NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ 1... NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ 2.. Với những chiến công lập được trong kháng chiến chống quân Minh, ông được xếp vào hàng
Trang 2NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
Trong "Lịch triều hiến chương loại chí", Phan Huy Chú đã nhận định: "Nghệ An núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có tiếng hơn cả Nam châu Người thì thuận hoà mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quả, của lạ Những vị thần ở núi, ở biển phần nhiều có tiếng linh thiêng Được khí tốt của sông núi, nên sinh ra nhiều bậc anh hiền" Nhìn suốt quá trình hình thành và phát triển của xứ Nghệ sẽ thấy, những nhận định của Phan Huy Chú quả là xác đáng.
Trang 3NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
1. Mai Thúc Loan (? - 726)
Mai Thúc Loan quê ở xã Nam Thái, huyện Nam Đàn Sử cũ viết rằng: Mai Thúc Loan lớn lên "da đen như sắt", "thân dài hơn bảy thước", "khí lộ hùng vĩ", "mọi người đều sợ phục" Bấy giờ, nhân dân ta đang vô cùng khổ cực vì ách thống trị, áp bức, bóc lột nặng nề của nhà Đường Để được bề trên khen ngợi, thăng chức, bọn quan lại người phương Bắc đã chuyên chở các thứ quả ngon, nhất là loại vải tươi từ An Nam (nước ta) về tận kinh đô Tràng An dâng cho bọn quý tộc, vua chúa Đến mùa vải chín hàng năm, hàng loạt trai tráng bị bắt gánh vải chạy chuyền nhau vượt rừng qua núi Nhiều người phải bỏ mạng dọc đường
Trang 4NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
Trước tình cảnh đó, năm 722, Mai Thúc Loan dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi nhà Đường, chiếm phủ thành, tự xưng Hoàng đế Ông giữ vùng hiểm yếu Sa Nam và vùng núi Đụn (Nam Đàn) làm căn cứ Tại đây, ông xây dựng thành Vạn An Tên đô hộ Quang Sở Khách đã nhiều lần đem quân đến đàn áp nhưng đều bị thất bại Nghĩa quân ngày càng lớn mạnh và đã đánh chiếm được phủ lỵ Tống Bình (Hà Nội) Hoảng sợ, chúng phải cầu cứu vua Đường Năm 722, tên Nội thị Tả môn Tướng quân Dương Tư Húc phối hợp với quân của Quang Sở Khách đánh vào thành Tống Bình rồi vào Châu Hoan Nghĩa quân chống trả quyết liệt nhưng dần yếu thế, phải rút về vùng rừng núi Hùng Sơn Khi Mai Thúc Loan qua đời, cuộc khởi nghĩa bị đàn áp và thất bại Hiện nay, mộ của ông được đặt tại huyện Nam Đàn.
Trang 5NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
2. Nguyễn Xí (1397 - 1465)
Nguyễn Xí quê ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, xuất thân trong một gia đình làm nghề muối Sau khi cha mất, ông cùng anh trai là Nguyễn Biện ra Thanh Hoá làm gia thần của Lê Lợi Vì có mưu lược, lại giỏi võ nghệ nên được Lê Lợi trọng dụng, giao cho chỉ huy đội quân Thiết đột của nghĩa quân Lam Sơn Năm 1427, ông lãnh đạo nghĩa quân đánh trận Xương Giang diệt hơn 5 vạn tên địch, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc Với những chiến công lập được trong kháng chiến chống quân Minh, ông được xếp vào hàng khai quốc công thần và được Lê Lợi phong Thượng Tướng quân Không những thế, Nguyễn Xí còn có công lớn dẹp vụ phản nghịch Nghi Dân, lập vua Lê Thánh Tông lên ngôi vua, nên được phong làm Tả Tướng quân, Thái phó Cương Quốc công Sau khi ông mất, nhân dân đã lập đền thờ ông tại Nghi Lộc.
Trang 6NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
3 Hồ Sỹ Dương (1622 - 1681)
Ông quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu Năm 1645, ông đỗ Giải nguyên Năm 1652, Hồ Sỹ Dương đỗ tiến sĩ và làm quan đến đến chức Tham Tụng, Thượng thư Bộ hình kiêm Đông các đại học sĩ, tước Duệ Quận công ông từng đem quân đi kinh lược Tuyên Quang chinh phục được thủ lĩnh người dân tộc là Ma Thúc Lan quy thuận Năm 1673, ông làm chánh sứ sang Trung Quốc giải quyết tranh chấp ở biên giới Việt - Trung thắng lợi Khi ông mất được thăng Thượng thư Bộ Hộ, Thiếu bảo Ông tham dự biên soạn bộ sách "Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên" Không những thế, ông còn để lại nhiều tác phẩm: Hồ thượng thư gia lễ, Hoan Châu phong thổ ký, Trung san Lam Sơn thực lục,
Trang 7NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
4 Hồ Sĩ Đống (1733 - 1785)
Hồ Sĩ Đống quê ở Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu) Ông đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1772 và làm quan đến chức Thượng thư Năm 1777, ông được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh Khi đến Động Đình, Chánh sứ là Vũ Trần Thiệu ốm chết Ông biết chúa Trịnh Sâm đã bí mật giao nhiệm vụ cho Vũ Trần Thiệu xin nhà Thanh phong Vương Vì thế, khi Vũ Trần Thiệu bị đột tử, Hồ Sĩ Đống đã đốt tờ biểu của Trịnh Sâm Khi biết chuyện, Trịnh Sâm rất tức giận, nhưng không làm gì được ông Ông mất năm 1785, hưởng thọ 52 tuổi.
Trang 8NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
5. Hồ Xuân Hương (1772 - 1822)
Nhà thơ Hồ Xuân Hương sinh năm 1772 tại Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu. Là nhà thơ kiệt xuất, một hiện tượng, tài năng văn học Việt Nam.
Thơ của bà được các nhà nghiên cứu sưu tập lại trên 50 bài, phong cách thơ của Hồ Xuân Hương quen dựa vào ca dao, tục ngữ, truyện tiếu lâm, câu đối, nói lái, ẩn dụ của ngôn ngữ dân gian để sáng tạo nên những áng thơ "nói tục giảng thanh" - biểu hiện tinh thần nhân đạo, phê phán xã hội phong kiến sâu cay, nghệ thuật ngôn từ điêu luyện. Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là "Bà chúa thơ Nôm", "một tâm hồn thành khẩn, sâu sắc, có dũng khí, táo gan, một hồn thơ hết sức độc đáo, không những có dụng ý tốt, mà những ý tốt ấy lại hoá thành thơ hay, thơ rất hay, hay vào loại những thiên tài văn học bậc nhất của dân tộc ta".
Trang 9NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
6. Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871)
Nguyễn Trường Tộ quê ở xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên. Là người uyên bác đông tây kim cổ, ông được giám mục Ngô Gia Hậu đưa sang Pháp du học. Năm 1863, ông về nước. Với khát vọng canh tân đất nước, ông đã dâng nhiều bản điều trần lên vua Tự Đức, nhưng không được Tự Đức tin dùng.
Là người theo đạo Thiên Chúa, được chu du khắp thế giới phương Tây, nhưng ông không bị địch mua chuộc, mà luôn có ý phụng sự Tổ quốc. Ông giỏi nhiều lĩnh vực, nhất là nghề kiến trúc, mỏ, địa lý. Ông từng giúp Hoàng
Trang 10NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
7. Hồ Bá Ôn (1840 - 1885)
Ông sinh năm 1840, quê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu. Ông làm quan đến chức án sát tỉnh Nam Định. Năm 1883, khi Pháp tấn công Nam Định, ông đã cùng binh lính và nhân dân chiến đấu cho đến lúc bị thương nặng, ông được binh lính đưa về quê và mất tại đó.
Trang 11NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
8. Nguyễn Thức Tự (1848 - 1917)
Nguyễn Thức Tự quê ở xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc. Ông đỗ cử nhân năm 1868. Là người học giỏi, thông minh hơn người, ông được bổ nhiệm chức Sơn phòng sứ. Khi vua Hàm Nghi mất, ông từ quan về làng dạy học. Nguyễn Thức Tự là người thầy nổi tiếng uyên bác và nhân cách cao đẹp. Ông đã đào tạo được nhiều bậc nhân sĩ, trí thức, những nhà hoạt động chính trị có tên tuổi như: Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thái Thân, Nguyễn Đức Công, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Đình Kiên, Đặng Thúc Hứa, Đặng Văn Bá,
Khi ông mất, Phan Bội Châu đang hoạt động ở nước ngoài đã làm văn bia gửi về, trong đó có câu: Đạo thông trời đất, học rộng cổ kim, thầy học về kinh truyện dễ có, còn thầy học về nhân cách khó tìm.
Trang 12NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
9. Phan Bội Châu (1867 - 1940)
Phan Bội Châu sinh ra ở Xuân Hoà, huyện Nam Đàn. Ngay từ nhỏ, cậu bé San đã nổi tiếng là người thông minh, mẫn tiệp. Năm 16 tuổi, ông đỗ đầu thi Hương với bài phú "Hồ thương khoá lư", được sỹ tử cả xứ Nghệ lúc đó thuộc lòng. Năm 17 tuổi, ông cùng Trần Văn Lương thành lập đội "Sỹ tử Cần Vương" ở quê nhà. Năm 1900, ông đỗ Giải nguyên trường thi Nghệ An.
Ông được xếp vào "Tứ hổ" của đất Nam Đàn gồm San, Đôn, Lương, Quý. Ngoài ra, ông còn có bài phú nổi tiếng "Bái thạch
vi huynh" được Tiến sỹ Trần Ngọc Vương sau này đánh giá:
"Phan Bội Châu quyết định xuất hiện trong tư cách một tay kiệt liệt giữa trường văn trận bút, cất giọng "áp đảo quần hùng" với bài phú "Bái thạch vi huynh", một viên ngọc sáng ngời ném ra làm loá mắt không chỉ sĩ tử toàn quốc mà hết thảy các nhà khoa bảng đương thời, một sáng tác chứng minh ngay lập tức ông là "Người hay chữ nhất nước Nam".
Trang 13NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
Không những thế, Phan Bội Châu còn nhà cách mạng tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX, người có lối sống bình dị, gắn bó với nhân dân lao động. Hoạt động của ông rộng khắp cả 3 miền Bắc - Trung - Nam. ông vận động thành lập Hội Duy Tân, khởi xướng phong trào Đông Du (năm 1905), xuất dương sang Nhật Bản. Năm 1908, ông sang Thái Lan xây dựng căn cứ cách mạng. Cách mạng Tân Hợi (năm 1911), ông sang Trung Quốc thành lập "Việt Nam Quang phục Hội" (1912) và Hội "Chấn Hoa hưng á".
Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt ở Thượng Hải (năm 1925) rồi áp giải về Hà Nội kết án tù khổ sai chung thân. Hành động này của thực dân Pháp làm dấy lên phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu nổ ra trên toàn quốc. Vì thế, thực dân Pháp phải đưa ông về giam lỏng ở Huế cho đến khi ông qua đời năm 1940. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá về Phan Bội Châu như sau: "Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vùng
nô lệ tôn sùng",
Trang 14NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
10. Đặng Thúc Hứa (1870 - 1931)
Ông quê ở xã Thanh Xuân (Thanh Chương), đỗ tú tài năm 1900. Ông hoạt động cách mạng theo sự chỉ đạo của Phan Bội Châu trong phong trào Duy Tân, Đông Du. Năm 1910, ông xuất dương sang Thái Lan hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng trong Việt kiều. Năm 1919, với tư cách là thành viên của Việt Nam Quang phục Hội, ông tiếp thu tư tưởng cách mạng vô sản và tích cực hoạt động theo sự hướng
Trang 15NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
11. Hồ Tùng Mậu (1896 - 1951)
Hồ Tùng Mậu sinh năm 1896, tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Năm 19 tuổi, ông đỗ kỳ thi Hương rồi chuyển sang học quốc ngữ và tiếng Pháp. Nhưng do nhà nghèo, ông phải lên Thanh Chương để dạy học.
Năm 1920, ông cùng hàng chục thanh niên Nghệ An sang Thái Lan trong tổ chức của Đặng Thúc Hứa. Qua quá trình theo dõi, phát hiện thấy năng lực và chí hướng của ông, Đặng Thúc Hứa đã gửi Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn sang Trung Quốc học tập. Sau đó, ông cùng Lê Hồng Sơn củng cố nhóm "Tâm Tâm xã" thành "Tân Việt Thanh niên Đoàn". Năm 1924, được Nguyễn ái Quốc giác ngộ, Hồ Tùng Mậu đã trở thành người học trò xuất sắc, trung thành, người bạn chiến đấu rất mực thủy chung của Bác. Năm 1926, Hồ Tùng Mậu gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trang 16NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
Từ năm 1927 đến đầu năm 1928, ông nhiều lần bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Ra tù, ông cùng các đồng chí khôi phục lại các tổ chức cách mạng. Hồ Tùng Mậu là người từng trải, khôn khéo, mềm dẻo, biết hợp tác để ngăn chặn hành động phiêu lưu của những phần tử cơ hội, cảm hóa thuyết phục đồng chí để tránh chia rẽ, bè phái.
Ngày 6-6-1931, cảnh sát Anh ở Hương Cảng (Hồng Kông) bắt giam Nguyễn ái Quốc. Chính Hồ Tùng Mậu đã cùng Trương Văn Lĩnh liên lạc với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ, vận động luật sư Lô-giơ-bai đấu tranh, buộc chính quyền Anh phải trả tự do cho đồng chí Nguyễn ái Quốc.
Ngày 30-6-1931, cảnh sát Anh ở Hương Cảng bắt giam Hồ Tùng Mậu và chuyển giao cho thực dân Pháp. Chúng giam ông từ Nhà lao Vinh rồi lần lượt chuyển qua các nhà lao ở Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Trà Kê. Dù ở nhà tù nào, Hồ Tùng Mậu cũng tổ chức báo miệng tuyên truyền cách mạng.
Trang 17NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được giao nhiều trọng trách quan trọng như Giám đốc kiêm Chính uỷ Trường Quân chính Trung Bộ; Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV; Uỷ viên Khu uỷ Liên khu IV. Năm 1947, ông được cử giữ chức Tổng Thanh tra Nhà nước. Năm 1949, được cử giữ chức Tổng Thanh tra chính phủ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) ông được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch đầu tiên của Hội Hữu nghị Việt - Hoa.
Ngày 23-7-1951, trên đường đi công tác tại Liên khu IV, ông bị máy bay địch ném bom và hy sinh. Nghe tin ông mất, Bác Hồ rất đau xót. Bác trực tiếp viết điếu văn và truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh.
Trang 18NHỮNG CON NGƯỜI LÀM RẠNG DANH XỨ NGHỆ
12. Lê Hồng Sơn (1899 - 1933)
Ông sinh năm 1899 ở xã Xuân Hoà, Nam Đàn. Sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Năm 1919, Lê Hồng Sơn sang Thái Lan hoạt động và được Đặng Thúc Hứa gửi sang học tại Trường Quân sự Hải Nam. Tại đây, ông được tiếp xúc với cụ Phan Bội Châu. Nhưng qua nhiều năm hoạt động, Lê Hồng Sơn thấy đường lối và phương pháp của cụ Phan bế tắc, ông cùng Hồ Tùng Mậu và một số đồng chí khác lập nhóm "Tâm Tâm xã".
Năm 1925, Lê Hồng Sơn được gặp Bác Hồ và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1926, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những năm 1928 - 1929, bị địch truy lùng ráo riết, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tan vỡ, Lê Hồng Sơn vẫn kiên trì củng cố tổng hội và có xu hướng sàng lọc các nhân tố tích cực để chuẩn bị điều kiện cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông lập ra "Hội trù bị tổ chức cộng sản", sau đó cùng đồng chí Hồ Tùng Mậu lập ra Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng ở Trung Quốc. Lê Hồng Sơn là người tích cực hoạt động, giúp Bác Hồ trong việc hợp nhất các tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.