1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Taking stock an update on vietnams economic developments and reforms diem lai bao cao cap nhat tinh hinh phat trien va cai cach kinh te cua vietnam (vietnamese)

40 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 878,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong năm 2004 và quý một năm 2005, thành tích hoạt động của nền kinh tế Việt nam vẫn mạnh, mặc dù có nhiều cú sốc bất lợi, bao gồm sự bùng phát dịch cúm gà đáng lo ngại, những trận lụt

Trang 1

ĐIỂM LẠI

Báo cáo cập nhật tình hình phát triển và cải cách

kinh tế của Việt nam

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới Hội nghị giữa kỳ Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam

Cần Thơ, 2-3 tháng 6, 2005

Trang 3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CEPT Thuế ưu đãi có hiệu lực chung

CPRGS Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

DAF Quỹ Hỗ trợ Phát triển

DATC Công ty mua bán nợ và tài sản

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

NPL Nợ không sinh lời

LUC Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư

MOET Bộ Giáo dục và Đào tạo

MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường

MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

MTEF Khuôn khổ Chi tiêu Trung hạn

NSCERD Ban Chỉ đạo Quốc gia về Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp PIP Chương trình Đầu tư Công

SBV Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

SEDP Kế hoạch Phát triển Kinh tế-Xã hội

SOCB Ngân hàng Thương mại Nhà nước

SPS Các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động - thực vật TRIPs Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại

TRIMs Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam VCB Vietcombank – Ngân hàng ngoại thương Việt Nam

VDGs Các mục tiêu phát triển Việt Nam

VHLSS Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam

VSS Bảo hiểm xã hội Việt Nam

WTO Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN I: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẦN ĐÂY 1

Tăng trưởng GDP tăng mặc dù gặp nhiều cú sốc 3

Chính phủ đặt chỉ tiêu tăng trưởng đầy tham vọng là 8,5% 4

Tăng trưởng xuất khNu tiếp tục gây ấn tượng 5

Nhập khNu máy móc phục hồi và giá cả hàng hoá nhập khNu tăng lên 8

Thâm hụt mậu dịch và tài khoản vãng lai thu hẹp 9

Nguồn thu vượt chỉ tiêu và thâm hụt giảm 10

Lạm phát giá thực phNm có chiều hướng giảm 11

Tín dụng ngân hàng tăng nhưng cho vay chính sách giảm 12

PHẦN II: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN 15

A Chuyển sang kinh tế thị trường 17

Hội nhập kinh tế thế giới 17

Cải cách doanh nghiệp nhà nước 19

Cải thiện môi trường đầu tư 21

Cải cách lĩnh vực tài chính 23

B Hội nhập xã hội và tính bền vững về môi trường 26

Cải thiện chất lượng giáo dục 26

Sức khỏe tốt hơn 27

Đất đai, nước và môi trường 27

C Xây dựng nền quản trị hiện đại 29

Tăng cường công tác kế hoạch hoá 29

Quản lý nguồn lực công tốt hơn 30

Đánh giá nghèo tốt hơn 31

Cải cách hành chính công 32

Đấu tranh chống tham nhũng 32

Xây dựng pháp luật 33

Khung Khung 1: Chất lượng của đầu tư công và tăng trưởng 14

Khung 2: Luật và Pháp lệnh liên quan đến gia nhập WTO 18

Trang 5

Hình 1: Cam kết và giải ngân FDI (tỷ US$) 5

Hình 2: Giá trị và tăng trưởng xuất khNu 5

Hình 3: Tăng giá và giá trị xuất khNu các mặt hàng chính (% / năm) 7

Hình 4: Các thị trường xuất khNu năm 2004 (tỷ trọng theo nước, %) 7

Hình 5: Tăng giá và giá trị nhập khNu của những mặt hàng chính (% / năm.) 8

Hình 6: Cán cân mậu dịch và tài khoản vãng lai (% GDP) 10

Hình 7: Tăng trưởng về chỉ số giá tiêu dùng (tháng 12/2002 = 100) 12

Bảng Bảng 1: Tăng trưởng GDP theo ngành (%) 3

Bảng 2: Cơ cấu và tăng trưởng xuất khNu 6

Bảng 3: Nhập khNu: Cơ cấu và tăng trưởng 9

Bảng 4: Số lượng chuyển đổi DNNN 19

Bảng 5: Một số đặc trưng của quá trình chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước 20

Bảng 6: Các chỉ số của lĩnh vực ngân hàng 24

Báo cáo này do Vivek Suri và Đinh Tuấn Việt chuNn bị, dựa trên những tư liệu và nhận xét góp ý của Amanda Carlier, Đoàn Hồng Quang, Soren Davidsen, Daniel Musson, Nguyễn Văn Minh, James Seward, và Rob Swinkels, thực hiện dưới sự chỉ đạo chung của Homi Kharas, Klaus Rohland, và Martin Rama Phùng Thị Tuyết, Nguyễn Thu Hằng và Trần Thị Ngọc Dung đảm nhiệm trợ lý thư ký và phát hành

Trang 7

PHẦN I

Trang 9

Trong năm 2004 và quý một năm 2005, thành tích hoạt động của nền kinh tế Việt nam vẫn mạnh, mặc dù có nhiều cú sốc bất lợi, bao gồm sự bùng phát dịch cúm gà đáng

lo ngại, những trận lụt và hạn hán nghiêm trọng, sự tăng mạnh giá cả của những hàng hóa nhập khNu trọng yếu, và những rào cản thị trường đối với các sản phNm xuất khNu Điều

đó đem lại sự cải thiện rộng khắp về những điều kiện sinh sống, và số liệu sơ bộ từ cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2004 đã cho thấy số người nghèo

đã giảm đi đáng kể từ năm 2002, năm tiến hành cuộc điều tra gần đây nhất Mặc dù còn quá sớm để báo cáo một tỷ lệ đói nghèo đáng tin cậy, song vẫn có một kỳ vọng rõ ràng là

sẽ thấy được bước tiến vững chắc trong việc đạt được những Mục tiêu Phát triển Việt nam (VDGs) và những thành quả phát triển then chốt khác

GDP tăng mặc dù có nhiều nhiều cú sốc

Mặc dù những cú sốc bất lợi nhiều lần xNy ra, tăng trường GDP vẫn đạt trên 7% trong năm thứ ba liên tiếp, và thực sự đã tăng tốc để đạt tới 7,7% trong năm 2004 Trong quý I năm 2005, GDP ước tính đã tăng 7,2%, so với 7,0% trong cùng quý này năm 2004 (Bảng 1) Mức tăng trưởng cao hơn chủ yếu bắt nguồn từ thành tích tốt hơn trong ngành nông nghiệp và công nghiệp chế tạo Khu vực nông nghiệp đã hoạt động tốt hơn bất chấp

sự trở lại của dịch cúm gà và hạn hán trên một số vùng của đất nước

Bảng 1: Tăng trưởng GDP theo ngành (%)

2000 2001 2002 2003 2004 Q1-04 Q1-05 Tổng GDP 6,8 6,8 7,0 7,2 7,7 7,0 7,2

2005, so với 10% trong khu vực nhà nước và 13% trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Tám tỉnh miền trung và cao nguyên của Việt Nam đã phải hứng chịu nạn hạn hán nặng nề nhất trong vòng 28 năm qua, ảnh hưởng tới khoảng một triệu người dân Ngành

cà phê của đất nước đặc biệt bị đe dọa vì cao nguyên miền trung chiếm tới 80% sản lượng

cà phê Trong bốn tháng đầu năm 2005, xuất khNu cà phê giảm 5,4% về khối lượng so với

Trang 10

cùng kỳ năm ngoái, nhưng do giá cả thế giới cao hơn nên xuất khNu vẫn tăng 2,6% tính theo giá trị

Hạn hán cũng đã ảnh hưởng xấu tới sản xuất thủy điện do mực nước của các hồ

dự trữ sụt giảm, đặc biệt ở nhiều vùng phía bắc Cung ứng thủy điện đã giảm 8% so với cùng kỳ năm ngoái trong ba tháng đầu năm Thông thường, thủy điện chiếm từ 30% tới 40% tổng lượng điện của cả nước

Chỉ tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, đầu tư ở mức cao

Chính phủ đã đặt chỉ tiêu tăng trưởng GDP 8,5% trong năm 2005 nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng 7,5% đề ra trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 2001-05 (SEDP) Điều này hàm ý rằng tăng trưởng phải đạt trung bình gần 9% trong ba quý sau của năm 2005 Như vậy, có thể có một động lực để theo đuổi các chính sách tài chính và tiền tệ mở rộng, có khả năng làm cản trở mục tiêu khống chế lạm phát của chính phủ đề

ra ở mức 6,5% Cũng có rủi ro là các khoản lớn cho đầu tư công có thể được triển khai

mà không có nguồn vốn thích hợp (xem Khung 1) Có điều khích lệ là trong những tháng gần đây, các bộ trưởng quan trọng đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tăng trưởng về chất hơn là tăng trưởng về lượng, cho rằng mục tiêu 8,5% đặt ra mang tính hướng dẫn chứ không phải là bắt buộc

Tổng đầu tư, tính theo giá hiện hành, đã tăng 18% trong năm 2004, đạt 36,3% GDP Tỷ trọng của nhà nước trong tổng đầu tư đạt 54%, trong khi khu vực tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài lần lượt đóng góp 27% và 19% Đã có khoảng 35.000 doanh nghiệp mới được đăng ký trong năm 2004, tăng 26% so với năm trước về số lượng và 24% về vốn đăng ký Quy mô trung bình của các doanh nghiệp là nhỏ (khoảng 2 tỷ VND)

và không cho thấy một xu hướng tăng lên đáng kể nào trong một vài năm gần đây Tuy nhiên, trong bốn tháng đầu năm nay, số lượng đăng ký giảm 8% so với cùng kỳ năm ngoái trong khi số vốn mới đăng ký lại tăng 35%, thể hiện sự tăng lên trong quy mô trung bình của doanh nghiệp

Cam kết FDI đã tăng mạnh trong năm 2004, đạt mức cao nhất trong vòng 7 năm

là 4,2 tỷ đôla Con số này bao gồm 2,3 tỷ đôla cam kết mới (tăng 38%) và 2 tỷ đôla vốn

bổ sung của các doanh nghiêp đang hoạt động Các khoản giải ngân, bao gồm cả vay trong nước của các liên doanh, đã tăng khoảng 8% và đạt 2,9 tỷ đôla1 Trong bốn tháng đầu năm 2005, mức cam kết đã đạt 2,1 tỷ đôla, so với mục tiêu cả năm của chính phủ là 4,5 tỷ đôla Sự gia tăng về cam kết FDI có thể đã phản ánh sự nhìn nhận của các nhà đầu

tư về những cơ hội đang mở rộng do Việt Nam chuNn bị gia nhập WTO Các luật đầu tư

và doanh nghiệp mới hiện đang được soạn thảo được mong đợi sẽ cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh cho các nhà đầu tư nước ngoài Năm 2004, những công ty đầu tư nước ngoài đã đạt được mức doanh thu từ xuất khNu 8.8 tỷ đôla, chiếm khoảng một nửa tổng kim ngạch xuất khNu của cả nước

1 Những số liệu về giải ngân này bao gồm cả những khoản vay trong nước của các liên doanh và không giống với số liệu được sử dụng trong cán cân thanh toán Trong cán cân thanh toán, những số liệu này bao gồm các nguồn vốn báo cáo của các nhà đầu tư nước ngoài, cộng với các khoản vay nước ngoài của các liên doanh

Trang 11

Hình 1: Cam kết và giải ngân FDI (tỷ US$)

Ngu ồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và Tổng cục Thống kê

Tăng trưởng xuất khu tiếp tục gây ấn tượng

Trong bốn tháng đầu năm 2005, tổng kim ngạch xuất khNu đã tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là sự tiếp tục thành tích xuất khNu mạnh trong một vài năm gần đây (Hình 2) Tỷ trọng xuất khNu hàng hóa trong GDP tăng khoảng 11 điểm phần trăm trong vòng năm năm qua, đạt 57% GDP năm 2004 Dầu thô và hàng may mặc hiện đang

là hàng xuất khNu quan trọng nhất, tiếp theo là giầy dép và hải sản (Bảng 2)

Hình 2: Giá trị và tăng trưởng xuất kh u

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê

0 1 2 3 4 5

Trang 12

Bảng 2: Cơ cấu và Tăng trưởng Xuất kh u

Giá trị (triệu $) Tỷ trọng (%) Tăng trưởng (%)

Hàng hóa khác 5.281 20,6 19,9 20,6 21,8 27,0 20,5

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan

Năm 2004, tăng trưởng xuất khNu 31% đã vượt quá các dự tính Xuất khNu dầu thô, được lợi chủ yếu từ giá quốc tế cao, đã tăng 48% xét theo giá trị, và 14% theo khối lượng Trong bốn tháng đầu năm 2005, xuất khNu dầu thô đã tăng 45%, cũng là do mức giá cao hơn Xét về tổng thể, tính theo giá trị, xuất khNu hàng hóa quan trọng đã tăng gần 46% trong năm 2004, với hơn một nửa mức tăng này là do giá tăng (Hình 3)

Hàng xuất khNu ngoài dầu thô tăng 27%trong năm 2004, một kết quả đáng khích

lệ trong bối cảnh điều kiện bên ngoài không thuận lợi Xuất khNu hàng may mặc phải đối mặt với hạn ngạch chặt chẽ hơn trên thị trường Mỹ, trong khi xuất khNu tôm bị ảnh hưởng bởi thuế chống bán phá giá Những hạn chế về hạn ngạch hàng may mặc có liên quan tới hiệp ước song phương Mỹ-Việt, áp dụng cho những loại hàng may mặc nhất định Kết quả là xuất khNu hàng may mặc tăng 19% trong năm 2004, so với 34% năm

2003, trong khi xuất khNu thủy sản giảm xuống từ 14% năm 2002 còn 9,2%

Năm nay, do thương mại không hạn ngạch có hiệu lực đối với ngành may mặc, Việt Nam sẽ phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt hơn Vì không phải là thành viên của WTO, Việt nam sẽ tiếp tục phải chịu hạn ngạch, còn những nước xuất khNu lớn khác thì

sẽ được bỏ hạn ngạch Cuộc cạnh tranh này chỉ còn diễn ra chủ yếu trên thị trường Mỹ, vì những nước nhập khNu khác như EU và Canada đã dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng may mặc xuất khNu của Việt nam Một yếu tố không lường trước làm cho cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường EU có thể bắt nguồn từ việc hủy bỏ thuế nhập khNu lên hàng may mặc nhập khNu từ các nước đối thủ cạnh tranh là nạn nhân của sóng thần Trong bốn tháng đầu năm 2005, xuất khNu hàng may mặc chỉ tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, điều này có khả năng phản ánh không chỉ những điều kiện bên ngoài kém thuận lợi hơn, mà cả những

Trang 13

vấn đề trong nước trong việc phân bổ hạn ngạch Các sản phNm gỗ, mặt hàng xuất khNu tăng nhanh trong năm 2004, vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm 2005, đạt tỷ lệ 57% trong bốn tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước

Hình 3: Tăng giá và giá trị xuất kh u các mặt hàng chính (% / năm)

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan

Các m ặt hàng tính ở đây là dầu thô, cao su, gạo, cà phê và than

Bộ Thương mại Mỹ đưa ra quyết định cuối cùng về các mức thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khNu tôm, dao động trong khoảng từ 4% đến 26%, thấp hơn nhiều

so với phán quyết sơ bộ từ 12 tới 93% Tuy nhiên, các nhà nhập khNu Mỹ hiện nay phải

ký quỹ số tiền bằng với thuế chống bán phá giá bình quân gia quyền Quy tắc này, áp dụng hồi tố từ năm 2003, đã khiến cho các nhà nhập khNu Mỹ e ngại mua tôm từ Việt Nam

Hình 4: Các thị trường xuất kh u năm 2004 (tỷ trọng theo nước, %)

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan

Tỷ trọng trong toàn bộ xuất khẩu

Tỷ trọng trong xuất khẩu phi dầu mỏ

10 20 30 40 50

-2002 2003 2004 4T-05

%

Giá Giá trị

Trang 14

Trong năm 2004, EU và Mỹ là những thị trường chủ yếu cho hàng xuất khNu của Việt Nam, trong đó thị trường EU có nhỉnh hơn chút ít (Hình 4) Việc thực hiện hiệp định thương mại Việt -Mỹ đã dẫn tới sự bùng nổ xuất khNu sang thị trường Mỹ Kết quả là tỷ trọng xuất khNu vào thị trường Mỹ trong xuất khNu của Việt Nam đã tăng từ 7% năm

2001 lên gần 20% năm 2003 Tuy nhiên, do hạn ngạch xuất khNu và những hạn chế khác trong năm 2004 (đã nói ở trên), xuất khNu sang Mỹ tăng chậm hơn và tỷ trọng có phần giảm sút Một điểm đáng lưu ý trong năm ngoái là tầm quan trọng ngày càng tăng của Trung Quốc với tư cách là một thị trường xuất khNu có thị phần đã tăng trên 10% Nếu chỉ tính hàng xuất khNu phi dầu lửa thì tỷ trọng của EU, Mỹ, và Nhật Bản là cao hơn, trong khi tỷ trọng của ASEAN và Trung Quốc là thấp hơn

Nhập khu máy móc phục hồi và giá cả hàng hoá nhập khu tăng lên

Với mức 27%, tăng trưởng nhập khNu trong năm 2004 thấp hơn chút ít so với năm trước Giá cả quốc tế đang tăng lên của một số mặt hàng nhập khNu quan trọng như các sản phNm dầu khí tinh chế, phân bón, thép, giấy và các sản phNm nhựa đã góp phần chủ yếu làm tăng giá trị nhập khNu (Hình 5) Tổng giá trị nhập khNu hàng hóa chủ yếu tăng 42% với giá bình quân gia quyền tăng gần 30% Tuy nhiên, nhập khNu máy móc, hạng mục nhập khNu lớn nhất, giảm 2% trong năm 2004 (Bảng 3) Sự giảm sút này là do những dự án đầu tư lớn đã hoàn thành và do đó làm giảm nhập khNu một cách “tổng thể” Nhưng khuynh hướng này có vẻ như đang bị đảo ngược trong bốn tháng đầu năm 2005, với việc nhập khNu máy móc thiết bị tăng gần 28% so với cùng kỳ năm ngoái Đối với các sản phNm dầu khí, giá trị nhập khNu chỉ tăng khoảng 9% so với năm trước Nhìn tổng thể, tăng trưởng nhập khNu trong bốn tháng đầu năm đạt 18,5% so với cùng kỳ năm trước Về nguồn gốc nhập khNu, Trung Quốc nổi lên với tư cách là nhà cung ứng chính Đối với hàng nhập khNu phi dầu mỏ, về một khía cạnh nào đấy các bạn hàng lớn hơn là

là Đài Loan, Trung Quốc và Nhật Bản

Hình 5: Tăng giá và giá trị nhập kh u của những mặt hàng chính (% / năm.)

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan

Các mặt hàng bao gồm các sản phNm dầu khí, clinker, nhựa, phân bón, giấy, bông, sợi , thép

10.0 20.0 30.0 40.0 50.0

%

Trang 15

Bảng 3: Nhập kh u: Cơ cấu và Tăng trưởng

Máy móc và thiết bị 5.249 21,2 16,4 16,4 41,3 -2,0 27,5 Máy tính và hàng điện tử 1.343 3,9 4,2 4,6 46,7 37,7 39,5 Dược phNm 510 1,5 1,6 1,2 16,8 36,2 7,0 Bán thành phNm và nguyên liệu

Nguyên liệu may mặc và da 2.253 8,1 7,0 5,2 1,4 10,7 -8,4 Thép các loại 2.573 6,6 8,1 8,0 24,2 55,2 21,8 Phân bón 824 2,5 2,6 1,2 31,6 31,0 -48,5 Nhựa 1.191 3,0 3,7 3,8 21,5 51,8 27,8 Vải 1.927 5,4 6,0 5,0 37,0 41,2 1,4 Hóa chất 683 2,0 2,1 2,3 25,6 33,9 21,1 Sản phNm hóa chất 706 2,3 2,2 2,2 20,7 21,2 7.2

Xe máy 647 3,6 2,0 3,0 45,6 -22,8 51,0 Sợi dệt 339 1,2 1,1 0,9 -5,2 13,6 -11,6 Thuốc trừ sâu 210 0,6 0,7 0,8 2,0 44,1 25,1 Bông 190 0,4 0,6 0,5 8,8 80,1 42,3 Giấy 248 0,9 0,8 0,8 19,3 7,5 49,5

Ngu ồn: Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê

Thu hẹp thâm hụt mậu dịch và tài khoản vãng lai

Thâm hụt mậu dịch (trên cơ sở giá FOB) giảm xuống còn 5% của GDP trong năm

2004, so với 6,4% năm 2003 Trong quý một năm 2005, thâm hụt mậu dịch tiếp tục thu hẹp xuống còn 4,2% Được sự trợ giúp của lượng kiều hối chuyển về mạnh và nguồn thu

từ du lịch, thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức 4,7% GDP năm 2003, được ước tính đã giảm xuống còn khoảng 4% GDP trong năm 2004 Kiều hối chuyển về qua hệ thống ngân hàng được dự tính đạt khoảng 3,2 tỷ đôla trong năm 2004, tăng từ khoảng 2,7 tỷ đôla năm

2003

Sự gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai trong năm 2002-2003 có thể là do nhập khNu nhiều hơn các hàng hóa tư liệu sản xuất cũng như các đầu vào quan trọng, kể cả những đầu vào cho sản xuất hàng xuất khNu Khoản thâm hụt này chủ yếu được chi trả bằng nguồn vốn ODA và các nguồn vốn FDI không sinh nợ Tuy nhiên tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam từ những khoản vay này vẫn ở mức kiểm soát được Dự trữ ngoại hối tăng từ 5,6 tỷ đôla vào cuối năm 2003 lên tới 6,3 tỷ đôla vào cuối năm 2004 Tuy nhiên, khả năng trang trải nhập khNu được đánh giá là ổn định, tức là khoảng 10 tuần nhập khNu

Trang 16

Hình 6: Cán cân mậu dịch và tài khoản vãng lai (% GDP)

Ngu ồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới

Thu ngân sách vượt chỉ tiêu và thâm hụt giảm

Thu ngân sách vẫn tiếp tục tăng mạnh trong năm 2004, đạt 23,4% GDP, vượt chỉ tiêu hơn 2 điểm phần trăm Các nguồn thu của chính phủ được lợi nhiều từ giá dầu lửa cao và thu từ sản xuất và xuất khNu dầu thô đã đạt tới gần 145% kế hoạch của ngân sách Thu từ sản xuất dầu thô đóng góp khoảng 22% tổng thu trong khi thuế doanh thu đánh vào các sản phNm dầu tinh lọc đóng góp 5-6% Trong năm 2004, thu từ thuế nhập khNu

và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khNu giảm khoảng 5% so với năm 2003, nhưng VAT trên hàng nhập khNu được ước tính đã tăng gần 22% Nguyên nhân nguồn thu thuế thương mại thấp hơn mức dự kiến là do việc loại bỏ thuế nhập khNu đánh vào các sản phNm như dầu và thép nhằm làm giảm tác động của giá cả lên người tiêu dùng cũng như việc giảm mạnh nhập khNu các mặt hàng như ô tô và các linh phụ kiện Thu từ thuế nhập khNu thấp hơn cũng một phần là do việc cắt giảm thuế đang diễn ra theo lộ trình AFTA

Chi ngân sách tăng 15%, đạt 24,8% GDP Các khoản chi tiêu, cả chi đầu tư và chi thường xuyên, mỗi khoản đều vượt quá mức được phân bổ khoảng 10% Chi đầu tư chiếm khoảng một phần ba tổng chi tiêu Các khoản chi trong kế hoạch cao hơn một phần

là do điều chỉnh thang bậc lương của công nhân viên chức, nhằm mục tiêu là tăng mức tiền lương trung bình lên 30% trong vòng 4 năm Tăng lương bằng cách mở rộng độ chênh lệch tiền lương cho phép, có lý là những người có trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ cao hơn được trả lương cao hơn tương xứng với trình độ kỹ năng của họ Cũng có các khoản chi không nằm trong kế hoạch cao hơn để bảo vệ người tiêu dùng trước sự gia tăng giá dầu quốc tế Các khoản chi này nằm dưới dạng thanh toán cho những công ty phân phối dầu trong nước để bù đắp một phần lỗ của họ và có thể lên tới khoảng 0,5% của GDP

Cán cân tài khoản vãng lai

Trang 17

Thâm hụt ngân sách trong năm 2004 đứng ở mức 1,4% GDP, thấp hơn so với mức 2,2 % GDP theo kế hoạch và cũng thấp hơn so với mức 2% đạt được trong năm

2003.2 Tuy nhiên, con số này còn chưa tính đến khoản vay ODA ước tính là 0,9% GDP trong năm 2004 Mức thâm hụt cũng không phản ánh một số hoạt động chi tiêu nhất định ngoài ngân sách, như việc cho vay bằng nguồn vốn trong nước từ Quỹ Hỗ trợ Phát triển, ước tính bằng 1% của GDP trong năm 2004 Thêm vào đó, chi tiêu ngoài ngân sách chiếm khoảng 0,7% GDP được thực hiện cho các dự án cơ sở hạ tầng và giáo dục

Để bù đắp cho thâm hụt, dự định của chính phủ là tăng tỷ trọng các nguồn nội địa thông qua việc phát hành trái phiếu Tuy nhiên, năm nay chính phủ phải đối mặt với một

số khó khăn, do người mua nhận thấy trái phiếu chính phủ không đủ hấp dẫn Lãi suất trái phiếu là 8,6% một năm cho thời hạn 5 năm và 9,1% cho thời hạn 15 năm, so với lãi suất 9% một năm cho tiền gửi 2 năm được các ngân hàng chào gần đây Các quy định hiện hành ấn định khung thời gian là 2 năm cho việc điều chỉnh trần lãi suất của trái phiếu chính phủ Để có thể huy động được lượng tiền lớn thông qua phát hành trái phiếu, cần cho phép tăng tần suất của những lần điều chỉnh đó

Lạm phát vẫn còn là vấn đề đáng lo ngại

Trong năm 2004, một hiệu ứng trực tiếp của cúm gà và những điều kiện thời tiết bất lợi là làm gia tăng giá thực phNm Cú sốc này lại được tiếp sức bằng việc tăng giá cả quốc tế của những mặt hàng nhập khNu trọng yếu, như dầu mỏ, phân bón, xi măng và thép Lạm phát đã tăng từ 3% so với cùng kỳ năm ngoài trong tháng Giêng năm 2004 lên tới hơn 10% trong tháng Chín, trước khi giảm xuống 8,5% vào tháng Tư 2005 Vào tháng Năm 2005, lạm phát chung ước tính vào khoảng 9.0% so với cùng kỳ năm trước Giá lương thực - thực phNm, chiếm tới gần một nửa trong rổ hàng tiêu dùng, đã tăng gần 19%

so với cùng kỳ năm ngoài vào tháng Chín năm 2004, nhưng lạm phát liên quan tới lương thực - thực phNm đã giảm còn 10% Sự tụt giá nhanh hơn đã bị chặn lại bởi sự tái xuất hiện của cúm gà và những điều kiện thời tiết bất lợi, cũng như việc tăng lên không ngừng của giá các mặt hàng nhập khNu trọng yếu Ngăn chặn những cú sốc tiếp theo, lạm phát

dự kiến sẽ giảm xuống còn khoảng 7% vào cuối năm 2005, cao hơn một chút so với mục tiêu Chính phủ đề ra

2 Con số của chính phủ về mức thâm hụt đề ra là 5% GDP Con số này dựa trên một định nghĩa không

Trang 18

Hình 7: Tăng trưởng về chỉ số giá tiêu dùng (tháng 12/2002 = 100)

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê

Giá dầu quốc tế tăng cao đã không được phép chuyển hoàn toàn vào giá trong nước Từ tháng hai, 2004, giá xăng được tăng lên 44% qua bốn đợt, trong khi giá dầu diesel và kerosene đã tăng lần lượt là 25% và 14% Các mức tăng này thấp hơn nhiều so với biến động giá quốc tế tương ứng Thuế nhập khNu đối với các sản phNm dầu và thép được giảm mạnh hoặc bãi bỏ toàn bộ, nhằm giảm bớt gánh nặng cho người tiêu dùng trước sự tăng giá quốc tế Các quyết định cũng đã được đưa ra để không cho phép các công ty nhà nước tăng giá điện, than và xi-măng Khi làm như thế, chính phủ sẽ cần phải đạt được sự cân bằng hợp lý giữa áp lực lạm phát và các cân đối tài chính của những công ty này Người ta cho rằng Chính phủ nhận thức được những công ty này có khả năng giảm chi phí thông qua những cải thiện về hiệu quả Nếu những công ty này không thể bảo vệ được khả năng thu lợi nhuận của họ, thì Chính phủ có khả năng sẽ phải bù đắp cho họ thông qua ngân sách Đối với dầu thì hỗ trợ của ngân sách đã lên tới 4,87 ngàn tỷ VND, tức là hơn 300 triệu đôla, trong quý đầu năm 2005

Tín dụng ngân hàng tăng và chính sách kiềm chế

Tăng trưởng tín dụng đã tăng từ 28% năm 2003 lên gần 42% năm 2004 Cho vay bằng ngoại tệ tăng gần 60%, so với 38% các khoản vay bằng đồng nội tệ Kỳ vọng về sự mất giá của đồng nội tệ, cùng với các mức lãi suất cho vay ngoại tệ thấp hơn, có vẻ đã khiến cho việc đi vay bằng ngoại tệ trở nên hấp dẫn Tín dụng từ các ngân hàng cổ phần ước tính tăng trên 50%, trong khi từ các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) tăng khoảng 37% Tăng trưởng tín dụng cho khu vực tư nhân gần 45% đã vượt qua mức tăng trưởng tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 35%

Tăng trưởng tín dụng từ các ngân hàng thương mại đã bị bù trừ phần nào bởi sự chậm lại trong cho vay chính sách Cho vay từ các nguồn huy động trong nước của Quỹ

Hỗ trợ Phát triển đã giảm từ 45% năm 2003 xuống còn 22% năm 2004 Điều này có thể

Trang 19

có liên quan tới những quy định mới của Chính phủ về việc áp dụng những tiêu chí cho vay chặt chẽ hơn Hy vọng những tiêu chí cho vay sẽ còn chặt chẽ hơn nữa trong những tháng sắp tới

Tăng trưởng tiền tệ theo nghĩa rộng trong năm 2004 đạt mức 30%, so với 25% trong năm 2003 Tăng tổng tiền tệ trong bối cảnh này chủ yếu xuất phát từ việc tăng tổng tiền tệ ở nước ngoài Không giống với một vài nước phát triển khác, việc tăng tổng khối lượng tiền tệ ở Việt Nam không liên quan tới quá trình tiền tệ hóa thâm hụt ngân sách Hai năm vừa qua đã chứng kiến một sự sụt giảm trong tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi, điều đó có nghĩa là có sự thay đổi trong lựa chọn của công chúng theo hướng thích gửi tiền vào ngân hàng hơn thay vì giữ tiền mặt Đồng thời, tỷ lệ tiền vay/tiền gửi có vẻ như đang tăng lên, hàm ý một phần của sự tăng lên trong tín dụng bắt nguồn từ việc giảm bớt tài sản thanh khoản vượt mức mà các ngân hàng nắm giữ

Tuy nhiên, không nên nhìn nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng cao như là một yếu

tố đứng sau lạm phát, vì sự gia tăng mạnh trong tín dụng diễn ra sau khi lạm phát có dấu hiệu giảm dần Tuy nhiên, việc tiếp tục tăng cường tín dụng với tốc độ như năm 2004 sẽ

đe dọa mục tiêu kiểm soát lạm phát của chính phủ đề ra là 6,5% cho năm 2005 Để kiểm soát tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) đã tăng mức dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng, có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 2004 Dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi đồng nội tệ và đồng ngoại tệ được tăng tương ứng từ 2% và 4% lên 5%

và 8% Những biện pháp này gần đây được tăng cường bằng việc tăng lãi suất cho vay chính sách Lãi suất chiết khấu được tăng từ 3,5% lên 4% và lãi suất tái cấp vốn tăng từ 5,5% lên 6% trong tháng Tư, 2005 Lãi suất trần cho tiền gửi bằng đôla tại các ngân hàng thương mại cũng được nâng lên Do không có những số liệu về tín dụng gần đây nên chưa thể đánh giá về tác động của những biện pháp này trong việc hạn chế tăng trưởng tín dụng

Giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng không nên chỉ được nhìn nhận như là một biện pháp để kiểm soát tổng cầu, mà phải được nhìn nhận như là một nỗ lực để kiểm soát chất lượng của cho vay Trong bối cảnh này, một bước tiến đáng mừng là sự chấp nhận những quy tắc mới về phân loại và đặt điều kiện cho các khoản vay phù hợp với thông lệ quốc tế lành mạnh Kết quả sơ bộ của các quy định mới đã phản ánh thực tế phù hợp với các tiêu chuNn kiểm toán quốc tế (IAS) đối với các NHTMNN Vào tháng Tư năm nay, NHNNVN cũng ban hành những quy chế sửa đổi về các tỷ lệ an toàn cho các tổ chức tín dụng Để khắc phục sự mất cân đối về thanh khoản, những quy chế này cũng hạn chế cho vay trung hạn và dài hạn từ các ngân hàng thương mại trong phạm vi 40% quỹ ngắn hạn của họ

Trang 20

Khung 1: Chất lượng của đầu tư công và tăng trưởng

Ở Việt Nam, trong 12 năm vừa qua tăng trưởng đã đạt mức bình quân 7,5% một năm Thành tích gây ấn tượng này gợi ý về một khả năng rất lớn là Việt Nam sẽ ra khỏi danh sách các nước có thu nhập thấp vào năm 2010 Sự tăng trưởng trên quy mô rộng và đi đôi với nó là một sự giảm đáng kể tình trạng đói nghèo Để đạt được mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội (2001-05), Chính phủ đã đặt ra mục tiêu là phải đạt 8,5% cho năm 2005 Trong quá khứ, Việt Nam đã có thể đạt được những mục tiêu đầy tham vọng và rất có thể đạt được mục tiêu hiện tại Song điều quan trọng cần phải nhớ là tăng trưởng về chất cũng quan trọng như là tăng trưởng về lượng Như thế, tốt hơn hết là hãy nhìn nhận chỉ tiêu tăng trưởng 8,5% như là mang tính hướng dẫn, chứ không phải là một mục tiêu phải theo đuổi mà không quan tâm đến chất lượng

Việc đNy nhanh đầu tư công nhằm đạt được tỷ lệ tăng trưởng đặt ra tỏ ra là hấp dẫn Các tỷ lệ đầu tư cho thấy khối lượng nguồn lực được giành cho tích lũy tư bản, mà không chỉ ra được tác động của nó lên các kết quả phát triển, như là tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo Nói cách khác, những

tỷ lệ đó đo lường khối lượng của đầu tư, chứ không phải là chất lượng Rõ rằng là Việt Nam đang giành một phần rất lớn GDP cho tích lũy tư bản, song kết quả mà họ nhận được từ nỗ lực đó lại chưa

rõ ràng Từ góc độ quốc tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu đáng ghi nhận về phương diện khối lượng đầu tư, nhưng xét về chất lượng thì không được như thế Trong số 23 nước mà có thể tập hợp được số liệu tương tự về tích lũy vốn, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, thì Việt Nam đứng thứ ba về tỷ lệ đầu tư, nhưng lại đứng thứ 17 về chất lượng đầu tư

Một lý do là những cơ chế để xác định và thNm định các dự án đầu tư công ở Việt Nam là rất yếu Do vậy có một hiểm họa là có thể đất nước sẽ không nhận được lợi tức cao nhất trên khoản đầu

tư của mình Thêm vào đó, các dự án, cả công cộng lẫn tư nhân, được triển khai bằng nguồn vốn của các NHTMNN và của Quỹ Hỗ trợ phát triển mà không có sự sàng lọc thỏa đáng Trong quá khứ, điều này đã gây ra hậu quả là các ngân hàng bị chìm sâu vào những khoản nợ xấu và do đó làm suy yếu bảng cân đối kế toán của họ Điều này hàm ý rằng một tỷ lệ của tăng trưởng của hôm nay, sớm hay muộn, cũng sẽ phải được giành vào việc thanh toán những món nợ xấu này Nếu những món nợ này trở nên quá lớn, thì việc xử lý chúng sẽ không phải là dễ Kinh nghiệm từ các nước láng giềng cho thấy rằng chi phí của tình trạng rối loạn tài chính như thế có thể là rất lớn

Tình trạng thiếu vốn cho các dự án đang thúc đNy việc sử dụng nhiều cơ chế khác, mà rút cục

có thể làm xói mòn tính minh bạch của quản trị tài chính công Đối mặt với sự thiếu hụt như thế, một

số bộ ngành đã trang trải cho các dự án bằng cách vay từ các ngân hàng thương mại thông qua những DNNN thành viên của họ, với hy vọng sau đó sẽ được Chính phủ cứu giúp Nhiều nhà thầu bị buộc phải đi vay từ các ngân hàng thương mại với lãi suất cao, trong khi chờ đợi các cơ quan Chính phủ hoàn trả cho các ngân hàng đó Có những tiền lệ cho việc xóa nợ như thế Song điều này kéo theo một vấn đề rủi ro đạo đức, vì những bộ ngành và các tỉnh có nợ có thể bắt đầu đi vay trở lại với mong đợi lại được cứu giúp một lần nữa

Nhìn về tương lai, sẽ khó mà tăng được tỷ lệ đầu tư lên cao hơn nhiều so với mức hiện tại Điều này khiến cho chất lượng của đầu tư trở thành phương tiện chủ yếu để duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh hơn và tiếp tục đạt được những thành quả trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo Cơ sở cho những sự gia tăng như thế về hiệu quả của đầu tư là các cuộc cải cách cơ cấu mà nhiều trong số đó đã

và đang được chính phủ thực hiện Gia nhập WTO đem lại một cơ chế quan trọng để gặt hái những thành quả về hiệu quả như vậy, điều đó sẽ mở ra những thị trường mới, giúp thu hút FDI mạnh hơn, và nâng cao hiệu quả tổng thể của nền kinh tế Trên mặt trận đói nghèo, tăng trưởng không thôi là chưa

đủ Một bộ phận ngày càng lớn người nghèo được tạo thành bởi những nhóm có những khó khăn đặc biệt, như những người dân tộc thiểu số và dân di cư ra thành thị Những chính sách đặc biệt nhằm trực tiếp vào những nhóm người này sẽ là cần thiết để giúp họ chia sẻ những lợi ích của tăng trưởng Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, việc thNm định đầu tư phải tính tới chi phí môi trường, bởi chất lượng cuộc sống về mặt môi trường là một cấu phần quan trọng trong chất lượng của tăng trưởng

Ngày đăng: 29/03/2018, 11:41

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm