1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

NĂNG lực CẠNH TRANH TOÀN cầu

9 388 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 45,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hãy xác định những yếu tố cơ bản của mô hình xác định năng lực cạnh tranh toàn cầu của quốc gia GCIThe Global Competitiveness Index (GCI) là một công cụ mới và toàn diện hơn để đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc giaThe Global Competitiveness Index (GCI) được tạo thành từ hơn 113 biến, trong đó khoảng một hai phần ba đến từ những ý kiến chấp hành khảo sát, và một phần ba đến từ các nguồn công khai. Các biến được tổ chức thành 12 cột chỉ số, với mỗi cột trụ đại diện cho một khu vực được coi như là một yếu tố quyết định của khả năng cạnh tranh. 12 cột chỉ số này được xếp thành 3 nhóm:Sơ đồ 1: Những yếu tố cơ bản của mô hình GCIA Nhóm chỉ số về các yêu cầu cơ bản (Basic Requirements)1. Thể chế (25%)2. Cơ sở hạ tầng (25%)3. Ổn định kinh tế vĩ mô (25%)4. Y tế và giáo dục tiểu học (25%)B Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả (Efficiency Enhancers)5. Đào tạo và giáo dục bậc cao hơn (17%)6. Hiệu quả của thị trường hàng hoá (17%)7. Hiệu quả của thị trường lao động (17%)8. Sự phát triển của thị trường tài chính (17%)9. Công nghệ tiên tiến (17%)10. Quy mô thị trường (17%)C Nhóm chỉ số về sư đổi mới và sự phát triển của các nhân tố (Innovation and sophistication factor)11. Sự phát triển của hệ thống kinh doanh (50%)12. Đổi mới công nghệ (50%)2. Cách tính GCIBảng 1:Bảng tỉ trọng các nhóm chỉ số đối với các nhóm nướcNhóm nước kém phát triển (%)Nhóm nước đang phát triển (%)Nhóm nước phát triển (%)Nhóm A604020Nhóm B355060Nhóm C51030Phương pháp tính điểm:B1: Dựa trên kết quả phản hồi của phiếu điều tra khảo sát ý kiến, diễn đàn kinh tếthế giới (WEF) và các Viện đối tác sẽ thống kê lại kết quả và cho ra giá trị của các chỉ số thành phần. Tiến hành Khảo sát ý kiến là một phần chính của báo cáo cạnh tranh toàn cầu và cung cấp các thành phần chủ chốt mà biến thành một thước đo Báo cáo hàng năm đại diện của môi trường kinh tế của một quốc gia và khả năng của mình để đạt được sự tăng trưởng bền vững. Cuộc điều tra thu thập thông tin giá trị về một phạm vi rộng của các biến mà các nguồn dữ liệu cứng đang khan hiếm hoặc, thường xuyên, không tồn tại. Nó được tiến hành hàng năm, với số lượng người đăng tăng hàng năm (hiện chỉ hơn 11.000) tại 131 quốc gia.B2: Dùng phương pháp cho điểm các chỉ số thành phần đó theo thang điểm 7B3: Tính trung bình cộng các điểm của chỉ số thành phần tính được ở B2 ta được kết quả là giá trị của chỉ số lớn.B4: Tính PCI theo công thức:3. Hãy phân tích năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam 3 năm gần đây 20152017Bảng 2: Thứ hạng của Việt Nam qua các năm

Trang 1

Hãy xác định những yếu tố cơ bản của mô hình xác định năng lực cạnh tranh toàn cầu của quốc gia GCI

The Global Competitiveness Index (GCI) là một công cụ mới và toàn diện hơn để đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc gia

The Global Competitiveness Index (GCI) được tạo thành từ hơn 113 biến, trong đó khoảng một hai phần ba đến từ những ý kiến chấp hành khảo sát, và một phần ba đến từ các nguồn công khai Các biến được tổ chức thành 12 cột chỉ

số, với mỗi cột trụ đại diện cho một khu vực được coi như là một yếu tố quyết định của khả năng cạnh tranh 12 cột chỉ số này được xếp thành 3 nhóm:

Sơ đồ 1: Những yếu tố cơ bản của mô hình GCI

A- Nhóm chỉ số về các yêu cầu cơ bản (Basic Requirements)

1 Thể chế (25%)

GCI

X1: Chỉ số về các yêu cầu cơ bản

-X1.1: Thể chế (25%) -X1.2: Cơ sở hạ tầng (25%) -X1.3: Ổn định kinh tế vĩ mô (25%)

-X 1.4: Y tế và giáo dục tiểu học (25%)

X2: Chỉ số nâng cao hiệu quả

-X2.1: Đào tạo và giáo dục bậc cao hơn (17%)

-X2.2: Hiệu quả của thị trường HH (17%)

-X2.3: Hiệu quả của thị trường lao động (17%)

-X2.4: Sự phát triển của thị trường tài chính (17%)

-X2.5: Công nghệ tiên tiến (17%) -X2.6: Quy mô thị trường (17%)

X3: Chỉ số sáng tạo -X3.1: Sự phát triển của hệ thống kinh doanh (50%)

-X3.2: Đổi mới công nghệ (50%)

Trang 2

2 Cơ sở hạ tầng (25%)

3 Ổn định kinh tế vĩ mô (25%)

4 Y tế và giáo dục tiểu học (25%)

B- Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả (Efficiency Enhancers)

5 Đào tạo và giáo dục bậc cao hơn (17%)

6 Hiệu quả của thị trường hàng hoá (17%)

7 Hiệu quả của thị trường lao động (17%)

8 Sự phát triển của thị trường tài chính (17%)

9 Công nghệ tiên tiến (17%)

10 Quy mô thị trường (17%)

C- Nhóm chỉ số về sư đổi mới và sự phát triển của các nhân tố (Innovation and sophistication factor)

11 Sự phát triển của hệ thống kinh doanh (50%)

12 Đổi mới công nghệ (50%)

2 Cách tính GCI

Bảng 1:Bảng tỉ trọng các nhóm chỉ số đối với các nhóm nước

Nhóm nước kém phát triển (%)

Nhóm nước đang phát triển (%)

Nhóm nước phát triển (%)

Phương pháp tính điểm:

B1: Dựa trên kết quả phản hồi của phiếu điều tra khảo sát ý kiến, diễn đàn

kinh tếthế giới (WEF) và các Viện đối tác sẽ thống kê lại kết quả và cho ra giá trị của các chỉ số thành phần Tiến hành Khảo sát ý kiến là một phần chính của báo cáo cạnh tranh toàn cầu và cung cấp các thành phần chủ chốt mà biến thành một thước đo Báo cáo hàng năm đại diện của môi trường kinh tế của một quốc gia và khả năng của mình để đạt được sự tăng trưởng bền vững Cuộc điều tra thu thập thông tin giá trị về một phạm vi rộng của các biến mà các nguồn dữ liệu cứng đang khan hiếm hoặc, thường xuyên, không tồn tại Nó được tiến hành hàng năm, với số lượng người đăng tăng hàng năm (hiện chỉ hơn 11.000) tại 131 quốc gia

Trang 3

B2: Dùng phương pháp cho điểm các chỉ số thành phần đó theo thang điểm 7 B3: Tính trung bình cộng các điểm của chỉ số thành phần tính được ở B2

ta được kết quả là giá trị của chỉ số lớn

B4: Tính PCI theo công thức:

3 Hãy phân tích năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam 3 năm gần đây 2015-2017

Bảng 2: Thứ hạng của Việt Nam qua các năm.

Năm 2012-2013 2013-2014 2014-2015 2015-2016 2016-2017 2017-2018

Ngày 26-9 vừa qua, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố Báo cáo thường niên về NLCT toàn cầu (GCR 2017-2018), trong đó Việt Nam tăng năm

bậc so với năm 2016 Theo báo cáo này, Việt Nam được xếp hạng 55 trên 137 quốc gia, là thứ hạng cao nhất của Việt Nam kể từ khi WEF đưa ra chỉ số NLCT

toàn cầu tổng hợp vào năm 2006 Với thứ hạng này, Việt Nam xếp trên một số nước ASEAN như Philippines (56), Campuchia (94), Lào (98), nhưng xếp dưới Indonesia (36), Thái Lan (32), Malaysia (23), Singapore (3), và hai nền kinh tế lớn của châu Á là Trung Quốc (27) và Ấn Độ (40)

Cụ thể các yếu tố như sau:

Bảng 3: Điểm các yếu tố cơ bản của mô hình GCI của Việt Nam năm 2017-2018

4 Sự phát triển của thị trường tài chính 71 4.0 Y

C Nhóm chỉ số về sự đổi mới và sự phát

triển của các nhân tố

Trang 4

1 Sự phát triển của hệ thống kinh doanh 100 3.7 M

Xu hướng cải thiện được ghi nhận ở nhóm yếu tố điều kiện cơ bản (thể chế,

cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục phổ thông) và nhóm yếu tố thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế (giáo dục đại học, hiệu quả của thị trường hàng hóa và thị trường lao động, độ phát triển của thị trường tài chính, độ sẵn sàng về công nghệ, và quy mô của thị trường)

Tuy nhiên, nhóm yếu tố về đổi mới sáng tạo và mức độ tinh thông trong kinh doanh (số lượng và chất lượng nhà cung ứng địa phương, sự phát triển của cụm ngành kinh tế, độ rộng của chuỗi giá trị ) có xu hướng cải thiện rất chậm, thậm chí suy giảm

Nhìn theo thang điểm tuyệt đối 1-7 thì xu hướng cải thiện được thể hiện khá rõ nét ở NLCT toàn cầu tổng hợp và nhóm yếu tố thứ nhất và thứ hai Trong khi đó, điểm số của nhóm yếu tố thứ ba vẫn ở mức thấp và không cải thiện mấy trong nhiều năm qua

Việc đạt thứ hạng 55 trong bảng NLCT toàn cầu năm 2017 là một chỉ dấu đáng khích lệ cho nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, nếu xét riêng theo từng nhóm yếu tố thành phần cấu thành chỉ số NLCT tổng hợp thì Việt Nam chỉ đứng trên Campuchia và Lào trong số các nước kể ở trên

Ở nhóm yếu tố thứ nhất, Việt Nam chỉ xếp hạng 75 so với Philippines là

67 Ở nhóm yếu tố thứ hai, Việt Nam xếp hạng 62, dưới Philippines một bậc Tương tự, ở nhóm yếu tố thứ ba, Việt Nam xếp hạng 84, chỉ hơn Lào một bậc, nhưng thấp hơn nhiều so với Philippines (61) Điều này cho thấy, mặc dù NLCT tổng hợp của nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, nhưng xét về thực lực ở từng yếu tố riêng lẻ thì Việt Nam cần nỗ lực nhiều để bắt kịp các nước trong khu vực

Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển với mức thu nhập còn khá thấp, việc nâng cao NLCT tổng hợp đòi hỏi phải cải thiện tất cả các nhóm yếu tố Các nhà quản lý cần nhìn rõ hơn vào nguyên nhân đằng sau từng yếu tố nhỏ để tìm hướng cải thiện Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết không đi vào phân tích từng nguyên nhân cụ thể nhưng chỉ ra một số yếu tố có ảnh hưởng xấu đến NLCT của nền kinh tế

Trang 5

Trong nhóm yếu tố thứ nhất, bên cạnh sự tiến bộ (dù vẫn còn ở mức thấp)

về y tế và giáo dục phổ thông (từ hạng 88 năm 2007 lên 67 năm 2017) và cơ sở

hạ tầng (từ 89 lên 79), hai yếu tố còn lại có xu hướng suy giảm Yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô giảm 26 bậc từ 51 về 77, và yếu tố thể chế giảm chín bậc từ

70 về 79 Điểm yếu ở nhóm yếu tố này bao gồm: kiểm soát hối lộ-tham nhũng (hạng 109 năm 2017), bảo vệ sở hữu trí tuệ (99), tính hiệu quả của luật pháp trong giải quyết tranh chấp (82), độ minh bạch trong ban hành chính sách (82), thâm hụt ngân sách (117), tình trạng nợ công (92), chất lượng hạ tầng giao thông hàng không (103) Đặc biệt, các yếu tố về thiết chế quản trị của khu vực tư nhân còn yếu: hiệu lực của báo cáo và thanh tra tài chính (115), hiệu quả của hội đồng quản trị (130), quy định về bảo vệ cổ đông nhỏ (98)

Đối với nhóm yếu tố thứ hai, ngoài quy mô thị trường (hạng 31) và hiệu quả của thị trường lao động (57), các yếu tố còn lại có thứ hạng khá thấp, trong khoảng 70-90 Đặc biệt, NLCT về hiệu quả của thị trường hàng hóa và lao động

có xu thế giảm trong mấy năm gần đây Những điểm cần lưu ý bao gồm chất lượng giáo dục đại học - đặc biệt là đào tạo quản lý (hạng 120), độ cạnh tranh của thị trường (108), các quy định - thủ tục về đầu tư nước ngoài (105), độ lành mạnh của hệ thống ngân hàng (112), và mức độ sẵn có của công nghệ mới (112) Nhóm yếu tố thứ ba là điểm yếu lâu dài của Việt Nam, với điểm số và thứ hạng thấp (70-100) và không cải thiện nhiều trong mấy năm qua Những điểm yếu bao gồm năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp (79), chất lượng nghiên cứu khoa học (90), mức độ sẵn có của chuyên gia và kỹ sư (78), số lượng

và chất lượng nhà cung ứng địa phương (105 và 116), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - dựa vào lao động, tài nguyên hay chất lượng sản phẩm (102), độ rộng của chuỗi giá trị (106), và công tác quảng bá tiếp thị của doanh nghiệp (105)

3 Hãy xác định một số chính sách quan trọng nhất của Việt Nam xuất phát từ kết luận của mô hình đó.

- Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc

Trang 6

gia, nhằm cải thiện trực tiếp vào thủ tục hành chính cũng như xây dựng những

bộ luật liên quan tới việc kinh doanh như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư

- Các hiệp ước thương mại Quốc tế FTA

- Cần có những chính sách nâng cao, tiếp tục phát triển những yếu tố mạnh, đóng vai trò lớn trong nâng cao vị trí trên bảng GCI như: Y tế và giáo dục tiểu học, quy mô thị trường và sự phát triển của hệ thống kinh doanh

- Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận lại những yếu tố còn yếu kém Do yếu tố nào cũng vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của nền kinh

tế, những yếu tố kém hơn cần cải thiện như: Thể chế, Sự phát triển của thị trường tài chính, Công nghệ tiên tiến, và Đổi mới công nghệ

Trang 7

Bảng 4: Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018

Hong Kong

United Arab

7

Trang 8

Belgium 5.23 20 Jordan 4.30 65 Ghana 3.72 111

Russian

8

Trang 9

Mauritius 4.52 45 Namibia 3.99 90 Mozambique 2.89 136

9

Ngày đăng: 13/04/2018, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w