1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn bảo vệ rừng phòng hộ

67 769 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 304,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục những bất cập nêutrên vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những mặt lý luận cũng như thực tiễn của pháp luật về phát triển và bảo vệ rừng phòng h

Trang 1

ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ - PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điện Biên là một tỉnh miền núi, biên giới, tổng diện tích tự nhiên là

954.125,06 ha; trong đó 50% diện tích tự nhiên có độ cao trên 1.000 m so vớimặt nước biển, 70% diện tích có độ dốc trên 250; địa hình hiểm trở, chia cắtmạnh, có nhiều sông, suối và nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn của sông Đà,sông Mã và sông Mê Kông; giao thông đi lại hết sức khó khăn Trên địa bàn tỉnhhiện có 19 dân tộc đang sinh sống, chủ yếu là người dân tộc thiểu số; dân số toàntỉnh trên 55 vạn người, trong đó gần 80% dân số sống nhờ vào canh tác nôngnghiệp, phần lớn diện tích sản xuất lương thực là trên đất dốc Tình hình quốcphòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc giađược giữ vững; hoạt động đối ngoại tiếp tục được tăng cường, mở rộng

Tuy nhiên tình trạng chặt phá rừng làm nương, khai thác rừng trái phép vàcác hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng diễn biến ngày càngphức tạp, có chiều hướng gia tăng, đặc biệt tại một số địa bàn như: huyện MườngNhé, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Điện Biên Đông Để khắc phục những bất cập nêutrên vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những mặt

lý luận cũng như thực tiễn của pháp luật về phát triển và bảo vệ rừng phòng hộ,

từ đó tìm ra được nguyên nhân của những hạn chế, bất cập, xác định các giảipháp khoa học để bảo đảm hoạt động phát triển và bảo vệ rừng hiệu quả Xuất

phát từ thực tế này, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về phát triển, bảo vệ rừng

Trang 2

phòng hộ và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Điện Biên” làm đề tài bảo vệ luận vănthạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Phát triển và bảo vệ rừng phòng hộ là một vấn đề luôn thu hút được nhiều

sự quan tâm của các nhà khoa học nghiên cứu pháp lý Tiêu biểu có thể kể đếnmột số công trình nghiên cứu như:

- Tác giả Hà Công Tuấn với Luận án Tiến sĩ đề tài “Quản lý nhà nướcbằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”, Học việnChính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2006 Luận án đi vào phân tíchđánh giá những bài học kinh nghiệm về quản lí rừng quá các giai đoạn lịch sử,đặc biệt là thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệrừng ở Việt Nam Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nướcbằng pháp luật lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam trong những năm tới

- Tác giả Nguyễn Thanh Huyền với Luận án Tiến sĩ đề tài “Hoàn thiệnpháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay”, Đại họcquốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2013 Luận án trình bày những vấn đề lý luận vềpháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Thực trạng, định hướng và giảipháp hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiệnnay

- Tác giả Lê Văn Hà với luận văn thạc sĩ “Trách nhiệm hình sự đối với tội

vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và vấn đề đấu tranh chống vàphòng ngừa tội phạm này trên địa bàn tỉnh Gia Lai” Đại học Luật Hà Nội, bảo vệnăm 2002 Luận văn Trình bày những vấn đề chung về tình hình tội phạm của tội

vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Phân tích tình hình, nguyênnhân, điều kiện phạm tội trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 1995 đến năm 2001.Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội viphạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng

Trang 3

- Tác giả Nguyễn Thanh Huyền với luận văn thạc sĩ “Một số vấn đề cơbản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”, Đại học quốc gia Hà Nội,bảo vệ năm 2004 Luận văn trình bày ý nghĩa môi sinh của rừng và vai trò củapháp luật trong việc bảo vệ rừng So sánh pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam vớipháp luật bảo vệ rừng ở một số quốc gia khác nhằm rút ra những kinh nghiệmquý báu Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ rừng ở nước ta và đưa ra phươnghướng hoàn thiện về mặt xây dựng pháp luật bảo vệ rừng cũng như cách thứcthực hiện

- Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích với luận văn thạc sĩ “Xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng”, Đại học quốc gia Hà Nội,bảo vệ năm 2010 Luận văn trình bày những vấn đề lý luận và pháp luật về xửphạt vi phạm hành chính lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng Nghiên cứu thực trạngquy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng Đề ra các giải pháp hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý

Trang 4

- Tác giả Nguyễn Thị Tiến với luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện cơ chế pháp lý

về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng ở nước tahiện nay”, Đại học Luật Hà Nội, bảo vệ năm 2010

- Tác giả Nguyễn Hải Âu với Luận văn thạc sĩ đề tài “Pháp luật bảo vệmôi trường rừng ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” Đại họcLuật Hà Nội, bảo vệ năm 2001

Ngoài ra còn một số các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật như:Tác giả Trần Thanh Lâm với bài viết “Bảo vệ, phát triển rừng và vai trò của quản

lý nhà nước” trên tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính, Số 11/2011;Tác giả Vũ Thị Duyên Thủy với bài viết “Đánh giá sự phù hợp của pháp luật bảo

vệ rừng ở Việt Nam với các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường” tạp chí Luậthọc, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2016; Tác giả Nguyễn Văn Nghiệp vớibài viết “Giải pháp khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ rừng ở TâyNguyên”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp, Số 24/2015;Tác giả Cao Anh Đức với bài viết “Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng cácquy định về quản lý, khai thác và bảo vệ rừng” tạp chí Kiểm sát, Viện Kiểm sátnhân dân tối cao, Số 22/2010…

Như vậy, trong khoa học pháp lý nói chung thì các vấn đề phát triển vàbảo vệ rừng không còn là những vấn đề nghiên cứu hoàn toàn mới Nhưng riêng

vấn đề Pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Điện Biên chưa được các công trình nói trên nghiên cứu một cách toàn

diện, chuyên biệt và rõ ràng Vì vậy, có thể nói vấn đề mà đề tài tác giả tiến hànhnghiên cứu dưới một góc độ nào đó vẫn có tính mới và mang tính cấp thiết trongkhoa học pháp lý Việt Nam, và như vậy nó cần được quan tâm hợp lý, tiếp tụcđược giải quyết trong tương lai

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Trang 5

Nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận pháp luật về phát triển rừng và bảo vệrừng phòng hộ trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luậttrong thực tế tại tỉnh Điện Biên Từ đó, luận văn đề xuất các quan điểm và giảipháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng các quy định pháp luật về phát triểnrừng và bảo vệ rừng phòng hộ.

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật về phát triển rừng và bảo

vệ rừng phòng hộ; làm rõ những đặc trưng và vai trò của pháp luật về phát triểnrừng và bảo vệ rừng phòng hộ

Nghiên cứu những quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng hiện hành

về phát triển rừng và bảo vệ rừng phòng hộ Với nhiệm vụ này, luận văn đi sâuphân tích nội dung các quy định về phát triển rừng và bảo vệ rừng phòng hộ theoLuật bảo vệ và phát triển rừng; tìm hiểu về mục đích, cơ sở của các quy địnhnày; phân tích tính kế thừa và phát triển, cũng như những điểm mới để có cáchhiểu đúng đắn, phù hợp nhất với khoa học pháp lý về phát triển rừng và bảo vệrừng phòng hộ và thực tiễn đời sống xã hội Đồng thời, luận văn cũng sẽ rút ranhững điểm bất cập, chưa hợp lý, thiếu tính khoa học của các quy định này, đểlàm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện pháp luật phát triển rừng và bảo vệ rừngphòng hộ

Đề xuất phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luậtphát triển rừng và bảo vệ rừng phòng hộ, góp phần vào công cuộc ổn định vàphát triển đời sống xã hội của nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của luận văn là pháp luật về phát triển rừng và bảo vệ rừngphòng hộ

Trang 6

Luận văn không đi nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến rừng phòng hộ

mà chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về: pháp luật về phát triểnrừng và bảo vệ rừng phòng hộ Trên cơ sở đó, làm rõ hơn pháp luật nước ta vềphát triển rừng và bảo vệ rừng phòng hộ trên cơ sở Luật bảo vệ và phát triểnrừng 2004 các văn bản hướng dẫn liên quan

Về phạm vi không gian nghiên cứu, luận văn sẽ đi vào nghiên cứu thựctiễn áp dụng pháp luật về phát triển rừng và bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàntỉnh Điện Biên Còn phạm vi về thời gian là thực tiễn hoạt động phát triển rừng

và bảo vệ rừng phòng hộ ở Điện Biên từ năm 2010 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin:Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biệnchứng Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hìnhthành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu

xã hội, còn về phần mình, xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật Về lýthuyết và thực tiễn cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triểncủa các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trìnhthực hiện và áp dụng pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu:

- So sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật với thực tế công tácphát triển rừng và bảo vệ rừng phòng hộ

- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu thống kê từ thực tế, từ cơ sởphân tích những số liệu thống kê để có cơ sở để chứng minh những vấn đề đãđưa ra

Trang 7

Tham khảo ý kiến của những nhà nghiên cứu thông qua các phương tiệnthông tin như sách, báo, tạp chí, website… để xử lý, tổng hợp những thông tincần thiết nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu Từ đó phân tích, bình luận vàđưa ra ý kiến của bản thân để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu.

6 Kết cấu luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương

Trang 8

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT

TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ

1.1 Nhận thức về phát triển, và bảo vệ rừng phòng hộ

Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, là

bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn bao gồm rừng tựnhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng vànhững yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng (gọi chung là quần xã sinh vật) Do

đó, rừng và tài nguyên rừng luôn là đối tượng bị con người xâm phạm nghiêmtrọng Các công tác về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng do các chủ thể có thẩmquyền nhằm tổ chức, giữ gìn, phát triển bền vững tài nguyên rừng ngày càngđược chú trọng và nâng cao với xã hội

Kết quả đánh giá trong nhiều năm cho thấy, mặc dù tổng diện tích rừngcủa Việt Nam tăng từ 12,3 triệu ha năm 2004 tới năm 2016 tăng lên trên 14 triệu

ha, nhưng rừng phòng hộ lại là đối tượng có nhiều biến động lớn về diện tíchtrong ba loại rừng, với diện tích giảm trung bình khoảng 2%/năm Có thể thấy,tình trạng rừng phòng hộ đầu nguồn đang bị xâm phá, suy giảm, nguyên nhân là

do tình trạng chặt phá rừng và chuyển mục đích sử dụng Thực tế đặt ra yêu cầucấp thiết về việc củng cố, mở rộng, làm giàu hệ thống rừng phòng hộ hiện có,đồng thời cần cân nhắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng tự nhiên sangcác mục đích sử dụng nông nghiệp, sản xuất khác

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, chức năng về rừng phòng hộ

Có rất nhiều khái niệm và cách phân loại về rừng, cho thấy sự đa dạng vàquan trọng của rừng trong mỗi lĩnh vực như sau:

Trang 9

Rừng là một quần xã sinh vật (QXSV), trong đó cây rừng (cây thân gỗhoặc tre nứa) chiếm ưu thế QXSV phải có một diện tích đủ lớn và có mật độ câynhất định để giữa QXSV với môi trường, giữa các thành phần của QXSV có mốiquan hệ hữu cơ, hình thành nên một hệ sinh thái.

“Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,

vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm: rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” 1

Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành ba loại sauđây:

Phân loại rừng theo kỹ thuật: bao gồm các hệ thống phân loại nhằm phục

vụ những mục tiêu cụ thể như mục đích sử dụng, quy chế quản lý… Theo nguồngốc gồm có: Rừng tự nhiên/ Rừng trồng Theo chủ thể quản lý: Rừng nhà nước/Rừng tư nhân/ Rừng cộng đồng Theo chức năng /mục tiêu sử dụng có: Rừngphòng hộ/ Rừng đặc dụng /Rừng sản xuất

Rừng phòng hộ là rừng tự nhiên gồm các loại cây được khai thác như cây

đã chết, cây sâu bệnh, cây đứng ở nơi mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quychế quản lý rừng; Ngoài ra, rừng phòng hộ còn có các các loài thực vật rừngnguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ về Chế độquản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vàDanh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Rừng đặc dụng: là vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên phải có Banquản lý Ban quản lý khu rừng đặc dụng là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhànước có thẩm quyền thành lập Rừng này được sử dụng chủ yếu để tồn thiên

1Khoản 1, điều 3, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

Trang 10

nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng;nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa danh lam thắng cảnh; phục

vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồnloài-sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh quan gồm: khu rừng di tích lịch sử, văn hóa,danh lam thắng cảnh và khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học;

Rừng sản xuất là rừng sản xuất là rừng trồng và rừng giống, gồm: rừngtrồng và rừng tự nhiên Rừng sản xuất tập trung được Nhà nước giao, cho thuêcho các tổ chức kinh tế để sản xuất, kinh doanh; Rừng này được sử dụng chủ yếu

để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo

vệ môi trường

* Phân loại rừng phòng hộ

Dựa vào chức năng, rừng phòng hộ được chia làm ba (03) loại: rừng

phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển, rừng phòng hộ bảo vệ môi trườngsinh thái

Rừng phòng hộ đầu nguồn: Nhằm điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy,các hồ chứa để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, ngăn sự bồi lấp lòngsông, lòng hồ Chủ yếu là những nơi đồi núi có độ dốc cao, yêu cầu đối với rừngphòng hộ đầu nguồn phải tạo thành vùng tập trung có cấu trúc hỗn loài, nhiềutầng, có độ che phủ của tán rừng là 0,6 trở lên

Rừng phòng hộ ven biển: Được thành lập với mục đích chống gió hạn,chắn cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở,bảo vệ các công trình ven biển

Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái: Nhằm mục đích điều hòa khíhậu, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch

Trang 11

Căn cứ vào vài trò hay vị trí của rừng phòng hộ, có thể chia rừng phòng

hộ theo bốn (04) loại sau:

Rừng phòng hộ đầu nguồn: có tác dụng điều tiết nguồn nước cho các dòngchảy, các hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồilấp lòng sông, lòng hồ Rừng này phải tạo thành vùng tập trung có cấu trúc hỗnloài, khác tuổi, nhiều tầng, có độ tàn che trên 0,6 với các loài cây có bộ rễ sâu vàbám chắc;

Rừng phòng hộ chắn gió hại, chống cát bay: có tác dụng phòng hộ nôngnghiệp, bảo vệ các khu dân cư, các khu đô thị, các vùng sản xuất, các công trìnhkhác Rừng này phải có ít nhất một đai rừng chính rộng tối thiểu 20 m, kết hợpvới các đai rừng phụ tạo thành ô khép kín; rừng phòng hộ đối với sản xuất nôngnghiệp và các công trình kinh tế được trồng theo băng, theo hàng Mỗi đai, băngrừng gồm nhiều hàng cây, khép tán theo cả bề mặt cũng như theo chiều thẳngđứng

Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển: có tác dụng ngăn cản sóng, chống sạt

lở, bảo vệ các công trình ven biển, tăng độ bồi tụ phù sa, mở rộng diện tích bãibồi ra biển, hạn chế xâm nhập mặn vào nội đồng, bảo vệ và phát triển bền vữngnguồn lợi thủy sản, Rừng này phải có ít nhất một đai rừng rộng tối thiểu 30 m,gồm nhiều hàng cây khép tán, các đai rừng có cửa so le nhau theo hướng sóngchính

Rừng phòng hộ môi trường sinh thái, cảnh quan: có tác dụng điều hòa khíhậu, hạn chế ô nhiễm không khí ở khu đông dân cư, các đô thị và các khu côngnghiệp, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi Đây là hệ thống các đai rừng, dảirừng và hệ thống cây xanh xen kẽ các khu dân cư, khu công nghiệp, khu du lịchbảo đảm chống ô nhiễm không khí, tạo môi trường trong sạch, tạo cảnh quan kết

Trang 12

hợp với vui chơi giải trí, tham quan du lịch Diện tích rừng bình quân đầu ngườikhoảng 20m2.

Căn cứ vào vùng xung yếu, có thể chia rừng phòng hộ thành hai loại:

Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn,gần sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiếtnước; những nơi cát di động mạnh; những nơi bờ biển thường bị sạt lở, sóngbiển thường xuyên đe dọa sản xuất và đời sống nhân dân, có nhu cầu cấp báchnhất về phòng hộ, phải quy hoạch, đầu tư xây dựng rừng chuyên phòng hộ, đảmbảo tỷ lệ che phủ của rừng trên 70%;

Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điềutiết nguồn nước trung bình; những nơi mức độ đe dọa của cát di động và củasóng biển thấp hơn, có điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêucầu cao về bảo vệ và sử dụng đất, phải xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sảnxuất, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng tối thiểu 50%;

* Đặc điểm của rừng phòng hộ

Mỗi rừng phòng hộ ở mỗi địa hình sẽ có những đặc điểm khác nhau và cómục đích sử dụng để phòng hộ là chính Rừng phòng hộ được Nhà nước giaocho bất cứ cấp nào, ngành nào hoặc tổ chức nào quản lý, bảo vệ, xây dựng đều làvốn rừng quốc gia do Nhà nước thống nhất quản lý Mỗi khu rừng phòng hộ phải

có bộ máy quản lý, phải chia thành các đơn vị quản lý cơ bản có diện tích bìnhquân 1000 hécta gọi là tiểu khu, phải được sử dụng đúng mục đích đã được xácđịnh khi quyết định thành lập khu rừng phòng hộ đó

Rừng phòng hộ thường được xác lập tại những khu vực nhạy cảm về mặt

tự nhiên, xã hội để phát huy tốt các chức năng và vai trò của chúng Nhưng chính

Trang 13

rừng phòng hộ cũng là đối tượng phải gánh chịu nhiều sức ép, những tác độngtiêu cực từ nhiều phía, nhiều yếu tố gây tổn hại cho tài nguyên và môi trườngrừng Sự suy thoái của rừng phòng hộ thường diễn ra rất nhanh chóng, khó khắcphục và kéo theo sự suy thoái của cả một hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội.

Các nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến rừng bao gồm:

a) Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên

* Các yếu tố nội sinh:

+ Sâu, bệnh hại rừng

+ Động vật hoang dã gây hại

+ Sự suy thoái của đất rừng

+ Sự suy thoái của nguồn gen, nguồn giống, hạt giống

+ Sự thay đổi về tiểu hoàn cảnh rừng theo hướng bất lợi

* Các yếu tố ngoại sinh:

+ Thiên tai (lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, lốc bão, sạt lở đất, sóng thần, núilửa hoạt động, mưa a xít )

+ Sự xâm lấn và bành trướng của các loài mới nhập cư

b) Ảnh hưởng của các nhân tố xã hội (nhân sinh/ nhân tác)

* Các tác động chính:

+ Khai thác lâm sản quá mức

+ Khai hoang lấy đất sản xuất nông nghiệp (nương rẫy trồng cây lươngthực, cây công nghiệp )

+ Trồng rừng kinh tế (bằng các loài cây nhập nội mọc nhanh, khai thácđồng loạt )

+ Khai thác khoáng sản (vàng, đá quý, quặng, vật liệu xây dựng, than đá,than bùn, titan )

+ Xây dựng các công trình lớn (thủy lợi, thủy điện, đường giao thông )

Trang 14

+ Xây dựng cơ sở hạ tầng và các khu dân cư mới

+ Chăn nuôi đại gia súc (chăn thả và tạo đồng cỏ chăn nuôi)

+ Nuôi trồng thủy sản (ở vùng rừng ngập mặn và trên vùng cát ven biển)+ Gây ô nhiễm môi trường từ các chất thải sản xuất và sinh hoạt

+ Gây cháy rừng và các vấn đề khác (xung đột vũ trang )

* Các nguyên nhân chính:

+ Do dân số tăng quá nhanh trong khi mức sống và sinh kế còn rất thấp+ Nhu cầu cao về đất canh tác và lương thực tại chỗ

+ Trình độ học vấn thấp, phong tục lạc hậu dẫn đến nhận thức kém

+ Kỷ cương, pháp luật còn bị buông lỏng ở nhiều nơi, nhiều lúc

+ Nạn du canh, du cư, di dân tự phát hoặc thiếu quy hoạch/kế hoạch

+ Nhu cầu về phát triển của nhiều ngành KT và VH ngày càng tăng

+ Sức ép quá lớn của thị trường, đặc biệt là thị trường lâm sản

+ Tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa tăng nhanh hơn khả năng kiểmsoát môi trường, và:

+ Sự bất ổn về chính trị, xã hội (xung đột, tệ nạn xã hội, tình trạng vôchính phủ )

1.1.2 Ý nghĩa về phát triển của rừng phòng hộ

Nhờ tác dụng làm giảm tác hại của gió hại, bão và sự di động, vùi lấp củađất cát, lũ cuốn, giúp giữ nguồn nước sạch, điều hòa không khí thì rừng phòng

hộ có ý nghĩa rất quan trọng với môi trường và đời sống con người Cụ thểnhững lợi ích mang lại như:

- Bảo vệ được các chương trình dân sinh, kinh tế (nhà cửa, đường sá, côngxưởng)

- Bảo vệ được sức khỏe và tài sản của người dân

- Giảm thiệt hại cho cây trồng, hạn chế mất đất canh tác

Trang 15

- Góp phần điều hòa khí hậu, tạo cảnh quan đẹp, MT sống cho các loài cóích.

- Giải quyết một phần nhu cầu chất đốt, phân bón, nông ngư cụ, gỗ giadụng vốn khan hiếm ở vùng đồng bằng và vùng cát ven biển

- Tận dụng được đất đai ở các vị trí khó sản xuất nông nghiệp

1.1.3 Vai trò pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ

Rừng phòng hộ đóng vai trò quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái, đảmbảo cho sự phát triển bền vững của xã hội Tuy nhiên, những lợi ích vật chất từrừng phòng hộ mang lại rất hấp dẫn Do đó, có những cá nhân, tổ chức đặt lợi ích

từ việc khai thác rừng phòng hộ lên tối cao, trên cả những đạo đức, pháp luật và

sự phát triển bền vững của xã hội Nhà nước đã ban hành các nghị quyết, luật,quy định để hạn chế tối đa và tính răn đe, trừng trị các hành vi xâm phạm rừng

và tài nguyên rừng trái phép nói chung, rừng phòng hộ nói riêng

Các quy định này xây dựng các nguyên tắc cơ bản để bảo vệ rừng, quyhoạch sử dụng đất, bảo vệ hiệu quả và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên Phápluật về bảo vệ rừng phòng hộ quy định về thành lập ban quản lý rừng phòng hộ,các hình thức tổ chức quản lý rừng phòng hộ, nhiệm vụ và quyền hạn của banquản lý, quy định tiêu chuẩn của các loại rừng phòng hộ; về trường hợp quyhoạch hoặc được khai thác gỗ, tre nứa và lâm sản trong rừng phòng hộ; quản lý

sử dụng đất xen kẽ trong rừng phòng hộ,… Nhìn chung, pháp luật đã có nhữngđịnh lượng về đặc điểm và các biện pháp, điều kiện cần đảm bảo trước khi

“chạm” đến rừng phòng hộ Dù các quy định chưa chặt chẽ chi tiết nhưng cũng

đã xác định được thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức đối với tàinguyên từ rừng phòng hộ

Tóm lại, vai trò của pháp luật về bảo vệ rừng ngày càng cao, biểu hiện ởviệc từ những năm 2004 đến nay, có rất nhiều văn bản được ban hành quy định

Trang 16

về các vấn đề liên quan đến quản lý, bảo vệ, khai thác rừng Điển hình là phápluật về bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ.năm 2006 và Luật lâm nghiệp sẽ có hiệulực năm 2019, các văn bản nghị định hướng dẫn

1.2 Khái quát pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ

1.2.1 Pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ

Một số căn cứ pháp lý về quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam

Cơ chế chính sách là một mắt xích rất quan trọng, quyết định đến sự thànhbại của bất kỳ quá trình sản xuất nào Vì vậy, để góp phần thực hiện đường lốiđổi mới của đất nước trong đó có phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là phát triểnrừng trồng sản xuất, một hệ thống các chính sách có liên quan đã được ban hành

và hoàn thiện dần, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất lâm nghiệp vận độngtheo cơ chế thị trường

1.2.1.1 Giai đoạn trước năm 1991

Trước năm 1954, Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng Lâm nghiệpthuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống Quản lý rừngcộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống

Từ 1954 đến 1975, Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọngcộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống Miền bắc, thực hiệnchính sách cải cách ruộng đất và hợp tác hóa, tập trung phát triển lâm nghiệpquốc doanh (Lâm trường quốc doanh) và lâm nghiệp tập thể (Hợp tác xã nông -lâm nghiệp) Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp hộ gia đình và LNCĐ, nhưng

về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồng vùng cao quản lý rừng theo phongtục truyền thống, lâm nghiệp hộ gia đình được xác định là kinh tế phụ Trong khi

đó, ở miền nam, giống thời kỳ trước năm 1954

Trang 17

Từ 1976 – 1985, Tập trung và kế hoạch hóa cao độ lâm nghiệp quốcdoanh và tập thể, rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp Sau giải phóng miềnnam, thống nhất đất nước, Chính phủ chỉ chú ý phát triển 2 thành phần kinh tếquốc doanh và tập thể (hợp tác xã) Lâm nghiệp quốc doanh và lâm nghiệp tậpthể phát triển ở quy mô lớn theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung cao độ LNCĐ

và lâm nghiệp hộ gia đình không được khuyến khích phát triển Tuy nhiên, một

số nơi ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc vẫn tồn tại các khu rừng do cộng đồng

tự công nhận nhưng mức độ tự quản dần bị mai một và lỏng lẻo Quyết định 184của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị 29 của Ban bí thư năm 1983 vềgiao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, bắt đầu chú

ý đến hợp đồng khoán rừng cho hộ gia đình

Từ 1986 -1992, Lần đầu tiên đề cập làng bản là chủ rừng hợp pháp đối vớirừng truyền thống của làng bản Năm 1986, Chính phủ bắt đầu thực hiện côngcuộc đổi mới bằng việc thừa nhận 5 thành phần kinh tế Năm 1988 và năm 1991lần đầu tiên ra đời Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng cho phép giaođất, giao rừng cho tổ chức, cá nhân và hộ gia đình Lâm nghiệp hộ gia đình đượcthừa nhận

Ngày 17/1/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chínhphủ) ra Nghị định số 17/HTBT về việc thi hành Luật BV&PTR xác nhận làng,bản có rừng trước ngày ban hành Luật BV&PTR là chủ rừng hợp pháp

Thời kỳ nay lĩnh vưc quản lý và bảo vệ rừng chủ yếu được điều chỉnh bởicác quyết định, nghị định của chính phủ và cac cơ quan nhà nước quản lý đối vớitài nguyên rừng cũng thay đổi thường xuyên Đặc biệt, năm 1972, Pháp lệnh quyđịnh việc bảo vệ rừng được ban hanh Năm 1976, Bộ Lâm nghiệp được thànhlập Trên cơ sở nhận thức được chức năng và vai trò to lớn của rừng phòng hộ,Nhà nước ta đã có nhiều văn bản pháp quy tạo thành hành lang pháp lý bảo đảm

Trang 18

cho việc thực thi công tác quản lý bảo vệ các loại rừng trong đó có rừng phòng

hộ Điển hình là:

- Pháp lệnh Bảo vệ rừng (1972)

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991)

1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1991 đến 2004

+ Tăng cường quá trình phi tập trung hoá trong quản lý rừng, quan tâmđến xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đối với LNCĐ chưa rõ ràng Ở cácđịa phương thực hiện nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng nhưng ở mức độ tựphát hoặc mang tính chất thí điểm Bộ NN&PTNT thành lập Tổ công tác Quốcgia về LNCĐ để triển khai một số nghiên cứu và tổ chức nhiều hội thảo quốc gia

về LNCĐ Nhiều chương trình, dự án quốc tế quan tâm đến phát triển LNCĐ.Nhưng về cơ bản LNCĐ chưa được thể chế hóa rõ ràng

Luật đất đai (sửa đổi) năm 1993, Nghị định 02/CP năm 1994 và Nghị định163/ CP năm 1999 về giao đất lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đốitượng cộng đồng Bộ Luật Dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân cư

là một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân Trong giai đoạn này nhiều địaphương đã vận dụng một số văn bản của Nhà nước và của ngành cho phát triểnLNCĐ như Nghị định 01/CP năm 1995 về giáo khoán đất lâm nghiệp, Nghị định

số 29/CP năm 1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Quyết định245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm của nhà nước của các cấp vềrừng và đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999 của Bộ NN&PTNT về hướngdẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng trong cộng đồng, Quyết định08/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quy chế quản lý 3 loại rừng, Quyết định

- Luật Đất đai năm 1993, ngày 15/1/1994 Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 02/CP về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng

ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Trang 19

- Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 về giao đất lâm nghiệp cho hộ giađình, cá nhân.

- Nghị định số 01/CP ngày 01/01/1995 của Chính phủ về giao khoán đất

sử dụng vào mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp

- Quyết định số 661/TTg ngày 29/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ về

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

- Ngày 2/12/1998 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai đượcban hành để hướng dẫn thi hành luật trong lĩnh vực đất lâm nghiệp, tiếp đó ngày16/11/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/CP về giao đất, cho thuêđất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mụcđích lâm nghiệp

- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về việcgiao đất, cho thuê đất lâm nghiệp

- Quyết định 245/1998/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 11 năm 1998 của Thủtướng Chính phủ về việc Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp vềrừng và đất lâm nghiệp

- Quyết định 178/2001/ QĐTTg, ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủtướng Chính phủ về Quyển hưởng lợi, nghĩa vụ của HGĐ, TC, CN được giaođược thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

- Quyết định 199 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNN, ngày 22-11-2002 về Phêduyệt Chiến lược Phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010

- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg quy đình về quyền lợi và nghĩa vụ củacác chủ thể khi tham gia quản lý rừng

- Chỉ thị 12/2003/CT-TTg, ngày 16 tháng 5 năm 2003 của Thủ tướngChính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách về bảo vệ và PTR

Trang 20

- Quyết định 08/2004/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 01 năm 2004 của Thủtướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý RĐD/RỪNG PHÒNGHỘ/RSX là rừng tự nhiên.

- Nghị định 43/NĐ nay là Nghị định 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004của Chính phủ về tín dụng đầu tư và phát triển của Nhà nước

- Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng

12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; tại kì họp Quốc hội Số:29/2004/QH11 đưa ra Luật bảo vệ và phát triển rừng

1.2.1.3 Giai đoạn từ 2004 đến nay

Theo Luật Đất đai mới năm 2003, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nướcgiao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sửdụng đất Luật BV&PTR mới năm 2004 có một mục riêng quy định về giao rừngcho cộng đồng dân cư thôn; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn đượcgiao rừng

Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ

về thi hành Luật đất đai (Nghị định 181) quy định cộng đồng dân cư thôn đượcgiao đất rừng phòng hộ với các quyền chung như hộ gia đình và cá nhân đượcgiao đất lâm nghiệp nhưng cộng đồng dân cư thôn không được chuyển đổi,chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảolãnh, góp vốn bằng quyền sử đụng đất

Luật Dân sự năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng.Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thànhtheo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp và cùng quản

lý, sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng

Trang 21

Các bộ luật mới cũng tiếp tục kế thừa các quan điểm trên.

Một số chính sách hiện hành trong quản lý xây dựng rừng của nhà nước và

- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hànhLuật bảo vệ và phát triển rừng

- Nghị định 147/2010/NĐ-Cp ngày 10/09/2007 của Thủ tướng chính phủquy định một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015

- Quyết đinh số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng chính phủphê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020

- Quyết định 07/2012/QĐ-TTg, ngày 08/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ

về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng

- Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/06/2009 của bộNN&PTNT quy định tiêu chí xác đinh và phân loại rừng

- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –2020

- Các văn bản về QLĐĐ và quy phạm kỹ thuật ngành (Trồng rừng, khoanhnuôi -tái sinh-phục hồi rừng, khai thác lâm sản…)

- Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn

- Luật lâm nghiệp được thông qua năm 2017 và sẽ có hiệu lực năm 2019

Trang 22

Nhìn chung, các văn bản pháp luật vệ bảo vệ phát triển rừng nói chung vàrừng phòng hộ nói riêng ngày càng được quy định chi tiết, chặt chẽ hơn, Sự phânloại chủ thể tham gia, phân loại rừng, trách nhiệm và thẩm quyển của các banngành, tổ chức, cá nhân trong vấn đề liên quan đến bảo vệ, phát triển rừng đềuđược xác định rõ hơn, Tính chế tài đối với các vi phạm cũng được tăng Nhưvậy, cho thấy Nhà nước đang tăng cao sự chú ý đến bảo vệ và phát triển rừng; cốgẵng nghiêm trị những trường hợp vi phạm để răn đe, giáo dục xã hội

1.3 Nội dung cơ bản của Pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ

Luật này quy định về bảo vệ và phát triển rừng Nội dung cơ bản của Phápluật về bảo vê, phát triển rừng phòng hộ được quy định tại Mục I, Chương 6,Luật bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ năm 2006

Thứ nhất, về nguyên tắc các nguyên tắc khai thác và phát triển, sử dụngrừng phòng hộ

Phát triển rừng phòng hộ quy định tại điều 45 Theo đó, các loại rừngphòng hộ phải được xây dựng phù hợp với từng địa hình, khí hậu với nơi mà

rừng được trồng, phát triển “1 Rừng phòng hộ đầu nguồn phải được xây dựng

thành rừng tập trung, liền vùng, nhiều tầng 2 Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường phải được xây dựng thành các đai rừng phù hợp với điều kiện tự nhiên ở từng vùng 3 Việc kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường, khai thác lâm sản và các lợi ích khác của rừng phòng hộ phải tuân theo quy chế quản lý rừng.”

Về tổ chức quản lý rừng phòng hộ quy định tại điều 46 “1 Những khu

rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích từ năm nghìn hecta trở lên hoặc

có diện tích dưới năm nghìn hecta nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng

Trang 23

hộ hoặc rừng phòng hộ ven biển quan trọng phải có Ban quản lý Ban quản lý khu rừng phòng hộ là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập theo quy chế quản lý rừng 2 Những khu rừng phòng hộ không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này thì Nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức kinh

tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân tại chỗ quản lý, bảo vệ và sử dụng.”

Về khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ quy định tại điều 47: “1 Trong

rừng phòng hộ là rừng tự nhiên được phép khai thác cây đã chết, cây sâu bệnh, cây đứng ở nơi mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản lý rừng, trừ các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ về Chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.”

Việc khai thác rừng phòng hộ là rừng trồng được quy định như sau: Đượcphép khai thác cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng trồng có mật độ lớn hơn mật độquy định theo quy chế quản lý rừng; Được phép khai thác cây trồng chính khiđạt tiêu chuẩn khai thác theo phương thức khai thác chọn hoặc chặt trắng theobăng, theo đám rừng; Sau khi khai thác, chủ rừng phải thực hiện việc tái sinhhoặc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp và tiếp tục quản lý, bảo vệ.Tuy nhiên, các quy định này rất khó thực hiện và đảm bảo tính thực thi

Việc khai thác lâm sản ngoài gỗ trong rừng phòng hộ là rừng tự nhiênđược quy định là ưu tiên các loại măng, tre nứa trong rừng phòng hộ khi đã đạtyêu cầu phòng hộ theo quy chế quản lý rừng; Được phép khai thác các loại lâmsản khác ngoài gỗ mà không làm ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng,trừ các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai tháctheo quy định của Chính phủ về Chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật

Trang 24

rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Tuy nhiên chưa có một đánh giá nào

có thể xác định rõ “thế nào nào thiệt hại hay ảnh hưởng đến khả năng phòng hộcủa rừng?” và chưa có chế tài, các hoạt động có tính cấp thiết để ngăn chặn cáchoạt động này

Pháp luật về bảo vệ rừng phải được điều chỉnh dựa trên hệ thống các nguyên tắc phù hợp và xác định rõ nội dung điều chỉnh làm cơ sở để phân tích thưc trạng pháp luật, đưa ra các đánh giá phù hợp và đề xuất các giải pháp hoàn thiện

Thứ hai, tiêu chuẩn định hình khu rừng phòng hộ, rừng phòng hộ cần đạt

đủ các tiêu chí sau: a) Tỷ lệ diện tích đất có rừng trên diện tích của toàn khu

rừng phòng hộ phải từ 70 phần trăm trở lên; b) Diện tích có rừng liền khoảnh từ0,5 hecta trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ

03 hàng cây trở lên; c) Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loàicây lâu năm thân gỗ, cau dừa, tre nứa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên(trừ một số loài cây rừng ngập mặn ven biển)

Tiêu chuẩn định hình cụ thể bổ sung đối với từng loại rừng phòng hộ: a)Khu rừng phòng hộ đầu nguồn đạt tiêu chuẩn định hình khi rừng có khả năngduy trì, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, giảm xói mòn Độ tàn che của rừngphòng hộ đầu nguồn rất xung yếu phải từ 0,8 trở lên; độ tàn che của rừng phòng

hộ đầu nguồn xung yếu phải từ 0,6 trở lên; b) Khu rừng phòng hộ chắn gió, chắncát bay đạt tiêu chuẩn định hình khi cây rừng đã khép tán, rừng đã phát huy tácdụng ngăn chặn hoặc làm suy giảm tác hại của gió, cát cho vùng sản xuất và khudân cư, nâng cao hoặc ổn định năng suất cây nông nghiệp;c) Khu rừng phòng hộchắn sóng, lấn biển đạt tiêu chuẩn định hình khi cây rừng đã khép tán, hệ rễ pháttriển, rừng phát huy tác dụng chắn sóng, ổn định đất, tăng khả năng bồi lấp bờbiển, ngăn chặn hoặc làm giảm sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển, ven sông;

Trang 25

d) Khu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường đạt tiêu chuẩn định hình khi rừng đã cótác dụng ngăn chặn hoặc giảm ô nhiễm không khí, điều hòa khí hậu, tạo cảnhquan, môi trường trong sạch cho khu công nghiệp, khu đô thị, khu du lịch, nghỉngơi.

Thứ ba, quy định về giao đất, cho thuê đất rừng phòng hộ

- Đối tượng được giao, cho thuê đất rừng phòng hộ:

Nhà nước giao rừng phòng hộ không thu tiền sử dụng rừng đối với cácBan quản lý rừng phòng hộ, tổ chức sự nghiệp nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trangnhân dân, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để quản lý, bảo vệ và pháttriển rừng phòng hộ theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt phù hợp với việcgiao đất rừng phòng hộ theo quy định của Luật Đất đai Nhà nước giao đất rừngphòng hộ đầu nguồn cho tổ chức quản lý rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ vàphát triển rừng Tổ chức quản lý rừng phòng hộ giao khoán đất rừng phòng hộcho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để bảo vệ, phát triển rừng Ủy bannhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệpcho hộ gia đình, cá nhân đó sử dụng

Ðất rừng phòng hộ mà chưa có tổ chức quản lý và đất quy hoạch trồngrừng phòng hộ được giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại chỗ có nhu cầu vàkhả năng để bảo vệ và phát triển rừng

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cho tổchức kinh tế thuê đất rừng phòng hộ thuộc khu vực được kết hợp với kinh doanhcảnh quan, du lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng Chính phủ ban hànhNghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai để quy định cụ thể việc giao, giaokhoán đất rừng phòng hộ; quyền, nghĩa vụ và lợi ích của tổ chức, hộ gia đình, cánhân được giao khoán đất rừng phòng hộ

Trang 26

Hồ sơ xin giao đất, thuê đất, gồm: Đơn xin giao đất, thuê đất; dự án đầu tưcủa tổ chức theo quy định của pháp luật; đối với người Việt Nam định cư ở nướcngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có dự án đầu tư và bản sao giấy phépđầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư có công chứng của Nhà nước.

-Căn cứ để giao đất, cho thuê đất:

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch đô thị, quy hoạch xâydựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xétduyệt Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuêđất

- Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất rừng phòng hộ:

Tùy từng đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê, nhận chuyển quyền

sử dụng đất rừng phòng hộ mà có các quyền và nghĩa vụ phải thực hiện đượcquy định tại theo Luật đất đai 2013

Thứ tư, khoán bảo vệ , khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và trồng rừng phòng

hộ và khuyến khích đầu tư xây dựng rừng phòng hộ

- Bên giao khoán: Ban quản lý rừng phòng hộ, Công ty lâm nghiệp, Ủyban nhân dân cấp xã quản lý đối tượng rừng (Nghị định 75/2015/NĐ-CP )

- Bên nhận khoán gồm hộ gia đình; Hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số,

hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiệnkinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theotiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, có thực hiện một trong các hoạt độngbảo vệ và phát triển rừng: bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên; trồng rừng,cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất;nhận khoán bảo vệ rừng Cộng đồng dân cư thôn được giao rừng theo quy địnhtại Điều 29 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Điều 54 Luật Đất đai, tại các xã có

Trang 27

điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc vàmiền núi theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, thực hiện bảo vệ rừngđược giao hoặc rừng nhận khoán.

Khuyến khích đầu tư xây dựng rừng phòng hộ

Tại nghị định 75/2015/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ giađình, cá nhân đầu tư xây dựng rừng phòng hộ bằng chính sách và giải pháp thựchiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Giao, cho thuê đất để xây dựng và pháttriển rừng phòng hộ từ lâu đã được Nhà nước quy định Bộ nghiệp và Phát triểnnông thôn phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính, Ngân hàng nhànước khuyến khích tạo điều kiện cho người dân vay vốn đầu tư trồng rừng

Thứ năm, phân cấp quản lý đối với rừng phòng hộ.

Các cấp được phân theo chiều dọc các cơ quan hành chính như sau:

Cấp cao nhất là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất quản

lý nhà nước về bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng phòng hộ trong phạm vi cả nước trên các lĩnh vực chỉ đạo, lập quy hoạch kế hoạch, phát triển rừng; Thanh tra , kiểm tra, giải quyết các tranh chấp và xử lý các vi phạm trong việc chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, phát triển và sử dụng rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật; Chỉ đạo và hướng dẫn việc thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và lập hồ sơ quản lý rừng phòng hộ; Chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật

Cấp thứ hai là Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Cơquan này thực hiện các nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triể nông thôn trên địa bàn cấp tỉnh Ngoài ra, cơ quan còn tổ chức việc phân loại rừng, xác định ranh giới, xác lập các khu rừng phòng hộ của địa phương theo hướng dẫn

Trang 28

của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Tổ chức phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại đối với diện tích rừng phòng hộ ở địa phương; tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng phòng hộ, huy động các lực lượng phối hợp với lực lượng kiểm lâm ngăn chặn các hành vi hủy hoại rừng phòng hộ trên phạm vi toàn tỉnh; Ban hành các văn bản theo thẩm quyền để chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn tỉnh thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ về quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng phòng hộ;nh vi hủy hoại rừng phòng hộ trên phạm vi toàn tỉnh; Thành lập, sát nhập, chia tách và giải thể các Ban quản lý khu rừng phòng hộ theo quy định củapháp luật;

Cấp thứ ba, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp tỉnh có trách nhiệm tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về rừng phòng hộ trên các lĩnh vực theo quy định như của UBND cấp tỉnh

Câp thứ tư, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết tắt là Ủy ban nhân dân cấp huyện) quản lý nhà nước về rừng phòng

hộ trên địa bàn cấp huyện Ngoài trình và thực hiện kế hoạch quy hoạch, phát triền rừng phòng hộ địa phương thì UBND huyện còn thực hiện các nhiệm vụ:

Tổ chức thực hiện xác định ranh giới các khu rừng phòng hộ trong phạm vi địa phương; Tổ chức thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng phòng hộtrong phạm vi của địa phương;

Cấp thứ năm, Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý về rừng phòng hộ trên địa bàn cấp xã Ngoài các hoạt động như của UBND huyện nhưng được thực hiện trên địa bàn nhỏ hơn với chi tiết cụm dân cư hơn; UBND xã còn phải trực tiếp tổ chức quản lý rừng phòng hộ, thực hiện công tác hướng dẫn và đôn đốc người dânđịa bàn thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ trên địa bàn xã

Trang 29

Trường hợp khu rừng phòng hộ được thành lập có diện tích nằm trên địa bàn liên huyện, thì việc quản lý khu rừng phòng hộ thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm phối hợp quản lý bảo vệ diện tích rừng phòng hộ trong phạm vi địa giới hành chính.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi trách nhiệm của mình, nếu để xảy ra tình trạng vi phạm Quy chế về quản lý, quy hoạch, đầu tư sai mục đích sử dụng rừng phòng hộ, để xảy ra tình trạng phá rừng trái pháp luật, cháy rừng gây hậu quả nghiêm trọng trên địa bàn mà không có biện pháp phòng ngừa,ngăn chặn và xử lý kịp thời phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật

Thứ sáu, quy định về lực lượng bảo vệ rừng phòng hộ.

Lực lượng này bao gồm: Hạt kiểm lâm khu rừng phòng hộ và Tổ chức bảo

vệ rừng chuyên trách

Hạt Kiểm lâm được thành lập tại các Ban quản lý rừng phòng hộ theo quy định tại Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ về tổ chức hoạt động của Kiểm lâm và Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày

28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ quy định thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn

vị sự nghiệp công lập Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc thành lập Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ; Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ là cơ quan hànhchính nhà nước trực thuộc Chi cục Kiểm lâm cấp tỉnh

Những khu rừng phòng hộ không đủ điều kiện thành lập Hạt Kiểm lâm theo quy định tại Khoản 1 Điều này, Ban quản lý rừng phòng hộ tổ chức lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách như sau: a) Ban quản lý rừng phòng hộ tổ chức, quản lý lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của đơn vị mình; b) Lực lượng bảo

vệ rừng chuyên trách được Chi cục Kiểm lâm cấp tỉnh hướng dẫn, hỗ trợ, phối hợp thực hiện các biện pháp chuyên môn, nghiệp

Trang 30

Thứ bảy, cơ chế hưởng lợi từ rừng phòng hộ Rừng phòng hộ được khai

thác và đưa lại lợi nhuận qua các cách: Tận thu, tận dụng gỗ trong rừng phòng hộ

là rừng tự nhiên; Khai thác gỗ trong rừng phòng hộ là rừng trồng; Khai thác tre, lâm sản ngoài gỗ từ rừng phòng hộ; Hoạt động du lịch sinh thái, nghiên cứu khoahọc, giáo dục, đào tạo trong rừng phòng hộ; Sản xuất nông, ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ Ban quản lý rừng phòng hộ sẽ quản lý các hoạt động này

Thứ tám, về kinh phí bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Gồm: kinh phí

sự nghiệp nhà nước và thu hút đầu tư từ các công ty tư nhân…

Kinh phí sự nghiệp nhà nước gồm: Mức khoán bảo vệ rừng thực hiện theoquy định hiện hành của Nhà nước; Kinh phí quản lý, bảo vệ rừng thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước và Quyết định số 57/QĐ-TTg ; phân bổ trong

dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm; hỗ trợ một lần chi phí khảo sát, thiết

kế, ký kết hợp đồng và lập hồ sơ để trồng và chăm sóc rừng; khoán bảo vệ rừng hoặc khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ thực hiện theo quy định tại Quyết định số 57/QĐ-TTg; Kinh phí tổ chức quản lý, bảo vệ rừng đối với diện tích rừng phòng hộ do Ủy ban nhân dân xã trực tiếp quản lý thực hiện theo quy định tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg)

Thứ chín, trách nhiệm pháp lý bảo vệ và phát triển rừng

Đối với hành vi chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép, căn cứ Nghị định157/2013 (quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng,bảo vệ rừng và quản lý lâm sản), người có hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt hànhchính từ 600.000 đồng đến 200 triệu đồng tùy vào loại và khối lượng lâm sản bịkhai thác trái phép Ngoài ra, người bị xử phạt còn bị tịch thu tang vật, công cụ,phương tiện, và có thể phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả, nhưbuộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, hoặcbuộc nộp lại số tiền bằng giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị

Trang 31

tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định pháp luật (theo Khoản 1, Điều 28 Luật Xử

lý vi phạm hành chính năm 2012), buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phítrồng lại rừng theo suất đầu tư được áp dụng ở địa phương tại thời điểm vi phạmhành chính (theo Khoản 1, Điều 4 Nghị định 157/2013).Không chỉ bị xử phạthành chính, tùy từng trường hợp cụ thể, những kẻ ăn cắp tài nguyên rừng còn cóthể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 2015,sửa đổi năm 2017 (sẽ có hiệu lực vào ngày 1-1-2018)

Cụ thể, nếu hành vi vi phạm thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 điềunày thì bị phạt tiền 50 triệu - 300 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; nếu thuộc trường hợp quy định tạikhoản 2 điều này thì bị phạt tiền 300 triệu - 1,5 tỷ đồng, hoặc phạt tù 2 - 7 năm;nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 điều này thì bị phạt tù 5 - 10 năm.Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10 triệu - 50 triệu đồng

Trường hợp pháp nhân phạm tội này, cùng với việc bị phạt tiền, còn có thể

bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm; cấm kinh doanh, cấmhoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, hoặc cấm huy động vốn 1 - 3 năm

Trang 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Rừng là một hệ sinh thái có vai trò vô cùng to lớn đối với sư phát triển củacon người, có thể xem rừng như la cai nôi nuôi dưỡng sư sống, không còn rừng nghĩa la sư sống trên hành tinh của chúng ta chấm dứt

Vai trò của rừng không chỉ đối với từng cộng đồng, từng địa phương hay từng quốc gia mà nó phải được quan tâm, bảo vệ trên phạm vi toàn cầu Bảo vệ rừng là trách nhiệm của tất cả chúng ta Chính vì vậy, chúng ta cần có cách thức phù hợp để bảo vệ rừng mà pháp luật đóng vai trò quan trọng, là công cụ hữu hiệu nhất để quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên này.Cần nghiên cứu sự phát triển của pháp luật quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong lịch sử để tìm ra nhưng bàihọc bổ ích và khắc phục nhưng nhược điểm mà chúng ta đã mắc phải để quản lý

và bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên này

Trang 33

CHƯƠNG II THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG

PHÒNG HỘ TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Điện Biên

Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi phía Bắc có tọa độ địa lý 20o54’ –

22o33’ vĩ độ Bắc và 102o10’ – 103o36’ kinh độ Điện Biên Điện Biên nằm cáchThủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La,phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc),phía Tây và Tây Nam giáp CHDCND Lào , là tỉnh duy nhất có chung đườngbiên giới với 2 quốc gia: Trung Quốc và Lào Do đó, Điện Biên là nơi trungchuyển nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào - Tây Nam TrungQuốc, cũng là tỉnh có nhiều cửa khẩu quốc tế quan trọng của Việt Nam như:Huổi Puốc, Tây Trang, A Pa Chải - Long Phú

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Về điều kiện thiên nhiên, địa hình Điện Biên rất đa dạng, có các dạng địahình thung lũng, sông suối, vùng núi cao có địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, xađường giao thông nên đi lại khó khăn, gây trở ngại cho việc tổ chức triển khainhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng

Địa hình của tỉnh Điện Biên bị ảnh hưởng bởi các hoạt động kiến tạo nênđịa hình rất phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh Đượccấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ caobiến đổi từ 200m đến hơn 1.800m Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam vànghiêng dần từ Tây sang Đông Ở phía Bắc có các điểm cao 1.085m, 1.162 m và

Ngày đăng: 10/04/2018, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Cổng thông tin điện tử tỉnh Điện Biên http://www.dienbien.gov.vn/portal/Pages/default.aspx Link
17. Trang thông tin điện tử tổng hợp của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Điện Biên, http://dienbientv.vn/ Link
3. Chính Phủ, Nghị định 23/2006/NĐ-CP Về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Hà Nội 03/03/2006 Khác
4. Hà Công Tuấn, Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 Khác
5. Nguyễn Thanh Huyền, Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013 Khác
6. Lê Văn Hà, Trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và vấn đề đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn tỉnh Gia Lai, luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, năm 2002 Khác
7. Nguyễn Thị Ngọc Bích, Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2010 Khác
8. Nguyễn Thị Tiến, Hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng ở nước ta hiện nay, luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, năm 2010 Khác
9. Nguyễn Hải Âu, Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, năm 2001 Khác
10.Văn phòng Quốc hội. Vụ Công tác lập pháp, Những nội dung cơ bản của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, nxb Tư pháp, 2004 Khác
11.Nguyễn Thanh Huyền, Pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam, sách chuyên khảo, nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2013 Khác
12.Trần Thanh Lâm, Bảo vệ, phát triển rừng và vai trò của quản lý nhà nước, tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính, Số 11/2011 Khác
13.Vũ Thị Duyên Thủy, Đánh giá sự phù hợp của pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam với các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường, tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2016 Khác
14.Nguyễn Văn Nghiệp, Giải pháp khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ rừng ở Tây Nguyên, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp, Số 24/2015 Khác
15.Cao Anh Đức, Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các quy định về quản lý, khai thác và bảo vệ rừng, tạp chí Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 22/2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w