Những thay đổi này đã diễn ra nhanh chóng hơn trong năm qua sau khi có các thông báo quan trọng vào mùa xuân năm 2001 về các chương trình cải cách nhiều năm được chi tiết hoá đối với lĩ
Trang 1môc lôc
50198
Trang 2Giới thiệu
Báo cáo không chính thức của Ngân hàng Thế giới nhằm cập nhật thông tin về tiến trình thực hiện chương trình cải cách kinh tế của Việt nam Đây là kỳ xuất bản thường niên lần thứ 5 của loạt báo cáo “Điểm lại”, bắt đầu thực hiện từ năm 1999 và được sử dụng làm tài liệu đề dẫn cho các Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) giữa kỳ Báo cáo này là tài liệu bổ trợ nửa năm cho Báo cáo phát triển hàng năm của Việt nam do Ngân hàng Thế giới phát hành Mục tiêu của báo cáo này là đưa ra các thông tin cập nhật thay vì là một văn bản được "chỉnh sửa kỹ lưỡng" Chúng tôi hy vọng độc giả tìm thấy sự bổ ích của báo cáo này trong việc cung cấp một tổng quan cập nhật về những sự kiện đang diễn ra hiện nay Báo cáo này không phải là một tài liệu phân tích kỹ lưỡng
Trong 30 tháng qua đã có những sự cải thiện quan trọng trong môi trường chính sách của Việt nam Những thay đổi này đã diễn ra nhanh chóng hơn trong năm qua sau khi có các thông báo quan trọng vào mùa xuân năm 2001 về các chương trình cải cách nhiều năm
được chi tiết hoá đối với lĩnh vực ngân hàng và cải cách doanh nghiệp nhà nước, tự do hoá thương mại, quản lý tài chính công, và cải thiện môi trường kinh doanh cho khu vực tư nhân Thật không may là nền kinh tế toàn cầu suy thoái đã có tác động xấu đến Việt nam trong năm qua, và cản trở không cho phép nhận thấy được những tác động tích cực lên tốc
độ tăng trưởng kinh tế chung của việc cải thiện môi trường chính sách trong nước Tuy nhiên, các nhân tố tăng trưởng ở trong nước là rất đáng kể Số lượng các doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng gấp đôi trong 2 năm qua (đạt khoảng 70.000), số lượng việc làm tăng khoảng 70%, và đầu tư tư nhân trong nước tăng khoảng 3% điểm so với GDP Đầu tư nước ngoài cũng bắt đầu có dấu hiệu đáng khích lệ, với giá trị đầu tư nước ngoài (FDI) thực hiện ước đạt trên 1 tỷ USD trong năm 2002 (khoảng 3% GDP)
Báo cáo này bắt đầu với việc đánh giá chung về môi trường chính sách của Việt nam được
đặt trong bối cảnh quốc tế (Phần I) Báo cáo đưa ra 20 chỉ số về chính sách để cho thấy các chỉ số này được cải thiện như thế nào trong những năm gần đây, và để so sánh Việt nam với các nước khác Việt nam hiện đứng phía trên mức trung bình đối với các nước thu nhập thấp, nhưng cần phải thực hiện tốt lịch trình cải cách chính sách hiện nay để có thể đạt được thứ hạng cao
Phần chính của báo cáo (Phần II) trình bày sự phát triển gần đây trong bẩy lĩnh vực cải cách - chính sách thương mại, môi trường kinh doanh cho khu vực tư nhân, quản lý doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng, quản lý tài chính công, cải cách luật pháp và cải cách hành chính nhà nước Trong mỗi lĩnh vực, báo cáo cũng liệt kê các hỗ trợ đang được cộng đồng quốc tế triển khai
Cuối cùng, Phần III đưa ra đánh giá tóm tắt tình hình phát triển kinh tế của Việt nam kể từ
đầu năm 2001 đến nay
Trang 3PHầN I Chính sách và thể chế bối cảnh quốc tế
Năm mươi năm kinh nghiệm phát triển cho thấy quá trình tăng trưởng và xoá đói nghèo nhanh đòi hỏi phải có các chính sách và thể chế đúng đắn Các nhân tố then chốt của một khuuôn khổ chính sách và thể chế đúng đắn như vậy bao gồm: quản lý kinh tế vĩ mô thận trọng, tăng cường cạnh tranh thông qua mở rộng thương mại và đầu tư, các thể chế trung gian tài chính hữu hiệu, quyền sở hữu và tham gia xã hội được phân định rõ ràng, các nguồn nhân lực được phân bổ hợp lý và khuôn khổ điều hành quốc gia có hiệu lực
Môi trường chính sách của Việt nam hiện nay như thế nào so với thời gian trước đây cũng như so với các nước đang phát triển khác trên thế giới ?
Việc thực hiện chương trình cải cách 3 năm hiện nay sẽ cải thiện môi trường chính sách của Việt nam như thế nào ?
Đánh giá chính sách và thể chế quốc gia (CPIA)
Hàng năm Ngân hàng Thế giới đều đánh giá chất lượng của môi trường chính sách và thể chế của từng nước thành viên CPIA - hệ thống đánh giá kết quả hoạt động của các quốc gia vay vốn của Ngân hàng Thế giới - được sử dụng hàng năm để trợ giúp các nước nhìn nhận lại các hoạt động trong quá trình hoạch định chính sách của mình CPIA cũng giúp Ngân hàng Thế giới rà soát lại khuôn khổ chính sách và thể chế của các quốc gia này có
được cải thiện một cách đầy đủ nhằm giúp cho việc sử dụng tốt hơn nguồn hỗ trợ phát triển hay không CPIA bao trùm 4 lĩnh vực chính sách lớn - quản lý kinh tế vĩ mô, các chính sách cơ cấu, các chính sách đảm bảo sự tham gia và công bằng xã hội, quản lý và các thể chế quản lý khu vực công - và sử dụng 20 tiêu chí cụ thể để đánh giá các lĩnh vực này Các tiêu chí đánh giá được trình bày ở Hình 1 trang sau (trong đồ thị này, chất lượng của chính sách theo từng lĩnh vực được thể hiện bằng khoảng cách tính từ tâm điểm Các cải thiện được thể hiện bằng sự xích lại của đường bao trong tới đường bao ngoài)
Đồ thị 1 cho thấy môi trường chính sách và thể chế của Việt Nam thay đổi như thế nào kể
từ năm 1998 Bắt đầu từ xuất phát điểm tương đối thấp Việt nam đã cải thiện đáng kể môi trường chính sách và thể chế của mình kể trong các lĩnh vực chính sách vĩ mô, cải cách thể chế và quản lý tài chính công Xin lưu ý rằng, các tiêu chí này phản ánh các chính sách đã thực thi trên thực tế chứ không phải các chính sách vừa mới bắt đầu thực hiện
Đồ thị 2 so sánh Việt nam với mức bình quân của các nước đang phát triển có thu nhập thấp Việt nam đã có thuận lợi hơn về môi trường chính sách vĩ mô, chính sách xã hội và quản lý ngân sách Hiện nay Việt nam được đánh giá cao hơn mức bình quân của các nước đang phát triển về chính sách cơ cấu và quản trị điều hành Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức “bình quân” thì sẽ không thể đủ để Việt nam đạt được các mục tiêu phát triển
đã đề ra cho thập kỷ này Tiếp theo, Đồ thị 3 so sánh Việt nam với nhóm 20% đứng đầu trong số các nước thu nhập thấp Việt Nam hiện nay được đánh giá tốt hơn về quản lý vĩ mô và chính sách hoà nhập xã hội, nhưng lại tương đối kém về mảng chính sách cơ cấu và quản lý khu vực công so với nhóm quốc gia này
Trang 4Việc thực hiện chương trình cải cách ba năm như đã công bố sẽ giúp Việt nam xích lại gần hơn với nhóm dẫn đầu của các nước thu nhập thấp Cải cách sẽ cải thiện đáng kể môi trường cạnh tranh cho khu vực tư nhân cũng như cho các thị trường tư liệu sản xuất và sản phẩm Trong lĩnh vực quản lý khu vực công và thể chế, chủ yếu sẽ cải thiện chất lượng quản lý ngân sách và tài chính, hiệu suất huy động nguồn thu và minh bạch thông tin Trong các năm tới, việc thực thi nghiêm túc các chương trình hành động thuộc một số lĩnh vực có thể sẽ đưa Việt nam thành quốc gia dẫn đầu trong việc thiết lập môi trường chính sách đúng đắn cho tăng trưởng bền vững vào giữa thập kỷ này Trong các lĩnh vực khác,
đặc biệt là các lĩnh vực liên quan tới phát triển thể chế như cải cách hành chính và hệ thống luật pháp cũng như xây dựng một hệ thống ngân hàng hiện đại - có lẽ phải cần tới cả thập kỷ Việt nam cần phải tiến nhanh hơn trong các lĩnh vực này
Hình 1: So sánh kết quả hoạt động về chính sách và thể chế của Việt nam
Việt nam đã đạt được tiến bộ trong giai đoạn 1998-2002
Trang 5…và đạt kết quả cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển thu nhập thấp trong mọi lĩnh vực
Nhưng kết quả còn chưa bằng mức trung bình của nhóm 20% tốt nhất trong toàn bộ các nước
So sánh này dựa trên đánh giá nội bộ hàng năm của Ngân hàng Thế giới về chất lượng chính sách và khuôn khổ thể chế của mỗi nước Đánh giá này được tiến hành đối với 20 tiêu chí: 4 tiêu chí liên quan đến quản lý kinh tế, 6 tiêu chí liên quan đến chính sách cơ cấu, 5 tiêu chí liên quan đến chính sách công bằng xã hội, và
5 liên quan đến quản lý khu vực công Đường bao càng nằm xa trung tâm đồ thị, thì chất lượng và số điểm cho mỗi tiêu chí càng cao
Trang 6Phần II Cập nhật chương trình cải cách của chính phủ
Phần này điểm lại tiến độ của chương trình cải cách của Chính phủ theo các lĩnh vực: tự
do hoá thương mại, phát triển khu vực tư nhân, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), ngân hàng, quản lý chi tiêu công, cải cách pháp luật và cải cách hành chính nhà nước
I hội nhập kinh tế thế giới Chính phủ Việt Nam đã thông qua một chiến lược hội nhập dần dần với kinh tế thế giới Theo khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, và các thoả thuận với Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong những năm tới Việt Nam đã cam kết sẽ tự do hoá các quy chế về thương mại
và đầu tư, xoá bỏ hạn chế định lượng đối với mọi mặt hàng, trừ 5 nhóm mặt hàng, cắt giảm thuế nhập khẩu, và dần dần xây dựng những quy tắc minh bạch dựa trên hệ thống thương mại và đầu tư theo yêu cầu để sau này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Các chính sách thương mại này sẽ dẫn đường cho những luồng ý tưởng, công nghệ, và cơ hội mới cho các công ty của Việt Nam, và góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó đầu tư có hiệu quả sẽ tạo ra thêm công ăn việc làm bằng cách tận dụng những lợi thế so sánh của Việt Nam
Tình hình cải cách hiện này như thế nào?
Trong năm 2001, lần đầu tiên Chính phủ đã công bố quyết định về quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá cho cả thời kỳ 2001-2005 thay vì kế hoạch hàng năm như trước đây Quyết
định này đã cải thiện sự ổn định và dự đoán được của cơ chế quản lý xuất nhập khẩu Cơ chế quản lý dài hạn như vậy cho phép các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu xác lập kế hoạch dài hạn và ổn định hơn cho các hoạt động của mình
Tiến trình tự do hoá cơ chế nhập khẩu đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận trong năm vừa qua và diễn ra nhanh hơn so với năm trước đó Chính phủ đã bãi bỏ các hạn chế định lượng (QRs) đối với 6 mặt hàng (bao gồm giấy, clankr, kính xây dựng, một số chủng loại thép, dầu thực vật, gạch lát) Hạn chế định lượng về nhập khẩu xi-măng, xe máy, và ô-tô dưới 9 chỗ ngồi cũng sẽ được miễn bỏ vào cuối năm 2000 này Cắt giảm thuế nhập khẩu cũng đã được áp dụng theo các cam kết với AFTA Theo khuôn khổ của Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN, thuế nhập khẩu của khoảng
6000 mặt hàng sẽ giảm xuống còn 0-5% vào năm 2006
Tháng 4 năm 2002, một phái đoàn cao cấp liên bộ của chính phủ đã bắt đầu các công việc
đàm phán bước đầu về việc gia nhập WTO tại Giơ-ne-vơ (Thuỵ sĩ) Chính phủ Việt nam
đã đưa ra đề nghị ban đầu (initial offer) về thuế quan và dịch vụ và dự kiến sẽ sớm bắt đầu
đàm phán song phương với Cộng đồng châu Âu
Khung 1 tóm tắt các nét chính của chương trình cải cách thương mại của Việt nam trong vòng 4 năm qua
Trang 7Khung 1: Hội nhập kinh tế thế giới, 1998 – 5/ 2002
1998
Hạ thuế nhập khẩu tối đa xuống còn 50% (trừ sáu nhóm hàng hoá) và giảm số thuế suất xuống còn 15;
Tự do hoá thương quyền cho các doanh nghiệp trong nước bằng cách cho phép họ trực tiếp xuất nhập khẩu hàng hoá không cần giấy phép, mặc dù vẫn còn một số hạn chế đối với nhập khẩu;
Cho phép doanh nghiệp tư nhân nhập khẩu phân bón;
1999
Lần đầu tiên phân bổ hạn ngạch xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (bằng cách cho phép 5 doanh nghiệp tư nhân và 4 liên doanh trong số 47 doanh nghiệp được phép xuất khẩu gạo, Quyết định 273/1999/QĐ-TTg, 24-12-1999) và cho phép các doanh nghiệp nước ngoài mua gạo trực tiếp của nông dân để xuất khẩu;
Đấu thầu 20% hạn ngạch xuất khẩu hàng may mặc;
Khuyến khích thương mại bằng cách giảm yêu cầu kết hối ngoại tệ từ 80% xuốgn 50% thu nhập ngoại
tệ (Quyết định 180/1999/QD-NHNN1, 30-8-1999);
2000
Xoá bỏ hạn chế định lượng trong nhập khẩu 8 trong số 19 nhóm hàng, bao gồm phân bón, sô-đa lỏng,
đồ gốm, bao bì nhựa, hạt nhựa DOP, sứ vệ sinh, quạt điện, và xe đạp (Quyết định 242/1999/QD-TTg, 30-12-1999, có hiệu lực từ 1-4-2000);
Ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ vào tháng 7, mở đường tiếp cận tối huệ quốc cho hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ, dần mở cửa nền kinh tế Việt Nam, đối với hàng hoá và dịch vụ cũng như đầu tư;
Phê chuẩn lộ trình cắt giảm thuế quan AFTA trong giai đoạn 2001-2006, theo đó hầu hết các dòng thuế
sẽ được giảm xuống còn 20% vào đầu 2003 và 5% vào đầu 2006;
2001
Mở rộng phạm vi lập kế hoạch dài hạn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu bằng cách vạch ra kế hoạch xuất nhập khẩu cho giai đoạn 2001-2005, thay vì cứ mỗi năm một lần (Quyết định 46/2001, 4-2001);
Loại bỏ hạn chế định lượng đa phương đối với tất cả các dòng thuế thuộc nhóm hàng sau: rượu màu, clinke, giấy, gạch lát, kính xây dựng, một số loại thép, và dầu thực vật (Quyết định 46/2001, 4-2001);
Giảm yêu cầu kết hối ngoại tệ từ 50% xuống 40% (Quyết định 61/2001/QD-TTg, 25-4-2001);
Bãi bỏ phân bổ hạn ngạch xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón (Quyết định 46/2001/QD-TTg 2001);
4- Chuyển 713 dòng thuế từ Danh mục Loại trừ Tạm thời (TEL) sang Danh mục Bao hàm (IL) (Nghị định 28/2001/ND-CP)
Cho phép mọi pháp nhân (doanh nghiệp và cá nhân) xuất khẩu hầu hết mọi hàng hoá mà không phải xin giấy phép, bằng cách sửa đổi nghị định thực hiện của Luật Thương mại (Nghị định 44/2001/ND-
Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia xuất khẩu cà phê, khoáng sản, một số sản phẩm gỗ và dệt may (thông tư 26/2001/TT-BTM, 12-2001);
Trang 8Công bố chương trình hành động của chính phủ thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Mỹ bao gồm các hướng dẫn và chương trình hành động cụ thể cho các bộ ngành (Quyết định 35/2002/QĐ-TTg, ngày 12/3/2002)
Một phái đoàn đàm phán của chính phủ đã bắt đầu các phiên họp tại Giơ-ne-vơ về việc gia nhập WTO (4-2002)
Giảm yêu cầu kết hối ngoại tệ từ 40% xuống 30% (5-2002)
Dịch chuyển trong hoạt động kinh doanh thương mại
Kim ngạch xuất khẩu của Việt nam đã tăng gần 70% và giá trị nhập khẩu tăng khoảng 40% trong giai đoạn 1997-2001 Tỷ trọng xuất khẩu so với GDP tăng từ mức 36% năm
1997 lên mức 50% năm 2001 Kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến cũng tăng đáng kể, từ mức 26% năm 1997 lên khoảng 48% vào năm 2001
Cơ cấu tham gia thương mại của Việt nam cũng thay đổi đáng kể trong vòng 5 năm qua Quá trình thay đổi này ghi nhận sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân và cũng như thay đổi về vai trò chi phối của khu vực quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân Vào năm 1997, các DNNN chiếm gần hai phần ba giá trị xuất khẩu (không kể dầu thô), nhưng vào thời điểm cuối quý 1 năm 2002, DNNN chỉ còn chiếm khoảng một phần ba giá trị xuất khẩu Khu vực ngoài quốc doanh (không kể các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) chỉ chiếm 11% giá trị xuất khẩu năm 1997, đã tăng tỷ trọng của mình lêm 31% sau
5 năm
Thay đổi trong kinh doanh nhập khẩu còn diễn ra mạnh hơn Theo số liệu của 3 tháng đầu năm 2002, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm gần 24% tổng kim ngạch nhập khẩu so với mức khoảng 5% vào năm 1997 Trong cùng thời gian này, tỷ trọng nhập khẩu của DNN đã giảm từ 70% xuống còn 43% Ngoài hai thành phần trên, khu vực các doanh nghiệp nước ngoài và liên doanh cũng tăng đáng kể tỷ trọng nhập khẩu của mình - từ mức một phần tư lên khoảng một phần ba tổng giá trị nhập khẩu của Việt nam
Bảng 1: Thay đổi về tham gia thương mại
Trang 9Các đơn vị xuất khẩu của tư nhân, các công ty nước ngoài và liên doanh đã đóng phần
quan trọng trong các hoạt động xuất khẩu của Việt nam trong vòng 4 năm qua (xem hình
2 ) Khu vực DNNN chỉ đóng góp trung bình hàng năm khoảng một điểm phần trăm vào
tổng mức tăng xuất khẩu, thậm chí không đóng góp gì vào mức tăng xuất khẩu trong 3
Ngân hàng Thế giới • Nghiên cứu về tác động của thoả thuận tối huệ quốc giữa Mỹ và Việt Nam lên các doanh nghiệp xuất khẩu,
• Báo cáo về hàng rào phi thuế quan của Việt Nam
• Nghiên cứu ngành công nghiệp đường
• Giá xăng dầu và cơ chế marketing
• Nghiên cứu về tác động phân phối của tự do hoá thương mại và đầu tư
Vương quốc Bỉ
US$89.000 • Đánh giá tác động kinh tế-xã hội của việc gia nhập WTO Đang tiến hành Cộng đồng châu Âu
US$7.000.000 Chương trình trợ giúp chính sách thương mại đa phương • Đào tạo về chính sách thương mại và khuôn khổ
WTO/nghiên cứu về thương mại đối với nông sản và dịch vụ
• Nghiên cứu tác động xã hội của việc mở cửa kinh tế
Đang tiến hành
Đã hoàn thành
Đã lập kế hoạch
Uỷ ban châu Âu
US$7.000.000 • Nâng cao dịch vụ thú ý nhằn tăng cường xuất khẩu gia cầm
Phần lan • Phát triển năng lực cho Bộ TM, Viện nghiên cứu Thương mại Hoàn thành giai đoạn 1
Trang 10US$2.200.00 Việt Nam Đào tạo các quan chức thương mại tại Phần lan và
Việt Nam
• Tài trợ cho các chuyên gia WTO từ Phần lan
Đang tiến hành giai
đoạn 2: 2000-2002 Pháp
US$1.500.000 • Hỗ trợ qua trình hội nhập của Việt nam với kinh tế thế giới 2001-2004
GTZ (CHLB Đức) • Hỗ trợ Việt nam gia nhập WTO 2001-2002
US$200.000 • • Chương trình trợ giúp thương mại Đào tạo tiếng Anh Tài trợ cho các chuyên gia giúp chính phủ phân loại thuế
quan cho các loại nông sản, xây dựng kế hoạch hành động và tiến hành các hội thảo
• Giúp xây dựng một danh mục các cấu thành của cải cách cho 5-10 năm tới
Đang thực hiện
Đang thực hiện
SIDA (Thuỵ điển) • Cố vấn chính sách cho Ban Nghiên cứu của Thủ tướng về
quan hệ kinh tế đối ngoại
• (1) Nâng cao ý thức về những hệ quả của hội nhập kinh tế cho các nhà lãnh đạo cấp tỉnh và DNNN;; (2) Chuyển giao kinh nghiệm của các nước nhỏ đàm phán với các nước lớn;
(3) Thành lập Trung Tâm tư liệu, thiết lập trang chủ Internet
về kinh tế và hội nhập kinh tế của Việt Nam
Đang thực hiện
Thuỵ sĩ
US$2.000.000 • Hỗ trợ kỹ thuật việc thi hành quy định về bản quyền trong các hiệp định quốc tế Đang thực hiện
Thuỵ sĩ/UNDP • Gia nhập WTO Phát triển năng lực để đàm phán WTO và
hình thành chính sách thương mại
Đã kết thúc UNDP
UNDP
US$250.000 • Hội nhập ASEAN Tiến hành một loạt các nghiên cứu về các vấn đề hội nhập ASEAN
• Tầm nhìn dài hạn cho hội nhập quốc tế
• Điểm lại các cam kết hội nhập quốc tế của Việt nam
Đã kết thúc Hoàn thành trong năm
2002 USAID-Hoa kỳ
US$7.000.000 • Giúp hình thành Đề xuất của Việt Nam đối với đàm phán song phương
• Tài trợ cho các luật sư thương mại Mỹ/ chuyên gia thuế của Liên hiệp quốc
• Giúp cải cách các quy định về thương mại, luật lệ và thực hiện các quy định
Đang thực hiện
Ngân hàng Thế giới • Nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu của Việt nam, đánh giá
tiềm năng và các khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường sức cạnh tranh của Việt nam
• Ngiên cứu tác động phân bổ thu nhập trong bối cảnh tự do hoá thương mại và đầu tư
Đang tiến hành, dự kiến hoàn thành vào tháng 9-
2002
Đang tiến hành
Trang 11II cải thiện môi trường cho doanh nghiệp
Với nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 5 về phát triển khu vực tư nhân vào tháng 3 năm nay, Chính phủ đã khẳng định lại ý định xây dựng Việt nam thành một nền kinh tế hỗn hợp thực sự, với việc đối xử công bằng giữa các doanh nghiệp tư nhân, nước ngoài và nhà nước (xem Khung 2 dưới đây)
Sự lớn mạnh của khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho các biện pháp cải cách hiện đang được thực hiện trong các lĩnh vực khác Ngân hàng thế giới ước tính rằng nếu Việt nam muốn đạt được mục tiêu về tăng trưởng dài hạn và việc làm, tỷ lệ
đầu tư tư nhân trong nước so với GDP sẽ cần phải tăng khoảng gấp đôi trong vòng 10 năm tới Để làm điều đó, cần phải tiếp tục cải thiện môi trường cho khu vực tư nhân như đã
được thực hiện trong 2 năm qua
Số lượng doanh nghiệp trong nước đăng ký đã tăng hơn gấp đôi kể từ khi thực thi Luật doanh nghiệp mới vào tháng 1 năm 2000 Khu vực tư nhân phi nông nghiệp của Việt nam hiện cung cấp việc làm cho khoảng 5 triệu người, với 1/5 số việc làm là do khu vực tư nhân trong nước "chính thức" cung cấp
Trong số hơn 35.000 doanh nghiệp đăng ký từ 2000, khoảng 70% là mới, số còn lại là chuyển từ phi chính thức sang chính thức Các doanh nghiệp này có tổng số vốn là 40 nghìn tỷ đồng (khoảng 2,6 tỷ USD), tương đương khoảng 9% GDP hàng năm của Việt nam Mặc dù số liệu rất không đầy đủ, chúng tôi ước tính rằng số lao động trong khu vực tư nhân chính thức tăng lên khoảng gấp đôi kể từ đầu năm 2000
Hiện trạng của cải cách
Sự xuất hiện của một khu vực tư nhân lớn mạnh được hỗ trợ bởi một hệ thống bao gồm nhiều chính sách nhằm mục tiêu:
Tạo ra nhiều cơ hội hơn bằng việc bãi bỏ các giấy phép hạn chế kinh doanh
Tạo ra sân chơi bình đẳng hơn cho tất cả các doanh nghiệp
Cải thiện khả năng tiếp cận nguồn tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
Trao quyền cho các doanh nghiệp thông qua một khuôn khổ luật pháp mang tính
hỗ trợ
Giấy phép kinh doanh trong 29 ngành và tiểu ngành đã được chọn để loại bỏ trong năm
2002, cộng với 145 giấy phép đã được loại bỏ trước đây; điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của khu vực tư nhân vào nhiều ngành hơn và đem lại nhiều cơ hội hơn cho các doanh nhân Việt nam Tuy nhiên, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam
ước tính rằng vẫn còn khoảng 219 giấy phép kinh doanh
Để khuyến khích các định chế thương mại cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) vay, Quỹ bảo lãnh tín dụng được thành lập đầu năm 2002 sẽ chịu một phần rủi ro tín dụng liên quan đến việc cho vay này
Trang 12Khung 2: Một số quyết định của Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành TW Đảng (khoá IX)
về Phát triển Khu vực Tư nhân
Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành TW Đảng, tháng 3 năm 2002 về “ Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyên khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” đã thông qua nghị quyết với các kết luận quan trọng cho tương lai của khu vực tư nhân Dưới đây là một số quyết định then chốt:
Thừa nhận khu vực tư nhân là một bộ phận quan trọng đóng góp tạo ra việc làm, tăng thu nhập, và mang lại nguồn thu cho ngân sách, giúp duy trì ổn định chính trị và xã hội;
Cho phép các đảng viên, những người là chủ doanh nghiệp riêng, vẫn là đảng viên Đảng Cộng sản Đây
là một sự hỗ trợ và khuyến khích mạnh mẽ đối với doanh nghiệp tư nhân
Kêu gọi các nhà lãnh đạo đất nước đi đầu trong việc khuyến khích và khen ngợi các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp về những đóng góp tích cực của họ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, qua
đó cải thiện hình ảnh và nhận thức về khu vực tư nhân;
Đề xuất những thay đổi nhằm giúp doanh nghiệp tư nhân kinh doanh dễ dàng hơn: (i) sửa đổi Luật doanh nghiệp và bãi bỏ các điều khoản không thích hợp nhằm xoá bỏ những đối xử phân biệt đối với khu vực tư nhân; (ii) xem xét lại và loại bỏ các giấy phép và giấy chứng nhận không cần thiết, gây phiền phức cho hoạt động của các doanh nghiệp
Sửa đổi luật và các quy định nhằm phân biệt rõ giữa vi phạm dân sự và hình sự, qua đó tránh việc hình
sự hoá các quyết định thương mại và các tranh chấp của các doanh nghiệp và ngân hàng;
Tái xác nhận quyền của các doanh nghiệp tư nhân trong việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay ngân hàng hoặc dùng quyền sử dụng đất để góp vốn giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài
Nhanh chóng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Trong khi chờ đợi những sửa đổi và bổ xung đối với Luật đất đai và các quy định liên quan, có thể sử dụng hướng dẫn này để thực hiện thí điểm
Đơn giản hoá các thủ tục cho vay, đi liền với tăng cường các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh và tư vấn cho khu vực tư nhân;
Đề xuất sửa đổi hệ thống kế toán hiện hành nhằm khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân sử dụng dịch
vụ kiểm toán và công khai báo cáo tài chính hàng năm
Để tăng cường hơn nữa khả năng tiếp cận của khu vực tư nhân đối với vốn vay ngân hàng cần có thế chấp, các biện pháp đã được thực hiện nhằm thúc đẩy việc đăng ký tập trung các tài sản thế chấp Tháng 3/2002, các phòng Đăng ký quốc gia về giao dịch đảm bảo đã
được khai trương tại Hà nội và TP HCM Tuy cơ quan này là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu của hệ thống tài chính chính thức tại Việt nam, song cần tăng thêm quyền hạn cho cơ quan này để bao hàm cả quyền sử dụng đất và nhà xưởng Loại tài sản này vẫn nằm dưới sự quản lý của chính quyền địa phương
Để tạo ra sân chơi bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, và tiếp tục xây dựng Việt nam thành điểm thu hút FDI, hệ thống hai giá hiện vẫn còn áp dụng phân biệt
đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sẽ được loại bỏ trước 2003 Giá điện sẽ được thống nhất vào năm 2004 Ngoài ra, lộ trình 3 năm thống nhất giá vé máy bay trong nước
đã được công bố
Trang 13Khung 3: Cải thiện môi trường cho các doanh nghiệp, 1998 – 5/2002
1998
Ban hành Nghị định mới về đầu tư nước ngoài, có thêm khuyến khích cho các nhà đầu tư nước ngoài;
Khởi xướng cuộc đối thoại với các nhà tài trợ cho khu vực tư nhân với sự bảo trợ của Nhóm tư vấn các nhà tài trợ, nhằm tăng cường hiểu biết về những hạn chế mà khu vực tư nhân phải đối mặt, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài;
Sửa đổi Luật Khuyến khích Đầu tư trong nước, cho phép các tổ chức trong nước và nước ngoài, và các cá nhân được mua cổ phần hoặc góp vốn trong các doanh nghiệp trong nước, kể cả các DNNN cổ phần hoá, và đưa ra thêm các khuyến khích đối với đầu tư mới trong nước;
1999
Thông qua Luật Doanh nghiệp và ban hành các nghị định thực hiện, xoá bỏ một số những hạn chế mang tính tuỳ tiện trong thành lập doanh nghiệp tư nhân;
Ban hành quy định về các giao dịch bảo đảm (Nghị định 165/1999/ND-CP), cho phép thế chấp quyền
sử dụng đất và nhà, cho vay thế chấp bằng các loại tài sản như vật tư, máy móc, thiết bị sản xuất, trái phiếu, cổ phiếu, và quyền sở hữu;
Ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ Phát triển (Nghị định 50/1999/ND-CP 1999) Quỹ này là đầu mối để tiếp cận với nguồn tài chính trung và dài hạn cho các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước;
8-7- Sửa đổi Luật Đất đai để chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuế, làm thế chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hoặc liên doanh;
động đăng ký đầu tư nước ngoài định hướng xuất khẩu, và có quy định về việc chính phủ bảo lãnh cho những dự án hạ tầng lớn;
Sửa đổi Luật Dầu khí năm 1993, làm cho môi trường đầu tư và chi chế cho đầu tư nước ngoài trong ngành dầu khí trở nên hấp dẫn hơn;
Thành lập thị trường chứng khoán đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh, là nơi mua bán trái phiếu kho bạc và cổ phiếu của các công ty được niêm yết
2001
Tăng cường sự cởi mở và thông tin bằng cách thiết lập Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp thuộc Bộ KH-ĐT, với những thông tin về các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp (Quyết định 75/2000/QD-BKH of 28-2-2001);
Phê duyệt 2 dự án BOT trong ngành năng lượng: nhà máy điện Phú Mỹ 2.2với tổ hợp các tập đoàn TEPCO và GEC (400 triệu USD) và Phú Mỹ 3 là dự án phát điện dùng chu trình hỗn hợp với BP (450 triệu USD), tạo tiền đề cho các dự án BOT trong cơ sở hạ tầng (1-2001);
Cung cấp các hướng dẫn chi tiết và niêm yết mọi loại giấy tờ cần thiết để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thể chấp bằng quyền sử dụng đất và những tài sản gắn kèm tại các tổ chức tín dụng Việt Nam và các ngân hàng liê ndoanh (Thông tư liên tịch 772 NHNN/TCDC, 5-2001);
Cho phép người Việt Nam ở nước ngoài được nắm quyền sử dụng đất, và phân cấp quản lý và theo dõi
về quyền sử dụng đất nhằm thúc đẩy hoạt động của thị trường bất động sản (Tháng 6- 2001);
Giảm dần chế độ hai giá đối với người Việt Nam ở nước ngoài về vé máy bay, lệ phí visa (Quyết định 114/2001/QD-TTg, J31-7-2001);
Thống nhất một giá vé tàu hoả cho người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài và trong nước vào tháng Giêng 2002 (Quyết định 114/2001/QD-TTg, 31-7- 2001);
Sửa đổi Nghị định 17 ngày 24-3-1999 để cải thiện tính minh bạch và hợp pháp hoá thị trường bất động sản, bằng cách có quy định chính thức về bán, cho thuê, cầm cố, và chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Nghị định 79/2001/ND-CP, 11-2001);
Trang 14Cho phép người Việt Nam ở nước ngoài được quyền sở hữu và bán tài sản ở Việt Nam, nếu họ đầu tư hoặc có đóng góp cho nền kinh tế, hoặc được chính phủ mời về cư trú và làm việc tại Việt Nam (Nghị
định 81/2001/ND-CP, có hiệu lực từ ngày 20-11- 2001);
Thừa nhận tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc ban hành một nghị định về
hỗ trợ phát triển và tiếp tục tăng trưởng các doanh nghiệp này, cụ thể hoá và có cơ chế hỗ trợ (Nghị
định 90/2001/ND-CP, 11-2001)
2002
Sửa đổi Hiến pháp của Việt Nam để thừa nhận khu vực kinh tế tư nhân có vị trí ngang bằng với khu vực nhà nước;
Mở trang web (www.business.gov.vn) - trang web đầu tiên về chính phủ điện tử ở Việt Nam - về đăng
ký kinh doanh, cung cấp thông tin về các thủ tục đăng ký cũng như các mẫu đăng ký (11-1-2002);
Đề xuất xoá bỏ 16 loại giấy phép kinh doanh trong những ngành sau: giao thông vận tải, thương mại, y
tế, viễn thông, công nghiệp, môi trường, và văn hoá; sửa đổi 13 loại giấy phép hiện hành thành các điều kiện phải đáp ứng trong những ngành sau: cung cấp internet, quảng cáo, văn hoá, y tế (quyết định còn chờ Thủ tướng phê duyệt);
Mở trang web "Thông tin và cơ hội đầu tư tại Việt Nam (www.khoahoc.vnn.vn/mpi), nhằm cung cấp thông tin kịp thời và rõ ràng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Địa chỉ này còn bao gồm cả phương tiện xip phéo đầu tư qua mạng (1-2002);
Cho phép các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài được chuyển về nước phần cổ tức của đầu tư vào chứng khoán tại thị trường tại Việt nam (Công văn 74/CV-NH, 3-2002)
Đặc điểm của khu vực tư nhân mới nổi lên
Mùa xuân 2002, IFC và WB đã tiến hành một cuộc khảo sát khu vực tư nhân trong nước tại Việt nam Tuy báo cáo này còn đang được hoàn thiện, song có thể đưa ra một số phát hiện ban đầu thú vị:
Đặc điểm thị trường Doanh nghiệp tư nhân trong nước thường nhỏ hơn và nói chung chiếm các đoạn thị trường khác so với các doanh nghiệp nhà nước và đầu tư nước ngoài Nói chung, doanh nghiệp tư nhân Việt nam có xu hướng sản xuất phục vụ cho thị trường nội địa (khoảng 69%) Tuy nhiên, trong lĩnh vực công nghiệp khoảng 1/2 số doanh nghiệp xuất khẩu một phần hoặc toàn bộ sản phẩm của mình Đối với nguồn cung ứng và đầu vào, doanh nghiệp trong nước chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp tư nhân trong nước khác, sau đó là doanh nghiệp nhà nước và các nhà sản xuất cá thể Khu vực tư nhân trong nước có xu hướng cạnh tranh chủ yếu về giá mà ít cạnh tranh
Các hạn chế về nguồn lực Khả năng tiếp cận nguồn tài chính, chi phí sử dụng tài chính và đất được các doanh nghiệp trả lời phỏng vấn đánh giá là các cản trở quan trọng
Trang 15Phân bổ địa lý của các doanh nghiệp mới đăng ký
Đúng như dự đoán, hầu hết các doanh nghiệp mới đều đăng ký ở các vùng có được sự hỗ trợ tốt cho kinh doanh về các mặt cơ sở hạ tầng thể chế và vật chất, và ở những nơi chính quyền địa phương có thái độ tích cực Trong số 8.800 doanh nghiệp mới đăng ký, miền Nam có tỷ lệ tập trung cao nhất về số doanh nghiệp khởi sự, trong đó TP HCM chiếm gần 7.000 doanh nghiệp Thứ hai là Đồng bằng sông Hồng, trong đó Hà nội là địa phương dẫn
đầu chiếm hơn 2/3 số doanh nghiệp đăng ký
Hình 3: Các doanh nghiệp mới đăng ký phân theo vùng
ĐB sông Hồng
ĐB sông
Mê kông
Nam trung bộ
Vùng núi phía bắc
Bắc trung bộ
Tây nguyên
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Không có gì ngạc nhiên là sự phân bổ doanh nghiệp chính thức mới theo các vùng dẫn
đến một hình thức phân bổ các doanh nghiệp đăng ký mới tập trung ở các tỉnh có mức độ thu nhập tương đối cao Nói cách khác, khu vực tư nhân chính thức không có vai trò cao lắm ở những vùng đói nghèo gay gắt Hình 4 mô tả mối quan hệ theo tỉ lệ nghịch giữa mức độ nghèo đói và số lượng doanh nghiệp mới hình thành Một thách thức trong tương lai là làm thế nào để tạo một môi trường thuận lợi cho sự hình thành phát triển các doanh nghiệp ở những vùng mà cho đến nay vẫn còn có ít sự đáp ứng để nắm lấy các cơ hội mới
Hình 4: Phân bố của các doanh nghiệp mới đăng ký và tỉ lệ nghèo đói
(theo tỉnh, thành)
Trang 16Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ghi chú: Minh hoạ này không bao gồm các số liệu của Hà nội và Tp Hồ Chí Minh
Các đối tác quốc tế hỗ trợ cải cách như thế nào ?
Dự kiến đầu tư vốn vào Quỹ Doanh nghiệp Mê Kông (MEF)
và Quỹ Đầu tư vốn Mê Kông (MC) hoạt động tại Cam pu chia, Lào và Việt Nam
Đã được duyệt và
đang thực hiện AFD (Pháp)
AusAID (Australia) Dự án doanh nghiệp cực nhỏ với Hội Phụ nữ Việt Nam, đào
tạo và cấp tín dụng cho phụ nữ ở tỉnh Nghệ An
Phương tiện mới để quản lý nhà nước, hội nhập kinh tế, và phát triển khu vực tư nhân (các dự án thí điểm)
CIDA (Canada)
US$1.150.000
Dự án phát triển doanh nghiệp cực nhỏ và phát triển nông thôn Việt Nam, giai đoạn II Thúc đẩy doanh nghiệp cực nhỏ và xây dựng năng lực cho các cơ quan phát triển nông thôn và các tổ chức kinh tế dựa trên cộng đồng Đối tác của dự án là
Sở NN và PTNT các tỉnh
1999-2003
CIDA (Canada)
US$ 887.900
Dự án phát triển kinh tế cho phụ nữ (với Oxfam Quebec) Dự
án nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp cực nhỏ thông qua đào tạo
Giai đoạn I 2000) Giai đoạn II còn đang đàm phán Cộng đồng châu Âu
(1994-US$ 26.200.000
Quỹ Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ Cung cấp tín dụng trung hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ 1996-2000 GTZ (CHLB Đức) Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ – Trung tâm Hỗ trợ
doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giúp các doanh nghiệp này nâng cao trình độ quản lý và kỹ thuật, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh
1994-99 1999-2002
Trang 17lực cho đối tác; các khoá đào tạo CEFE; smenetonline.com;
phát triển sản phẩm mới; thành lập Trung tâm lập kế hoạch và
Bắt đầu từ 2000
GTZ (CHLB Đức) Đối tác nhà nước-tư nhân (PPP) nhằm hỗ trợ những hình thức
hợp tác mới giữa doanh nghiệp công nghiệp tư nhân của Đức, GTZ, và các đối tác trong nước với sự góp vốn của cả nhà nước và tư nhân
-
GTZ (CHLB Đức) Chương trình đối tác ZDH Liên đoàn Doanh nghiệp nhỏ và
Tiểu thủ công nghiệp của Đức quản lý dự án khu vực này, đặt trụ sở tại Singapore để hỗ trợ cho các phòng thương mại và công nghiệp và các hiệp hội công nghiệp trong phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Do BMZ tài trợ
1997 - - Đang tiến hành
JBIC (Nhật bản)
US$40.000.000
Dựa án Tài trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Dự án cung cấp tài chính trung và dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam dưới hình thức các khoản vay “hai bước”
1999
JICA (Nhật bản) Các dự án hỗ trợ chính sách và kỹ thuật khác nhau (điều tra,
chuyên gia, đào tạo) nhằm thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Chương trình bao gồm một nghiên cứu về thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ, trợ giúp kỹ thuật và xây dựng năng lực cho Bộ KH&ĐT, đào tạo công nghệ thông tin
Trang 18trường để phát triển bền vững UNDP
US$546000
Chương trình phát triển kinh doanh trong ngành chế biến lương thực ở miền Trung Việt Nam nhằm đào tạo phụ nữ làm chủ doanh nghiệp trong chế biến thực phẩm ở quy mô nhỏ và cực nhỏ
để thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ và các cơ chế được nêu trong Kế hoạch Miyazawa
Bắt đầu tháng 2001- Đang thực hiện
Ngân hàng Thế giới
US$122.000.000
Chương trình Tài chính nông thôn nhằm tăng cường nguồn lực cho tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho nông thôn và tăng cường cạnh tranh cung ứng các dịch vụ tài chính nông thôn Thông qua Quỹ Phát triển Nông thôn và các tổ chức tài chính cộng đồng
Đang tiến hành
Trang 19III cải cách doanh nghiệp nhà nước Năm 2001, Chính phủ công bố kế hoạch cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cho 3 năm tiếp theo Theo kế hoạch này, 1/3 trong số 5600 DNNN hiện tại sẽ được chuyển đổi
sở hữu, đồng thời cũng sẽ áp dụng những biện pháp làm cho các doanh nghiệp còn lại có khả năng cạnh tranh cao hơn
Hiện trạng của cải cách
Môi trường cho cải cách DNNN đã được cải thiện trong 12 tháng qua, mặc dù việc triển khai thực tế chương trình cải cách chậm hơn so với dự kiến Kế hoạch cải cách đã được Hội nghị trung ương tháng 8-9/2001 thông qua, và tiếp đó là quyết định của Thủ tướng Chính phủ vào tháng 11/2001, trong đó bao gồm nhiều biện pháp hành động hơn so với
được dự kiến vào đầu năm 2001
Tiếp theo là chương trình được đề ra trong nghị định mới được ban hành về các khoản trợ cấp chi trả cho người lao động phải nghỉ việc trong quá trình cải cách (xem khung 4)
Đồng thời, việc ban hành chỉ thị mới về bán, chuyển nhượng, giao khoán và cho thuê DNNN sẽ đẩy mạnh chương trình Trước đây, các DNNN có quy mô từ 1 tỷ đến 5 tỷ chỉ
có thể thực hiện chuyển nhượng, giao khoán, bán hoặc cho thuê nếu được Thủ tướng phê duyệt Hiện nay việc này chỉ cần sự phê duyệt của bộ trưởng, uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc hội đồng quản trị tổng công ty có liên quan Một nghị định mới thay thế cho nghị định 44
về cổ phần hoá DNNN dự kiến sẽ được ban hành trong thời gian tới
Khung 4: Thành lập Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư từ các DNNN
Tháng 4/2002, Chính phủ ban hành một nghị định về chính sách đối với những công nhân phải nghỉ việc trong quá trình cải cách và sắp xếp lại DNNN Mục đích là giảm thiểu khó khăn mà người lao động phải chịu khi mất việc Các năm trước, những công nhân phải nghỉ việc gặp khó khăn vì họ nhận được sự trợ giúp tài chính ít hơn
Khoản trợ cấp sẽ bao gồm một khoản trọn gói cộng với khoản thanh toán dựa trên thời gian công tác và mức lương trước đây Công nhân sẽ được thanh toán từ một Quỹ được thành lập nhằm phục vụ mục đích này Việc đào tạo tại các trung tâm dạy nghề cũng sẽ được cung cấp và Nhà nước sẽ trả cho việc đào tạo
đó Những công nhân được tái sử dụng trong các DNNN sẽ phải trả lại tiền mà họ đã nhận
Các Bộ, cơ quan chính phủ, uỷ ban nhân dân tỉnh và thành phố, hội đồng quản trị của các tổng công ty
được giao nhiệm vụ kiểm tra và phê duyệt kế hoạch cắt giảm công nhân đối với từng DNNN và thiết lập
tổ chức cần thiết để xử lý vấn để công nhân nghỉ việc tại các DNNN không có khả năng trả nợ Tổng liên
đoàn lao động Việt nam được yêu cầu hỗ trợ việc hướng dẫn và thực thi chính sách này và phối hợp với các nhà quản lý trong việc phổ biến và giải thích cho người lao động về chính sách của Đảng và Chính phủ
Kể từ đầu năm 2001, 325 doanh nghiệp đã hoàn thành quá trình chuyển đổi sở hữu (kể cả
cổ phần hoá, bán, thanh lý, giao khoán và cho thuê) Trong đó, 265 doanh nghiệp trước
đây thuộc quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, 42 doanh nghiệp thuộc các bộ chủ quản và 18 thuộc các tổng công ty
Trang 20Nội dung cổ phần hoá của chương trình đã tiến triển với tốc độ chậm hơn so với dự kiến
Đến 5/2002, tổng số 248 doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần hoá, trong đó 177 là cổ phần hoá với hơn 65% cổ phiếu bán cho cổ đông không phải là nhà nước (bảng 2)
Bảng 2: Tóm tắt cải cách doanh nghiệp nhà nước
Nguồn: Ban chỉ đạo về cải cách và phát triển doanh nghiệp
Có thêm 190 DNNN nữa đang trong các giai đoạn khác nhau của cải cách Số này bao gồm 156 dự án cổ phần hoá, 21 giao khoán, 7 bán, 4 hợp đồng quản lý và 2 sáp nhập Khoảng thời gian từ khi có quyết định cổ phần hoá, tức là thành lập Ban cải cách DNNN,
đến việc đang ký công ty mới trung bình khoảng hơn 500 ngày Giai đoạn mất nhiều thời gian nhất là đánh giá giá trị doanh nghiệp Trung bình, thời gian đánh giá giá trị doanh nghiệp mất 177 ngày Trong số 156 dự án cổ phần hoá đang tiến hành, đến 5/2002 có 75
dự án đã hoàn thành giai đoạn đánh giá giá trị doanh nghiệp và 29 dự án bắt đầu bán cổ phần
Khung 5: Cải cách doanh nghiệp nhà nước, 1998 - 5/2002
1998
Ban hành Nghị định 44 nhằm đơn giản hoá quá trình cổ phần hoá và cho phép nước ngoài được sở hữu
ở mức hạn chế các DNNN cổ phần hoá;
Ban hành Chỉ thị 20 để đưa ra thêm các phương án cải cách cho các doanh nghiệp nhà nước, ví dụ bán
đứt, chuyển giao cho công nhân viên đấu giá, mua cổ phiếu DNNN, cho thuê, hợp đồng quản lý;
Thông báo các chỉ tiêu hàng năm về cổ phần hoá cho giai đoạn 1998 - 2000;
Cổ phần hoá 52 DNNN;
1999
Hoàn thành việc phân loại DNNN thành ba nhóm: có lãi, thua lỗ tạm thời và thua lỗ kinh niên;
Ban hành nghị định và quy định đối với việc bán đứt, chuyển giao cho công nhân viên, và cho thuê doanh nghiệp nhà nước nhỏ, không cần phải chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần như yêu cầu đối với việc cổ phần hoá;
Chọn ra 100 DNNN lớn có vấn đề để tiến hành kiểm toán chẩn đoán một cách độc lập (kiểm điểm hoạt
Trang 21Mở rộng thẩm quyền cho các tỉnh để quyết định vấn đề giải thể các DNNN với mức vốn 5 tỷ đồng thay vì mức 1 tỷ đồng như trước đây;
Thiết lập Quỹ Hỗ trợ Xắp xếp lại và Cổ phần hoá DNNN nhằm hỗ trợ thanh toán chi phí gián đoạn, về hưu sớm và lao động dư thừa giảm thiểu tác động xã hội tiêu cực của cải cách DNNN đối với công nhân viên;
áp dụng kế hoạch cải cách DNNN 5 năm với mục tiêu hàng năm được đặt ra cụ thể cho ba năm đầu tiên
Cổ phần hoá 185 DNNN;
2001
• Hình thành hệ thống giám sát hàng quý đối với 200 DNNN lớn nợ nhiều, sửa đổi quyết định về các yêu ccầu báo cáo tài chính cũng như các biện pháp xử lý đối với các doanh nghiệp chậm trễ báo cáo tài chính;
• Ban hành chỉ thị của chính phủ về việc ngừng thành lập DNNN mới bởi Uỷ ban Nhân dân địa phương
và các bộ chủ quan cho đến khi có thông báo tiếp (Công Văn 574/CP, 25-6-2001;
• Thành lập Công ty Đầu tư Tài chính theo Luật Doanh nghiệp, để đại diện cho quyền lợi của nhà nước với tư cách là đồng chủ sở hữu DNNN, ban hành nghị định 63 về việc chuyển DNNN thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, là một bước tháo gỡ những liên hệ phức tạp giữa chính phủ và DNNN (Tháng 10-2001)
Ban hành quyết định 58/2002/QĐ-TTg về phân loại và các tiêu chí xắp xếp lại DNNN
Có kế hoạch cho phép lãnh đạo các doanh nghiệp cổ phần hoá mua cổ phần vượt số lượng mà người lao
động mua, yêu cầu thông báo trước 30 ngày về cổ phần hoá, và làm rõ những mâu thuẫn tiềm tàng giữa Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Doanh nghiệp (Dự kiến sẽ ban hành nghị định vào tháng 6-2002);
Cổ phần hoá 79 DNNN (tính đến tháng 5)
Vốn, lao động và nợ của các DNNN thuộc diện chuyển đổi sở hữu
Quy mô vốn điều lệ của các doanh nghiệp cổ phần hoá trong năm 2001 và 2002 trung bình khoảng 7 tỷ đồng (465.000 USD) Trong số 248 doanh nghiệp đã cổ phần hoá năm
2001 và 2002, 36 doanh nghiệp có số vốn trên 15 tỷ đồng, tức khoảng 1 triệu USD
Tại thời điểm cổ phẩn hoá, bán hoặc thanh lý, những doanh nghiệp này sử dụng khoảng 62.000 lao động Tức là khoảng 218 lao động trên 1 DNNN cổ phần hoá
Trước khi cổ phần hoá, bán hoặc thanh lý, giá trị nợ trung bình của các DNNN là 14 tỷ
đồng Con số này làm cho số nợ của các doanh nghiệp được xử lý kể từ 2001 là khoảng 4 nghìn tỷ đồng
Trang 22Hình 5: Qui mô vốn của các DNNN được cổ phần hoá
0204060
Dưới 1 tỷ Từ 1 đến 5 tỷ Từ 5 đến 10 tỷ Trên 10 tỷ
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ Tài chính quản lý giám sát mức nợ của 200 DNNN có số nợ cao nhất Đến 12/2001, số
nợ này lên đến 42,3 nghìn tỷ (khoảng 2,8 tỷ USD), trong đó 38,6 nghìn tỷ là nợ ngân hàng Tổng nợ của toàn bộ khu vực DNNN, kể cả nợ ngân hàng và nợ giữa các doanh nghiệp, ước khoảng 190 nghìn tỷ đồng
Phân bổ các DNNN đã cổ phần hoá theo địa lý và ngành
Phần lớn việc cổ phần hoá được hoàn thành thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, trong
đó 30 trường hợp là tại Hà nội, sau đó là miền núi phía Bắc
Khoảng 16 tỉnh (là Sơn la, Bến tre, Lâm đồng, Lạng sơn, Kon Tum, Hà Giang, Tây ninh, Bắc cạn, Lai châu, Hưng yên, Quảng ngãi, Ninh thuận, Bình phước, Vĩnh long, Kiên giang, Trà vinh) không hoàn thành một trường hợp cổ phần hoá nào trong năm 2001
Hình 6: Phân bố các DNNN đã cổ phần hoá
trong năm 2001 và quí 1 năm 2002 theo vùng lãnh thổ
0 10 20 30
Đồng bằng sông Hồng
Vùng núi phía bắc
Đông nam bộ
Bắc trung bộ
Nam trung bộ
Tây nguyên
Đồng bằng sông Mê kông
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Các doanh nghiệp cổ phần hoá phân bổ không đều giữa các ngành Số lượng tập trung nhiều nhất là ngành xây dựng (27% số doanh nghiệp cổ phần hoá), sau đó là thương mại 13%, và giao thông vận tải 12%
Trang 23Các đối tác quốc tế sẽ hỗ trợ mục tiêu như thế nào?
Đã duyệt và đang thực hiện
ADB
US$1600000
Hình thành và thực hiện chiến lược và phương pháp công
ty hoá các DNNN; thực hiện và cưỡn chế áp dụng thông
lệ tốt nhất của quốc tế trong quản trị doanh nghiệp (Ban
Đổi mới và Phát triển DN)
Đã duyệt và đang thực hiện
ASEM 1 Châu Âu
Đang thực hiện Dự kiến hoàn thành vào tháng 6-
ASEM 5 Châu Âu
(WB quản lý)
US$1,470,000
Hỗ trợ thực hiện cải cách SOE trong ba bộ chủ quản (công nghiệp, nông nghiệp, và xây dựng) và hai tỉnh/thành phố (Hà nội và một tỉnh khác) (Ban Đổi mới và Phát triển DN)
Đang tuyển tư vấn
Đổi mới và Phát triển DN)
Đang thực hiện Dự kiến hoàn thành: July 2000
cổ phần hoá (Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng trị, CREM)
Đang thực hiện; dự kiến hoàn thành vào 2003 IFC quản lý
US$782000 của AusAid
& US$ 180000 của IFC
Hỗ trợ một chương trình cổ phần hoá thử nghiệm đối với các DNNN nhỏ thuộc UBND Hải phòng (UBND Hải phòng) sử dụng đấu thầu cho quá trình cổ phần hóa
Giai đoạn 2: 97/’98 và các công việc kế tiếp đang
được thực hiện
Quỹ Tín thác Nhật bản
(Ngân hàng Thế giới
quản lý thực hiện)
Thu thập dữ liệu và hệ thống giám sát cho các DNNN
đang chuẩn bị cho SAC Cũng đang tài trợ cho một nghiên cứu khảo sát 350 DNNN (TCQL Vốn của Nhà nước tại
Đã hoàn thành vào tháng
6 năm 1999