ĐƠNVNTIỀN=ĐỒNG Tỷ GIÁ 1US$ = 15,730 VNĐ NĂM TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM Từ ngày 1 tháng Giêng đến ngày 31 tháng 12 CÁC TỪ VIẾT TẮT Bộ TNMT Bộ Tài nguyên Môi trường Bộ KH-ĐT Bộ Kế
Trang 1ĐIỂM LẠI
Báo cáo cập nhật về tình hình cải cách
và phát triển kinh tế của Việt Nam
Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam
Hội nghị Nhóm Tư vấn các Nhà Tài trợ cho Việt nam
Hà Nội, ngày 1-2/12/2004
Trang 3ĐƠNVNTIỀN=ĐỒNG
Tỷ GIÁ 1US$ = 15,730 VNĐ NĂM TÀI CHÍNH CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
Từ ngày 1 tháng Giêng đến ngày 31 tháng 12
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ TNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
Bộ KH-ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ NNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CEPT Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
CLTT&GNTD Chiến lược Tăng trưởng và Giảm nghèo toàn diện
CTTT CCHCC Chương trình tổng thể cải cách hành chính công
CTĐTC Chương trình đầu tư công
ĐM&PT DNNN Đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước
ĐGNCPL Đánh giá nhu cầu pháp luật
ĐGTMT Đánh giá tác động môi trường
KTPT&KTXH Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
MTEF Khuôn khổ chi tiêu trung hạn
NHNNVN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
Quỹ CSSKNN Quỹ chăm sóc sức khỏe người nghèo
SPS Hiệp định tiêu chuNn vệ sinh và vệ sinh an toàn thực phNm
TABMIS Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc
TRIMS Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
TRIPS Hiệp định quyền thương mại và quyền sở hữu
XDHTPL Xây dựng hệ thống pháp luật
Báo cáo này do Vivek Suri và Đinh Tuấn Việt thực hiện với đóng góp của Phil Brylski, Amanda Carlier, Soren Davidsen, Đoàn Hồng Quang, Edward Mountfield, Daniel Musson, Nguyễn Thế Dũng, Samuel Lieberman, James Seward, Rob Swinkels, Trần Thanh Sơn, và Carolyn Turk Chỉ đạo thực hiện là Homi Kharas, Klaus Rohland, và Martin Rama Các tác giả có sử dụng các kết luận của Báo cáo Vietnam - Article IV 2004 của Quỹ Tiền tệ quốc tế
Trang 5PHẦN I: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẦN ĐÂY 1
Tăng trưởng GDP 3
Nông nghiệp từng bước phục hồi sau dịch cúm gà 3
Đầu tư và tiêu dùng vẫn tăng trưởng mạnh 4
Giá cả cao hơn, các thị trường và mặt hàng mới thúc đNy xuất khNu 5
Hạn ngạch dệt may kết thúc sẽ tạo cạnh tranh khốc liệt hơn 7
Giá cả thế giới tăng làm tăng chi phí nhập khNu 8
Thâm hụt thương mại và tài khoản vãng lai đã thu hẹp 9
ODA vẫn là nguồn tài trợ quan trọng 10
Nguồn thu tăng đã cải thiện kết quả ngân sách 10
Khó khăn về nguồn cung làm tăng lạm phát 11
Tín dụng tăng và những quan ngại về chất lượng 13
PHẦN II: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN 15
A CHUYỂN SANG KINH TẾ THN TRƯỜNG 17
Hội nhập kinh tế thế giới 17
Cải cách doanh nghiệp nhà nước 18
Cải thiện môi trường đầu tư 23
Cải cách ngân hàng 25
Tăng cường chất lượng cơ sở hạ tầng 28
B HỘI NHẬP XÃ HỘI VÀ TÍNH BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG 29
Cải thiện quy mô và chất lượng giáo dục 29
Sức khỏe tốt hơn 30
Đất, nước và môi trường 31
C XÂY DỰNG NỀN QUẢN TRN HIỆN ĐẠI 34
Hoàn thiện quy trình lập kế hoạch 34
Triển khai Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện (CLTT&GNTD) 35
Quản lý nguồn lực công tốt hơn 35
Đánh giá nghèo tốt hơn 36
Cải cách hành chính công 37
Đấu tranh chống tham nhũng 39
Xây dựng pháp luật 41
PHỤ LỤC: KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN 42
Trang 6Bảng 1: Tăng trưởng GDP theo ngành kinh tế (%) 3
Bảng 2: Tăng trưởng và cơ cấu xuất khNu 5
Bảng 3: Nhập khNu: Cơ cấu và tăng trưởng 8
Bảng 4: Dự tính Nhu cầu Tài chính (Tỷ USD ) 10
Bảng 5: Số lượng chuyển đổi sở hữu DNNN 18
Bảng 6: Chuyển đổi sở hữu DNNN 19
Bảng 7: Kết quả tài chính của một số DNNN theo ngành 19
Bảng 8: Tiến độ thực hiện chỉ thị cổ phần hóa các DNNN lớn 21
Bảng 9: Các chỉ số ngành ngân hàng 26
Hình: Hình 1: Cam kết và giải ngân Đầu tư nước ngoài (tỷ USD) 4
Hình 2: Tăng trưởng giá trị xuất khNu 5
Hình 3: Tăng giá và giá trị xuất khNu các mặt hàng chính (%) 6
Hình 4: Các thị trường xuất khNu chính(%) 7
Hình 5: Các mặt hàng nhập khNu chính - Tăng giá và Giá trị 9
Hình 6: Cán cân tài khoản vãng lai và thương mại (% GDP) 9
Hình 7: Chỉ số giá tiêu dùng 12
Hình 8: Chỉ số giá cả tiêu dùng bình quân hàng tháng và tăng trưởng tín dụng* 13
Khung: Khung 1: Giải thích kết quả hoạt động của DNNN 20
Khung 2: Đánh giá cơ chế một cửa tại cấp xã 39
Trang 7PHẦN I
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẦN ĐÂY
Trang 9Tăng trưởng tổng sản phNm trong nước (GDP) của năm 2004 vẫn tiếp tục ở mức cao và dự kiến sẽ vượt mức 7,2% của năm 2003 Kim ngạch xuất khNu (ngoài dầu thô) tăng ở mức ấn tượng cho dù thị trường xuất khNu có những trở ngại nhất định Thâm hụt ngân sách và cán cân vãng lai được duy trì ở mức thấp Một trong số các diễn biến chính của kinh tế vĩ mô trong 10 tháng qua là giá cả tăng nhanh, gây nên nhiều tranh luận về chiến lược ứng phó trong các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, tốc độ tăng giá tiêu dùng đã có xu hướng giảm Giá dầu tăng cao trên thị trường quốc tế là nhân tố quan trọng dẫn đến việc tăng lạm phát của năm 2004, tuy nhiên, giá dầu tăng cũng giúp tăng kim ngạch xuất khNu và thu ngân sách nhà nước
Tăng trưởng GDP
GDP đã tăng khoảng 8% trong quý 3 góp phần đáng kể vào mức tăng 7,4% của 9 tháng đầu năm 2004 Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp tăng 10,6% trong 9 tháng đầu năm 2004, trong đó công nghiệp chế tạo tăng 9,3% (xem Bảng 1) Ngành xây dựng
đã đạt mức tăng trưởng kỷ lục 8,1% trong 9 tháng đầu năm Sự hồi phục tăng trưởng trong ngành xây dựng trong quý 2 và 3 là nhờ chính sách kích cầu thông qua các chương trình đầu tư của chính phủ Tuy nhiên, tăng trưởng trong ngành này đã bị ảnh hưởng đáng
kể của giá thép xây dựng
Bảng 1: Tăng trưởng GDP theo ngành kinh tế (%)
Nông nghiệp từng bước phục hồi sau dịch cúm gà
Tăng trưởng nông nghiệp đạt 2,3% trong 9 tháng đầu năm 2004, cho thấy sự phục hồi trong những tháng gần đây sau tác động của dịch cúm gà Ngành chăn nuôi gia cầm
và gia súc chiếm khoảng 7% GDP bị ảnh hưởng nặng bởi dịch cúm gà hồi đầu năm Khoảng 43 triệu gia cầm, tương đương gần 17% tổng số gia cầm trên cả nước đã bị tiêu hủy Người chăn nuôu nhận bồi thường từ chính phủ ít nhất 5000 đồng với mỗi con gia cầm bị tiêu hủy Giá trị sản lượng trong ngành chăn nuôi gia súc giảm 6,1% trong quý 1, tuy nhiên đã được phục hồi ở mức 6,5% trong 9 tháng đầu năm Điều này cho thấy việc giảm sản lượng gia cầm đang được bù đắp bởi việc tăng các sản phNm chăn nuôi khác
Nhìn chung cho đến nay, tác động của dịch cúm gà đối với ngành du lịch là không lớn lắm, ngoại trừ vào tháng 3 Tính đến hết tháng 10, số lượng khách du lịch tăng 40%
so với cùng kỳ năm 2003 một phần nhờ ngành du lịch đã phục hồi sau tác động của dịch SARS Trong những tháng gần đây, có dấu hiệu bệnh cúm gà đã xuất hiện trở lại ở một
Trang 10vài địa phương Mặc dù những trường hợp này diễn ra lẻ tẻ và không nhiều, nhưng đây là một vấn đề mà các cơ quan chức năng của nhà nước cần chú ý đặc biệt
Đầu tư và tiêu dùng vẫn tăng trưởng mạnh
Đầu tư và tiêu dùng trong nước vẫn tăng trưởng mạnh Chỉ số tổng mức bán lẻ và dịch vụ tăng 18,3% trong 9 tháng đầu năm 2004 so với cùng kỳ năm ngoái Theo giá hiện hành, đầu tư tăng 19% trong 9 tháng đầu năm 2004, chiếm 36,2% GDP Tỷ trọng nhà nước trong tổng đầu tư đạt 54% Trong khi đó, tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài lần lượt chiếm 27% và 19% Tính đến tháng 9 đã có thêm 26.800 doanh nghiệp được thành lập trên cả nước với tổng số vốn đăng ký hơn 53 nghìn
tỷ đồng So với cùng kỳ năm ngoái, các doanh nghiệp mới thành lập tăng khoảng 36% về
số lượng và 29% về vốn đăng ký Tuy nhiên, quy mô trung bình của các doanh nghiệp vẫn tương đối nhỏ
Hình 1: Cam kết và giải ngân Đầu tư nước ngoài (tỷ USD)
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê
Vốn cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh trong năm 2004, tăng 36% trong 10 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm ngoái (Hình 1) Lượng FDI tăng thêm bao gồm 1,7 tỷ USD cam kết mới (tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái) và 1,5 tỷ USD vốn mở rộng đầu tư của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt nam Tỷ lệ giải ngân, bao gồm vay trong nước của các liên doanh, tăng hơn 5% so với cùng kỳ năm
Trang 11Hình 2: Tăng trưởng giá trị xuất kh#u
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Giá cả cao hơn, các thị trường và mặt hàng mới thúc đy xuất khu
Kim ngạch xuất khNu tăng vượt mức dự kiến, đạt mức 28% trong 10 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm ngoái Kết quả xuất khNu này cũng duy trì được xu hướng tăng trưởng xuất khNu mạnh mẽ trong những năm qua (xem Hình 2) Tỷ trọng xuất khNu hàng chế biến trong GDP đã tăng thêm gần 10 điểm phần trăm trong 5 năm đạt gần 52% GDP Dầu thô và dệt may hiện vẫn là các mặt hàng xuất khNu quan trọng nhất Các mặt hàng quan trọng tiếp theo là giày dép và thủy sản (xem Bảng 2)
Bảng 2: Tăng trưởng và cơ cấu xuất kh#u
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Hải quan
Năm 2004, chủ yếu nhờ giá dầu trên thị trường quốc tế tăng, xuất khNu dầu thô tăng 43% về giá trị và 14,5% về lượng tính đến hết tháng 10 Nhìn chung, về giá trị, các
Trang 12mặt hàng xuất khNu chủ yếu tăng gần 42%, chủ yếu nhờ giá cao hơn trên thị trường quốc
tế (xem Hình 3)
Hình 3: Tăng giá và giá trị xuất kh#u các mặt hàng chính (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Hải quan
Ghi chú: Các mặt hàng xuất khNu tính ở đây là dầu thô, gạo, cà phê và than đá
Trong 10 tháng đầu năm 2004, mặc dù đạt mức tăng trưởng ấn tượng 19,5% nhưng xuất khNu dệt may vẫn tăng trưởng chậm hơn so với mức kỷ lục 45% trong cùng
kỳ của năm 2003 Việc giảm sút này là do quy chế hạn ngạch dệt may của Hoa kỳ, liên quan đến hiệp định song phương Việt nam - Hoa kỳ áp dụng cho một số mặt hàng may mặc Năm 2004, hạn ngạch giảm 4,5% do chênh lệch về nguyên tắc xuất xứ Xuất khNu tôm của Việt nam đã bị kiện chống phá giá tại thị trường Hoa kỳ Thuế sơ bộ áp dụng cho tôm xuất khNu của Việt nam dao động từ 12% lên đến 93% Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2004, xuất khNu thủy sản nói chung của Việt nam vào thị trường Hoa kỳ giảm hơn 20% Trong khi đó, xuất khNu của toàn ngành thủy sản chỉ ở mức khiêm tốn là 2,4%
Một mặt hàng xuất khNu tăng nhanh trong năm nay là nhóm các sản phNm gỗ, đặc biệt là đồ gỗ gia dụng, tăng trên 80% trong 10 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm ngoái Xuất khNu các sản phNm gỗ dự kiến đạt khoảng 1 tỷ USD năm 2004 Tại thị trường Hoa
kỳ, các mặt hàng xuất khNu này đang phần nào thay thế các mặt hàng xuất khNu tương tự của Trung quốc do xuất khNu sản phNm gỗ của Trung quốc sang Hoa kỳ đã giảm sau các
vụ kiện chống phá giá
Do xuất khNu hàng dệt may và thuỷ sản bất ổn định tại Hoa kỳ, nên các nhà xuất khNu đã tìm cách đa dạng hóa thị trường thông qua việc thâm nhập vào thị trường EU và Nhật bản và đã đạt được một số thành công bước đầu Xu hướng trở nên thuận lợi hơn nhờ việc tăng hạn ngạch dệt may tại thị trường EU và việc cải thiện tiêu chuNn an toàn thực phNm của các doanh nghiệp xuất khNu Việt nam Xuất khNu dệt may sang EU tăng trên 30% trong 10 tháng đầu năm Xuất khNu thủy sản sang thị trường Nhật Bản tăng 18% Trong khi đó, xuất khNu thủy sản sang thị trường EU tăng trên 70% mặc dù từ một điểm xuất phát thấp
Trang 13Hình 4: Các thị trường xuất kh#u chính(%)
Nguồn : Tổng cục Thống kê và Hải quan
Năm 2004, EU và Hoa kỳ là các thị trường xuất khNu lớn của Việt nam với tỷ trọng xuất khNu sang thị trường EU có cao hơn đôi chút so với thị trường Hoa kỳ (xem hình 4) Việc thực hiện Hiệp định thương mại Việt nam Hoa kỳ đã dẫn đến việc tăng mạnh xuất khNu sang thị trường Hoa kỳ Do đó, tỷ trọng của Hoa kỳ trong tổng kim ngạch xuất khNu của Việt nam tăng từ 7% năm 2001 lên gần 20% năm 2003 Tuy nhiên,
do hạn ngạch xuất khNu và các trở ngại khác trong năm 2004 (như đã đề cập ở trên), xuất khNu sang thị trường Hoa kỳ tăng chậm hơn và tỷ trọng có giảm đi đôi chút Một đặc điểm đáng lưu ý trong năm qua là tầm quan trọng tăng lên của Trung quốc với tư cách là một thị trường xuất khNu Tỷ trọng của Trung quốc trong tổng kim ngạch xuất khNu của Việt nam đã tăng lên trên 10% Chương trình Thu hoạch sớm, được ký kết trong năm nay, đã loại bỏ thuế nhập khNu đối với các mặt hàng nông nghiệp và thủy sản và chắc chắn sẽ thúc đNy mạnh xuất khNu mặt hàng này sang Trung quốc hơn nữa
Hạn ngạch dệt may kết thúc sẽ tạo cạnh tranh khốc liệt hơn
Hệ thống hạn ngạch trong buôn bán sản phNm dệt may theo khuôn khổ của Hiệp định Đa sợi (MFA) đã tồn tại trong 30 năm qua và Hiệp định quá độ về Hàng dệt và quần
áo (ATC) sẽ hết hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2005 Tới thời điểm đó, Việt nam chắc chắn sẽ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt hơn trên thị trường xuất khNu dệt may quốc tế bởi lẽ chưa phải là thành viên của WTO và Việt nam sẽ tiếp tục bị áp đặt hạn ngạch xuất khNu Trước tình hình đó, chính phủ đang tìm cách đàm phán gia tăng hạn ngạch dệt may tại thị trường EU và Hoa kỳ Về phần mình, các nhà sản xuất đang bắt đầu tập trung vào các sản phNm phi hạn ngạch Chính phủ cũng cần giảm chi phí giao dịch và cải thiện tính minh bạch trong phân bổ hạn ngạch do các nhà xuất khNu gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt hơn từ các nước không bị áp đặt hạn ngạch Các bước đi theo hướng này đã diễn ra sau khi một số trường hợp lạm dụng trong phân bổ hạn ngạch mới được phát hiện gần đây Trên phương diện tích cực hơn, người mua tỏ ra muốn đa dạng hóa nguồn cung ứng nên vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với Việt nam với tư cách là một nguồn cung ứng đã được thiết lập Một nhân tố chủ chốt liên quan đến các dấu hiệu gia nhập WTO Nếu tiếp tục có
0 5 10 15 20 25
ASEAN Trung quốc Nhật bản EU Hoa kỳ
2002 2003 9t- 2004
Trang 14dấu hiệu vững chắc rằng Việt nam sẽ gia nhập WTO, các nhà nhập khNu sẽ tiếp tục có động cơ mạnh trong việc duy trì nhập khNu từ Việt nam
Giá cả thế giới tăng làm tăng chi phí nhập khu
Tăng trưởng giá trị nhập khNu 21% trong 10 tháng qua tương đương với tốc độ tăng trưởng nhập khNu trong cùng kỳ năm ngoái Giá quốc tế tăng lên đối với một số mặt hàng nhập khNu chính như các sản phNm xăng dầu, phân bón, sắt thép, giấy, nguyên liệu hoá chất và các chất dẻo Đây là một nhân tố chính làm tăng chi phí nhập khNu (xem Hình 5) Tổng giá trị các mặt hàng nhập khNu chính tăng 37%, trong đó mức tăng giá cả bình quân gia quyền là gần 27%, Tuy nhiên, nhập khNu máy móc, một mặt hàng nhập khNu lớn nhất, giảm 6,6% trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10 so với cùng kỳ năm ngoái (xem bảng 3) Việc giảm sút nhập khNu máy móc là do một số dự án đầu tư lớn đã hoàn tất và từ đó đã giảm nhập khNu một hàng hoá đầu vào liên quan tới khuôn khổ đầu
tư của các dự án Về nhập khNu nói chung, Trung quốc hiện là nhà cung ứng lớn nhất Còn xét theo giá trị nhập khNu không kể các mặt hàng xăng dầu thì các nguồn nhập khNu lớn là Đài loan, Trung quốc và Nhật bản
Bảng 3: Nhập kh#u: Cơ cấu và tăng trưởng
Giá trị
(tỷ USD) Tỷ trọng (%) Tăng trưởng (%)
2003 2002 2003 10T-04 2002 2003 10T-04 Tổng giá trị nhập kh#u 25,227 100.0 100.0 100.0 22.1 27.8 21.4
Nguyên liệu thô & trung gian
Nguyên liệu may-da-giầy 2,034 8.7 8.1 7.2 7.6 1.4 9.4
Ô tô (linh kiện CKD/IKD) 908 3.3 3.6 2.7 27.3 45.6 -0.8
Trang 15Hình 5: Các mặt hàng nhập kh#u chính - Tăng giá và Giá trị
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Hải quan
Ghi chú: Các mặt hàng tính ở đây là xăng dầu, clanke, nhựa, phân bón, giấy, bông, sợi dệt và sắt thép
Thâm hụt thương mại và tài khoản vãng lai đã thu hẹp
Thâm hụt thương mại (tính theo giá f.o.b) trong 9 tháng đầu năm dự tính chiếm 4,3% GDP so với mức 6,6% trong cùng kỳ năm 2003 Do xu hướng này tiếp diễn, nên thâm hụt tài khoản vãng lai hiện nay ở mức 4,7% GDP năm 2003 sẽ chắc chắn thu hẹp trong năm nay do lượng kiều hối gửi từ nước ngoài về vẫn tiếp tục tăng mạnh (xem Hình 6) Lượng kiều hối từ nước ngoài chuyển về lên đến 2,7 tỷ USD năm 2003 và ước tính sẽ vượt mức 3 tỷ USD trong năm nay Thâm hụt tài khoản vãng lai giai đoạn 2002-2003 tăng nên có thể là do nhập khNu nhiều hơn các mặt hàng tư liệu sản xuất và các đầu vào chính, bao gồm các đầu vào để sản xuất hàng xuất khNu Tuy nhiên, mức thâm hút này vẫn nằm trong tầm kiểm soát do đang được bù đắp phần lớn bởi các nguồn vốn FDI không tạo nợ
Hình 6: Cán cân tài khoản vãng lai và thương mại (% GDP )
0 10 20 30 40
Trang 16Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới
ODA vẫn là nguồn tài trợ quan trọng
Về phía nguồn tài chính của cán cân thanh toán, giải ngân ODA sẽ tiếp tục là nguồn quan trọng năm 2004 (xem Bảng 4) Trong tổng số vốn dự tính khoảng 3,3 tỷ USD vào Việt nam (ngoại trừ viện trợ không hoàn lại), gần 44% là ở dạng ODA Nguồn FDI,
dự kiến đáp ứng 36% nhu cầu tài chính Trong hai năm tới, tổng nhu cầu tài chính dự tính
ở mức từ 3,5 - 4 tỷ USD, trong đó ODA dự kiến đóng góp 1,5 tỷ USD Với dòng ODA và lịch trình giải ngân ODA như hiện nay, mức ODA cam kết có thể đạt từ 2 đến 2,5 tỷ USD
Cuối tháng 4/2004, tổng dự trữ ngoại hối đạt khoảng 6,2 tỷ USD (tương đương 2,6 tháng nhập khNu hàng hóa và dịch vụ), gần bằng mức cuối năm 2003 Trong năm
2003, mức dự trữ tăng lên chủ yếu do các ngân hàng thương mại di chuyển vốn từ các tài khoản tiền gửi nước ngoài về các tài khoản trong nước Xu hướng này đã giảm đi đáng kể năm 2004
2003 2004 2005 2006
Thâm hụt tài khoản vãng lai (trừ viện trợ ) 2.0 2.1 2.3 1.9
Nguồn: Dự tính của Qũy tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới
Nguồn thu tăng đã cải thiện kết quả ngân sách
Nguồn thu ngân sách tiếp tục tăng mạnh trong 10 tháng đầu năm 2004, đạt 88%
kế hoạch của cả năm Năm 2004, nguồn thu (bao gồm viện trợ không hoàn lại) dự kiến đạt khoảng 23% GDP, vượt chỉ tiêu khoảng 2 điểm phần trăm GDP Ngân sách nhà nước
đã được hưởng lợi rất nhiều do giá dầu tăng Thu từ sản xuất và xuất khNu dầu thô đã đạt 112% kế hoạch của ngân sách Năm 2003, nguồn thu này đóng góp gần 22% tổng thu trong khi thuế sử dụng các sản phNm xăng dầu đóng góp 5-6% Năm nay, thu nhập từ đấu giá quyền sử dụng đất trở thành một nguồn thu ngân sách quan trọng Tuy nhiên, theo báo cáo, nguồn thu xuất nhập khNu thấp hơn so với mục tiêu Nguyên nhân nguồn thu thuế thương mại thấp hơn dự kiến là do việc loại bỏ thuế quan đối với các mặt hàng như các sản phNm dầu và sắt thép nhằm làm giảm tác động tăng giá đối với người tiêu dùng
Trang 17và việc giảm mạnh nhập khNu các mặt hàng như ô tô và các linh phụ kiện Nguồn thu thuế nhập khNu thấp hơn phần nào còn do quá trình giảm thuế đang diễn ra theo thỏa thuận AFTA
Trong 10 tháng đầu năm, tổng chi ngân sách (bao gồm cả trả nợ gốc) đạt gần 80%
so với kế hoạch năm 2004 Chi đầu tư xây dựng phần nào chậm hơn, đạt 70% mức mục tiêu đề ra trong năm Một lĩnh vực chi tiêu cao hơn theo kế hoạch cho năm nay liên quan đến việc chi cải cách tiền lương nhằm đưa mức lương của khu vực công chức lên gần hơn mức thị trường Khung lương sửa đổi dự kiến sẽ tăng mức lương trung bình lên 30% trong vòng 4 năm và mở rộng hơn nữa các mức lương Việc mở rộng các mức lương là kết quả của điều chỉnh tiền lương nhằm cho phép, một cách hợp lý, những người lao động
có kỹ năng chuyên môn và kỹ thuật cao hơn được trả lương cao hơn theo trình độ kỹ năng của họ Cũng có các khoản chi tiêu cao hơn nằm ngoài kế hoạch để giảm nhẹ tác động của việc tăng giá xăng dầu đối với người tiêu dùng Các khoản chi tiêu này có hình thức thanh toán cho các công ty nhập khNu và phân phối xăng dầu trong nước để phần nào bù lỗ cho họ Các khoản chi này có thể lên tới 0,4% GDP cho năm 2004
Nhìn chung, tổng thu ngân sách có thể vượt mức kế hoạch năm và chi ngân sách chắc chắn sẽ gần sát với mức kế hoạch Do đó, mức thâm hụt ngân sách sẽ thấp hơn so
ODA dự kiến chiếm 1,6% GDP trong năm 2004 Mức thâm hụt cũng không thể hiện một
số hoạt động chi tiêu ngoài ngân sách như cho vay trong nước của Qũy Hỗ trợ phát triển
có thể lên tới khoảng 1% GDP năm 2004 Ngoài ra, một khoản chi tiêu ngoài ngân sách ở mức khoảng 1,5% GDP cũng được dự trù cho các dự án giáo dục và cơ sở hạ tầng
Khó khăn về nguồn cung làm tăng lạm phát
Đến tháng 10/2004, chỉ số giá cả tiêu dùng tăng 10,3% so với cùng kỳ năm ngoái, một tỷ lệ tăng đáng kể so với con số tăng 3,4% tháng 1/2004 (Xem hình 7) Giá lương thực chiếm gần một nửa trong cơ cấu giá tiêu dùng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm ngoái Việc tăng giá các mặt hàng phi lương thực có chậm hơn ở mức 4,7% Việc tăng giá chủ yếu xuất phát từ nguồn cung, do bùng phát dịch cúm gà, điều kiện thời tiết không thuận lợi và giá quốc tế cao hơn đối với một số mặt hàng chủ chốt như xăng dầu, phân bón và sắt thép
Việc bùng phát dịch cúm gà đã làm tăng giá các sản phNm gia cầm và tạo tác động lây làn làm tăng giá các mặt hàng thực phNm thay thế Trong khi đó, giá phân bón, một đầu vào chủ chốt, đã tăng 43% Giá gạo cũng chịu tác động bởi quyết định duy trì dự trữ gạo của chính phủ sau khi mức dự trữ giảm đi do xuất khNu mạnh mặt hàng này Ngoài
ra, việc tăng giá gạo thế giới vào tháng 8 đã đNy giá gạo trong nước tăng hơn nữa
2 Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách của nhà nước là 5% GDP Con số này dựa trên một định nghĩa không quy chuNn vì nó tính cả trả nợ gốc cũng như một số khoản mục thu chi kết chuyển từ năm trước
Trang 18và sắt thép để ngăn chặn tác động của việc tăng giá trên thị trường thế giới đối với người tiêu dùng trong nước Đầu năm, chính phủ cũng đưa ra quyết định không cho phép các tổng công ty nhà nước tăng giá điện, than và xi măng
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 30/2004/CT-TTg về các biện pháp nhằm kiểm soát mức độ tăng giá trong thời gian tới Mục tiêu của chỉ thị nhằm giảm nhẹ tâm lý lo sợ lạm phát và kiềm chế các tác động xuất phát từ nhu cầu Chỉ thị cũng nhằm kiểm soát chặt chẽ các giá cả được điều tiết, thực hiện giảm chi quản lý hành chính từ Ngân sách nhà nước, ổn định lãi suất và can thiệp thận trọng vào thị trường ngoại hối Chỉ thị cũng đặt mục tiêu phục hồi đàn gia cầm và hạn chế xuất khNu gạo ở mức tối đa 3,5 triệu tấn năm 2004
Một điều đáng ghi nhận là đã có dấu hiệu cho thấy tốc độ lạm phát đang có xu hướng chậm lại Tỷ lệ tăng chỉ số giá cả tiêu dùng hàng tháng trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 10 là 0,3% so với mức gần 1,6% trong những tháng trước (xem hình 8)
Trang 19Hình 8: Chỉ số giá cả tiêu dùng bình quân hàng tháng và tăng trưởng tín dụng*
Se04
p-Credit CPI
Nguồn: Ước tính dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê và Quỹ Tiền tệ quốc tế
* Mức trung bình trong ba tháng
Tín dụng tăng và những quan ngại về chất lượng
Tín dụng tăng trưởng từ mức 28% trong năm 2003 lên khoảng 36% tính đến tháng 7/2004 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng nhanh tín dụng là việc mở rộng tín dụng gần 60% trong nửa đầu năm 2004 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam Đợt mở rộng tín dụng này liên quan đến việc tăng tín dụng hỗ trợ nông dân khắc phục hậu quả bùng phát cúm gà Tăng trưởng tín dụng cao cũng liên quan đến một
số khoản vay giành cho các dự án cơ sở hạ tầng lớn Tháng 6/2004, tín dụng cho DNNN vay tăng 30% so với mức 16% cùng kỳ năm ngoái Trong khi đó, tín dụng cho khu vực tư nhân tăng 37% so với mức 34% trong cùng kỳ năm ngoái
Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao chưa phải là nguyên nhân dẫn đến lạm phát Bởi vì, tín dụng tăng nhanh trong giai đoạn lạm phát đã có dấu hiệu dịu lại (Xem hình 8) Ngân hàng Nhà nước sẽ kiềm chế mức tăng tín dụng trong những tháng tiếp theo
và dự kiến sẽ đạt mức mục tiêu 25% cho cả năm 2004 Để kiểm soát tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu tăng mức dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại từ ngày 1/7/2004 Yêu cầu dự trữ đối với tiền gửi ngoại tệ và nội tệ tăng tương ứng lên mức 5% và 8% so với mức 2% và 4% trước đó
Tuy nhiên, việc kiềm chế tăng trưởng tín dụng vào thời điểm này nên được coi là một nỗ lực kiểm soát chất lượng tín dụng, chứ không phải nhằm giảm tổng cầu Theo ước tính, tỷ lệ các khoản vay không sinh lời của các ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ lên tới khoảng 15% tổng dư nợ Tuy nhiên, do chất lượng của các số liệu công bố còn thấp,
3 Theo tiêu chuNn kế toán Việt nam, các khoản nợ không sinh lời ước tính vào khoảng 5% tổng dư nợ của
hệ thống ngân hàng
Trang 20giải quyết các khoản vay không sinh lời được xác định cuối năm 2000, nhưng chất lượng các khoản vay mới vẫn còn chưa chắc chắn
Mức tăng trưởng tín dụng nhanh từ ngân hàng thương mại phần nào được bù đắp bởi việc giải ngân chậm hơn của Quỹ Hỗ trợ phát triển Trong sáu tháng đầu năm, theo báo cáo, Quỹ này chỉ đạt 20% mục tiêu giải ngân năm 2004 Điều này liên quan đến nghị định mới của chính phủ nhằm điều tiết cho vay chính sách thông qua các tiêu chí phê duyệt vay chặt chẽ hơn và do chậm chễ trong việc thực hiện dự án do chi phí xây dựng cao hơn
Trang 21PHẦN II CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
Trang 23A CHUYỂN SANG KINH TẾ THN TRƯỜNG
Hội nhập kinh tế thế giới
Gia nhập WTO Bản chào WTO sửa đổi đưa ra tại Geneve tháng 6/2004 được
các đối tác thương mại của Việt nam hoan nghênh Điều này đánh dấu một sự kiện quan trọng trong quá trình gia nhập WTO và tạo cơ sở cho một giai đoạn quan trọng đàm phán song phương về tiếp cận thị trường với các đối tác quan tâm Theo thuật ngữ WTO, điều này đã chuyển Việt nam từ giai đoạn dự thảo các "thành phần" của một bản báo cáo gia nhập sang một giai đoạn dự thảo "báo cáo" gia nhập đầy đủ sẽ được thảo luận tháng 12/2004 Bản chào lần trước của Việt nam, được đưa ra tháng 4, bao gồm cam kết cắt giảm thuế quan trung bình xuống mức 18% (có giảm đi bốn điểm phần trăm so với bản chào trước đó), theo đó thuế công nghiệp cam kết ở mức khoảng 17% và thuế nông nghiệp trung bình 25% Trong lĩnh vực dịch vụ, bản chào cho phép tiếp cận 10 ngành dịch vụ, cụ thể là 92 phân ngành dịch vụ Quá trình gia nhập WTO đã được đNy mạnh nhờ kết thúc thành công đàm phán song phương với EU vào tháng 10 Đàm phán song phương với Hoa kỳ chỉ mới bắt đầu và chắc chắn sẽ kéo dài
Các chủ đề được thảo luận trong nhóm công tác bao gồm lĩnh vực nông nghiệp,
hệ thống hải quan, quy trình cấp phép nhập khNu, đối xử quốc gia, tiêu chuNn vệ sinh an toàn thực phNm (Hiệp định SPS), thương mại nhà nước, quyền thương mại và quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) Đến nay, Việt nam đã đồng ý loại bỏ trợ cấp xuất khNu đối với mặt hàng cà phê ngay sau khi gia nhập WTO Đối với các sản phNm khác, trợ cấp xuất khNu cũng sẽ bị loại bỏ sau một thời gian quá độ ngắn Một số thành viên của nhóm Carns (nhóm vận động ủng hộ tự do hóa nông nghiệp) muốn Việt nam loại bỏ trợ cấp xuất khNu ngay lập tức
Đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS), Việt nam đã khẳng định sẽ tuân thủ hiệp định TRIMS khi gia nhập WTO, bao gồm việc loại bỏ áp đặt yêu cầu về xuất khNu trong các quy định đầu tư Hiện tại, Việt nam yêu cầu một số công
ty đầu tư nước ngoài phải xuất khNu 80% sản lượng Tuy nhiên, Việt nam vẫn muốn duy trì một số biện pháp khuyến khích đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư Hơn nữa, bản thân các nhà đầu tư từ các đối tác chính trong nhóm công tác cũng yêu cầu được tiếp tục hưởng lợi
từ các biện pháp đó Việt nam cũng cam kết với nhóm công tác sẽ tuân thủ Hiệp định TRIPS khi gia nhập WTO Tuy nhiên, một số thành viên, đặc biệt là Hoa kỳ bày tỏ quan ngại về sự thiếu tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện Hiệp định theo lịch trình cam kết của Việt nam
Việt nam cũng đồng ý thực hiện hiệp định SPS khi ra nhập WTO ngoại trừ ba lĩnh vực Việt nam muốn có một thời hạn quá độ đến ngày 1/7/2008 là: "hài hòa hóa" (làm cho các biện pháp SPS quốc gia phù hợp với tiêu chuNn, nguyên tắc và đề xuất quốc tế), "đối
xử tương ứng" (công nhận các biện pháp của các nước xuất khNu trong việc bảo đảm sự bảo hộ cho họ tương ứng với các biện pháp bảo hộ giành cho các doanh nghiệp trong nước) và áp dụng các thủ tục quản lý, thanh tra và phê chuNn Theo quan điểm của Việt nam, một giai đoạn quá độ là cần thiết vì Việt nam thiếu nguồn lực kỹ thuật để giải quyết các vấn đề SPS phức tạp Tuy nhiên, một số thành viên (ví dụ EU, Ôxtrâylia và Canada) cho rằng các lĩnh vực này thuộc nội dung chính của hiệp định SPS nên một giai đoạn quá
Trang 24độ là không cần thiết Vấn đề SPS sẽ được thảo luận tiếp trong nhóm "bốn bên" vào cuối tháng 10 năm 2004
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN Đã có những tiến bộ chắc chắn về cam kết
giảm thuế đối với các hàng hóa nhập từ các nước ASEAN theo quy định của hiệp định Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) Việc nam đã giảm hoặc loại bỏ thuế quan đối với 10,143 mặt hàng nhập khNu kể từ khi hiệp định CEPT có hiệu lực đầu năm 1996 Các mặt hàng này chiếm 95% tổng số các sản phNm mà Việt nam đã thỏa thuận cắt giảm hoặc loại trừ thuế quan đến năm 2006, là thời hạn thực hiện hoàn toàn CEPT Khoảng 74% hàng hóa Việt nam nhập khNu từ các nước ASEAN được hưởng mức thuế từ 0-5% Đến năm 2006, 55% dòng thuế của Việt nam sẽ được giảm xuống 0% Mức thuế trung bình sẽ giảm mạnh từ 6,6% năm 2003 xuống 2,2% năm 2006
Một mặt hàng Việt nam yêu cầu cần có thêm thời gian giảm thuế là các linh phụ kiện ô tô và xe máy Chính vì động thái trì hoãn này mà Việt nam vẫn thu được nhiều thuế từ những mặt hàng này Theo đó, việc áp dụng CEPT đối với các linh phụ kiện này
sẽ làm chậm lại đến năm 2006, thay vì thời hạn 2005 như được cam kết trong lịch trình cắt giảm thuế với các nước thành viên ASEAN khác Tỷ lệ thuế CEPT đối với những sản phNm này sẽ còn 20% đến năm 2006, 10% năm 2007 và 5% năm 2008
Cải cách doanh nghiệp nhà nước
Một ước tính dựa trên các số liệu ban đầu của Tổng cục Thống kê cho thấy hiện
có khoảng 4600 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vào cuối năm 2003 Năm 2004, các cuộc chuyển đổi sở hữu DNNN thông qua cổ phần hóa đã diễn ra với tốc độ nhanh hơn năm 2003 Như vậy, đến cuối tháng 10, số DNNN còn lại khoảng 4299 doanh nghiệp
Bảng 5: Số lượng chuyển đổi sở hữu DNNN
Nguồn: Dự án giám sát chuyển đổi và thành lập mới các DNNN, Ban Đổi mới và Phát triển DNNN
Chuyển đổi sở hữu DNNN Số lượng DNNN đã giảm dần theo thời gian Hầu
hết các doanh nghiệp hiện đang chuyển đổi sở hữu đều nằm trong Kế hoạch tổng thể cải cách DNNN năm 2002 Mục tiêu của kế hoạch tổng thể này là cổ phần hóa, bán hoặc thanh lý khoảng 2400 DNNN trong giai đoạn 3 năm Tốc độ chuyển đổi DNNN được đNy mạnh năm 2003, tăng gần 60% so với năm trước và số các trường hợp chuyển đổi năm
2004 đã vượt mức năm 2003 Một cuộc chuyển đổi được coi là hoàn tất khi một doanh
Trang 25nghiệp mới được đăng ký với Sở Kế hoạch Đầu tư theo Luật Doanh nghiệp Có nhiều số liệu khác nhau thường được trích dẫn trên các phương tiện thông tin đại chúng Các số liệu này dựa trên tính toán về tổng số các doanh nghiệp đã được thông qua kế hoạch chuyển đổi sở hữu trên thực tế của Ban Chỉ đạo Phát triển và Cải cách DNNN Tuy nhiên, không phải tất cả các chuyển đổi đó đã được đăng ký theo quy định hiện hành
Bảng 6: Chuyển đổi sở hữu DNNN
2001 2002 2003 10T-04
Tỷ trọng DNNN có vốn điều lớn hơn 10 tỷ đồng (%) 17 27 25 27
Tỷ trọng DNNN được chuyển đối có cổ phần nhà nước
Nguồn : Dự án giám sát chuyển đổi và thành lập mới các DNNN, Ban Đổi mới và Phát triển DNNN
Quy mô DNNN được chuyển đổi vẫn còn nhỏ (Bảng 6) Đối với 408 DNNN
được cổ phần hóa trong 10 tháng đầu năm 2004, nhà nước vẫn giữ một tỷ trọng lớn hơn 35% trong 57% các trường hợp Việc tăng tỷ trọng của nhà nước một phần là kết quả của các hạn chế đưa ra theo quyết định 58 về bán cổ phần một số loại DNNN DNNN được chuyển đổi năm 2004 có vốn điều lệ trung bình là 13 tỷ VND, nợ ngân hàng 8 tỷ và có
222 người lao động Chương trình cổ phần hóa các DNNN nhỏ và thông lệ không bán tất
cả cổ phần của các doanh nghiệp này có nghĩa là chỉ có 9,6% vốn nhà nước được đầu tư vào các DNNN được chuyển giao cho khu vực tư nhân kể từ năm 1996
Cải cách các DNNN lớn Cho đến thời gian gần đây, cải cách các DNNN có quy
mô lớn hơn, bao gồm các Tổng công ty đã tập trung vào việc làm cho các công ty này có khả năng cạnh tranh cao hơn, chứ không phải cổ phần hóa các công ty này Quá trình này
đã có một số thành công nhất định Hơn 80% các DNNN làm ăn có lãi theo các số liệu của Tổng cục thống kê và mức độ lợi nhuận cho thấy các DNNN không còn bằng lòng với việc giành được mức lợi nhuận nhỏ như họ đã từng đạt được trước đây Đánh giá hoạt động của 42 DNNN (xem bảng 7) cũng cho thấy mặc dù các DNNN hoạt động kém hiệu quả, nhưng hầu hết các doanh nghiệp này đã có lãi (Hộp1)
Bảng 7: Kết quả tài chính của một số DNNN theo ngành
DNNN đánh giá
Tỷ suất lãi gộp (%) Tỷ suất lợi nhuận trên
tài sản (%)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (%)
Năm đánh giá
Trang 26Khung 1: Giải thích kết quả hoạt động của DNNN
Trong giai đoạn từ 2001-2004, một loạt các cuộc đánh giá hoạt động đã được thực hiện tại 42 DNNN lớn do Bộ Tài chính lựa chọn Nhìn chung, các DNNN chiếm khoảng 5% GDP, 5% việc làm ở khu vực DNNN và một tỷ lệ nợ lớn hơn mức trung bình
Có lẽ phát hiện quan trọng nhất của các nghiên cứu này là tình hình tài chính của các DNNN
có quy mô lớn này không phải đều xấu như suy nghĩ ban đầu (Xem Bảng 7) Hầu hết các doanh nghiệp này hoạt động có lợi nhuận và có nhiều DNNN có kết quả hoạt động tốt mặc dù trong các lĩnh vực họ có nhiều bất lợi Rõ ràng, đã có một sự cải thiện lớn kể từ năm 1997 Mặc dù có những dấu hiệu tích cực như vậy, vẫn có xu hướng tất cả các DNNN hoạt động kém hiệu quả Tỷ
lệ lợi nhuận tài chính của các doanh nghiệp này thấp và không phải doanh nghiệp nào cũng có các bước đi cụ thể để cải thiện tình hình
Tùy từng ngành và từng doanh nghiệp, mà tồn tại các nguyên nhân khác nhau dẫn đến hoạt động kém hiệu quả Tuy nhiên, một số nguyên nhân chung có thể thấy là:
• Quản lý doanh nghiệp còn yếu kém Trách nhiệm và nhiệm vụ của các giám đốc không được quy định rõ ràng (mặc dù Luật DNNN sửa đổi đã có hiệu lực), thiếu quy định về công khai tài chính và minh bạch kém dẫn đến việc một số vấn đề còn bị che dấu
• Một trong những mục tiêu đầu tiên của việc thành lập các tập đoàn- là tăng cường khả năng cạnh tranh ngành - đã không đạt được Mô hình tổng công ty cần phải thay đổi
• Vai trò của những người chủ sở hữu và ban quản lý vẫn bị lẫn lộn nhau, dẫn đến tình trạng khó có thể giao trách nhiệm rõ ràng đối với kết quả hoạt động của doanh nghiệp
• Các DNNN thấy việc tiếp nhận các khoản tín dụng bổ sung là quá dễ dàng Các DNNN không bị hạn chế về tín dụng như thường thấy trong các nền kinh tế thị trường phát triển
• Các DNNN đôi khí có các nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu phi thương mại
• Các nhà quản lý DNNN không có nhiều khuyến khích và động viên xứng đáng về kết quả kinh doanh của mình
• Một số kỹ năng quản lý như tiếp thị và công nghệ thông tin phát triển thỏa đáng hoặc yếu kém
• Các DNNN hoạt động tốt đôi khi được chỉ thị hỗ trợ các DNNN hoạt động kém hiệu quả Các nguyên nhân khác dẫn đến hoạt động kém hiệu quả của nhiều DNNN là bộ máy cồng kềnh, công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp so với quy mô và mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh không liên quan
Một đặc điểm trong cơ cấu tài chính của các DNNN là mức độ nợ cao Tỷ lệ nợ trên vốn thường vượt quá 100% Không có một tỷ lệ nợ trên vốn hợp lý tại các DNNN này Tuy nhiên, các nhà phân tích tài chính tin rằng một mức lợi nhuận của một doanh nghiệp cần phải lớn hơn mức trả lãi suất một cách thỏa đáng Mức độ nợ cao cũng có nghĩa là các DNNN không có điều kiện
xử lý các rủi ro và không có đủ năng lực tài chính để tiếp tục vay mới để đầu tư xây dựng cơ bản Các cuộc đánh giá cho thấy vấn đề này ít trầm trọng hơn dự kiến Tuy nhiên, các dự tính về lượng tiền vốn của các doanh nghiệp có tính đến việc hoàn trả lãi suất và nợ gốc cho thấy một số DNNN sẽ gặp khó khăn nhiều hơn trong tương lai gần
Các báo cáo cũng đề xuất hơn 700 khuyến nghị khác nhau Các cuộc phỏng vấn với DNNN cho thấy các doanh nghiệp này nhất trí với đa số các đề xuất Tuy nhiên, đến nay, hầu hết các đề xuất này vẫn chưa đươc thực hiện Điều này có nghĩa là các vấn đề được xác định qua nghiên cứu này vẫn chưa được giải quyết và do đó các DNNN vẫn chưa thể cải thiện năng lực cạnh tranh