sống với người anh cùng cha khác

mẹ là Nguyễn Khản

Không chỉ thế, Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong thời đại nhiều biến cố, thăng trầm nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam Chỉ trong vòng mấy mươi năm

ngắn ngủi, đã có rất nhiều triều đại được dựng lên và sụp đổ một cách nhanh chóng

Vì thế, con đường công danh, hoạn lộ của họ Nguyễn gặp rất nhiều trắc trở, có khoảng thời gian dài ông phải sống thiếu thốn, chật vật ở nông thôn

Sinh thời, Nguyễn Du là người thông minh, học giỏi, có kiến thức sâu rộng: ông học Nho học nhưng sách Phật học, Lão học đều có đọc, văn chương kim cổ Trung Hoa đều biết Bản thân ông cũng là người tài hoa, phong lưu

Trang 25

Về sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Du được mệnh danh là “đại thi hào” của dân

tộc Ông để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ bằng chữ Hán và chữ Nôm như:

“Thanh Hiên thi t ập”, “Nam Trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”, “Văn chiêu

h ồn”, “Truyện Kiều”…

Trong đó,“Truyện Kiều” được xem là tác phẩm thơ xuất sắc nhất của nền văn

học Việt Nam Mặc dù được sáng tác trên cở sở cốt truyện của tiểu thuyết chương

hồi Trung Quốc “Kim Vân Kiều truyện” nhưng Nguyễn Du đã sáng tạo trên một

cảm hứng mới và một hình thức nghệ thuật vô cùng độc đáo, đặc sắc.Tác phẩm gồm

3254 câu thơ, được viết bằng chữ Nôm theo thể thơ lục bát của dân tộc

1.2.1.2 Nh ững nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề thiên tính nữ trong sáng tác của Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều và Nguyễn Du

Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn Du có nhiều điểm khá tương đồng về thân thế, cuộc đời Chính những đặc điểm ấy đã phần nào ảnh hưởng rất

lớn đến cảm hứng thiên tính nữ trong sáng tác của các tác giả trên

Thứ nhất, cả Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn Du đều sống trong cùng một thời đại lịch sử: giai đoạn nửa sau thế kỉ XVIII Có thể thấy rằng: đó

là một giai đoạn đầy sóng gió, bão tố của đất nước Chưa bao giờ trong xã hội phong kiến Việt Nam lại trở nên mục ruỗng, thối nát, suy vi đến như thế: chiến tranh liên miên; đất nước loạn lạc; đói kém khắp mọi nơi, vua chúa, quan lại chỉ lo

ăn chơi hưởng lạc, tranh giành quyền lực, loại trừ lẫn nhau; dân nghèo bị áp bức, bóc lột cùng cực, không thiếu lời ca oán, than thở; binh sĩ bỏ chiến trường, bỏ quân ngũ; mọi quan hệ đạo đức chuẩn mực của Nho gia đều bị đạp đổ… Vì xã hội đầy

biến động và bất ổn như thế nên đã khiến cho cả triều đình lẫn thôn xóm, từ công nương quý tộc đế người bình dân nghèo khổ cảm thấy hãi hùng, bế tắc, lo lắng không yên

Chính vì xã hội loạn lạc, nội chiến liên miên, mọi quan hệ đạo đức bị xáo trộn đến mục ruỗng khiến cho hình ảnh người quân tử giai đoạn này hiện lên thật mờ

nhạt Ngoài những sáng tác của Nguyễn Công Trứ, hình ảnh người trai thời kì này không còn được vẽ lên bằng tầm vóc của vũ trụ, của tư thế “Hoành sóc giang san

kháp k ỉ thu – Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”(Phạm Ngũ Lão) như thời Trần, thời

Trang 26

Lý ; cũng không mang nhiều “tráng chí bốn phương” của đấng anh hùng “Làm trai

ph ải lạ ở trên đời – Há để càn khôn tự chuyển dời” (Phan Bội Châu) … Thay vào

đó, là cảm quan yếu ớt, mong manh của “Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu”

(Nguyễn Du) Nói rõ hơn, thời thế xã hội khiến ý thức hệ về vai trò, vị trí nam nhi trong xã hội phong kiến của Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn Du thay đổi: trở nên thu mình, khép kín, cam phận, yếu đuối, nhỏ bé, cô đơn,… Vì thế, người cung nữ, người chinh phụ, người kĩ nữ là những hình ảnh “gần gũi” nhất

nhằm phản chiếu tâm tư, tình cảm, cõi lòng của các tác giả Khi các thi sĩ nam mượn hình ảnh người phụ nữ để nói lên tiếng lòng của chính mình chính là lúc các tác giả dùng lý thuyết “mượn giọng” của điện ảnh và văn học trong sáng tác của mình

Lí do thứ hai cần xem xét là ở sự ảnh hưởng của môi trường sống của ba tác

giả nam trên Nguyễn Gia Thiều từ nhỏ đã sống trong phủ chúa Trịnh, đã từng tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp rất nhiều tầng lớp cung tần mĩ nữ của chúa Trịnh Ông cũng đã chứng kiến rất nhiều những kiếp cung nữ “lên bổng xuống trầm” trong

cuộc đời dâu bể Vì lẽ đó, Ôn Như Hầu đã cảm nhận thật rõ ràng, sâu sắc những bi

kịch đau đớn của “thềm ngọc” mà kiếp cung nữ phải vương mang

Đặng Trần Côn cũng lận đận trong con đường khoa bảng, làm tri huyện Thanh Oai, có điều kiện tiếp xúc với những hạng người bần cùng trong xã hội Ông cũng

cảm nhận được nỗi đau lớn của biết bao kiếp chinh phụ quanh ông vào đầu đời Lê

Hiển Tông Con người tài hoa, phóng túng ấy đã cảm thông thật sâu sắc những điều tai nghe mắt thấy để đưa vào từng dòng thơ thấm đẫm tinh thần nhân đạo của mình

Về tác giả Nguyễn Du, cũng như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du

có điều kiện sống trong trong sung sướng của chốn quan triều Anh họ Nguyễn

Khản của Tố Như lại là người phong lưu, mê hát xướng Vì thế, Nguyễn Du cũng

có rất nhiều điều kiện tiếp xúc, thấu hiểu rõ nét, tỉ mỉ về con người, về những bi

kịch đớn đau của kiếp ca nhi kĩ nữ hồng nhan mệnh bạc

Như vậy, cả ba tác giả nam đều đi từ cùng một xuất phát điểm: yêu thương, trân trọng, xót xa, đau đớn cho những thân phận những kiếp người nhỏ bé trong xã

hội – đặc biệt là những người phụ nữ “hồng nhan bạc mệnh”; bày tỏ sự phẫn uất, tố

Trang 27

cáo xã hội thối nát đương thời Nguyễn Gia Thiều viết về người cung nữ bị vua quên lãng, Đặng Trần Côn vẽ lên chân dung tâm trạng của người chinh phụ có

chồng đi chinh chiến “kỉ nhân hồi”, đại thi hào Nguyễn Du viết về nàng Kiều bị

cuộc đời vùi dập phũ phàng, cay đắng…Cả ba tác phẩm “Cung oán ngâm khúc”,

“Chinh ph ụ ngâm” và “Truyện Kiều” đều là những tác phẩm có cùng đề tài – viết

về người phụ nữ trong xã hội phong kiến, cùng cảm hứng của những trái tim thấm đẫm tình yêu thương con người Và với cùng xuất phát điểm đó nên cái nhìn về người phụ nữ trở nên sâu sắc, nhân văn và tiến bộ hơn

Có thể nói, giai đoạn lịch sử những năm cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX là giai đoạn mà quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ được chú ý coi

trọng và đề cao nhất (giai đoạn phát triển rực rỡ của chủ nghĩa nhân đạo) Con người không chỉ được nhìn ở các phương diện xã hội với cảm hứng ngợi ca, yêu thương, trân trọng …về vẻ đẹp hình thể, tài năng, phẩm chất mà còn chú ý đến “bản

năng”, “giới tính” của con người Trước đó, trong “Truyền kì mạn lục”, Nguyễn Dữ

đã mạnh dạn nhìn con người trên phương diện giới tính Thiết nghĩ, đây cũng là một hướng mở đường cho Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn Du viết về người phụ nữ với cảm hứng mới Đặc biệt, điều đáng ghi nhận về sự tiến bộ, mới

mẻ ở ba tác phẩm trên là cái nhìn mang đậm thiên tính nữ của ba tác giả Cả ba tác

phẩm không chỉ ca ngợi, xót thương người phụ nữ từ góc nhìn thiên tính nữ mà ngay ở việc miêu tả những “rung động”, “khát khao” mãnh liệt “rất bản năng” của

người phụ nữ Nếu đem so sánh với thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương thì góc nhìn thiên tính nữ của ba tác giả nam trên cũng không có nhiều sự khác biệt Để lí giải điều này, chúng ta cần nghiên cứu kĩ hơn về “giới tính” của con người (bằng lí thuyết âm – dương), bằng lý thuyết về cái nhìn nam giới

Tóm lại, trong chương 1 này, người viết đã đi từ những khái niệm, nhận xét, đánh giá cơ bản của các nhà phê bình, nghiên cứu, lí luận văn học để nêu bật lên khái niệm về thiên tính nữ Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả còn đi phân tích những

biểu hiện của thiên tính nữ dưới góc độ lý luận nhận thức và lý luận văn học để tìm

ra những điểm tương đồng và khác biệt trong góc nhìn thiên tính nữ của phái nữ

viết về giới mình và phái nam viết về nữ giới Chính những cơ sở lý thuyết này

Trang 28

cùng với những tìm hiểu về thân thế, cuộc đời, thời cuộc, hoàn cảnh sống …của ba tác giả Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn Du sẽ giúp cho người đọc có cái nhìn khái quát, cơ bản hơn về hướng nghiên cứu thiên tính nữ trong văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

Trang 29

Chương 2.THIÊN TÍNH NỮ QUA CẢM HỨNG SÁNG TÁC

TRONG “CHINH PH Ụ NGÂM KHÚC” - ĐẶNG TRẦN CÔN,

“CUNG OÁN NGÂM KHÚC” - NGUY ỄN GIA THIỀU VÀ

“TRUY ỆN KIỀU”- NGUYỄN DU

2.1 Thiên tính n ữ qua cảm hứng về con người qua góc nhìn

2.1.1 C ảm hứng ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ

Đi từ lý thuyết về giới tính, về hiện tượng “mượn giọng” trong văn học, về cái nhìn “đàn ông”, người viết phát hiện và phân tích những biểu hiện đầu tiên mang thiên tính nữ qua cảm hứng ngợi ca, xót thương người phụ nữ của ba tác giả nam Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn và Nguyễn Du

2.1.1.1.Cái nhìn v ề vẻ đẹp hình thể, tài năng

- Có thể thấy, người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc”, người chinh phụ trong “Chinh ph ụ ngâm” và nàng Kiều trong “Truyện Kiều” đều là những nhân vật

hiện thân của cái Đẹp Đó là nét đẹp hình thể trong trắng, nuột nà, yểu điệu, duyên dáng Đây chính là biểu hiện thứ nhất của thiên tính nữ - của phái đẹp (tiêu chí đầu tiên phân biệt nam – nữ)

Trong đoạn mở đầu “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã vẽ lên trước mắt người đọc hình ảnh hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều “Một hai nghiêng nước nghiêng

thành” khiến người đọc phải mê đắm Nếu như Thúy Vân được miêu tả là cô gái

có vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang với “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” thì

Thúy Kiều lại mang vẻ đẹp “sắc sảo, mặn mà” khiến “Hoa ghen thua thắm, liễu

h ờn kém xanh” Đó là vẻ đẹp của một trang giai nhân tuyệt sắc:

“Làn thu th ủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua th ắm, liễu hờn kém xanh.”

Vẻ đẹp hình thể ấy không chỉ khiến “hoa ghen, liễu hờn”, “nghiêng nước

nghiêng thành” mà trong mắt tác giả Nguyễn Du – dưới cái nhìn của một nam nhi – ông đã cho rằng: đó là một công trình nghệ thuật tuyệt mĩ mà trời đất ban tặng cho loài người Trong cảm nhận của Tố Như, vẻ đẹp ấy quý như ngọc ngà, châu báu Đó

Trang 30

là “sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp” Không chỉ đẹp, hình thể trong trắng, nuột nà ấy của nàng Kiều còn đáng trân quý biết bao! Cảm nhận vẻ đẹp hình thể nàng Kiều như Nguyễn Du thì không thể chỉ nhìn bằng đôi mắt của con người trước cái đẹp, của thi nhân trước nguồn cảm hứng ngọt ngào, lãng mạn mà nó còn là cái nhìn mê đắm

của một người nam trước vẻ đẹp tuyệt tác của một người khác giới Đó là cái nhìn

của thiên tính nữ, dưới góc nhìn nam giới:

“Rõ ràng trong ng ọc trắng ngà, Dày dày s ẵn đúc một tòa thiên nhiên.”

Bàn về bức tranh “Nhà nho Nguyễn Du đã tả một thiếu phụ tắm khỏa thân”

(Thiền sư Thích Nhất Hạnh), thi sĩ Xuân Diệu từng cho rằng đây là bức tranh khỏa thân duy nhất trong văn học cổ điển Việt Nam Nếu sau này Hồ Xuân Hương có tả thiếu nữ ngủ ngày táo bạo đến độ “ yếm đào trễ xuống dưới nương long” thì vẫn

không “rõ ràng” như thi sĩ họ Nguyễn Và rõ ràng, ta thấy, góc nhìn này của Nguyễn Du là góc nhìn “ rất lãng mạn”, “rất thi sĩ” và cũng “thật nam nhi”!

Trong “Cung oán ngân khúc”, người cung nữ cũng là một mĩ nữ Và không

chỉ đẹp mà cô còn luôn ý thức được vẻ đẹp hình thể ấy của mình Cô cũng nữ ấy đã

tự hào về nhan sắc, hình thể, vóc dáng yêu kiều của mình khiến “cá lờ đờ lặn”,

“ Tr ộm nhớ thuở gây hình tạo hóa,

V ẻ phù dung một đóa khoe tươi

Nh ụy hoa chưa mỉm miệng cười,

G ấm nàng Ban đã nhạt mùi thu dung

Áng Đào Khiển đâm bông não chúng, Khóe thu ba d ợn sóng khuynh thành.”

Quả thật, người cung nữ đẹp! Để diễn tả hết sự gợi cảm của người mĩ nữ, Nguyễn

Trang 31

Gia Thiều đã “táo bạo hơn cả” Nguyễn Du khi viết:

“Đóa lê ngon mắt cửu trùng, Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu.”

“Bóng gương lấp loáng dưới mành,

C ỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa”

Nguyễn Du vẽ Kiều tắm khỏa thân như “tòa thiên nhiên”, Nguyễn Gia

Thiều vẽ người cung nữ đẹp như một “đóa lê ngon mắt”, đẹp đến độ cả cỏ cây vô tri vô giác cũng muốn “nổi tình mây mưa” Cách viết tuy có khác nhau nhưng cảm

hứng, cách nhìn, góc nhìn của hai thi sĩ không khác Bởi cả hai nhà thơ đều xuất phát từ góc nhìn thi sĩ lãng mạn và chàng trai mê đắm vẻ đẹp hình thể của người khác giới Lúc này đây, cả Nguyễn Du lẫn Nguyễn Gia Thiều đều cảm nhìn vẻ đẹp hình thể của người mĩ nữ không chỉ bằng góc nhìn của thi sĩ mà cả cái nhìn đầy ham

muốm dục vọng của người nam trước vóc dáng hình thể, nhan sắc của cô gái đẹp

kiều diễm

Trong “Chinh ph ụ ngâm”, Đặng Trần Côn không trực tiếp tả tài sắc của

người chinh phụ như nàng Kiều của Nguyễn Du, người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều, nhưng qua cách miêu tả hình ảnh, tâm trạng của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến, ta cũng cảm nhận được người phụ nữ ấy không chỉ đẹp mà còn có tài Nàng cũng có xuất thân từ chốn “lá ngọc cành vàng”, cũng là phận “liễu yếu đào tơ” và cũng là hình mẫu đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

Há như ai hồn say bóng lẫn,…

Trâm cài, xiêm gi ắt thẹn thùng,

L ệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo”

Hay: “Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở…

Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng.”

Ta thấy, cả ba nhân vật nữ trong ba tác phẩm đều mang sắc đẹp khiến “hoa

ghen li ễu hờn”, “cá lờ đờ lặn”, “nhạn ngẩn chim sa”… Không chỉ thế, cả ba đều

xuất thân ở chốn đài các, thuộc dòng dõi “lá ngọc cành vàng” Vì vậy, sắc đẹp của các nàng gợi lên sự yếu ớt, mỏng manh, cần được yêu thương, che chở Bởi lẽ, họ còn là hiện thân của phái yếu Thật vậy, phái nữ là phái yếu Trong mắt của cả ba

Trang 32

thi sĩ nam, các nhân vật nữ của mình đều mang vẻ đẹp của sự yếu ớt, mong manh,

mềm mại, dịu dàng Đó là vẻ đẹp của “làn thu thủy, nét xuân sơn”, của “mai cốt

cách, tuy ết tinh thần”, của “vẻ phù dung một đóa khoe tươi”,“nhụy hoa chưa mỉm

mi ệng cười”, của “khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”…

- Không chỉ nhìn thấy vẻ đẹp hình thể, nhan sắc của các nhân vật nữ trong tác

phẩm của mình, cả ba tác giả nam còn phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp tài năng mang thiên tính nữ của người đẹp: tài “cầm, kì, thi, họa” (Truyện Kiều), “câu cẩm tú, nét

đan thanh, cờ tiên rượu thánh, cầm điếm nguyệt” (Cung oán ngâm khúc) Tài năng

ấy làm cho hình ảnh người phụ nữ đã đẹp càng đẹp hơn, đã quyến rũ lại càng hấp

dẫn hơn trong mắt nam nhi

Thúy Kiều, người cung nữ hay người chinh phụ đều là những trang tuyệt sắc

“tài sắc vẹn toàn” Cả ba đều được vẽ lên theo “hình mẫu tưởng tượng, tuyệt đối

đẹp, tuyệt đối tài hoa” Kiều ư? Nàng đẹp “mười phân vẹn mười” “Mười phân vẹn mười” bởi ngoài sắc nàng còn có tài “cầm, kì, thi, họa đủ mùi ca ngâm”:

“Thông minh v ốn sẵn tính trời, Pha ngh ề thi họa, đủ mùi ca ngâm

Cung thương lầu bậc ngũ âm, Ngh ề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.”

Người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” cũng có khác chi nàng Kiều!

Nàng không chỉ đẹp mà còn quá đỗi tài hoa Nàng làm thơ hay hơn cả Lí Bạch, vẽ thì tài hơn cả Vương Duy, uống rượu hơn cả thánh Lưu Linh và chơi cờ vượt cả tiên

cờ Đế Thích… Không chỉ vậy, giai nhân ấy còn gảy đàn ngang tài Tư Mã Tương Như, thổi sáo hay như Tiêu Lang và múa đẹp hơn cả những tiên nữ…

“Câu c ẩm tú đàn anh họ Lý, Nét đan thanh bậc chị đàn Vương

C ờ tiên, rượu thánh ai đang, Lưu Linh Đế Thích là làng tri âm

C ầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã, Địch lầu thu đọ gã Tiêu Lang

D ẫu mà tay múa miệng xang,

Trang 33

Thiên tiên cũng ngảnh Nghê Thường trong trăng…”

Cũng như Thúy Kiều, nàng cung nữ, người vợ trẻ trong “Chinh phụ ngâm”

cũng tìm đến những thú vui rất tao nhã của những bậc mĩ nữ, với “cầm, kì, thi,

họa” Nhưng cái tài ấy cũng không được Đặng Trần Côn miêu tả rõ như hai thi sĩ Nguyễn Du và Nguyễn Gia Thiều

“Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan

S ắt cầm gượng gãy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.”

Không chỉ giỏi “cầm, kì, thi họa”, người vợ trẻ trong sáng tác của Đặng

Trần Côn còn là hình mẫu lí tưởng của “công, dung, ngôn, hạnh” khi đảm đương cả

những việc thêu, thùa, may, vá :

“Bi ếng cầm kim, biếng đưa thoi, Oanh thôi ng ại dệt bướm thôi ngại thùa.”

Tóm lại, bàn về vẻ đẹp hình thể, tài năng của ba nhân vật nữ trong ba thi

phẩm trên, ta chỉ có thể khẳng định rằng: đó là những hình mẫu lí tưởng về người

phụ nữ tài sắc vẹn toàn Đó là biểu tượng cơ bản nhất, “riêng nhất” để người đọc

cảm nhận rõ sự khác biệt của nữ giới – nam giới trong tiêu chí phân biệt thứ nhất

Và cả ba tác giả nam Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn đều nhìn và miêu tả các nhân vật nữ của mình dưới góc nhìn thi sĩ, góc nhìn giới tính và từ cảm

hứng của thiên tính nữ

2.1.1.2.Cái nhìn v ề vẻ đẹp phẩm chất

Tiêu chí thứ hai giúp phân biệt thật rạch ròi nam giới – nữ giới là phẩm chất, tính cách nhân vật Nữ được xem là phái yếu không chỉ vì vóc dáng, hình thể mà còn ở tính cách, phẩm chất Phụ nữ luôn dịu dàng, thùy mị, nết na, vị tha, bao dung, giàu tình yêu thương và thủy chung son sắt với người bạn đời trăm năm của mình

Và cũng bởi dịu dàng, ý nhị, giàu đức hi sinh nên ở người phụ nữ ta còn thấy họ luôn biết cam chịu, nhẫn nhịn trước những bất công, ngang trái, đau đớn mà số phận

đã an bày

Nàng Kiều là cô gái xuất thân từ dòng dõi trâm anh Nàng đương sống trong

Trang 34

cảnh “Êm đềm trướng rủ màn che – Tường đông ong bướm đi về mặc ai” của một

mái nhà êm ấm, với mối tình lãng mạn mà chàng Kim dành cho mình, với một

tương lai đẹp như tranh vẽ của tình yêu, hạnh phúc Thế nhưng, bỗng “Sự đâu sóng

gió b ất kì” Và sóng gió ba đào ấy đã đẩy cô gái tài hoa vào cảnh đời vô cùng éo le,

ngang trái: Nàng phải chọn lựa giữa chữ hiếu và chữ tình Và sự chọn lựa này là

chọn lựa của tăm tối, của bất hạnh, của thương đau Nguyễn Du đặt Thúy Kiều vào

một tình huống giàu ý nghĩa Để rồi từ tình huống oái ăm ấy, tính cách, phẩm chất

của Kiều được bộc lộ rạng ngời Đó là vẻ đẹp của người con gái hiếu thảo, trọng nghĩa tình, biết trước sau, luôn coi trọng đạo lý làm người…

Thật vậy, để “có ba trăm lạng việc này mới xong”, Kiều phải bán mình chuộc

cha Vì lẽ, người con gái ấy luôn nghĩ rằng:

Để lời thệ hải minh sơn, Làm con trước phải đền ơn sinh thành.”

Chữ “hiếu” trong Kiều không chỉ được nhắc đến qua hành động sẵn sàng hi sinh bản thân, coi nhẹ hạnh phúc tình yêu cá nhân để đền đáp công lao cha mẹ mà còn qua cõi lòng nhớ thương, lo lắng cho bậc sinh thành suốt mười lăm năm lưu lạc dài đằng đẵng:

“Xót người tựa cửa hôm mai,

Qu ạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?

Sân lai cách m ấy nắng mưa,

Có khi g ốc tử đã vừa người ôm?”

Kiều không chỉ “hiếu” mà còn luôn sống trọn vẹn với chữ “nghĩa”, chữ “tình”

Kiều luôn sống vẹn tình với chàng Kim Kiều nhờ Vân thống thiết, xem Vân là ân

nhân cũng chỉ mong Vân thay mình “Keo loan chắp mối tơ thừa” cùng chàng Kim

lang Kiều “lạy” Thúy Vân vì Vân là người ơn mà suốt đời nàng khắc cốt ghi tâm

Kiều “lạy” Kim Trọng vì nàng nợ chàng một lời thề, một ân tình trăm năm… Nàng

nhận hết bất hạnh, đau khổ, thiệt thòi, cay đắng về phần mình Để rồi đến cuối đời,

nàng “khép c ửa phòng thu” cũng chỉ vì nghĩ cho hạnh phúc của Thúy Vân Người

con gái ấy không chỉ giàu tình yêu thương mà còn rất vị tha, bao dung, nhân hậu, giàu sức chịu đựng, hi sinh…

Trang 35

Kiều còn sống có trước có sau với người ơn của mình Nàng trả ơn cho Mã

Kiều, cho sư Giác Duyên, cho vị quản gia nhà Hoạn Thư, cho những người đã giúp nàng trong suốt mười lăm năm thăng trầm, biến cố Nàng “báo oán” Bạc Bà,

Bạc Hạnh, Hoạn Thư, họ Mã, họ Sở…- những kẻ đã chà đạp lên thân phận mình trong suốt những năm tha phương lưu lạc – rất rạch ròi Lối ứng xử theo nguyên tắc

“ăn miếng trả miếng”, “gieo nhân nào gặt quả ấy” của nàng cũng là nét tâm lí rất thông thường của phụ nữ nói riêng và người Việt Nam nói chung Đó chính là nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam từ ngàn xưa

Không chỉ thế, qua mười lăm năm lưu lạc trong cảnh “Thanh lâu hai lượt

thanh y hai l ần”, ta còn thấy trong lớp bùn nhơ ấy là “một đóa sen” Thúy Kiều thủy

chung son sắt, nhạy cảm, sâu sắc và cũng rất “ mong manh dễ vỡ”… Đó là Kiều của tâm lý phụ nữ, của thiên tính nữ

Nguyễn Du đã “vẽ Kiều” bằng nét vẽ của một danh họa tài ba Bởi ông không

chỉ vẽ ngoại hình, vẽ tính cách, vẽ tâm trạng mà còn vẽ được cả những rung cảm rất đỗi tinh tế, rất đỗi sâu sắc của cõi lòng người phụ nữ:

“Bu ồn trông cửa bể chiều hôm, Thuy ền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Bu ồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác, bi ết là về đâu?

Bu ồn trông nội cỏ dàu dàu, Chân mây m ặt đất một màu xanh xanh…”

Tâm lí yếu ớt, sự mong manh, tinh tế trong cảm xúc của Kiều còn được thể

hiện thật tài tình qua sự giằng xé đau đớn giữa lí trí và tình cảm, giữa khối óc và con tim khi Kiều phải trao duyên, trao kỉ vật cho em gái của mình là Thúy Vân Bấy nhiêu đau đớn, xót xa, bi thương của Kiều không chỉ được Tố Như thấu hiểu, mà ông gói gọn lại chỉ qua hai từ “của chung” vô cùng đặc sắc, tinh tế:

“Chi ếc vành với bức tờ mây, Duyên này thì gi ữ, vật này của chung.”

Khi miêu tả những xúc cảm rất mong manh, sâu sắccủa nàng Vương Thúy

Kiều, Nguyễn Du không chỉ hóa thân vào nàng mà còn cùng nàng khóc, cùng nàng

Trang 36

đau, cùng nàng đi từ cảm giác tinh tế này đến cung bậc sâu sắc khác của thế giới nội tâm Thiết nghĩ, việc cảm được sự mong manh, sâu sắc ấy của nữ giới không phải thi sĩ nam nào cũng làm được Một lần nữa, ta thấy, Nguyễn Du nhìn Kiều, tả Kiều,

cảm Kiều dưới cái nhìn của thiên tính nữ

Trong “Cung oán ngâm khúc”, Nguyễn Gia Thiều cũng đã cảm nhận rất tinh

tế và miêu tả rất chi li những rung động, đổi thay trong thế giới cảm xúc của người cung nữ Ở nhân vật nữ này, ta thấy có một sự thay đổi rất lớn trong nhận thức, tình

cảm Từ một cô gái “hả hê” “sung sướng”, “tự mãn” khi tự thêu dệt cho mình giấc

mơ của giàu sang phú quý, của quyền cao chức trọng đến một đóa hoa phù dung héo tàn nhan sắc và rơi vào bi kịch đau thương Đó là bi kịch của một con người đỗ

vỡ niềm tin khi nhận ra bản chất thật của chốn kinh kì, giá trị thật của lầu son gác tía, của hạnh phúc trong “cấm cung”:

“Ai ng ờ bỗng một năm một nhạt Ngu ồn cơn kia ai tát mà vơi?

Suy di đâu biết cơ trời

B ỗng không mà hóa ra người vị vong.”

Người cung nữ không chỉ phải cam chịu cảnh sống như góa phụ không

chồng mà nàng còn phải sống cô đơn, mòn mỏi, sầu muộn, bi thương… Nỗi cô đơn,

cảm thức lẻ loi, lạnh giá của người đẹp chốn vàng son gác tía đã được Nguyễn Gia Thiều cảm nhận, thấu hiểu và miêu tả thật tinh tế, sâu sắc:

“ Ngán phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ

D ấu dương xa đám cỏ quanh co

L ầu Tần chiều nhạt vẻ thu

G ối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông.”

Điều đáng nói khi tìm hiểu về tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” là ở chỗ:

cũng như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều cũng miêu tả diễn biến tâm lí tinh tế của người cung nữ Để rồi ông quan Ôn Như Hầu vẽ ra trước mắt ta một mĩ nữ không

chỉ đẹp về hình thể, tài năng mà còn rất yếu ớt, mong manh Đúng như tâm lí thông thường của nữ giới Cô gái trong tác phẩm là người giàu sức chịu đựng và càng lúc càng trở nên cam chịu, nhẫn nhịn Nàng âm thầm chịu đựng đau khổ, bất hạnh của

Trang 37

kiếp sống mòn mỏi không tình yêu, không hạnh phúc Thậm chí, nàng còn tự “vuốt ve” bất hạnh, khổ đau của mình bằng triết lí, bằng tâm trạng “rất phụ nữ”, “rất yếu đuối”:

“Bóng câu thoáng bên mành m ấy nỗi

Nh ững hương sầu phấn tủi sao xong?

Phòng khi động đến cửu trùng,

Gi ữ sao cho được má hồng như xưa?”

Đến phút chót, cung nữ vẫn còn thoi thóp nuôi cho mình một hi vọng Dù hi

vọng ấy quá đỗi mong manh, mơ hồ, ảo vọng: rằng có thể một lúc nào đó, vua sẽ đến với nàng Chính lúc ấy, nàng lo, nàng sợ, nàng sẽ buồn vì nhan sắc không còn

mặn mà, đắm say như trước Nàng phải nghĩ mọi cớ, tìm mọi cách để giữ gìn nhan

sắc Bởi lẽ, người phụ nữ ấy hiểu rằng; vua không cần gì ngoài sắc đẹp của nàng Nhan sắc của nàng là cứu cánh của đời nàng Dù cho nó đã phai lạt theo năm tháng, theo những tháng ngày hờ hững, vô tâm của “đấng cửu trùng” Tâm lí ấy của nàng

là tâm lí rất phụ nữ, của muôn vàn người phụ nữ luôn muốn vịn vào sắc đẹp để giữ gìn hạnh phúc của đời mình

Vậy trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm”, Đặng Trần Côn đã cho thấy vẻ đẹp

phẩm chất, tính cách của người chinh phụ như thế nào dưới góc nhìn của thiên tính

nữ? Cũng như hai nhà thơ trên, họ Đặng cũng dùng bút pháp miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật Bởi lẽ, đây là đặc điểm rất riêng biệt của phụ nữ, của phái yếu

Họ luôn sống thiên nhiều về tình cảm, coi trọng cảm xúc, rất đỗi nhạy cảm, tinh

tế…

Người chinh phụ sống trong tình cảnh lẻ loi, cô đơn sầu muộn Bản nhạc tình

buồn ấy xoay quanh nỗi nhớ thương, tâm trạng cô đơn, nỗi lòng lo lắng và khát khao hạnh phúc đến bỏng cháy:

Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thi ếp riêng bi thiết mà thôi

Bu ồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”

Hay : “Đường thăm thẳm xa vời khôn thấu,

Trang 38

N ỗi nhớ chàng đau đáu nào xong,

C ảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”

Không chỉ tập trung miêu tả những cung bậc cảm xúc bi thương, xót xa và

sức chịu đựng, hi sinh thầm lặng của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến, Đặng

Trần Côn còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ ấy Người chinh phụ thay

chồng làm cha của con thơ, thay phu quân thực hiện trọn đạo vợ hiền dâu thảo Có

thể thấy, đó là thiên chức của người phụ nữ Thiên chức làm vợ, làm mẹ, thiên chức

của một người “vợ hiền dâu thảo” sẵn sàng hi sinh vì chồng con, vì gia đình Đây là tiêu chí rõ ràng nhất để phân biệt nam, nữ, để minh chứng cho góc nhìn dưới thiên tính nữ của tác giả Đặng Trần Côn:

“Lòng lão thân bu ồn khi tựa cửa,

Mi ệng hài nhi chờ bữa mớn cơm

Ng ọt bùi thiếp đã hiếu nam

D ạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”

Tóm lại, bằng cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ, cả ba tác giả Nguyễn

Du, Nguyễn Gia Thiều và Đặng Trần Côn đều đã rất thành công trong việc xây

dựng hình ảnh “tài hoa, hoàn mĩ” về các nhân vật nữ trong tác phẩm của mình Người phụ nữ là hiện thân của phái đẹp, phái yếu; người phụ nữ tài năng và mang nhiều phẩm chất nữ tính: không chỉ dịu dàng, chung thủy mà họ còn vị tha, bao dung, giàu tình yêu thương, giàu đức hi sinh… Điều đáng nói là hầu hết những

phẩm chất “rất nữ” ấy, đã được Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du phát hiện, ca ngợi dưới góc nhìn của thiên tính nữ Đó là sự hấp dẫn trong mắt nhìn

của phái nam, của giới tính và cả của con mắt “người trong cuộc” Bởi lẽ, vẻ đẹp bên ngoài có thể dễ dàng cảm nhận và phát hiện Nhưng thế giới tâm hồn không thể

hời hợt tìm hiểu mà có thể thấy hết được Ở đây, ba tác giả nam đã hóa thân vào nhân vật, làm người “phụ nữ” để viết về họ và cũng ngầm ẩn dụ chỉ chính mình Điểm nhìn này không xuất phát từ góc nhìn nam giới, càng không thể nhìn từ quan điểm của Nho gia Phải là “người phụ nữ” mới có thể thấu hiểu và bộc bạch chân thành, sâu sắc đến như thế!

Trang 39

Vậy lí do vì sao mà cả ba tác giả nam lại có thể “hóa thân” vào các nhân vật

của mình “như thật” đến thế? Thiết nghĩ, không chỉ vì sự chi phối của bối cảnh lịch

sử, hoàn cảnh sống lúc bấy giờ mà còn vì tính cách, đặc điểm con người của ba thi nhân Hoàn cảnh xã hội rối ren, loạn lạc, thối nát khiến hình ảnh nam nhi xuất hiện

ở giai đoạn này không còn mạnh mẽ, hào tráng như nam nhi thuở nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê… Thay vào đó là một cảm quan thời thế yếu ớt, mong manh Lí do thứ hai

là do đặc điểm con người Cả ba đều là quan văn, đều tiếp xúc nhiều với thân phận cung nữ, nhi nữ; lối sống, cách nghĩ, cách cảm của nữ giới cũng đã ảnh hưởng tác động ít nhiều đến tâm thức, tình cảm của ba thi sĩ Đó lí do vì sao cái nhìn của thiên tính nữ đã được xem xét đến trong cảm hứng ngợi ca này của ba tác giả

2.1.2.1 Cái nhìn v ề bi kịch thể chất

Từ cô gái sống trong cảnh “Êm đềm trướng rủ màn che”, Kiều bị cuộc đời đẩy

từ bi kịch này đến bi kịch khác Mà chuỗi bi kịch trong mười lăm năm lưu lạc của

Kiều sao cay đắng, sao xót xa, sao đau thương! Kiều phải sống trong cảnh “Thanh

lâu hai lượt thanh y hai lần”, bị đánh đập, hành hạ, bị giày vò, dẫm đạp, bị bóc lột

nhan sắc, tài năng đến “hoa tàn nhị rửa”, “bướm chán ong chường” Đáng sợ hơn,

Kiều còn phải mang cả chính sinh mệnh của đời mình để đối mặt với sóng gió cuộc đời…Bi kịch thể xác ấy thật đáng sợ!

Kiều lên xe hoa về nhà chồng Nói xuất giá tòng phu nhưng thật ra đó chỉ là

một cuộc mua bán Bởi lẽ, Kiều lấy chồng cũng chỉ để “có ba trăm lạng việc này

m ới xong” Tiền đã biến Kiều thành một “món hàng đắt giá” Tiền đã biến Kiều

thành “món hời” cho Tú Bà Và tiền cũng đã đẩy đời Kiều trôi dạt từ phương xót xa này đến cõi đau đớn khác Ta thấy, đây chính là bi kịch thể xác đầu tiên mở ra cho

cuộc đời nàng Vương Thúy Kiều

Trang 40

Sau bi kịch của một món hàng ấy, Kiều phải tiếp khách cho nhà buôn người

họ Tú Chao ôi! Chặng đường tiếp theo của Kiều sao mà khủng khiếp! Ta chỉ thấy nàng đương đầu với sóng gió, với đau thương Từ một cô gái sống trong cảnh ấm

êm nhung lụa, lễ giáo gia phong, Kiều “được” nhà Tú Bà dạy cách “làm vui”, “làm say” cho thiên hạ Càng cố vẫy vùng chống trả, cô càng phải chịu đựng đau đớn về

thể xác Bởi Tú Bà đã nhẫn tâm :

“ Hung hăng chẳng nói chẳng tra, Đang tay vùi liễu dập hoa tơi bời

Th ịt da ai cũng là người, Lòng nào hòng r ụng, thắm rời chẳng đau

H ết lời thú phục khẩn cầu,

U ốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa.”

Kiều bị Mã Giám Sinh và Sở Khanh lừa, “đóa trà mi” đã nát tan vì những

kẻ bất nhân tính, mang thân xác người khác ra để đày đọa, để trục lợi cho riêng bản thân mình

Và rồi Kiều bị bắt tiếp khách Kiều buộc phải tiếp khách Kiều phải học các

“kĩ năng” để làm vui lòng thiên hạ Chao ôi! Những “ngón nghề” Tú Bà dạy cho

Kiều, truyền cho Kiều khiến ta phải xót xa, đau đớn Bởi đó là nỗi nhục – nỗi nhục

ê chề của thể xác, của một đóa trà mi bị vùi dập không chút thương tiếc, chẳng chút xót xa:

Chơi cho liễu chán hoa chê, Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời

Khi khóe h ạnh, khi nét ngài, Khi ngâm ng ợi nguyệt, khi cười cợt hoa.”

Kiều rơi vào bi kịch – bi kịch của món hàng đem lại nhiều lợi nhuận cho Tú

Bà Thân xác của Kiều trở thành món hàng mua vui cho thiên hạ Cô gái dòng dõi khuê môn đài các đã chính thức trở thành gái giang hồ Sao mà đau đớn và xót xa!

Cảnh Kiều bị nhà Hoạn Thư tra tấn khiến ta cũng phải rùng mình xót xa Bởi

lẽ, thân xác của nàng một lần nữa lại bị vùi dập tơi bời:

“D ạy rằng: Cứ phép gia hình!

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w