MỤC LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT AFTA - Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN ASEAN - Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á CPI - Chỉ số Gía cả Tiêu dùng CPRGS - Chiến lược Tăng trưởng và Giảm nghèo Toàn di
Trang 1ĐIỂM LẠI
Báo cáo Cập nhật Tình hình Cải cách và Phát triển kinh tế
của Việt Nam
Hội nghị giữa kỳ Nhóm Tư vấn các nhà Tài trợ cho Việt nam
Thành phố Vinh, 16-17/6/2004
50194
Trang 2MỤC LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AFTA - Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
ASEAN - Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
CPI - Chỉ số Gía cả Tiêu dùng
CPRGS - Chiến lược Tăng trưởng và Giảm nghèo Toàn diện
DAF - Qũy Hỗ trợ Phát triển
DATC - Công ty Mua bán Tài sản và Nợ
FDI - Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài
FSQL - Mức độ Chất lượng Giáo dục Cơ sở
GC - Tổng Công ty
HCFP - Qũy Chăm sóc sức khỏe cho Người nghèo
IAS - Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế
IMF - Qũy Tiền tệ Quốc tế
LUC - Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đai
LSDS - Chiến lược Xây dựng Hệ thống pháp luật
MOF - Bộ Tài chính
MONRE - Bộ Tài nguyên và Môi trường
MPI - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
MTEF - Khuôn khổ Chi tiêu Trung hạn
NPL - Nợ không sinh lời
NSCERD - Ban chỉ đạo Quốc gia về Phát triển và Cải cách doanh nghiệp PAR - Cải cách Hành chính Công
PER - Đánh giá Chi tiêu Công
PRSC - Tín dụng Hỗ trợ Giảm nghèo
QR - Hạn chế Số lượng
SBV - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
SOCB - Ngân hàng thương mại Quốc doanh
SOE - Doanh nghiệp nhà nước
USBTA - Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ
WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ ……… 1
PHẦN II: CẢI CÁCH KINH TẾ … 11
Bảng Bảng 1 : Đóng góp của các Ngành vào tăng trưởng GDP 3
Bảng 2: Tăng trưởng và kim ngạch xuất khẩu 4
Bảng 3: Số DNNN chuyển đổi 13
Bảng 4: Quy mô DNNN chuyển đổi sở hữu 14
Bảng 5: Các chỉ số Ngân hàng 19
Bảng 6: So sánh cách tiếp cận Kế hoạch 5 năm với Chiến lược TT & GNTD… 26
Hình Hình 1: Khách nước ngoài đến Việt Nam 2
Hình 2: Thị trường xuất khẩu chính 4
Hình 3: Tăng trưởng giá trị nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu 5
Hình 4: Nợ trong và ngoài ngân sách 7
Hình 5: Chỉ số giá lương thực và phi lương thực 8
Hình 6: Đồng tiền giảm giá dần .9
Khung Khung 1: Giá dầu tăng có tác động đến Việt nam như thế nào 10
Khung 2: Những thay đổi pháp lý bảo đảm chuyển đổi DNNN quy mô lớn 15
Khung 3: Phát triển thị trường chứng khoán 21
Báo cáo do Theo Ib Larsen, Vivek Suri và Đinh Tuấn Việt viết với các ý kiến đóng góp của Soren Davidsen, Daniel Musson và James Seward, Ahsan Ali, Irina Luca, Soren Baussgaard dưới chỉ đạo chung của Martin Rama Nguyễn Thị Thu Hằng và Trần Thị Ngọc Dung trợ giúp công việc thư ký Nhóm Minh Vu Translation thực hiện phần dịch tiếng Việt
Trang 4PHẦN I
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Trang 5Năm 2003, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7,2 % mặc dù xuất hiện những thách thức của dịch bệnh SARS và sự phát triển chậm chạp của kinh tế toàn cầu Về mặt giá trị, xuất khẩu đã tăng trưởng cao hơn dự kiến, đạt mức 21% trong 2003 và đã tăng 17% trong 5 tháng đầu năm 2004 Sản xuất công nghiệp vẫn tiếp tục phát triển mạnh và đầu tư tăng ổn định Trong quý 1 năm 2004, tăng trưởng GDP ở mức 7% thấp hơn so với mục tiêu khoảng 8% mà chính phủ đặt ra cho cả năm 2004
Dịch cúm gà đe dọa nền kinh tế nhưng đã được kiềm chế
Trong quý 1 năm 2004, nền kinh tế phải đương đầu với thách thức của dịch cúm
gà Trong hai năm liền, Việt Nam phải gánh chịu bệch dịch lây lan Điều này không chỉ
đe dọa đến đời sống của người dân mà còn đến các hoạt động kinh tế cụ thể Mặc dù kịch bản xấu nhất về khả năng lây lan nhanh của virus sang người đã không xảy ra, nhưng dịch cúm gà đã có tác động tiêu cực đến ngành chăn nuôi gia cầm Khoảng 39 triệu trong tổng số 258 triệu con gia cầm đã bị tiêu huỷ Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đánh giá thiệt hại liên quan chỉ ở mức dưới 0,5% GDP
Hình 1: Khách nước ngoài đến Việt Nam
Mar- 02
May- 02
Jul- 02
Sep- 02
Nov- 03
Jan- 03
Mar- 03
May- 03
Jul- 03
Sep- 03
Nov- 04
Jan- 04
Mar- 04
2004 so với cùng kỳ năm 2003
Trang 6Sản xuất công nghiệp dẫn đầu tăng trưởng
Như những năm trước, ngành công nghiệp đóng góp chủ yếu vào sự tăng trưởng Sản lượng công nghiệp tăng 15%, đóng góp khoảng bốn điểm phần trăm cho tăng trưởng trong ba tháng đầu năm (Bảng 1) Sản xuất điện đạt mức 18 tỷ kWh trong năm tháng đầu năm nay, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái Cung cấp điện cho các ngành công nghiệp
và xây dựng tăng 29% Mức cung ứng điện cho các hộ gia đình tăng 9% Trong năm tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp của khu vực tư nhân nước ngoài và trong nước tăng mức ương ứng 14% và 22% so với tỷ lệ tăng trưởng 12% của khu vực nhà nước trong lĩnh vực này Khu vực ngoài quốc doanh trong nước và khu vực đầu tư nước ngoài gộp lại chiếm 71% sản xuất công nghiệp
Bảng 1: Đóng góp của các ngành vào Tăng trưởng GDP
Công nghiệp & xây dựng 3.5 3.9 4.1
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Xuất khẩu phát triển mạnh bất chấp khó khăn bên ngoài
Sự phát triển ổn định của nền kinh tế Việt Nam và khu vực chế tạo nói riêng phụ thuộc vào tăng trưởng xuất khẩu (Bảng 2) Kinh tế vẫn phát triển mặc dù xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đã giảm mạnh kể từ quý hai năm 2003 Sự sụt giảm đó phản ánh tác động của việc Hoa Kỳ áp đặt hạn ngạch ở mức khoảng 1,8 tỷ USD đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào năm ngoái Hạn ngạch tiếp tục bị giảm thêm 4,5 % nữa (hoặc khoảng 80 triệu USD) năm 2004 Nguyên nhân của việc giảm hạn ngạch là do các nhà xuất khẩu từ Việt Nam đã làm giả giấy chứng nhận xuất xứ và bị phát hiện chuyên trở các sản phẩm dệt may được sản xuất ở các nước khác sang thị trường Hoa Kỳ Việc giảm hạn ngạch dệt may Hoa Kỳ đã được bù đắp phần nào bởi việc tăng hạn ngạch dệt may của EU Do vậy, kim ngạch xuất khẩu dệt may chỉ tăng khoảng 7% trong thời gian 5 tháng đầu năm 2004 so với mức 70% cùng kỳ năm ngoái và 34% trong cả năm 2003
Xuất khẩu thủy sản bị tác động do nhu cầu thực phẩm trong nước tăng dịch cúm
gà Xuất khẩu thủy sản cũng giảm sút thêm do Hoa Kỳ kiện phá giá đối với nhập khẩu cá tra và đe dọa khởi kiện với lý do tương tự đối với xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Tuy nhiên, phần nào nhờ áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm tốt hơn, Việt Nam đã khá thành công trong việc thâm nhập vào thị trường Nhật Bản và EU
để bù đắp một phần tác động này Trong quý 1 năm 2004, xuất khẩu thủy sản sang thị trường Hoa Kỳ giảm 1% trong khi tăng hơn 30% sang thị trường Nhật Bản và EU
Trang 7Bảng 2: Tăng trưởng và Kim ngạch Xuất khẩu
Giá trị (Tr USD) Tỷ trọng % Tăng trưởng %
Đóng góp vào tăng truởng 1/
2003 2003 5T-04 2003 5TM-04 5T-04
Tổng kim ngạch xuất khẩu 20,176 100.0 100.0 20.8 17.4 17.4 Dầu thô 3,821 18.9 21.2 16.8 21.3 4.4 Mặt hàng ngoài dầu thô 16,355 81.1 78.8 21.7 16.4 13.0 Sản phẩm nông nghiệp 2,252 11.2 11.6 14.5 14.6 1.7 Thủy sản 2,200 10.9 8.2 8.7 1.7 0.2 Sản phẩm khai khoáng 184 0.9 1.2 18.2 54.6 0.5 Dệt may 3,687 18.3 16.3 34.0 6.9 1.2 Giầy dép 2,268 11.2 10.8 21.5 10.8 1.2 Điện tử & máy tính 672 3.3 3.6 36.6 31.0 1.0 Thủ công & mỹ nghệ 367 1.8 1.7 10.7 7.2 0.1 Các mặt hàng khác 4,726 23.4 25.3 22.8 31.0 7.0
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan
Ghi chú: 1/ điểm phần trăm
Hình 2: Thị trường Xuất khẩu chính
0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan
Về thị trường xuất khẩu, nếu như trong hai năm qua, thị phần xuất khẩu sang Hoa
Kỳ tăng nhanh nhất thì đến nay Hoa Kỳ đã nhường vị trí là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam cho EU (Hình 2) Tuy vậy, con số này vẫn chưa thể hiện việc
Trang 8EU mở rộng sang 10 nước thành viên mới Mặc dù, thị phần Trung Quốc tăng nhanh, nhưng Trung Quốc vẫn chỉ là thị trường xuất khẩu lớn thứ 10 của Việt Nam
Chi tiêu nhập khẩu tăng theo giá và đầu tư
Về nhập khẩu, do đầu tư vẫn tăng vững chắc năm 2003, nên nhu cầu đối với hàng hóa tư liệu sản xuất và phụ kiện máy móc đã tăng theo nhanh chóng, đạt tỷ lệ tăng kỷ lục 41% năm ngoái Mặt hàng nhập khẩu đáng kể là máy bay nhập từ Hoa Kỳ Nếu không tính nhập khẩu máy bay, tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu là 27% Do tính chung với nhập khẩu những mặt hàng lớn như máy bay và các mặt khác, nên con số chung về tăng trưởng công nghiệp khá cao Nếu tính riêng, giá trị nhập khẩu tư liệu sản xuất đã giảm trong năm tháng đầu năm 2004 so với cùng kỳ năm ngoái Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để nói liệu
sự sụp giảm trong nhập khẩu máy móc này có thể hiện một tỷ lệ đầu tư giảm sút hơn trong năm hay không
Việc tăng giá quốc tế một số mặt hàng nhập khẩu chủ chốt như thép, phân bón và các sản phẩm lọc dầu đã làm tăng chi tiêu nhập khẩu Mức tăng giá trị nhập khẩu cao hơn nhiều so với mức tăng về khối lượng nhập khẩu (Hình 3)
Hình 3: Tăng trưởng giá trị nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu
Nguồn: Tổng cục thống kê và Tổng cục hải quan
Lưu ý: Các mặt hàng nhập gồm sản phẩm dầu khí, clan-ke, nguyên liệu nhựa, phân
bón, giấy, bột giấy, sợi dệt, bông, sắt thép và bột mỳ
Kiều hối và FDI bù đắp thâm hụt thương mại
Mặc dù thâm hụt thương mại đạt mức 7% GDP vào cuối năm 2003, thâm hụt tài khoản vãng lai được khống chế ở mức dưới 5% GDP nhờ nguồn vốn thu hút đạt mức tăng kỷ lục Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) ước tính lượng kiều hối vào
Trang 9Việt Nam đạt khoảng 2,6 tỷ USD trong năm ngoái và đã dự báo mức kiều hối sẽ tăng lên trong khoảng từ 3,2 tỷ USD đến 3,5 tỷ USD năm 2004 Nếu tính cả dòng vốn chuyển về theo kênh phi chính thức, tổng số kiều hối từ nước ngoài về Việt Nam sẽ có thể vượt mức
4 tỷ USD Con số này tương ứng với khoảng từ 1/5 đến 1/4 doanh thu xuất khẩu hàng năm
FDI dự tính đạt mức 1,5 tỷ USD năm 2003 Giải ngân ODA đạt mức 1,1 tỷ USD
Do các tổ chức và cá nhân phi ngân hàng trong nước chuyển một lượng lớn dự trữ đô la sang tiền đồng, nên các dòng vốn này cho phép NHNNVN tăng dự trữ ngoại tệ lên thêm 1,9 tỷ USD, đạt tổng mức dự trữ ngoại tệ 5,6 tỷ USD vào cuối năm 2003 Con số này tương đương với 10 tuần nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Như vậy, tăng dự trữ cùng với mức nhập khẩu gắn với đầu tư hiện nay có nghĩa là thâm hụt tài khoản vãng lai không còn là một quan ngại vào thời điểm này
Đầu tư trong nước tăng vững chắc
Tỷ lệ đầu tư tăng hơn một điểm phần trăm, đạt 35,6% GDP năm 2003 Tỷ trọng đầu của khu vực nhà nước đạt khoảng 57%, trong khi tỷ trọng đầu tư dự tính của khu vực ngoài quốc doanh trong nước và khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tương ứng 28% và 17% Trong năm 2003, hơn 30.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký kinh doanh, cao hơn năm trước khoảng 26% Tính trung bình, các doanh nghiệp này có vốn đăng ký khoảng 2,1 tỷ đồng, vượt mức 1,5 tỷ đồng năm 2002
Thâm hụt ngân sách được kiềm chế nhưng chi tiêu ngoài ngân sách tăng
Thâm hụt ngân sách ở mức khoảng 2% GDP trong năm 2003 so với mức 1,9% của năm 2003 và thấp hơn so với mức dự kiến 2,8% do thu ngân sách đã tăng đáng kể Thu ngân sách tăng cũng giúp giải quyết sức ép tăng 38% chi ngân sách cho lương và hưu trí Do vậy, thâm hụt ngân sách năm 2004 tăng lên một chút ở mức 2,3% GDP Nguồn thu ngân sách được duy trì ở mức 21-22% GDP trong những năm qua Tuy nhiên, mức thâm hụt ước tính không tính đến các dòng vốn tạo nợ khác của chính phủ như các khoản vay hiện tại (dự tính ở mức khoảng 2,8% GDP) và chi phí tái cấp vốn cho các ngân hàng quốc doanh có thể chiếm khoảng 1,2% GDP Trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ trên GDP của chính phủ được hình thành do các khoản ngoài ngân sách, chứ không phải
do thâm hụt của chi tiêu trong ngân sách (Hình 4)
Trang 10Hình 4: Nợ trong và ngoài Ngân sách
Nguồn: Bộ Tài chính, NHNNVN và ước tính của NHTG
Chi xây dựng cơ bản chiếm gần 30% tổng chi ngân sách Trong hai năm qua, chính phủ đã phụ thuộc nhiều hơn vào việc phát hành trái phiếu trong nước để tạo nguồn tài chính cho chi tiêu xây dựng cơ bản Trái phiếu phát hành trong nước tạo nguồn tài chính cho khoảng 55% thâm hụt trong giai đoạn 2000-02 và nhiều khả năng sẽ tăng lên khoảng 75% năm 2004 Chính phủ cũng đã phát hành trái phiếu với thời hạn từ 5 đến 10 năm nhằm tài trợ một phần cho các chi tiêu ngoài ngân sách Năm 2004, chính phủ có kế hoạch phát hành khoảng 8,2 nghìn tỷ tiền trái phiếu cho phát triển cơ sở hạ tầng và 2,5 nghìn tỷ đồng cho ngành giáo dục.Theo kế hoạch, một khoản tiền trái phiếu bổ sung từ 7 đến 8 nghìn tỷ đồng cũng sẽ được huy động cho Qũy Hỗ trợ Phát triển
Trái phiếu có thời hạn 2 và 5 năm có mức lãi suất tương ứng là 7,7% và 8,4% Tỷ
lệ này cao hơn một chút so với tỷ lệ lãi suất tiền gửi mà ngân hàng áp dụng cho tiền gửi với thời hạn tương tự Trái phiếu với thời hạn 15 năm với mức lãi suất 9,4% cũng đã được phát hành Tiền thu được từ trái phiếu loại này sẽ được chuyển đến Qũy Hỗ trợ Phát triển Ngân hàng TMQD là khách hàng trên thị trường trái phiếu Chính phủ
Tín dụng tăng nhưng chất lượng còn đáng lo ngại
Tỷ lệ tăng trưởng cao hiện nay dẫn đến xu hướng tiền tệ hóa nền kinh tế và nhu cầu tín dụng tăng mạnh Tiền rộng tăng 18% năm 2002 và 20% năm 2003 Tiền gửi ngân hàng tăng với tốc độ tương tự, đạt mức trên 56% GDP năm 2003, cho thấy niềm tin của người dân vào khu vực tài chính chính thức đang tăng lên Tăng trưởng tín dụng tăng 28% Tỷ trọng tín dụng giành cho khu vực ngoài quốc doanh tiếp tục tăng và hiện nay chiếm gần 2/3 tổng số tín dụng được cung ứng Tuy nhiên, chất lượng cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) là một vấn đề đáng lo ngại Mặc dù, đã
Trang 11có tiến bộ là sử dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế khi kiểm toán các NHTMQD, nhưng việc phân loại nợ theo mức độ hiệu quả là một việc khó khăn Do vậy, dự tính tổng khoản
nợ không sinh lời của các NHTMQD đạt khoảng 4-5% GDP và từ 10-11% tổng tín dụng ngân hàng giành cho nền kinh tế
Lạm phát tăng do giá nhập khẩu và lương thực tăng
Sau hai năm giảm phát nhẹ, giá cả tăng lên 3-4% năm 2002-2003 Một số yếu tố tạm thời đã làm tăng mức lạm phát lên 7,1% vào tháng 5/2004 so với tháng 5/2005 Việc tăng lạm phát năm nay liên quan nhiều hơn đến các yếu tố cung hơn là do sự mất cân đối
về kinh tế vĩ mô Các yếu tố dẫn đến lạm phát tăng là việc tăng giá lương thực do dịch cúm gà bùng phát, việc cấm bán thịt gia cầm và việc tăng giá cả các mặt hàng chủ chốt như xăng dầu, sắt thép và phân bón trên thị trường thế giới Giá lương thực - thực phẩm, chiếm gần một nửa trong chỉ số giá cả tiêu dùng tháng 5/2004, tăng hơn 12% so với tháng
5 năm ngoái và tăng 1,8% so với tháng trước, trong đó giá lương thực tăng 13,8% và thực phẩm tăng 12,4% Giá thuốc chữa bệnh tiếp tục có xu hướng tăng mạnh đến tháng 5 Chi tiêu vào thuốc chữa bệnh của người dân dự tính ở mức trên một nửa tổng chi phí cho sức khỏe
Hình 5: Chỉ số giá lương thực và phi lương thực
95 100 105 110 115 120
Dec-02 Feb-03 Apr-03 Jun-03 Aug-03 Oct-03 Dec-03 Feb-04 Apr-04
chØ sè
Nguồn: Tổng cục Thống kê, và ước tính của NHTG
Nhìn chung, những biến động về tỷ lệ lạm phát nổi bật trong thời gian vừa qua liên quan đến những biến động lên xuống của giá lương thực (Hình 5) Mặc dù, việc tăng lạm phát giá lương thực gần đây có thể chỉ mang tính tạm thời nhưng việc tăng giá dầu lên mức cao nhất trong vòng 13 năm qua là trên 40 đô la một thùng chắc chắn sẽ có tác động lan tỏa tới toàn bộ nền kinh tế Dự kiến mức lạm phát có thể tăng lên nên chính phủ
đã cắt giảm thuế nhập khẩu đối với xăng dầu nhằm bình ổn giá cả Đồng thời, các công ty điện nước cũng đã trì hoãn việc tăng giá điện và nước Trong một nỗ lực gần đây nhằm kiềm chế hiện tượng tăng giá dược phẩm nhập khẩu, chiếm tới 60% dược phẩm tại Việt
Trang 12Nam, Bộ Y tế đã cho phép các doanh nghiệp địa phương cùng tiến hành nhập khẩu dược phẩm Động thái này đã có thể phần nào giúp giảm nhẹ sức ép giá cả thông qua việc bảo đảm một nguồn cung ứng đủ dược phẩm nhập khẩu ở mức giá thấp hơn hiện tại ở Việt Nam
Để duy trì tiền gửi bằng đồng, một số ngân hàng thương mại gần đây đã tăng hoặc thể hiện ý định tăng tỷ lệ lãi suất tiền gửi lên một chút để đối phó với tỷ lệ lạm phát tăng cao hơn Ngân hàng trung ương không ủng hộ hành động này và mong muốn duy trì mức lãi suất như trong 12 tháng qua Nhìn chung, những giải pháp chính sách đối phó lạm phát của chính phủ tỏ ra phù hợp Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực mà chính phủ cần tiếp tục theo dõi sát sao
Việc giảm giá của đồng đô-la mà tiền đồng gắn chặt vào, có thể chỉ làm trầm trọng thêm việc tăng lạm phát Do vậy, tiền đồng giảm giá so với đồng euro và yên (Hình 6) Điều này có tác động làm cho hàng hóa Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường Châu Âu và Nhật Bản Mặc khác, điều này cũng làm tăng chi phí cho các nhà nhập khẩu Việt Nam
Hình 6: Đồng tiền giảm giá dần
10000 12000 14000 16000 18000 20000 22000
Jun-04 Feb-04
Nov-03 Aug-03
Apr-03 Jan-03
Nguồn: Hệ thống Giám sát Tích hợp Ngân hàng Thế giới
Cũng có những yếu tố kinh tế sâu sắc hơn và mang tính cơ cấu hơn đằng sau xu hướng tăng lạm phát Gía cả ở Việt Nam vẫn còn rất rẻ theo tiêu chuẩn quốc tế và giá cả
có xu hướng tăng trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Điều này cũng đúng đối với chi phí lao động Với một cơ chế tỷ giá được quản lý tích cực, sự tăng giá thực sự đang diễn ra thông qua mức giá trong nước cao hơn
Trang 13Khung 1: Gía dầu tăng có tác động đến Việt Nam như thế nào ? Việt Nam xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu các sản phẩm dầu tinh chế Về mặt giá trị, Việt Nam là nước xuất khẩu dầu ròng với giá trị xuất khẩu đạt 3,78 tỷ USD (chiếm 19% tổng kim ngạch xuất khẩu) và giá trị nhập khẩu đạt 2,41 tỷ USD (chiếm 10% tổng kim ngạch nhập khẩu) năm 2003 Do đó, trên quan điểm cân đối thương mại, việc tăng giá dầu sẽ tạo lợi thế cho Việt Nam Trong bốn tháng đầu năm 2004, nhập khẩu tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái đạt mức 1,1
tỷ USD trong khi xuất khẩu tăng 17% đạt mức1,6 tỷ USD
Dầu khí là một nguồn thu ngân sách chủ yếu Về mặt sản xuất, nguồn thu này được thu theo hình thức thuế thu nhập công ty, thuế tài nguyên thiên nhiên và lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp khai thác dầu khí (PetroVietnam) Về mặt tiêu dùng, nguồn thu này được thu từ thuế tiêu thụ và thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm dầu khí nhập khẩu Năm 2003, nguồn thu từ sản xuất chiếm khoảng 22% tổng thu và nguồn thu từ tiêu dùng chiếm thêm 6% nữa Trong bốn tháng đầu năm 2004, nguồn thu từ sảu xuất tăng 1,5% Mặc khác, chừng nào nhà nước vẫn bao cấp cho việc tiêu thụ một số sản phẩm dầu nhập khẩu, thì chừng đó vẫn còn một hạng mục chi tiêu cho các sản phẩm dầu khi
Petrolimex là cơ quan chính có nhiệm vụ nhập khẩu và phân phối các sản phẩm dầu khí Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã cố gắng giúp người tiêu dùng tránh khỏi sức ép tăng giá dầu trên thị trường thế giới Gía các sản phẩm dầu được bán trên thị trường trong nước được hình thành bởi mấy yếu tố Gía sản phẩm dầu nhập khẩu tăng lên do phải chịu thuế nhập khẩu, thuế VAT, thuế tiêu thụ và một tỷ lệ phí phân phối Do giá sản phẩm dầu nhập khẩu tăng lên, nên chính phủ thường xuyên phải giảm thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm dầu Tuy nhiên, trước tình hình giá dầu nhập khẩu tăng vượt mức giá trong nước được ấn định cho người tiêu dùng, cần xem xét các giải pháp khác
Tháng 2, giá dầu cho tiêu thụ nội địa được tăng lên 6-7% Tuy vậy, mức tăng này cũng chỉ là sự điều chỉnh giá một phần trước xu hướng tăng giá quốc tế Tháng 5, thuế nhập khẩu đối với một số sản phẩm dầu tinh chế đã giảm từ 5% xuống 0% Tuy nhiên, do giá dầu tăng nhanh hơn mức giảm thuế nhập khẩu, nên các nhà phân phối dầu phải chịu một tỷ lệ lãi lề thấp hơn Các nhà phân phối cho rằng họ bị "lỗ" từ 600-1000 VND đối với mỗi lít dầu bán ra Đối với 9 nhà phân phối của nhà nước hoạt động tại Việt Nam, mức lỗ gộp lại lên tới 1,2 nghìn tỷ VND trong quý 1 năm 2004 Chính phủ chỉ bao cấp một phần mức giảm lợi nhuận
Có một số nguyên nhân giải thích tại sao chính phủ gặp khó khăn trong việc tăng giá vào thời điểm này Do dầu là một yếu tố đầu vào quan trọng nhất trong ngành giao thông (chiếm 30- 40%), nên việc tăng giá dầu có thể dẫn đến tăng giá đối với các ngành khác do chi phí vẫn chuyển hàng hóa tăng Tăng giá dầu diễn ra vào thời điểm giá lương thực đã và đang tăng cũng như giá một số mặt hàng nhập khẩu chủ chốt khác như thép Chính phủ cũng muốn tránh tăng giá đối với một số sản phẩm như dầu hỏa thường được người nghèo sử dụng làm dầu đốt.
Trong trường hợp giá dầu không giảm xuống thấp hơn mức hiện nay và giá cả trong nước vẫn không thay đổi, thì chính phủ sẽ có thể phải trợ cấp ở mức 10-12 nghìn tỷ trong năm nay.
Trang 14PHẦN II
CẢI CÁCH KINH TẾ
Trang 15
Việt Nam tiếp tục thực hiện một chương trình nghị sự cải cách toàn diện Mục tiêu chính của Việt Nam là hoàn thành quá trình quá độ sang một nền kinh tế thị trường, bảo đảm sự phát triển bền vững và công bằng và xây dựng năng lực quản lý quốc gia hiện đại Mặc dù đã có những tiến bộ trong tất cả các mục tiêu này, mức độ tiến bộ trong việc thực hiện mỗi mục tiêu còn khác nhau nhiều Những vấn đề nổi bật trong những tháng gần đây là tiến bộ đáng kể trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, những bước
đi hứa hẹn trong việc giảm bớt cho vay chính sách, việc đẩy mạnh quá trình cải cách SOE, và sự quyết tâm rõ rệt trong việc thực hiện giải pháp chống tham nhũng toàn diện Mặc khác, việc cải cách ngân hàng đạt được tiến bộ ít ỏi vẫn là một vấn đề đáng lo ngại Hội nhập nền kinh tế thế giới
12 tháng qua chứng kiến sự tiến bộ vững chắc trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới Các hoạt động chuẩn bị cho việc gia nhập WTO đang được đẩy mạnh Mặc dù Việt Nam đã tuyên bố ý định trở thành thành viên của WTO từ năm 1995, nhưng cho đến gần đây, các cuộc đàm phán còn đạt được rất tiến bộ Vấn đề quan tâm hiện nay
là hàng rào thương mại còn tương đối cao nhằm bảo vệ một số ngành được coi là chiến lược (như ô tô, xi măng, hóa chất, phân bón, thép và đường) và vẫn còn trở ngại gia nhập các ngành dịch vụ do nhà nước chi phối (đặc biệt là ngân hàng và viễn thông) Giữa năm
2003, trong bối cảnh đạt được những thành tích khích lệ của hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, Chính phủ đã có quyết định sớm gia nhập WTO vào năm 2005 Kể
từ đó, chính phủ đã tích cực chuẩn bị lộ trình gia nhập WTO cho các ngành chủ chốt của nền kinh tế
Chính phủ đã trình bản chào sửa đổi gia nhập WTO cho các đối tác thương mại và bản chào này đang được xem xét Hiện tại, còn quá sớm để biết liệu thời hạn 2005 sẽ có thể đạt được không Tuy nhiên, sự thay đổi về bản chất cuộc tranh luận từ việc, liệu Việt Nam có nên gia nhập WTO sang việc khi nào Việt Nam gia nhập, thể hiện quyết tâm mới của Chính phủ Việc tuân thủ các quy định WTO sẽ tạo một cơ chế mạnh mẽ nhằm gắn kết quá trình cải cách vào khuôn khổ WTO, đặc biệt đối với các vấn đề "sau biên giới" (các vấn đề phi thuế quan và thương mại dịch vụ)
Việc chuẩn bị lộ trình thay đổi thuế quan chi tiết, bao gồm đánh giá tác động ngành và thời gian thực hiện dự kiến là một đóng góp quan trọng cho quá trình đàm phán các điều kiện gia nhập WTO của Việt Nam Điều quan trọng hơn là những lộ trình này đưa ra một tầm nhìn cho cơ cấu kinh tế hộ lâu dài Tầm nhìn đó là: thuế nhập khẩu trung bình sẽ thấp, hầu hết các hàng rào phi quan thuế sẽ bị loại bỏ và không có các ngành được hưởng mức bảo hộ cao Một số động thái chính sách được thực hiện trong năm qua
có mục tiêu nhằm bảo đảm nền kinh tế phát triển theo hướng đó
Hạn chế về số lượng đối với nhập khẩu các sản phẩm dầu đã bị loại bỏ Điều này diễn ra sau khi có các biện pháp loại bỏ hạn chế định lượng đối với các mặt hàng như giấy, kính xây dựng, thép, dầu thực vật, phương tiện chở khách 9 chỗ, xi-măng và clanhke Do đó, tỷ lệ áp dụng hạn chế định lượng giảm từ mức 20% nhập khẩu và 22% sản xuất năm 2001, xuống còn 13% và 4% tương ứng hiện nay Năm 2004, thuế đối với
Trang 16484 mặc hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, hầu hết là nông sản và thủy sản đã giảm Động thái này được gọi là Chương trình Thu hoạch sớm, là một bước tiến đến việc thực hiện hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc.Ngoài ra, trong năm qua, một số quy định được xây dựng trên cơ sở phù hợp với các quy định của WTO Các quy định này liên quan đến định giá hải quan và áp dụng Hệ thống mã số và phân loại chung (HCCS) trên cơ sở đa phương
Cải cách doanh nghiệp nhà nước
Theo dự tính của Chính phủ, Việt Nam hiện có 4296 DNNN với tổng số vốn khoảng 189 nghìn tỷ VND (tương đương 12 tỷ USD) Các số liệu về các DNNN đó cần được xem xét một cách thận trọng do hệ thống thông tin còn rất yếu kém trong lĩnh vực này Gần 47% doanh nghiệp tuyên bố có mức vốn dưới 5 tỷ USD Mức lợi nhuận trên vốn bình quân gần đây nhất dự tính đạt 7,34% Khoảng 77% DNNN báo cáo đạt lợi nhuận trong khi các DNNN còn lại hòa vốn hoặc chịu lỗ
Bảng 3: Số DNNN chuyển đổi
2001 2002 2003 5T-2004
thuộc quyền quản lý của:
Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố 156 145 229 111
Ghi chú: Các kế hoạch xắp xếp lại
DNNN đã được phê chuẩn 298 698 107
Nguồn: Ban Chỉ đạo Đổi mới và Cải cách DNNN
Số DNNN đã giảm dần theo thời gian (Bảng 3) Nhiều doanh nghiệp đang trải qua quá trình chuyển đổi nằm trong kế hoạch tổng thể cải cách DNNN của năm 2002 với mục tiêu cổ phần hóa, bán hoặc thanh lý khoảng 2400 DNNN trong giai đoạn ba năm Tốc độ chuyển đổi DNNN đã tăng lên năm 2003, tăng gần 60% so với năm trước đó Tốc độ này vẫn còn tăng nhanh trong năm 2004 Một DNNN chuyển đổi được coi là hoàn chỉnh khi hội nghị cổ đông đầu tiên được tổ chức và doanh nghiệp mới hoàn tất các thủ tục đăng ký kinh doanh Điều này khác với số doanh nghiệp thường được nêu lên trên báo chí, sử dụng số lượng các doanh nghiệp được phê chuẩn chuyển đổi sở hữu nhưng thực tế không phải tất cả doanh nghiệp này đã hoàn tất đăng ký kinh doanh