1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vietnam country partnership strategy for the period FY12 FY16

192 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 7,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thành viên hỗ trợ từ Nhóm Ngân hàng Thế giới: Keiko Sato Giám đốc Quản lý Hoạt động và Danh mục Đầu tư, Jennifer Sara Giám đốc Ban, Toomas Palu Điều phối viên Quốc gia, Phát triển c

Trang 1

Việt nam - chiến lược hợp tác quốc gia

Ngân hàng Thế Giới

63 Lý Thái Tổ, Hà Nội, Việt Nam

Tel (84-4) 3934 6600, Fax (84-4) 3935 0752

Việt nam chiến lược hợp tác quốc gia

2012 - 2016

65200

Trang 3

HIỆP HỘI PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ

VÀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VỀ TÁI THIẾT VÀ PHÁT TRIỂN

VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

VÀ CƠ QUAN BẢO LÃNH ĐẦU TƯ ĐA PHƯƠNG

CHIẾN LƯỢC HỢP TÁC QUỐC GIA

VớI NƯớC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN TÀI KHÓA 2012-2016

NGÀY 7/11/2011

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Tôi rất hân hạnh được giới thiệu tới Quý vị Chiến lược Hợp tác Quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới với Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cho giai đoạn 2012 - 2016 Việt Nam đã đạt được những tiến bộ phát triển đáng kể từ khi công cuộc đổi mới kinh tế bắt đầu vào những năm 1980 Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm ở mức 7% và thu nhập bình quân đầu người tăng từ 150 đô la Mỹ lên 1.100 đô la Mỹ Việt Nam

đã gần như hoàn thành điện hóa vùng nông thôn, số trẻ em đến trường cấp một và cấp hai tăng mạnh và vẫn giữ được chỉ tiêu về bình đẳng giới, hạ tầng cơ sở cũng được cải thiện rõ rệt Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2009, sớm hơn dự tính

Ngân hàng Thế giới hân hạnh được là một đối tác của Chính phủ Việt Nam trong suốt những thập kỷ qua để

hỗ trợ cải thiện cuộc sống của người Việt Nam Vào tháng 11 năm 2011, Ngân hàng Thế giới cùng với Chính phủ Việt Nam và các bên liên quan đã kỷ niệm quan hệ hợp tác này Lễ kỷ niệm trùng hợp với quá trình soạn thảo chiến lược hợp tác cho năm năm tới

Nhìn về tương lai, Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi hoàn toàn sang vị thế một nước thu nhập trung bình và mang lại thịnh vượng cho người dân Việt Nam Nhiều nước khác trong khu vực Đông Á đã thành công trong quá trình chuyển đổi này và tôi tin tưởng Việt Nam cũng sẽ thành công

Chiển lược Hợp tác quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới hỗ trợ mục tiêu chung của Việt Nam nhằm xây dựng một xã hội hiện đại và công nghiệp hóa vào năm 2020 Chiến lược cũng gắn kết với Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 2011-2020 và ba lĩnh vực đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, cải thiện các thể chế thị trường và thúc đẩy phát triển hạ tầng cơ sở Mục đích chung của Chiến lược Hợp tác quốc gia là hỗ trợ Việt Nam đạt được các thành tựu phát triển với tư cách là một nước có thu nhập trung bình Chiến lược Hợp tác quốc gia này được chia ra làm ba trụ cột chiến lược: khả năng cạnh tranh, tính bền vững và tạo cơ hội, và 3 chủ đề chính: quản trị, giới và khả năng phục hồi Chiến lược cũng tiếp nối quá trình phát triển mối quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế giới để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của một nước thu nhập trung bình

Chiến lược này được soạn thảo thông qua quá trình tham vấn chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam, xã hội dân sự

và các đối tác phát triển bao gồm các nhà tài trợ song phương và đa phương Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới tất cả các đối tác đã tham gia đóng góp nhữngý kiến và lời khuyên rất có giá trị cho Chiến lược Tài liệu này đưa ra một lộ trình năm năm cho chương trình hợp tác của Nhóm Ngân hàng Thế giới với Việt Nam Chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ với Chính phủ để thường xuyên giám sát quá trình thực hiện và các kết quả đạt được và đưa ra những điều chỉnh cần thiết Tài liệu này cũng được đăng tải trên trang web của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam theo địa chỉ: www.worldbank.org/vn/country/vietnam

Phó Chủ tịch phụ trách Vùng Đông Á – Thái Bình Dương

Trang 6

tỶ GIá HỐI ĐOáI

(Tỷ giá hối đoái tháng 10/2011) Đồng tiền = Đồng (Việt Nam)

Mette Frost Bertelsen

Karin Finkelston Sergio Pimenta Simon Andrews

Izumi Kobayashi Kevin Lu Hal G Bosher Chiến lược Hợp tác Quốc gia trước được đưa ra ngày 1/2/2007 và Báo cáo tiến độ thực hiện Chiến lược Hợp tác Quốc gia gần nhất được đưa ra ngày 21/12/2009.

Trang 7

Chiến lược Hợp tác Quốc gia với Việt Nam được soạn thảo dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia của NHTG tại Việt Nam, và ông Simon Andrews, Quản lý Khu vực của IFC Nhóm soạn thảo làm việc dưới sự điều hành của bà Myla Taylor Williams, Trưởng Nhóm dự án, đồng thời là Điều phối viên Chương trình Quốc gia (EACVQ) và bà Mette Frost Bertelsen, Cán bộ Quốc gia (EACVF) Nhóm của MIGA tham gia soạn thảo dưới sự chỉ đạo của Hal Bosher, Chuyên gia cấp cao về Bảo hiểm rủi ro (MIGA) Nhóm soạn thảo xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Nhóm Nòng cốt của Chính phủ Việt Nam, các đối tác phát triển và các tổ chức xã hội dân sự đã đóng góp tích cực cho quá trình soạn thảo

Nhóm Nòng cốt phía Ngân hàng Thế giới: Christian Bodewig (Chuyên gia kinh tế cấp cao, EASHS), Đoàn

Hồng Quang (Chuyên gia kinh tế cấp cao, EASPR), Steven Jaffee (Chuyên gia cấp cao về Phát triển nông thôn, EASVS), Abhas Kumar Jha (Chuyên gia Đô thị trưởng EASIN), và Nguyễn Thành Vinh (Chuyên gia Nước

và Vệ sinh, TWIEA)

Các thành viên hỗ trợ từ Nhóm Ngân hàng Thế giới: Keiko Sato (Giám đốc Quản lý Hoạt động và Danh

mục Đầu tư), Jennifer Sara (Giám đốc Ban), Toomas Palu (Điều phối viên Quốc gia, Phát triển con người), Deepak Mishra (Chuyên gia kinh tế trưởng), Sameer Goyal (Điều phối viên Quốc gia, FPD), Dean Cira (Điều phối viên Quốc gia, Ban Đô thị), Paul Vallely (Điều phối viên Quốc gia, Ban Giao thông), Douglas Graham (Điều phối viên Quốc gia, Ban Môi trường), Beatriz Arizu de Jablonski (Quyền Điều phối viên Quốc gia, Ban Năng lượng), Pilar Larreamendy (Điều phối viên Quốc gia, Ban Phát triển xã hội), James Anderson (Chuyên gia cấp cao về Quản trị), Trần Thị Lan Hương (Chuyên gia Quản trị), Trần Thị Thủy Nguyên (Chuyên gia phân tích Hoạt động), Bồ Thị Hồng Mai (Chuyên viên phụ trách Quan hệ Đối tác), Valerie Kozel (Chuyên gia kinh

tế cấp cao về vấn đề đói nghèo), Phạm Minh Đức (Chuyên gia kinh tế cấp cao), Nguyễn Huy Dũng (Chuyên viên quản lý các hoạt động Quản lý thiên tai), Habib Nasser Rab (Chuyên gia Kinh tế cấp cao), Nguyễn Văn Làn (chuyên gia quản lý hoạt động, IFC), Lâm Bảo Quang (chuyên gia cao cấp, IFC), Yuling Zhou (Chuyên gia trưởng về đấu thầu mua sắm), Robert Gilfoyle (Chuyên gia Quản lý Tài chính cao cấp), Trần Trung Kiên (Chuyên gia đấu thầu mua sắm cao cấp), Daniel Mont (Chuyên gia kinh tế cấp cao về Phát triển con người), Đặng Thị Quỳnh Nga (Điều phối viên Quỹ tín thác), Đinh Tuấn Việt (Chuyên gia kinh tế cấp cao), Victoria Gyllerup (Chuyên viên cấp cao quản lý Hoạt động), Mai Thị Thanh (Chuyên gia cấp cao về Giáo dục), Nguyễn Hồng Ngân (Cán bộ Truyền thông), Trần Kim Chi (Cán bộ Phụ trách Thông tin công chúng), Moussoukoro Soukoule (Trợ lý Chương trình Quốc gia), Lê Minh Phương (Trợ lý Điều hành cấp cao), Trịnh Thị Hoàng Minh (Trợ lý Nhóm), Nguyễn Châu Hoa (Trợ lý Nhóm)

LỜI cảm ơN

Trang 9

TỪ VIẾT TẮT

ACP Dự án Cạnh tranh Nông nghiệp

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

ADF Quỹ Phát triển châu Á

AEF Diễn đàn Hiệu quả viện trợ

AFD Cơ quan Phát triển Pháp

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

AusAID Cơ quan phát triển Quốc tế Australia

CAS Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia

CDD Phát triển theo hướng cộng đồng

CFC hợp chất Chlorofluorocarbon

CG Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ

CPPR Đánh giá Hiệu quả thực hiện Danh mục

đầu tư quốc gia

CPRGS Chiến lược Tăng trưởng và Giảm nghèo

ESW Nghiên cứu Kinh tế và Ngành

EU Liên minh châu Âu

EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FIRST Thúc đẩy cải tiến thông qua nghiên cứu,

GAC Quản trị và Phòng chống tham nhũng

GDP Tổng sản lượng quốc nội

GDVC Tổng cục Hải quan Việt nam GEF Quỹ Môi trường toàn cầu

GFDRR Quỹ Giảm nhẹ và Khắc phục hậu quả

thiên tai toàn cầu

GHG Khí nhà kính

GNI Tổng thu nhập quốc dân

GPE Đối tác toàn cầu về giáo dục

GTAP Các kế hoạch Quản trị, Minh bạch và

Phòng chống tham nhũng

GWh GWh (tương đương 1 triệu KWh)

HCFC hợp chất Hydrochlorofluorocarbons

HPUTP Dự án giao thông đô thị Hải phòng HUTP Dự án giao thông đô thị Hà nội IAS Các chuẩn mực kế toán quốc tế

triển

ICA Đánh giá môi trường đầu tư

ICR Báo cáo Hoàn thành dự án

ICT Công nghệ thông tin và truyền thôngIDA

Hiệp hội Phát triển Quốc tế

IDF Quỹ Phát triển Thể chế

IEG Nhóm Đánh giá Độc lập

IFC Công ty Tài chính Quốc tế

ILO Tổ chức Lao động Quốc tế

IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế

ISR Báo cáo Tóm tắt thực hiện

mục đầu tư

Trang 10

JSAN Báo cáo tư vấn chung

KEXIM Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc

KfW Ngân hàng Tái thiết Đức

LIFSAP Dự án Năng lực cạnh tranh ngành chăn

nuôi và an tòan thực phẩm

LNG Khí tự nhiên hóa lỏng

MDG Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

MDTF Quỹ tín thác đa biên

MDTP Dự án giao thông đồng bằng sông

Cửu long

MDWMP Dự án quản lý nước đồng bằng sông

Cửu long

MIC Quốc gia có thu nhập trung bình

MIGA Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương

MLF Quỹ cho vay tài chính vi mô

MTEF Khuôn khổ chi tiêu trung hạn

NTP Chương trình Mục tiêu Quốc gia

ODA Hỗ trợ Phát triển Chính thức

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

OSF Khung Chiến lược ODA

PCB Hợp chất Polychlorinated Biphenyl

PEFA Chi tiêu công và Trách nhiệm giải trình

tài chính

PER Đánh giá chi tiêu công

PFM Quản lý tài chính công

PIR Cải cách Đầu tư công

PMU Ban Quản lý dự án

PPA Thỏa thuận mua điện

PSD Phát triển khu vực tư nhân

PRSC Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo

RD Truyền tải điện thông thôn

RDF Quỹ Phát triển nông thôn

RE2 Dự án điện thông thôn 2

REDD Giảm phát thải do phá rừng và suy

thoái rừng

REDP Dự án Phát triển năng lượng tái tạo

RF3 Dự án tài chính nông thôn 3

RIA Đánh giá Tác động Luật định

ROSC Báo cáo tuân thủ các tiêu chuẩn và chuẩn

mực đạo đức

RSP Dự án an toàn giao thông

SARS Hội chứng hô hấp cấp tính nặng SEIER Dự án Cải thiện hiệu suất hệ thống, cổ

phần hóa và năng lượng tái tạo

SEQAP Chương trình đảm bảo chất lượng giáo

dục phổ thông

SIL Vay đầu tư ngành

SRB Tỷ lệ giới tính khi sinh

TABMIS Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách

UWS Cấp nước đô thị

VAS Hệ thống kế toán Việt Nam

VAT Thuế giá trị gia tăng

VCGM Tạo thị trường cạnh tranh Việt nam VHLSS Điều tra Mức sống hộ gia đình Việt Nam VLAP Dự án hòan thiện và hiện đại hóa hệ

thống quản lý đất đai Việt nam

VWRAP Dự án hỗ trợ nguồn nước Việt nam WBI Viện Ngân hàng Thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

WWF Quỹ Bảo tồn Động vật hoang dã thế giới

Trang 11

TÓM TẮT i

CÁC DIỄN BIẾN KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY 1

PHụ CHƯƠNG

PHỤ CHƯƠNG 2: BÁO CÁO HOÀN THÀNH CPS GIAI ĐOẠN TÀI CHÍNH 2007 – 2011 54

PHỤ CHƯƠNG 4: CHỈ SỐ CHỌN LỌC VỀ QUẢN LÝ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

DANH MỤC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM 124PHỤ CHƯƠNG 5: DỰ KIẾN CHƯƠNG TRÌNH CHO VAY TRONG TÀI KHóA 2012-2014 125PHỤ CHƯƠNG 6: DỰ KIẾN CHƯƠNG TRÌNH CÁC HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH VÀ TƯ VẤN 127

PHỤ CHƯƠNG 8: TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ 130

mỤc LỤc

Trang 12

PHỤ CHƯƠNG 11: CÁC CHỈ SỐ RỦI RO CHÍNH 136PHỤ CHƯƠNG 12: DANH MỤC HOẠT ĐỘNG (IBRD/IDA VÀ CÁC KHOẢN TÀI TRỢ) 137PHỤ CHƯƠNG 13: TỔNG KẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ DO IFC NẮM GIỮ VÀ GIẢI NGÂN 141

PHỤ CHƯƠNG 17: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MỘT SỐ QUỸ ỦY THÁC CHÍNH 158

BẢNG

HÌNH

HỘP

HỘP 3 : TRAO QUYỀN CHO PHỤ NỮ ĐỊA PHƯƠNG VÀ CẢI TIẾN DUY TU

HỘP 5: CHIẾN LƯỢC Hỗ TRỢ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG CƠ SỞ CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI 26 TẠI VIỆT NAM

HỘP 6: TIẾP TỤC Hỗ TRỢ VIỆT NAM THỰC HIỆN NỐT CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO 31HỘP 7: ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN THỂ CHẾ, QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ ĐẤU THẦU MUA SẮM 33

Trang 13

TÓm TẮT

Nam kể từ khi Việt Nam trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào năm 2009 Việt

Nam đủ điều kiện hợp lệ để vay vốn IBRD từ năm 2007 và tiếp nhận khoản vay IBRD đầu tiên vào năm

2009 CPS sẽ hỗ trợ Việt Nam thực hiện Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm kế hoạch Phát triển Kinh

tế xã hội 2011-2015 Chiến lược này là sự kế thừa chương trình CPS của giai đoạn trước, đồng thời kết hợp với một số chuyển đổi mang tính chiến lược mà có lẽ một chu trình CPS khó có thể hoàn tất để tạo ra sự biến chuyển lớn Những chuyển đổi này trước hết hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng hiệu quả cho vay bằng đòn bẩy tài chính, và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các kết quả phát triển

Những cải cách được triển khai vào năm 1986 đã biến đổi đất nước từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang một nền kinh tế có định hướng thị trường hơn Quá trình này đã đem lại tốc độ tăng

trưởng cao (trung bình đạt 7,3% trong giai đoạn 1990-2010) và giảm đáng kể tình trạng đói nghèo Thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam đã tăng hơn mười một lần và đạt mức 1.130 USD vào năm

2010, và tỷ lệ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,5% trong năm 2008 Việt Nam đã đạt được một số chỉ tiêu trong các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ban đầu và có khả năng hoàn thành thêm một

số chỉ tiêu khác vào năm 2015 Điều kiện phúc lợi của người dân bình thường ở Việt Nam cũng đã được cải thiện đáng kể

trì tốc độ tăng trưởng cao cùng với sự ổn định kinh tế vĩ mô Điều này phần nào phản ánh sự hội nhập

ngày càng sâu vào các thị trường toàn cầu sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) vào năm 2007, và các cuộc khủng hoảng toàn cầu gần đây Nhưng nguyên nhân quan trọng hơn, đó là

sự lệ thuộc vào đầu tư công để dẫn dắt sự tăng trưởng, trong khi phần lớn đầu tư công lại được chuyển vào khu vực doanh nghiệp nhà nước yếu kém và được tài trợ nhờ mở rộng quy mô tín dụng Điều này đã dẫn đến một quan điểm chính sách kinh tế vĩ mô làm lợi cho các khoản đầu tư không hiệu quả và mức độ vay nợ cao trong khu vực nhà nước Từ đó dẫn đến những rủi ro cao hơn trong ngành ngân hàng và tài chính Nền kinh tế phải chịu nhiều giai đoạn bất ổn kinh tế vĩ mô với mức lạm phát cao, sự sụt giảm giá trị và bất ổn định của đồng nội tệ và các dấu hiệu của tình trạng thoát vốn mạnh Từ đầu năm 2011 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện một chương trình bình ổn toàn diện (Nghị quyết 11) nhằm tái lập

sự ổn định kinh tế vĩ mô Hội nghị Trung ương của Đảng Cộng sản Việt nam họp vào tháng 10 năm 2011

đã khẳng định cam kết của Chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô và đưa ra ba lĩnh vực tái cải cách kinh tế cần được ưu tiên trong vòng năm năm tới Ba lĩnh vực tái cơ cấu này gồm: (i) đầu tư công; (ii) khu vực tài chính, tập trung vào hệ thống ngân hàng thương mại và các thể chế tài chính; và (iii) doanh nghiệp nhà nước tập trung vào các nhóm kinh tế Các hành động thực hiện cụ thể sẽ có vai trò quan trọng trong việc khắc phục các vấn đề về cấu trúc gây bất ổn kinh tế vĩ mô và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế

nhập trung bình (MIC) thành công, Việt Nam sẽ phải tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh

Trang 14

tế Ngoài sự bất ổn định kinh tế vĩ mô gần đây, môi trường kinh doanh trong nước vẫn bị hạn chế bởi cơ

sở hạ tầng yếu kém, chi phí tốn kém khi tiến hành công việc với các cơ quan chính phủ và thiếu thông tin đầy đủ về chính sách Việt Nam cũng phải bắt đầu xây dựng cơ sở để chuyển sang nâng cao năng suất, đổi mới sản phẩm và quy trình, khi đang mất dần một giá trị gia tăng là lợi thế chi phí lao động thấp Phát triển một lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn và tăng cường hệ thống công nghệ và đổi mới là điều cốt yếu để thực hiện mục đích này

không phải lúc nào cũng quản lý đúng cách các tác động môi trường Mặc dù phần đóng góp của

nguồn vốn tự nhiên (ví dụ như, thủy sản, lâm nghiệp, tài nguyên khoáng sản) vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước có nhiều khả năng sẽ giảm bớt khi quá trình công nghiệp hóa tiếp tục, nhưng đây vẫn sẽ là một nguồn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt là đối với người nghèo Tăng trưởng dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa và những thay đổi lớn trong mô hình phát triển nông thôn là những nguyên nhân làm suy thoái chất lượng không khí và nước và làm mất đa dạng sinh học Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các con sông quốc tế, là nguồn cung cấp tới 60% lưu lượng nước mặt trong cả nước Cấp nước vào mùa khô đang phải chịu

áp lực lớn, và biến đổi khí hậu sẽ làm cho tình hình càng trầm trọng thêm Chính phủ Việt Nam hiện đã nhận thấy rõ sự cần thiết phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường một cách bền vững hơn

tình trạng nghèo ngày càng tập trung nhiều hơn ở các cộng đồng dân tộc thiểu số Sự bất ổn kinh tế

vĩ mô và các cú sốc khí hậu bất lợi cũng làm tăng khả năng dễ bị tổn thương của các hộ gia đình Việc phát triển các hệ thống quản trị và trách nhiệm giải trình ở Việt Nam đi chậm hơn so với thành công phát triển chung của đất nước, khiến Việt Nam gặp khó khăn hơn khi muốn giải quyết những thách thức này một cách hiệu quả Tiến bộ trong những lĩnh vực này – cụ thể là khả năng cạnh tranh, sự bền vững, tình trạng nghèo dai dẳng, bất bình đẳng gia tăng, khả năng dễ bị tổn thương và quản trị - là điều rất quan trọng để hiện thực hóa những khát vọng phát triển đầy tham vọng của Việt Nam trong trung hạn và dài hạn Khắc phục những vấn đề này là trọng tâm của chiến lược tổng thể của Chính phủ và của chiến lược đối tác này

Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 Chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội chú trọng đến các

cải cách có tính cơ cấu, sự bền vững môi trường, công bằng xã hội, và các vấn đề mới xuất hiện liên quan đến

ổn định kinh tế vĩ mô Chiến lược này xác định ba “lĩnh vực mang tính đột phá”, gồm có: (i) thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực/kỹ năng (đặc biệt là các kỹ năng cho ngành công nghiệp hiện đại và đổi mới), (ii) cải thiện các thể chế thị trường, và (iii) phát triển cơ sở hạ tầng Mục tiêu tổng thể là biến Việt Nam thành một xã hội công nghiệp hóa và hiện đại vào năm 2020 Kế hoạch Phát triển Kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015, được Quốc hội nhiệm kỳ mới phê duyệt vào tháng 11 năm 2011 cụ thể hóa các mục tiêu của chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội và xác định các biện pháp cụ thể cũng như các nguồn lực cần thiết để thực hiện chiến lược CPS sẽ gắn liền với các ưu tiên chiến lược và mục tiêu tổng thể của Chính phủ, hỗ trợ ba lĩnh vực đột phá của chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội và kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội, đó là thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực, cải thiện các thể chế thị trường và đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng

hoạt động của Ngân hàng tại Việt Nam, đó là: (i) làm sắc nét hơn trọng tâm chiến lược thông qua việc

giảm bớt sự phân tán của chương trình bằng cách tăng tính đồng bộ và tính chọn lọc; (ii) Tăng hiệu quả hoạt động, bao gồm cả việc áp dụng các cách tiếp cận có tính chất hệ thống hơn, tăng cường đối thoại chính sách

và các hoạt động phân tích và tư vấn để tăng ảnh hưởng của các nguồn lực thông qua việc tạo ra sự đồng bộ trong toàn bộ Nhóm Ngân hàng cũng như giữa Nhóm Ngân hàng với các đối tác phát triển, và các cách tiếp cận khu vực (đa quốc gia) để nâng cao hiệu quả hoạt động; và (iii) đẩy mạnh tiến độ thực hiện nhằm đem lại

Trang 15

9 Kế thừa những thành công lớn về tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam, Nhóm Ngân hàng Thế giới sẽ là đối tác với Việt Nam trong nỗ lực thực hiện thành công vai trò một quốc gia có thu nhập trung bình Chương trình CPS sẽ hỗ trợ các yếu tố được lựa chọn từ những chuyển tiếp cần thiết

cho mục tiêu đó, trong đó đáng chú ý nhất là sự chuyển tiếp từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh

tế đô thị và công nghiệp hóa nhiều hơn, từ một nền kinh tế đặt trọng tâm vào số lượng sang một nền kinh tế chú ý nhiều hơn đến chất lượng sản xuất và cung cấp dịch vụ, và từ một nền kinh tế với lợi thế so sánh là chi phí lao động thấp và giá trị gia tăng thấp sang một nền kinh tế với các sản phẩm và dịch vụ chứa đựng nhiều đổi mới, sáng tạo và giá trị gia tăng cao hơn

khuôn khổ chiến lược gồm ba trụ cột và ba chủ đề xuyên suốt Các trụ cột gồm có: (i) tăng cường khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và toàn cầu, (ii) tăng cường tính bền vững trong quá trình phát triển của Việt Nam, và (iii) mở rộng điều kiện tiếp cận với các cơ hội Các chủ đề xuyên suốt gồm có: (i) tăng cường quản trị, (ii) hỗ trợ bình đẳng giới và (iii) tăng cường khả năng phục hồi khi đối mặt với các

cú sốc kinh tế từ bên ngoài, các thảm họa thiên nhiên, và tác động của biến đổi khí hậu Một loạt các công cụ

sẽ được sử dụng bao gồm cách tiếp cận dựa vào kết quả, một loạt các khoản vay chính sách phát triển (DPOs) tiếp nối các khoản vay Hỗ trợ giảm nghèo (PRSC) kết thúc vào tháng 21/2011 với khoản hỗ trợ PRSC thứ 10, các khoản vay IDA trong khu vực và các chương trình nghiên cứu và tư vấn chính sách Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), các quỹ ủy thác do người thụ hưởng thực hiện (RETFs) và các Quỹ tài trợ Phát triển thể chế (IDFs) cho các hoạt động nâng cao năng lực sẽ là nguồn bổ trợ cho các nguồn IBRD và IDA Để vượt qua những thách thức mới trong chương trình nghị sự hỗ trợ giảm nghèo – như tăng bất bình đẳng, nghèo đô thị và tình trạng nghèo tập trung tại các cộng đồng dân tộc thiểu số - CPS khẳng định lại các cam kết về hỗ trợ giảm nghèo thông qua hiểu biết sâu sắc hơn về thay đổi trong tình trạng nghèo ở Việt nam, cũng như các cam kết về can thiệp giảm nghèo mục tiêu dựa vào những hiểu biết này Quản trị và giới sẽ được lồng ghép vào tất cả các chương trình và hoạt động ngay từ giai đoạn chuẩn bị ban đầu để nắm bắt được các cơ hội tăng cường hỗ trợ trong những lĩnh vực này Khả năng phục hồi là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh Việt nam ngày càng trở nên dễ bị tổn thương hơn khi đối mặt với những cú sốc ngoại biên ảnh hưởng đến cả kinh tế vĩ mô cũng như các hộ gia đình, các thảm họa thiên nhiên và biến đổi khi hậu CPS hỗ trợ tăng cường khả năng phụ hồi của Việt nam trong những vấn đề cụ thể được nêu ra trong các trụ cột liên quan

Chính phủ đang xem xét các phương pháp tiếp cận mới hơn, ví dụ như giải ngân dựa trên kết quả và đầu ra, nhằm đẩy nhanh quá trình hiện thực hóa các kết quả phát triển Các Chương trình Mục tiêu Quốc gia (NTP) của Việt Nam có thể là phương tiện hữu ích để thực hiện mục tiêu này Trong kỳ CPS này, Ngân hàng và Chính phủ

sẽ cùng đánh giá năng lực cơ bản của các hệ thống tín dụng ủy thác và đa dạng hóa các công cụ cho vay nhằm đẩy nhanh tiến độ hiện thực hóa tác động phát triển Ngân hàng cũng sẽ tiếp tục hợp tác với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các nhà tài trợ khác để giải quyết những vấn đề thuộc hệ thống trong quá trình thực hiện các dự án ODA ở Việt Nam, và sẽ tiến hành các phân tích để học hỏi kinh nghiệm từ các tỉnh thành và các ngành thực hiện tốt Ở cấp độ dự án, Ngân hàng và Bộ KH&ĐT đang tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên như nâng cao mức độ sẵn sàng thực hiện của các dự án, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án, và quản lý danh mục đầu tư hiện tại một cách chủ động hơn Một khung kết quả được thiết kế hợp lý hơn trong chương trình CPS kỳ này sẽ là công cụ quản lý cho Văn phòng Quốc gia của Ngân hàng tại Việt Nam

cho tài khóa 12-14 khoảng 2,8 tỷ SRD (tương đương với 4,2 tỷ USD) Đây là số lượng phân bổ IDA lớn

nhất từ trước tới nay cho Việt nam, nhờ vào việc thực hiện tốt và tăng vốn bổ sung cho IDA 16 Việt nam vẫn

sẽ được tiếp cận các khoản vay IBRD vì đã ở trong vị thế có thể vay hỗn hợp từ cả hai nguồn IDA và IBRD Cam kết đề xuất phân bổ nguồn IBRD cho tài khóa 12-14 với tổng số tiền 770 triệu USD Phần lớn nguồn IBRD sẽ

Trang 16

được dùng để hỗ trợ tài chính cho các dự án đầu tư vào hạ tầng cơ sở Trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh

tế thị trường với khu vực tư nhân ngày càng đóng vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng, chương trình của IFC

sẽ tăng trong kỳ CPS này MIGA đang hoạt động tích cực hơn ở Việt nam Công cụ mới của MIGA hỗ trợ đối tác công tư đối tác Nhà nước-Tư nhân có thể sẽ hữu ích cho chính phủ trong huy động tài chính quốc tế cho các dự án hạ tầng cơ sở ưu tiên Ngoài các cam kết IDA và IBRD mới, hỗ trợ tài chính cho Việt nam trong kỳ CPS mới này còn bao gồm số vốn dư chưa được giải ngân trong danh mục đầu tư là 5,7 tỷ USD (tính đến ngày 30/9/2011)

ở Việt nam Trong tài khóa 2011, cam kết đạt mức 296 triệu USD và giải ngân đạt 170 triệu USD Nguồn tài

chính cho các quỹ tín thác dự kiến sẽ thay đổi, vì các nhà tài trợ có thể chuyển trọng tâm hỗ trợ sang các lĩnh vực mới hoặc bắt đầu giảm quy mô hoạt động tại Việt Nam Do đó, sự phối hợp hiệu quả giữa các nhà tài trợ

sẽ rất quan trọng để hạn chế tối đa những khoảng thiếu hụt phát sinh từ những thay đổi này Các tiêu chí lựa chọn các Quỹ tín thác đã được xây dựng và sẽ được áp dụng một cách hệ thống hơn để đảm bảo sự phù hợp

về mặt chiến lược

CPS sẽ tìm cách hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi này được suôn sẻ, thông qua đề các đề xuất về cơ chế tài chính để các đối tác phát triển sử dụng khi thích hợp Quan hệ đối tác với các đối tác phát triển,

đặc biệt là các nhà tài trợ lớn như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật bản (JICA) cũng như các nhà tài trợ song phương như Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia (AudAID) sẽ tiến tục củng cố và tăng cường điều phối và giúp Việt nam tiếp tục đạt tiến độ trong chương trình nghị sự về hài hòa hóa và hiệu quả viện trợ nói chung

sẽ được thực hiện để phản ánh kịp thời các bài học kinh nghiệm

chậm lại của nền kinh tế toàn cầu, một phần có thể được giảm thiểu thông qua các đối thoại liên tục với các

cơ quan chính phủ và các bên liên quan để xây dựng các cơ chế đệm nhằm giảm tác động của các cú sốc toàn cầu; (ii) sự gia tăng bất ổn kinh tế vĩ mô, một phần có thể được giảm thiểu bằng cách tăng cường đối thoại thường xuyên với Chính phủ và tham vấn với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), bao gồm Chương trình Đánh giá ngành Tài chính (FSAP); và (iii) rủi ro trong quá trình thực hiện, một phần có thể được giảm thiểu bằng cách xây dựng năng lực về quản lý tài chính công (PFM) và đấu thầu mua sắm, làm việc chặt chẽ với chính phủ về hiện đại hóa và đơn giản hóa khung pháp lý về quản lý ODA, thực hiện các kế hoạch về quản trị và chống tham nhũng phù hợp cho các dự án, các hỗ trợ kỹ thuật nhằm xây dựng năng lực cho các cơ quan chính phủ và các cán bộ chịu trách nhiệm kiểm soát độc lập

Trang 17

1 Việt Nam là một câu chuyện phát triển

thành công Chỉ sau một phần tư thế kỷ, những

cải cách chính trị và kinh tế (Đổi Mới) được triển

khai năm 1986 đã biến Việt Nam từ một trong

những nước nghèo nhất thế giới, với mức thu

nhập trên đầu người dưới 100 USD, thành một

nước thu nhập trung bình thấp Tỷ lệ nghèo đã từ

58% năm 1993 xuống 14,5% trong năm 2008, và

hầu hết các chỉ số phúc lợi đã được cải thiện Việt

Nam đã hoàn thành 5 trong số 10 chỉ tiêu của các

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), hai chỉ

tiêu khác đang được thực hiện tốt và có khả năng

sẽ hoàn thành vào năm 2015 (xem Phụ chương 8)

Đến cuối năm 2010, thu nhập trên đầu người của

Việt Nam đã đạt 1.130 USD Việt Nam cũng được

đánh giá cao về sự bình đẳng trong quá trình

phát triển, đây là lĩnh vực mà Việt Nam thực hiện

tốt hơn nhiều so với các nước khác có điều kiện

tương tự Việt Nam ngày càng thể hiện rõ hơn vai

trò của mình trên diễn đàn khu vực và thế giới,

đã thành công trong vai trò chủ trì các cuộc Họp

Thường niên năm 2009 của Ban Thống đốc của

Nhóm Ngân hàng Thế giới và IMF, và đã rất thành

công với cương vị Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia

Đông Á (ASEAN) trong năm 2010

CÁC DIỄN BIẾN KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG

THỜI GIAN GẦN ĐÂY

Nam là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 vào

tháng 1/2011, sự kiện này diễn ra 5 năm một lần

Tiếp theo là bầu cử đại biểu vào Hội đồng Nhân

dân các cấp và Quốc hội trong tháng 5/2011, cuối

cùng là cơ cấu nhân sự của chính phủ mới được

Quốc hội phê chuẩn trong kỳ họp đầu tiên vào

tháng 8/2011 Quá trình này bao gồm cả thảo luận

và nhất trí về phương hướng phát triển về chính

trị, kinh tế và xã hội của Việt nam, và về hợp tác

trong khu vực và các nước khác trên thế giới Đại

hội kêu gọi một cách tiến cận toàn diện hơn cho

quá trình đổi mới đất nước và quyết định thúc đẩy

mạnh mẽ hơn sự tham gia của người dân và tăng

cường đoàn kết, chủ động hội nhập quốc tế Đại hội Đảng đã khẳng định lại cách tiếp cận của Việt Nam, đó là phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của nhà nước, và đồng thời sửa đổi các tài liệu chính sách chủ chốt để tập trung nhiều hơn vào các quá trình thị trường và sở hữu phi nhà nước đối với các tài sản kinh tế Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử trong nhiệm kỳ mới, nhưng Tổng

bí thư Đảng, Chủ tịch nước và Chủ tịch Quốc hội đều thay đổi

xã hội Việt Nam đã dần dần tiến bộ theo hướng

mở cửa và tạo nhiều cơ hội tham gia hơn cho người dân Thảo luận công khai về nhiều vấn đề

chính trị, xã hội và kinh tế ngày càng phổ biến hơn, và phương pháp bỏ phiếu trực tiếp để bầu chọn chủ tịch ủy ban nhân dân đã được thí điểm tại các thành phố lớn Các văn bản pháp luật được thông qua yêu cầu phải lấy ý kiến người dân về một số quyết định cấp cơ sở Năng lực của Quốc hội được tăng cường để thực hiện vai trò kiểm tra

và giám sát với các cơ quan hành pháp Tuy nhiên, bất kể những tiến bộ nói trên, Việt Nam cần tiếp tục công khai và tạo nhiều cơ hội hơn nữa cho người dân tham gia quản trị, góp phần thực hiện tầm nhìn dài hạn của đất nước là trở thành một xã hội công nghiệp hóa và hiện đại hóa

phải đối mặt với nhiều thử thách lớn khi đi tìm chỗ đứng trong một nền kinh tế thế giới ngày càng hội nhập sâu hơn nhưng cũng xáo trộn nhiều hơn Sự hội nhập dần dần vào nền kinh tế

thế giới từ khi gia nhập WTO năm 2007 đã đem lại cho Việt Nam dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hơn và kim ngạch xuất khẩu cao hơn Tuy nhiên, hội nhập cũng khiến cho Việt Nam dễ

bị ảnh hưởng hơn bởi sự dao động giá cả hàng hóa, rối loạn tài chính trong nền kinh tế toàn cầu, cũng như các hệ lụy từ sự suy giảm tăng trưởng

ở Bắc Mỹ và châu Âu Các thể chế trong nước dựa vào thị trường vẫn chưa được phát triển một cách

I BỐI CẢNH QUỐC GIA

Trang 18

đồng đều và các nỗ lực cải cách đã giảm tốc độ,

do đó Việt Nam ngày càng gặp nhiều khó khăn khi

đương đầu với môi trường kinh tế mới Hệ quả là,

nền kinh tế Việt Nam phải trải qua nhiều đợt bất

ổn kinh tế vĩ mô, lặp lại theo định kỳ với mức lạm

phát cao, đồng nội tệ mất giá, và tình trạng thoát

vốn một cách đáng kể trong nước

bắt đầu vào 6 tháng cuối năm 2010, sau khi

Chính phủ trì hoãn việc chấm dứt các biện

pháp kích thích tài chính và tiền tệ được đưa

ra để giải quyết tác động của khủng hoảng tài

chính toàn cầu Tháng 8/2011, lạm phát tiến đến

mức 23%, cao nhất trong vòng 33 tháng trước

đó, lãi suất trái phiếu chính phủ dao động quanh

mức 350-400 điểm cơ bản, và dự trữ ngoại hối

tương đương với khoảng 2 tháng nhập khẩu Sự

lành mạnh của ngành ngân hàng vẫn là một vấn

đề đáng lo ngại, một phần là do sự gia tăng các

khoản nợ do chính phủ bảo đảm cho các doanh

nghiệp nhà nước

triển khai các biện pháp chính sách giúp khôi

phục sự bình ổn kinh tế vĩ mô Ngày 11/2/2011,

đồng tiền Việt mất giá 9,3% so với USD, và gói giải

pháp bình ổn, thường được gọi là Nghị quyết 11,

được chính thức phê duyệt vào ngày 24/2/2011

Nghị quyết này bao gồm nhiều hành động chính

sách tiền tệ và tài khóa, và cam kết thực hiện

một số biện pháp cơ cấu, bao gồm cải cách các

doanh nghiệp nhà nước, tăng cường thông tin

về các biện pháp chính sách, và tăng cường bảo

vệ người nghèo khỏi các tác động của tình trạng

bất ổn kinh tế vĩ mô Các biện pháp cụ thể được

thực hiện từ khi có nghị quyết 11 gồm có tăng

600 điểm cơ bản trong mức lãi suất chính sách

trong thời gian 7 tháng, giảm đáng kể tốc độ tăng

trưởng tín dụng và cung tiền trong năm 2011 so

với năm 2010, giảm thâm hụt tài khóa thông qua

tăng nguồn thu và cắt giảm chi tiêu đầu tư công

Chính phủ cũng triển khai một chương trình trợ

cấp khiêm tốn cho người nghèo để giảm bớt tác

động của việc tăng giá điện

tích cực Tháng 10/2011, tỷ lệ lạm phát hàng

tháng giảm xuống 0,36% từ mức trung bình hàng tháng là 1,73% trong 9 tháng đầu năm và là mức thấp nhất kể từ tháng 8/2010 Dự trữ ngoại hối tăng, và sự chênh lệch tỷ giá hối đoái, vốn ở mức cao 11-12% trong những tháng đầu năm 2011,

đã gần như được xóa bỏ Trong 7 tháng đầu năm 2011, tài khoản vãng lai đạt thặng dư 1,3 tỷ USD, so với tình trạng thâm hụt 3,2 tỷ USD cùng

kỳ năm trước, và tổng cán cân thanh toán (BoP) được báo cáo đạt thặng dư khoảng 5 tỷ USD Một

số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, nhất là trong ngành ngân hàng, và dự kiến một số doanh nghiệp nhà nước khác sẽ tiếp tục cổ phần hóa trong những tháng tới Chính phủ cũng đã triển khai đánh giá sở hữu cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước trong các ngân hàng thương mại quốc doanh Tăng trưởng kinh tế tuy chậm lại nhưng vẫn ở mức cao, đạt 5,6% trong 6 tháng đầu năm 2011

số hạn chế Ví dụ như, các nỗ lực nhằm kiểm soát

ngân sách đầu tư chưa được hướng dẫn rõ ràng, chưa có lộ trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, việc công bố các số liệu kinh tế vĩ mô và các quyết định chính sách còn chậm và thiếu chủ động Tốc

độ thực hiện các cải cách cơ cấu có phần chậm lại,

mà một phần nguyên nhân là do những chuyển đổi ở Việt Nam trong 12 tháng vừa qua, sau khi kết thúc một chu kỳ chính trị 5 năm Một số hành động chính sách quan trọng cùng với một số văn bản pháp luật đã bị trì hoãn cho đến khi Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội 5 năm cho giai đoạn mới (2012-2016) được phê duyệt (dự kiến vào tháng 11/2011) Các kết quả bình ổn cho tới nay đã chứng minh khả năng giải quyết các thách thức kinh tế vĩ mô của Việt Nam Chính phủ đã tái khẳng định cam kết thực hiện Nghị quyết 11 và

hỗ trợ thêm bằng các cải cách mới trong những tháng tiếp theo, nhằm giải quyết những lĩnh vực còn yếu kém Điều này rất quan trọng để duy trì

sự ổn định lâu dài

BỐI CẢNH KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU

nhất trên thế giới, Việt Nam sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng lớn từ các sự kiện trong khu vực và trên

Trang 19

trong đó có Việt nam, góp phần tạo ra sự bất ổn định về tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa, lương thực và tài sản Trong một môi trường như vậy, sự hội nhập ngày càng sâu của các ngành sản xuất chế tạo và nông nghiệp ở Việt Nam vào nền kinh

tế toàn cầu đã làm cho các ngành này dễ bị tổn thương hơn bởi mức cầu lớn hơn và giá cả dễ dao động hơn Ở đây, có những nguy cơ rủi ro trong dài hạn, nếu như chính sách tại các nền kinh tế bị khủng hoảng tấn công trực diện có thể thất bại trong việc chuyển đổi trọng tâm chú ý từ quản lý khủng hoảng trong ngắn hạn sang các biện pháp giải quyết những vấn đề cơ cấu ẩn sâu bên dưới

và gây ra khủng hoảng.2

TRIỂN VỌNG KINH TẾ TRONG TRUNG HẠN

với các triển vọng tăng trưởng trung hạn vẫn rất khả quan của Việt Nam Việc tiếp tục tăng

lãi suất vào tháng 10/2011 và giảm chỉ tiêu tăng trưởng và đầu tư đã chứng tỏ Chính phủ tiếp tục tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô Các kết luận của Hội nghị Trung ương tháng 10/2011 đã công nhận sự cần thiết phải tái cơ cấu kinh tế và xác định tái cơ cấu đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và ngành tài chính là ưu tiên cho 5 năm tới Điều này đã chỉ ra rằng chính phủ sẽ tiến hành các hoạt động cần thiết để quay trở lại môi trường kinh tế vĩ mô bền vững hơn đồng thời đặt nền tảng để tăng cường hiệu quả và năng suất, hướng tới tăng trưởng trung hạn và dài hạn

quay trở lại môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn và giữ được tốc độ tăng trưởng từ mức trung bình đến mức cao trong trung hạn Tỷ lệ

lạm phát đạt đỉnh vào tháng 8/2011, và dự kiến

sẽ tiếp tục giảm trong những tháng tới Như mô

tả trong Bảng 1, tỷ lệ lạm phát cuối kỳ dự kiến đạt mức 19% vào tháng 12/2011 và 9% vào cuối năm tới Nền kinh tế dự kiến tăng trưởng ở mức 5,8% trong năm 2011, chậm hơn so với năm 2010, do tác động của các biện pháp bình ổn kinh tế Với

toàn cầu Thương mại quốc tế tương đương với

khoảng 160% Tổng sản lượng quốc nội (GDP)

của Việt Nam Từ sau khi gia nhập WTO, Việt Nam

đã nhận được nhiều cam kết FDI hơn so với cả ba

nước In-đô-nê-xia, Phi-líp-pin và Thái Lan cộng lại,

và như vậy, tương lai của Việt Nam sẽ chịu ảnh

hưởng nhiều hơn từ kết quả hoạt động kinh tế

của các đối tác trong khu vực và trên toàn cầu

Kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần

đây nhất, môi trường bên ngoài Việt Nam đã biến

chuyển nhanh chóng và đem lại những cơ hội

cũng như thách thức mới

quan hệ chặt chẽ trong khu vực, đem lại cho

đất nước nhiều lợi ích kinh tế quan trọng Việt

Nam trở thành thành viên ASEAN năm 1995, và

gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái

Bình Dương năm 1998 Gần đây, nỗ lực hội nhập

với khu vực của Việt Nam được củng cố thêm bởi

việc tham gia một loạt các Thỏa thuận Mậu dịch

Tự do (FTA) giữa ASEAN với Nhật Bản, Trung Quốc

và Hàn Quốc (ASEAN+1 FTA) Tư cách thành viên

ASEAN, cùng với việc gia nhập WTO trong năm

2007, chắc chắn đã thúc đẩy kết quả có lợi hơn

cho Việt Nam trong các đàm phán thương mại, so

với khi phải đàm phán song phương với các nền

kinh tế láng giềng lớn Kim ngạch xuất khẩu của

Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ và EU không

ngừng tăng, nhưng các nền kinh tế Đông Á vẫn

chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu

và hơn 60% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt

Nam.1 Việt Nam cũng tích cực tham gia các nỗ lực

trong khu vực nhằm phối hợp sử dụng và quản lý

nguồn tài nguyên to lớn từ sông Mê-kong

trọng vẫn đang tồn tại trong nền kinh tế toàn

cầu sau khủng hoảng Trong ngắn hạn, những

rủi ro này có thể làm cho quá trình phục hồi đi

chệch sang các mức độ khác nhau Lãi suất tiếp

tục duy trì ở mức rất thấp tại các nước thu nhập

cao có thể sẽ thúc đẩy các dòng vốn lớn và dễ dao

động di chuyển đến các nước đang phát triển,

1 Nguyễn Tiến Dũng, “Các tác động của sự hội nhập vào khu vực Đông Á: Phân tích CGE,” Trường Đại học Quốc gia Việt Nam.

2 Các triển vọng kinh tế toàn cầu, Ngân hàng Thế giới, tháng 1/2001.

Trang 20

cũng như các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục hỗ trợ Việt Nam Nếu không có những thay đổi đó, tăng trưởng có thể giảm sút, nhưng khó có khả năng xuống đáng kể dưới 5% - nếu xét đến khả năng phục hồi và những kết quả tăng trưởng ấn tượng của nền kinh tế Việt Nam trong quá khứ

tục bền vững nếu tiếp tục được sự hồi phục kinh

tế và chính phủ tiếp tục thắt chặt tài khóa như hiện tại Phân tích Bền vững Nợ năm 2011 do Ngân

hàng và IMF thực hiện cho thấy, nợ công đang giảm dần từ 52,8% GDP trong năm 2010 xuống

dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) dồi dào và kế

hoạch tái cấu trúc nền kinh tế, chúng tôi dự kiến

tăng trưởng công nghiệp sẽ đạt mức tương đối tốt

trong trung hạn Tương tự, ngành nông nghiệp

chắc sẽ tiếp tục hoạt động tốt vì giá lương thực

thế giới được dự báo vẫn ở mức cao trong những

năm tới Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của toàn

nền kinh tế được dự kiến tăng dần lên 6,3% vào

năm 2013 Những dự đoán trên được củng cố bởi

các giả định sau: không có sự đổ vỡ nghiêm trọng

trong nền kinh tế toàn cầu, , các cải cách cơ cấu

dần dần có tiến triển, việc thực hiện các dự án cơ

sở hạ tầng được cải thiện, và các đối tác phát triển

BẢNG 1: CÁC CHỉ SỐ KINH TẾ CHÍNH

Đầu ra, Việc làm và Giá cả

Cán cân tài khóa

Cán cân tài khóa chính thức

Cán cân tài khóa tổng thể

Ngoại thương, Cán cân thanh toán, và Nợ nước ngoài

Các thị trường tài chính

-Nguồn: Tổng Cục thống kê, Ngân hàng Nhà nước, IMF và WB, e=ước tính, p=dự đoán

Trang 21

không được nói đến trong các con số thống kê về

nợ công và nợ được nhà nước bảo đảm Không có định nghĩa rõ ràng cũng như ước tính đáng tin cậy

về các nghĩa vụ nợ đó, điều này gây trở ngại cho chính phủ trong việc quản lý các rủi ro liên quan Các nghĩa vụ nợ dự phòng có thể phát sinh từ các quỹ và nguồn vốn pháp định ngoài ngân sách, ví

dụ như quỹ bảo hiểm y tế, các doanh nghiệp nhà nước, và những yếu kém của ngành tài chính Việc thu thập các thông tin đáng tin cậy và cập nhật về các nghĩa vụ nợ dự phòng và đánh giá những rủi

ro tài khóa liên quan là một ưu tiên cho cả Chính phủ lẫn Ngân hàng

còn 47,9% vào năm 2015 Mức thâm hụt tài khóa

lớn trong năm 2009 và 2010 không ảnh hưởng

nhiều đến sự bền vững nợ nói chung, với điều kiện

là trong vài năm tới, chính phủ có thể quay trở lại

mức thâm hụt như trước khi xảy ra khủng hoảng

Nếu không tiếp cận được các dòng vốn vào không

phải là vay nợ và nếu xuất khẩu chậm lại thì tình

trạng nợ của Việt Nam có thể chịu tác động bất

lợi Các giả định chuẩn áp dụng cho các cú sốc này

khá nghiêm trọng, và khó có khả năng trở thành

hiện thực Yếu tố không chắc chắn nhất đối với sự

bền vững nợ, và cũng là rủi ro không định lượng

được, xuất phát từ các nghĩa vụ không rõ ràng và

Trang 22

15 Việt nam mới đây đã bước vào một giai

đoạn phát triển mới và cao hơn Để thành công,

Việt nam cần phải giải quyết được những thách

thức còn tồn tại, bao gồm cả việc chuyển đổi sang

cơ chế thị trường và đối phó với những vấn đề

mới nảy sinh liên quan đến vị thế nước thu nhập

trung bình cũng như các thách thức mang tính

toàn cầu như biến đổi khí hậu Ngân hàng đồng

ý với Chính phủ về các thách thức chính cần được

giải quyết trong vòng năm năm tới Những thách

thức này bao gồm tính cạnh tranh của nền kinh

tế, tăng trưởng bền vững, nhóm người nghèo dai

dẳng và sự gia tăng bất bình đẳng, tính dễ bị tổn

thương và vấn đề quản trị nhà nước Ngân hàng

tin tưởng rằng Việt nam có thể tiếp tục duy trì tiến

độ đã đạt được trong quá khứ nhờ vào các ưu tiên

chính sách và thực hiện tốt

KHẢ NĂNG CẠNH TRANH

trong thời gian qua đạt được là nhờ tính cạnh

tranh đã được cải thiện nhờ các cải cách trước

đây và tiến độ phát triển hạ tầng cơ sở kinh

tế Nhiều chương trình cải cách còn cần thực

hiện, cụ thể là các chương trình liên quan đến

khu vực doanh nghiệp nhà nước, tiếp cận tới hạ

tầng cơ sở và chất lượng cơ sở hạ tầng cũng như

phát triển lực lượng lao động tay nghề cao còn

chưa đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng cao

Những yếu tố này tiếp tục gây cản trở cho quá

trình nâng khả năng cạnh tranh của Việt nam

Khả năng cạnh tranh của Việt nam đạt được chủ

yếu nhờ vào lao động chi phí thấp và sử dụng tài

nguyên thiên nhiên thiếu hiệu quả và thiếu bền

vững Lợi thế này đương nhiên sẽ giảm dần theo

thời gian Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và

tránh cái gọi là “bẫy thu nhập trung bình”, cần

phải tiếp tục cải cách và đầu tư để khắc phục

những mặt thiếu hiệu quả trong nền kinh tế và

tăng tính cạnh tranh Hơn nữa, nền tảng của tính

cạnh tranh của Việt Nam sẽ cần chuyển hướng

mạnh hơn sang tăng năng suất, đổi mới sản

II CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ PHÁT TRIỂN

phẩm và quy trình, và gia tăng giá trị vì lợi thế chi phí lao động rẻ đang giảm dần Sự ổn định kinh tế vĩ mô, một ngành tài chính lành mạnh và

có khả năng phục hồi sau các cú sốc, và các cải tiến liên tục trong môi trường đầu tư là những điểm cốt yếu để thúc đẩy sự phát triển và cạnh tranh của các doanh nghiệp

hình kinh tế nhà nước của Việt Nam, nhưng khu vực doanh nghiệp nhà nước đã trở thành nguồn gốc gây ra sự thiếu hiệu quả, sức cạnh tranh yếu kém của nền kinh tế và gây trở ngại cho sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân

Phần tài sản (đất đai) và nhân tố sản xuất (tín dụng trong nước) mà các doanh nghiệp nhà nước sở hữu và được giao lớn hơn nhiều so với

sự đóng góp của họ vào sản lượng quốc dân Với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng trong thời gian gần đây, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã trở thành khu vực có mức vay nợ cao và

có khả năng gây rủi ro cho ngành ngân hàng Các ngân hàng thương mại quốc doanh chi phối

hệ thống ngân hàng (chiếm khoảng một nửa

hệ thống ngân hàng), và ngân hàng lớn nhất trong số đó đã chiếm gần 1/6 hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, cơ số vốn cũng như chất lượng danh mục đầu tư của các ngân hàng này đều vẫn rất hạn chế Các ưu đãi đặc biệt dành cho các doanh nghiệp nhà nước càng khiến cho khu vực

tư nhân, các doanh nghiệp lớn cũng như doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp khó khăn hơn khi tham gia một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế,

do đó gây kìm hãm cạnh tranh và không thúc đẩy tăng năng suất và hiệu quả sản xuất Quản trị doanh nghiệp yếu kém, thiếu các tiêu chí về minh bạch/công khai thông tin và khung theo dõi, giám sát thiếu chủ động là những yếu tố làm tăng thêm rủi ro Cần có những cải cách để xóa

bỏ sự thiếu hiệu quả, thúc đẩy năng suất trong khu vực doanh nghiệp nhà nước và giải quyết những yếu kém của ngành tài chính

Trang 23

quản lý chất thải rắn, giao thông đô thị và vệ sinh

đô thị là những nguyên nhân đang góp phần tạo

ra sự ô nhiễm nước và không khí ở các khu vực đô thị Ảnh hưởng do bụi hạt và các chất gây ô nhiễm khác là mối lo ngại ngày càng tăng đối với sức khỏe người dân ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Tổn thất này của các hệ sinh thái, cùng với việc săn bắn trộm động vật hoang dã đang dẫn đến

sự tuyệt chủng của một số loài và mất đa dạng sinh học, đem lại nhiều hậu quả kinh tế cho nền kinh tế Để giải quyết những vấn đề này, Việt Nam cần tăng cường thể chế trong ba lĩnh vực: (i) các

hệ thống và năng lực để đánh giá chính xác hiện trạng và lợi ích từ nguồn vốn tự nhiên; (ii) lồng ghép các vấn đề môi trường vào quá trình quy hoạch và ra quyết định; và (iii) củng cố và thực thi khung pháp lý và quy định

của Việt Nam phần nhiều bắt nguồn trực tiếp

từ điều kiện tài nguyên thiên nhiên dồi dào

Chẳng hạn như, nguồn vốn tự nhiên đã đem lại tăng trưởng kinh tế trong các ngành thủy sản, lâm nghiệp, tài nguyên khoáng sản, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Khi thực hiện công nghiệp hóa, sự phụ thuộc vào nguồn vốn tự nhiên sẽ giảm dần, nhưng trong tương lai gần, tài nguyên thiên nhiên sẽ cần đến để tạo ra phần lớn của cải cho Việt nam, nhất là cho người nghèo Một đánh giá gần đây của Việt Nam về nguồn tài nguyên thiên nhiên và công tác quản lý tài nguyên đã đưa ra một vài vấn đề.3 Ví dụ như, hoạt động đánh bắt hải sản, đóng góp khoảng 5% GDP của Việt Nam, đang suy giảm, thể hiện qua thực tế giảm sản lượng và các dấu hiệu cho thấy một số loài cá có thể đã chạm đỉnh khai thác và đang bắt đầu suy giảm nhanh chóng Ngoài ra, việc nhanh chóng

mở rộng ngành nuôi trồng thủy sản đã tạo ra những thách thức lớn cho công tác quản lý môi trường và dịch bệnh Độ che phủ rừng trên toàn quốc được tăng một chút nhưng có bằng chứng cho thấy số lượng rừng nguyên sinh và rừng trồng trưởng thành đang giảm Ngành chế biến gỗ của

tư tư nhân lớn để nâng cao năng suất và gia

tăng giá trị cho ngành công nghiệp và nông

nghiệp, đồng thời phải chuyển đổi năng lực

cốt lõi của đất nước từ các ngành công nghiệp,

dịch vụ sử dụng tài nguyên thiên nhiên sang

các ngành công nghiệp và dịch vụ có tính đổi

mới, dựa trên cơ sở tri thức Tuy nhiên, chất

lượng cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn thấp, và

nguồn cung lao động có kỹ năng còn hạn chế

Mặc dù phần lớn người dân đã có điện để sử dụng

nhưng một số vùng thường xuyên bị cắt điện

Những khía cạnh khác liên quan đến chất lượng

cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dịch vụ giao thông

vận tải và hậu cần (logistics), cũng gây trở ngại

cho hoạt động đầu tư có tính cạnh tranh Mặc dù

tỷ lệ học sinh học tiểu học, trung học và đại học

đã tăng đáng kể nhưng chất lượng giáo dục cần

phải được cải thiện và đáp ứng tốt hơn các nhu

cầu của thị trường lao động Điều này sẽ giúp

khắc phục những hạn chế về số lượng sinh viên

tốt nghiệp có các kỹ năng và năng lực phù hợp để

có thể làm việc hiệu quả Việt Nam cần giải quyết

những thách thức liên quan đến việc cơ cấu, quản

lý hệ thống giáo dục và cách thức sử dụng nguồn

lực cho ngành giáo dục

BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

THIÊN NHIÊN

tạo ra những rủi ro lớn về môi trường Gia tăng

dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa, và những thay

đổi lớn trong các mô hình phát triển nông thôn đã

tạo ra những tác động bất lợi lớn Điều này thể hiện

rõ nhất trong ba lĩnh vực: nước, không khí, và đa

dạng sinh học Ô nhiễm nước càng ngày càng trở

nên nghiêm trọng hơn ở nhiều con sông chính và

các vùng ven biển; gây ra hàng loạt chi phí và tác

động đối với sức khỏe con người, nguồn nước sạch

cho mục đích sinh hoạt và sản xuất công nghiệp,

cũng như các tác động đối với ngành thủy sản và

bảo tồn Đầu tư không đủ và thiếu nguồn tài chính

bền vững để đầu tư cơ bản cho đô thị trong các

lĩnh vực như tiêu thoát nước, cấp nước sinh hoạt,

3 Báo cáo Phát triển Việt Nam (VDR) 2011: “Quản lý tài nguyên thiên nhiên”.

Trang 24

năm 1993 xuống còn 14,5% năm 20084 (Hình 1) Các kết quả sơ bộ của Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2010 cho thấy tỷ lệ nghèo tiếp tục giảm Giảm nghèo đi kèm với mở rộng điều kiện tiếp cận các dịch vụ cơ bản, trong

đó có giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, cấp điện và nước sạch Người lao động rời bỏ sản xuất nông nghiệp để chuyển sang các công việc được trả lương cao hơn trong các ngành dịch vụ, thương mại và công nghiệp: năm 2002, 56% lực lượng lao động làm nghề nông, chủ yếu là trên đất sản xuất riêng của gia đình; năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 41% Việt Nam đã hoàn thành 5 trong số 10 Mục tiêu Phát triển Thiên niên

kỷ được đưa ra ban đầu – đó là những chỉ tiêu liên quan đến giảm đói nghèo, bình đẳng giới trong tỷ

lệ trẻ em đến trường, giảm tỷ lệ tử vong ở bà mẹ, và kiểm soát sốt rét Hai chỉ tiêu khác có thể đạt được

là phổ cập giáo dục tiểu học và giảm tỷ lệ tử vong

ở trẻ sơ sinh Tuy nhiên, 3 chỉ tiêu liên quan đến bền vững môi trường và tiếp cận đến vệ sinh môi trường ở nông thôn có (dù mục tiêu cấp nước sạch được thực hiện tốt), và giảm tỷ lệ nhiễm HIV, dù tỷ

lệ này ở mức thấp là 0,28% năm 2010 ở tất cả các nhóm tuổi (xem Phụ chương 8)

tượng đã che khuất những khác biệt lớn giữa các vùng miền và các nhóm xã hội, một vấn đề

Việt Nam đang phải lệ thuộc nhiều vào nguồn

nguyên liệu thô nhập khẩu và có thể làm gia tăng

tình trạng phá rừng ở các quốc gia khác trong khu

vực Ngoài ra, còn có nhiều thách thức lớn mới

xuất hiện, liên quan đến quản lý tài nguyên nước,

với bằng chứng cho thấy sự cạn kiệt tầng nước

ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây

Nguyên cũng như sự gia tăng cạnh tranh/xung

đột giữa các mục đích sử dụng nước cho nông

nghiệp, nuôi trồng thủy sản, các dòng chảy môi

trường, công nghiệp, và sinh hoạt của con người

Các con sông quốc tế cung cấp tới 60% tổng lưu

lượng nước mặt của Việt Nam, do đó, các kế hoạch

hoặc đề xuất đầu tư ở vùng thượng nguồn có thể

làm thay đổi đáng kể các dòng chảy và trầm tích

Nguồn nước trong mùa khô đã bắt đầu phải chịu

áp lực Biến đổi khí hậu sẽ làm cho những hệ lụy

này càng nghiêm trọng hơn Hiện tại, Việt Nam

chưa có nhiều cơ chế khuyến khích để thúc đẩy sử

dụng nước hiệu quả, trong khi còn tồn tại nhiều

thách thức phức tạp mang tính liên tỉnh và các vấn

đề khác về phối hợp quản lý tài nguyên nước

NGHÈO VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG

tượng trong duy trì được tốc độ giảm nghèo

cao trong suốt 20 năm qua Tỷ lệ người nghèo

(% dân số sống dưới chuẩn nghèo) đã giảm từ 58%

4 Dựa trên các vòng khảo sát liên tiếp của Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) do Tổng cục Thống

Kinh/Hoa Dân tộc thiểu số Quốc gia

Trang 25

25 Cần có những thay đổi có hệ thống trong các lĩnh vực phát triển con người để giải quyết chương trình giảm nghèo của Việt Nam,

và phải có thêm nhiều nỗ lực để cải thiện các

cơ hôi sinh kế Cần có những nỗ lực theo hình thức

mới để thúc đẩy bình đẳng trong các kết quả tác động cho mọi người dân, và thu hẹp khoảng cách rộng đang gia tăng về học tập và tri thức giữa người nghèo và người không nghèo, giữa các dân tộc thiểu

số và người Kinh Một hệ thống giáo dục theo định hướng kết quả có thể trang bị cho người lao động Việt Nam các kỹ năng để tận dụng các cơ hội mới và quản lý những rủi ro trong công việc do thị trường lao động đang thay đổi; mặt khác, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế có thể bảo vệ người lao động tốt hơn sau những cú sốc tồi tệ nhất tác động đến việc làm Việt Nam hiện đang thiếu một chương trình trợ cấp tiền mặt cơ bản cho người nghèo, đây là một lỗ hổng lớn trong hệ thống giảm nghèo và trợ giúp xã hội của Việt Nam Tăng cường mạng lưới an sinh xã hội có thể giúp những người nghèo lâu năm đối phó tốt hơn với các cú sốc (gồm có thiên tai hay những cú sốc gây ảnh hưởng đến giá nội địa), và giúp giải quyết những khó khăn về khả năng chi tiêu của hộ gia đình, vốn

là một trong những nguyên nhân khiến trẻ em phải nghỉ học sớm Như vậy, liên kết trợ cấp tiền mặt với giáo dục có thể là một công cụ bổ sung quan trọng

để rút ngắn khoảng cách trong tỷ lệ đi học ở các cấp học.6 Ngoài ra, tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng cơ bản

và việc cung cấp, tiếp cận các dịch vụ công, bao gồm

cả việc tạo điều kiện thuận lợi để tham gia nhiều hơn trong các thị trường lao động và sản phẩm là điều cần thiết để cải thiện các cơ hội sinh kế cho người dân nông thôn và các cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn

đáng kể trong việc xóa bỏ một số khoảng cách lớn về giới, nhưng các thách thức chủ yếu vẫn chưa được giải quyết (xem Phụ chương 9) Nhìn

chung trong dân số toàn quốc, giữa nam và nữ không có khoảng cách nghèo, tuy tỷ lệ nghèo trong nhóm người cao tuổi phần lớn tập trung ở các phụ nữ góa chồng Tỷ lệ đi học thực tế của trẻ

em gái cao hơn trẻ em trai ở bậc tiểu học và trung

mới nổi lên là dấu hiệu gia tăng bất bình đẳng

Giữa các chỉ số thu nhập và các chỉ số phi thu nhập

khác đo lường mức độ giàu nghèo của nhóm các

hộ nghèo nhất và nhóm các hộ giàu nhất có sự

cách biệt lớn, và khoảng cách này ngày càng tăng,

trong khi khoảng cách giữa các vùng miền và giữa

các hộ thành thị với các hộ nông thôn không thay

đổi Khoảng cách giàu nghèo (tỷ lệ giữa mức thu

nhập trung bình của nhóm 20% dân số giàu nhất

với nhóm 20% dân số nghèo nhất) đã tăng từ 8,1

năm 2002 lên 9,2 năm 20105 Các cơ hội cho người

dân nông thôn bị hạn chế do ít có điều kiện tiếp

cận với các dịch vụ cơ bản và các nguồn lực tài

chính, đất đai và thông tin Di cư từ nông thôn ra

đô thị, một mặt là một yếu tố quan trọng thúc đẩy

tăng trưởng do người lao động dịch chuyển từ các

lĩnh vực việc làm ít hiệu quả sang các ngành nghề

có tính hiệu quả cao hơn, nhưng mặt khác lại làm

tăng áp lực đối với cơ sở hạ tầng và dịch vụ đô thị,

và cơ hội việc làm tại các vùng đô thị và ven đô lại

khiến cho người lao động dễ bị tổn thương hơn do

công việc ít ổn định hơn và chi phí sinh hoạt ở đô

thị tăng nhanh Một bộ phận lớn người nghèo và

người dễ bị tổn thương ở Việt Nam hiện đang định

cư tại các vùng đô thị lớn hoặc xung quanh đó Với

tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và thông lệ sử dụng

các khu vực có vị trí tốt để đáp ứng nhu cầu đất đai

cho phát triển đô thị, việc thu hồi và chuyển đổi

mục đích sử dụng đất có thể tạo ra những tác động

lớn, bất lợi cho xã hội

nhiều hơn trong các nhóm dân tộc thiểu số,

chiếm gần 15% tổng dân số toàn quốc Năm 2008,

50% số dân tộc thiểu số sống dưới chuẩn nghèo,

trong khi tỷ lệ này trong nhóm người Kinh – người

Hoa chỉ có 9% Năm 2010, các nhóm dân tộc thiểu số

chiếm tới 65% số người thuộc thập phân vị nghèo

nhất và có phúc lợi thấp nhất, tăng so với tỷ lệ 53%

năm 2006 Trẻ em các gia đình dân tộc thiểu số ít có

điều kiện đi học hơn, nhất là ở cấp trung học phổ

thông, đây là nguyên nhân khiến tình trạng nghèo

và thu nhập thấp của các nhóm dân tộc thiểu số tồn

tại dai dẳng qua nhiều thế hệ

5 Nguồn: VHLSS 2010

6 Ngân hàng Thế giới (2011), Việt Nam: Giáo dục chất lượng cho Mọi người

Trang 26

KHẢ NĂNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

tính dễ bị tổn thương Việt Nam ngày càng dễ

bị tổn thương hơn bởi sự bất ổn kinh tế vĩ mô và thách thức kép gồm thảm họa thiên nhiên và tác động của biến đổi khí hậu Do đó, khả năng bị tổn thương của các hộ gia đình cũng tăng, nhất là trong bối cảnh di cư ra đô thị với hệ lụy là sự thay đổi trong các mô hình việc làm

năng dễ bị ảnh hưởng bởi một số cú sốc từ bên ngoài và rủi ro từ các chính sách trong nước

Hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu cùng với một nền kinh tế mở cửa rất rộng có nghĩa là những cú sốc toàn cầu sẽ được truyền vào nền kinh tế Việt Nam với cường độ tối đa, gây ảnh hưởng đến mức sống và triển vọng việc làm của các hộ gia đình Điều này có nghĩa là kinh tế vĩ

mô của Việt Nam sẽ bất ổn hơn Nhìn vào bối

học cơ sở, và tỷ lệ các em gái học lên trung học

phổ thông cao hơn một chút so với các em trai Tỷ

lệ việc làm của nam và nữ từ 25 đến 64 tuổi khá

sát nhau, 93,8% đối với nam giới và 87,8% đối với

nữ giới.7 Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự cách biệt trong

mức lương giữa nam và nữ, và nữ giới ít có cơ hội

với các công việc làm công ăn lương hơn so với

nam giới, trong khi có nhiều cơ hội hơn với các

công việc tự làm 56% nam giới thuộc nhóm làm

công ăn lương, so với tỷ lệ này ở nữ giới là 37%;

và các số liệu ước tính cho thấy, nữ giới trong khu

vực kinh tế phi chính thức có mức lương chỉ bằng

50% so với nam giới, mặc dù số giờ làm việc, trình

độ học vấn và thâm niên tương tự như nhau.8

Ngoài ra, có thể thấy được mức độ phân biệt lớn

về ngành nghề và loại hình công việc giữa lao

động nam và lao động nữ Các lĩnh vực liên quan

đến giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em và trẻ sơ sinh đã

đạt được nhiều tiến bộ ấn tượng, nhưng bạo lực

giới vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng và đang

có xu hướng gia tăng

HỘP 1: CƠ HỘI VÀ THÁCH THứC CHO ĐÔ THỊ HÓA

Việt Nam có tỷ lệ đô thị hóa thấp so với nhiều nước châu Á khác, nhưng dân số đô thị đã bắt đầu tăng Việt Nam đang ở trong giai đoạn phôi thai của quá trình đô thị hóa, và đang chuyển dần sang giai đoạn trung gian khi đô thị hóa diễn ra với tốc độ cao (hiện nay tỷ lệ đô thị hóa ở Việt Nam vào khoảng 30% và dân số đô thị tăng khoảng 3.4% mỗi năm).

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ Gần một nửa sản lượng kinh tế của Việt Nam do 6 trung tâm đô thị lớn nhất nước (gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Bà Rịa-Vũng Tàu) với tổng dân số khoảng 18,5 triệu người TP Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ chiếm gần một nửa (45%) tổng sản lượng hàng hóa được sản xuất Tuy nhiên, hoạt động sản xuất tăng trưởng nhanh và mạnh (công nghệ cao hơn, giá trị gia tăng cao hơn) hơn ở Hà Nội và vùng ĐB sông Hồng (55%, so với 39% ở TP HCM và vùng Đông Nam Bộ) Công nghiệp hóa đang tiến triển nhanh ở Hà Nội và vùng ĐB Sông Hồng do vị trí gần hơn với các cơ sở công nghiệp ở miền Nam Trung Quốc Trong khi đô thị hóa có khả năng vẫn tiếp tục mang lại lợi ích lớn cho Việt nam về tăng trưởng kinh tế, các cơ hội kinh tế lớn hơn và năng suất lao động cao hơn, thì Chính phủ cần phải cân nhắc các yếu tố đánh đổi trong quá trình đô thị hóa rất nhanh Giá phải trả cho ách tắc giao thông, bất bình đẳng giữa các vùng, giá đất và nhà tăng cao là những vấn đề tiềm tàng Tình trạng nghèo ở đô thị và tác động xã hội của nó có thể tăng lên, số lượng các thành phố loại 2 kém năng lực hơn có thể tăng nhanh

Hệ thống quy hoạch đô thị hiện nay của Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào các nguyên tắc thiết kế, thay vì tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông trên các thị trường nhà đất và giao thông đô thị Tuy nhiên, các thành phố ở Việt Nam vẫn cung cấp điều kiện đi lại khá tốt, chủ yếu là do hầu như toàn dân đều sử dụng xe máy làm phương tiện giao thông chính, và do các

mô hình phát triển đất đai đa mục đích theo truyền thống Nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng, và việc tăng sử dụng xe ô tô cuối cùng sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn do vượt quá năng lực và thiết kế hiện tại của hệ thống đường Mặc

dù hầu hết các thành phố lớn đã có quy hoạch hệ thống giao thông đô thị nhưng việc hầu như toàn dân ưa thích phương tiện giao thông cá nhân sẽ là một yếu tố cạnh tranh với các quy hoạch xây dựng hệ thống giao thông trung chuyển đô thị.

7 Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) 2008

8 Phát hiện của Cling và các đồng sự (2010): “Khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam Nghiên cứu cho Dự án Thị trường Lao động” EU/Bộ LĐTBXH/ILO.

Trang 27

thấy các tổn thất do thiên tai sẽ còn tăng nhiều hơn trong tương lai Lũ sông lớn và kéo dài suốt mùa mưa ở các đồng bằng châu thổ lớn Trong

số 2.360 con sông ở Việt Nam, phần lớn có chiều dài ngắn và độ dốc lớn, do đó, mưa lớn trong lưu vực có thể tạo ra những đợt lũ ngắn nhưng nhanh

và mạnh Nhiều vùng, đặc biệt là Tây Nguyên và vùng duyên hải miền Trung, thường xuyên có mưa lớn Mỗi năm trung bình có khoảng 6-8 cơn bão nhiệt đới với cường độ khác nhau tấn công vào Việt Nam, và tại miền Bắc và vùng duyên hải miền Trung, bão đang có xu hướng xuất hiện sớm hơn vào đầu mùa mưa Những thành tựu đáng chú ý trong ứng phó một cách có hiệu quả với thiên tai cần được đi đôi với tăng cường năng lực sẵn sàng ứng phó và giảm thiểu rủi ro

khác đang đặt ra một thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển ở Việt Nam, với một loạt các hậu quả phức tạp và liên quan đến nhau trong mọi lĩnh vực xã hội Các mô hình hiện nay

đã chỉ ra những tác động lớn có thể xảy ra đối với hoạt động kinh tế và/hoặc sức khỏe con người do nhiệt độ tăng, thay đổi mô hình lượng mưa, mực nước biển liên tục tăng, và cả những thay đổi tiềm tàng về tần suất, mức độ nghiêm trọng và phạm

vi địa lý của các sự kiện thời tiết cực đoan Những thay đổi này sẽ tác động mạnh nhất tới các đô thị phân bố tại các vùng đất thấp, ven biển và lưu vực sông dễ bị ảnh hưởng bởi bão lụt, và ngành nông nghiệp Tới cuối thế kỷ này, mực nước biển

có thể sẽ tăng từ 25 xăng-ti-mét đến 1 mét (so với mực nước biển năm 2000) Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ước tính nếu mực nước biển tăng 65 xăng-ti-mét thì khoảng 13% đất của đồng bằng sông Mêkông sẽ bị ngập

QUẢN TRỊ

chế và quản lý khu vực nhà nước trong tất cả mọi ngành tiếp tục hạn chế sự phát triển của Việt Nam Một khía cạnh quan trọng trong bức

tranh thể chế đang biến đổi của Việt Nam, đó

là sự dịch chuyển từ một hệ thống cấp bậc tập trung hoàn toàn ở trung ương cùng với cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang một hệ thống phân cấp

cảnh trong nước, Việt Nam phải đối mặt với hai

rủi ro lớn Thứ nhất là chính sách coi trọng tăng

trưởng hơn sự ổn định kinh tế vĩ mô, khiến cho

Việt Nam phải điều chỉnh các quan điểm chính

sách tài chính và tiền tệ nhiều hơn Thứ hai là sự

tích lũy dần dần các khoản nợ dự phòng trong hệ

thống do sự thiếu hiệu quả của các doanh nghiệp

nhà nước và mối liên hệ mật thiết của các doanh

nghiệp này với ngành ngân hàng

đình ngày càng tăng do những thay đổi nhân

khẩu học cũng như sự xáo trộn kinh tế và gia

tăng lạm phát trong thời gian gần đây Nông

dân phải đối mặt với tình trạng biến động giá

cả hàng hóa, phải chịu đựng các cú sốc xảy ra

thường xuyên liên quan đến khí hậu (như lũ lụt,

hạn hán, các đợt rét lạnh) và bị ảnh hưởng xấu

bởi các loại bệnh đặc hữu ở động vật Người lao

động tại các khu vực đô thị, bao gồm nhiều người

di cư ra từ nông thôn, đã mất việc làm và cắt giảm

tiền lương vào cuối năm 2008 và 2009 do hệ lụy

của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Mặc dù

các cơ hội việc làm đã được cải thiện, nhưng chi

phí nhiên liệu và thực phẩm lại tăng mạnh, và khả

năng tình trạng nghèo gia tăng ở các vùng đô thị

là một vấn đề lo ngại lớn Việt Nam đã có nhiều

chương trình giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng

dựa theo lĩnh vực và phát triển sinh kế, một số

trong đó vẫn không thay đổi trong thập kỷ vừa

qua Khi đất nước tiếp tục phát triển và nền kinh

tế thay đổi, các biện pháp trong các chương trình

nói trên có khả năng trở thành không phù hợp để

giải quyết những thử thách đã thay đổi liên quan

đến vấn đề nghèo và tính dễ bị tổn thương Các

giải pháp mới, bao gồm bảo trợ xã hội, sẽ cần

được đưa ra dựa trên những hiểu biết mới nhất về

tình trạng nghèo ở Việt Nam

ở Đông Nam Á, Việt Nam là một trong những

nước thường xuyên gặp thiên tai trong khu

vực Châu Á Thái Bình Dương Các cơn bão lớn,

lũ lụt và các hiểm họa thiên nhiên khác gây tổn

thất kinh tế hàng năm tương đương với 1% - 1,5%

GDP Cơ sở hạ tầng và con người đang tập trung

ngày càng nhiều ở các vùng dễ bị tổn thương

như đồng bằng ngập lũ và ven biển, điều này cho

Trang 28

35 Kể cả trong một hệ thống trách nhiệm giải trình theo cấp bậc, các kênh chính thống vẫn có những thách thức riêng Khi chuyển sang

một hệ thống quản trị phân cấp nhiều hơn, hệ thống trách nhiệm giải trình cũng biến đổi, nhưng không tương đương về mức độ và không phải lúc nào cũng dưới hình thức hiệu quả nhất.9 Các cơ cấu phân cấp nhằm xử lý tham nhũng có thể đặt các cán bộ điều tra vào một tình thế khó khăn khi phải kiểm tra những người có thẩm quyền cao hơn Tòa án không được sử dụng nhiều và giám sát của tòa án đối với các cơ quan hành pháp hầu như không đáng kể Quốc hội, dù đang thực hiện vai trò giám sát từ bên ngoài một cách tích cực hơn nhưng lại bị hạn chế bởi một đặc trưng là tốc

độ thay thế đại biểu cao và đa số các đại biểu đều

có vị trí trong chính phủ

cao tính minh bạch, nhưng thách thức vẫn còn tồn tại Với sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của

internet và các phương tiện truyền thông khác, các thông tin và ý kiến được chia sẻ rộng rãi hơn bao giờ hết Nhưng việc tiếp cận của người dân Việt Nam tới các thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ vẫn còn rất khó khăn, điều này gây trở ngại cho việc giám sát của công chúng đối với các dịch vụ và chức năng của chính phủ Mặc dù Việt Nam đã ban hành một số luật để quy định các loại thông tin, tài liệu cần được công bố công khai, nhưng trên thực tế, vẫn khó có thể tiếp cận các tài liệu này

trị được thảo luận rộng rãi ở Việt Nam Tuy

nhiên, tỏng khi có tiến bộ ở nhiều lĩnh vức, vẫn

có những lo ngại về tham nhũng Mô-đun Quản trị trong Điều tra Mức sống Hộ gia đình (VHLSS)

2008 cho thấy, cứ 3 người trả lời phỏng vấn thì

có 2 người cho rằng tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng, và chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số đó cho rằng tình hình đang trở nên khả quan hơn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mọi hình thức tham nhũng đều đang phát triển mạnh hơn

quyết định Sự phân quyền được thực hiện theo

các tuyến kinh tế (tới các tổ chức kinh tế tư nhân),

địa lý (tới các tỉnh và các cấp chính quyền địa

phương) và chức năng (tới các bệnh viện, trường

học và các bên cung cấp dịch vụ khác) Tuy nhiên,

việc xây dựng năng lực ở cấp địa phương không

theo kịp tiến trình phân cấp

cận các dịch vụ công cơ bản là điều đặc biệt

cần thiết cho những người nghèo, dễ bị tổn

thương, hoặc người có hoàn cảnh khó khăn ở

Việt Nam Ngay cả khi các chính sách mà chính

phủ trung ương thông qua đã phản ánh những

thông lệ tốt của quốc tế, việc thực thi ở cấp địa

phương thường bị cản trở bởi sự hạn chế trong

năng lực lập kế hoạch, thực hiện và báo cáo

Những hạn chế trong năng lực cung cấp dịch vụ

thể hiện đặc biệt rõ tại các tỉnh khó khăn, nơi có

nhiều nhóm dân dễ bị tổn thương

Nam vẫn chủ yếu dựa vào cơ chế giải trình lên

trên thông qua nhiều cấp bậc, từ đây tạo ra

một hệ thống khuyến khích những lo sợ thái

quá về các nguy cơ rủi ro Các cán bộ hiếm khi

hành động nếu không được giao thẩm quyền

rõ ràng, vì lo sợ sự đổi mới và chủ động có thể

đem lại nhiều rủi ro hơn là lợi ích Từ trường học

cho đến bệnh viện, sự cần thiết phải tăng cường

trách nhiệm giải trình một cách phù hợp nhằm

khuyến khích đổi mới, sáng tạo và nâng cao kết

quả hoạt động là một đề tài có tính thời sự ở Việt

Nam Đa dạng hóa hệ thống trách nhiệm giải

trình theo hướng cơ chế giải trình xuống dưới

(nghĩa là coi người dân và doanh nghiệp là khách

hàng của các cơ quan nhà nước) là một hướng đi

đang được thử nghiệm nhưng mới chỉ ở phạm

vi nhỏ Ngoài ra, các cơ chế giải quyết khiếu nại

còn rất hạn chế Hơn nữa, do thiếu nhận thức về

các quyền được pháp luật công nhận và thiếu

các cơ chế hiệu quả để yêu cầu các dịch vụ tốt

hơn nên người dân không đủ vị thế để tạo ra áp

lực từ dưới lên

9 Đây là chủ đề trọng tâm của Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010 – Các Thể chế hiện đại

Trang 29

các khoản chi không chính thức vẫn là một hiện tượng phổ biến trong nhiều ngành Trong Ngày sáng tạo Việt Nam 2009, khi được yêu cầu đề xuất các giải pháp có tính đổi mới để phòng chống tham nhũng, hầu hết các đề xuất đều tập trung vào việc giải quyết các vấn đề về nâng cao nhận thức và tiếp cận thông tin

Nhìn chung, các doanh nghiệp tham gia khảo

sát doanh nghiệp do Ngân hàng Thế giới thực

hiện năm 2005 và năm 2009 đã đánh giá rằng,

mức độ trở ngại do tham nhũng gây ra cho hoạt

động kinh doanh không còn cao như trước kia,

mặc dù tỷ lệ doanh nghiệp cho biết có đưa hối

lộ và số tiền hối lộ không hề giảm10 Các khảo sát

doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới cho thấy

10 Nguồn: Khảo sát Doanh nghiệp của NHTG.

Trang 30

III CÁC ƯU TIÊN CỦA CHÍNH PHỦ

thập kỷ tiếp theo đã được xác định trong Chiến

lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn

2011-2020 để giải quyết trực tiếp những thách thức

phát triển được nêu lên ở phần trên Chiến lược

Phát triển Kinh tế xã hội xác định các ưu tiên chủ

chốt của quốc gia, bao gồm một chiến lược tăng

trưởng dài hạn trong đó chú trọng đến các cải

cách có tính cơ cấu, sự bền vững môi trường, công

bằng xã hội, và các vấn đề mới xuất hiện liên quan

đến ổn định kinh tế vĩ mô nhằm hạn chế tối đa

khả năng bị tổn thương trong ngắn hạn và duy trì

tăng trưởng trong dài hạn Chiến lược Phát triển

Kinh tế xã hội nêu ra ba “lĩnh vực mang tính đột

phá”, gồm có: (i) thúc đẩy phát triển nguồn nhân

lực/kỹ năng (đặc biệt là các kỹ năng cho ngành

công nghiệp hiện đại và đổi mới), (ii) cải thiện các

thể chế thị trường, và (iii) phát triển cơ sở hạ tầng

Thách thức quan trọng nhất là cải thiện thiết kế

các chương trình và thực hiện tốt hơn

hướng tới mục tiêu tối đa hóa phúc lợi dài hạn ở

Việt Nam thông qua tăng trưởng nhanh chóng

kết hợp với phát triển bền vững Để thực hiện

mục tiêu tăng trưởng nhanh, Việt Nam dự kiến

sẽ không chỉ tăng cường sử dụng lao động, tài

nguyên thiên nhiên và vốn, mà còn cải thiện hiệu

quả sử dụng và phân bổ nguồn lực cũng như thúc

đẩy tiến bộ kỹ thuật Chiến lược Phát triển Kinh

tế xã hội xác định ba tác nhân chính quyết định

sự phát triển bền vững, đó là sự ổn định kinh tế vĩ

mô, tăng trưởng trên diện rộng, và bền vững môi

trường Chiến lược cũng đề xuất các thay đổi thể

chế và chính sách nhằm thực hiện mục đích cuối

cùng thông qua hoàn thành quá trình chuyển

đổi thành nền kinh tế thị trường và xây dựng hệ

thống quản trị nhà nước hiện đại

triển Kinh tế xã hội là đặt nền móng chomột

xã hội công nghiệp hóa và hiện đại ở Việt Nam

vào năm 2020 Chiến lược đưa ra những phương

hướng để Việt Nam tiếp tục chuyển đổi từ một xã hội chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thành một quốc gia hiện đại và công nghiệp hóa Chiến lược cũng nhấn mạnh một số lĩnh vực cốt yếu có thể giúp Việt Nam đạt được mục tiêu này, đó là phát triển bền vững, cải tiến các thể chế thị trường, và dân chủ

đoạn 2011-2015 được Quốc hội phê duyệt vào tháng 11 năm 2011 Kế hoạch Phát triển Kinh tế

xã hội sẽ cụ thể hóa các mục tiêu của Chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội và xác định các biện pháp

cụ thể cũng như các nguồn lực cần thiết để thực hiện chiến lược Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 tập trung vào hàng loạt chính sách cần thiết để đạt được tăng trưởng kinh

tế có chất lượng cao và bền vững Trong đó có các chính sách tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tăng

tỷ trọng của các hoạt động kinh tế tạo ra giá trị gia tăng cao, chính sách cải thiện mức sống của các nhóm dân tộc thiểu số, tăng cường bảo vệ môi trường, giảm thiểu và ngăn ngừa những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển những điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân và giảm dần mức đóng góp GDP của khu vực quốc doanh, đồng thời tăng mức đóng góp của khu vực tư nhân và FDI Cũng tập trung vào ba lĩnh vực đột phá như Chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội, kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội

mô tả cách đạt được những đột phá đó nhằm tạo ra một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao hơn Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội cũng

mô tả ý nghĩa quan trọng của các hoạt động bảo

vệ môi trường, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, và xây dựng khả năng phục hồi sau thiên tai, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mới phản ánh mức nhận thức cao hơn về các rủi ro liên quan đến suy thoái môi trường và tài nguyên thiên nhiên Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội nên làm rõ hơn 2 lĩnh vực sau: (i) ý nghĩa quan trọng của việc xác định những trường hợp hiển

Trang 31

là thúc đẩy nguồn nhân lực, cải thiện các thể chế thị trường và đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng Theo chu kỳ lập kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội

5 năm, và cũng là chu kỳ lập chiến lược CPS của NHTG, Việt Nam hiện đang xây dựng một Khung Chiến lược mới cho ODA trong giai đoạn 2011 –

2015 Khung chiến lược ODA xác định ưu tiên sử dụng nguồn lực ODA cho từng lĩnh vực trong số

3 lĩnh vực đột phá của kế hoạch Phát triển Kinh

tế xã hội Khung chiến lược cũng lựa chọn các chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực phát triển kinh tế,

xã hội và môi trường mà ODA cần góp phần thực hiện Ngân hàng sẽ góp phần thực hiện các chỉ tiêu nói trên thông qua danh mục đầu tư hiện tại, dự án mới và các hoạt động phân tích xoay quanh Khung Kết quả CPS có gắn kết với Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội và các chỉ tiêu của Khung chiến lược ODA (xem Phụ chương 1)

nhiên cần đánh đổi giữa các ưu tiên với các biện

pháp chính sách được đề xuất, nhất là trong bối

cảnh nguồn lực thực tế còn nhiều hạn chế; và (ii)

sự cần thiết của việc lồng ghép, kết nối và đảm

bảo sự nhất quán giữa kế hoạch Phát triển Kinh tế

xã hội của quốc gia với kế hoạch phát triển kinh

tế xã hội của các tỉnh và các quy hoạch ngành của

các bộ ngành trung ương

tiên và mục tiêu chiến lược tổng thể được đưa

ra trong chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội và

kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội, Nhóm Ngân

hàng Thế giới sẽ làm việc với Chính phủ để thực

hiện chương trình nghị sự phát triển được đưa

ra trong phần trên Ngân hàng Thế giới sẽ hỗ trợ

ba lĩnh vực đột phá của chiến lược Phát triển Kinh

tế xã hội và kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội, đó

Trang 32

IV QUAN HỆ ĐỐI TÁC GIỮA VIỆT NAM VÀ

NHÓM NGÂN HÀNG THẾ GIớI

CÁC BÀI HỌC VÀ Ý KIẾN PHẢN HỒI

Các bài học từ Báo cáo Hoàn thành CPS

chính 2007-2011 kết luận rằng, nhìn chung

chương trình ở Việt Nam đã thực hiện phần lớn

những gì được dự kiến trong CPS và Ngân hàng

đã thực hiện vai trò hỗ trợ quan trọng giúp Việt

nam đạt được những thành công trong quá

trình phát triển (xem Phụ chương 2) Như đã nói

ở trên, Việt Nam đã đạt được mục tiêu chiến lược

chủ chốt (trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội

giai đoạn 2006 – 2010), đó là trở thành quốc gia

có thu nhập trung bình vào năm 2010 Năm 2007,

Việt Nam đã đủ tư cách hợp lệ để vay vốn IBRD, và

nhận khoản vay IBRD đầu tiên vào năm 2009 IFC

đã gia tăng hoạt động một cách đáng kể trong thời

kỳ này Quá trình xây dựng các thể chế cho một

nền kinh tế thị trường hiện đại vẫn đang tiếp tục,

dù chậm hơn so với dự kiến của chương trình CPS

hoạt động của chương trình là tương đối đạt yêu

cầu Trong nhiều lĩnh vực thực hiện, chương trình

CPS đã đạt được những kết quả như mong đợi, tuy

trong những lĩnh vực khác, các kết quả tác động

chưa được hoàn thành đầy đủ, do những chậm

trễ hay trở ngại trong quá trình thực hiện Hiệu

quả hoạt động của Nhóm Ngân hàng Thế giới

được đánh giá là đạt yêu cầu Ngân hàng đã ứng

phó nhanh chóng và hiệu quả với các tình huống

không mong đợi, như khủng hoảng lương thực và

tài chính toàn cầu, và đang tiếp tục ứng phó với

những vấn đề lo ngại mới phát sinh như biến đổi

khí hậu IFC vẫn duy trì trọng tâm chiến lược là chất

lượng môi trường kinh doanh và tài chính, mặc

dù mức đầu tư đã tăng gấp ba vào cuối giai đoạn

CPS, và đặc biệt tập trung vào ứng phó với khủng

hoảng Một số dự án được thiết kế với các hợp

phần có tính sáng tạo, làm cơ sở để tạo ra những tác động lớn hơn trong tương lai Việc triển khai

dự án đã được cải thiện, cụ thể là thời gian từ khi Ban Giám đốc phê duyệt đến khi dự án có hiệu lực

đã được rút ngắn, nhưng tiến độ thực hiện chậm (thể hiện qua tỷ lệ giải ngân thấp và nhiều lần gia hạn ngày đóng dự án) vẫn là một vấn đề chưa giải quyết được

nghị cho kỳ CPS tiếp theo và các kiến nghị đã được kết hợp ngay vào thiết kế của chương trình CPS mới, cụ thể là: (i) Nhóm Ngân hàng Thế

giới cần ứng phó với các nguy cơ bị tổn thương và các thách thức mới xuất hiện ở Việt Nam; (ii) Nhóm Ngân hàng Thế giới cần duy trì trọng tâm hoạt động hướng theo nhu cầu trong một khuôn khổ có tính chọn lọc, trong đó ưu tiên các lợi thế so sánh của Nhóm Ngân hàng Thế giới; (iii) cần siết chặt các quy tắc chọn lọc để tránh tình trạng chương trình của Ngân hàng bị dàn trải quá mức; (iv) ngoài việc chú ý đến giai đoạn thực hiện, cần phải chú ý hơn đến giai đoạn thiết kế chương trình và dự án; (v) cần chú ý đến các vấn đề phân cấp; (vi) các cam kết cải cách thể chế phải có tính thực tiễn và càng nhiều tinh thần làm chủ của chính phủ càng tốt, nhưng đồng thời vẫn thúc đẩy chương trình tiến

xa hơn; (vii) các lĩnh vực tham gia cho các cải cách chính sách thuộc thế hệ thứ hai phải được lựa chọn một cách thận trọng hơn, như các thách thức trong những hoạt động thuộc xê-ri chương trình PRSC trong giai đoạn cuối đã cho thấy; và (vii) có thể chủ động hơn trong việc sử dụng khung kết quả như một công cụ để xác lập các ưu tiên chiến lược và giám sát trách nhiệm giải trình

Phản hồi từ Khảo sát Quốc gia

diện của các bên liên quan ở Việt Nam (với tỷ lệ

Trang 33

gian chính của quá trình xây dựng tài liệu CPS

Các tham vấn này nhằm mục đích: (i) tăng cường

sự hiểu biết và ủng hộ của các bên liên quan đối với CPS; (ii) huy động sự tham gia của các bên liên quan theo các nguyên tắc của Tuyên bố Paris và Tuyên bố chung Hà Nội; và (iii) học hỏi kiến thức

và hiểu biết sâu sắc của các bên liên quan về bối cảnh quốc gia Việt Nam Quy trình tham vấn bắt đầu ngay trong thời gian soạn thảo CPS Vòng tham vấn đầu tiên được tổ chức vào tháng 1/2011 (trước khi bắt đầu quá trình soạn thảo), với một nhóm tương đối nhỏ gồm các đối tác mục tiêu

và có kinh nghiệm làm việc hàng ngày với Ngân hàng để tìm hiểu quan điểm của họ về các lĩnh vực

ưu tiên chính cho Ngân hàng trong năm năm tới, Ngân hàng có thể giải quyết các lĩnh vực này như thế nào, và những gì Ngân hàng có thể làm khác đi trong tương lai Vòng tham vấn thứ hai được thực hiện vào tháng 6/2011 để thu nhận ý kiến phản hồi của các bên liên quan về Đề cương CPS, và trong vòng tham vấn lần thứ ba được tổ chức vào tháng 10/2011, trong đó các bên liên quan đã đóng góp ý kiến về bản thảo CPS (xem Phụ chương 15)

CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG THEO CPS

Nam đã đem lại những tác động lớn và tích cực

Tuy nhiên một loạt các yếu tố như sự tăng trưởng nhanh chóng của chương trình trong những năm gần đây, cùng với tiến độ thực hiện chậm trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện dự án13, và ngân sách hoạt động của Ngân hàng dành cho chương trình quốc gia không tăng lên – đã cho thấy rõ sự cần thiết phải cải thiện mô hình làm việc để gây được tác động mạnh hơn Theo đó, chương trình CPS sẽ hướng tới mục tiêu: (i) xác định rõ mục tiêu chiến lược và giảm bớt sự dàn trải; (ii) tăng cường hiệu quả hoạt động; và (iii) thúc đẩy các nguồn lực

và tạo sự đồng bộ, và (iii) đẩy nhanh tiến độ thực

trả lời đạt 46%) đã tham gia một Khảo sát Quốc

14) Hơn một nửa số người trả lời khảo sát là đại

diện của các cơ quan chính phủ, còn lại là đại diện

cho giới học thuật, các cơ quan song phương hoặc

đa phương, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan

truyền thông, khu vực tư nhân, và Quốc hội Những

người trả lời cho rằng, những ưu tiên phát triển

quan trọng nhất của Việt Nam là quản trị, tăng

trưởng kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng, trong

khi đó những ưu tiên cao nhất cần Ngân hàng hỗ

trợ là giảm nghèo, quản trị, môi trường, cơ sở hạ

tầng, biến đổi khí hậu, tăng trưởng kinh tế và hội

nhập.12 Kết quả khảo sát cho thấy thái độ tích cực

của những người tham gia khảo sát đối với Ngân

hàng và các hoạt động của Ngân hàng tại Việt Nam,

với số điểm đánh giá hiệu quả hoạt động tổng thể

của Ngân hàng tại Việt Nam đạt mức 7,7 trên thang

điểm 10 Tuy nhiên, những người tham gia khảo sát

cũng chỉ ra một số lĩnh vực cần cải thiện Trước hết,

Ngân hàng cần phải tiếp tục tăng cường tác động

của mình trong các lĩnh vực xã hội, quản trị, phát

triển khu vực tư nhân, biến đổi khí hậu, và giảm

nghèo Hỗ trợ tài chính và chuyển giao kiến thức

được xem là giá trị tăng thêm cho các hoạt động

của Ngân hàng, trong khi đó sự thiếu linh hoạt

được coi là điểm yếu của Ngân hàng (ví dụ như

đưa ra những kiến nghị mà không cân nhắc kỹ tới

điều kiện chính trị và địa phương, các chính sách

và thủ tục còn quan liêu) Hy vọng rằng việc phân

cấp trong những năm gần đây của Ngân hàng sẽ

giúp khắc phục những quan ngại này bằng cách

nâng cao sự hiểu biết của Ngân hàng về bối cảnh

địa phương và khả năng đáp ứng

Phản hồi từ các vòng tham vấn CPS

trình CPS cho giai đoạn mới đã được tổ chức

theo ba giai đoạn, phù hợp với các mốc thời

11 Tỷ lệ phản hồi là 46% Các Khảo sát Quốc gia thường được thực hiện trước khi Ngân hàng xây dựng một chương trình CPS tại Việt Nam Tương tự như CPS, Khảo sát Quốc gia cũng đi theo chu kỳ 5 năm để phù hợp với chu kỳ kế hoạch 5 năm của Chính phủ Các câu hỏi khảo sát bao gồm các câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn để trả lời và các câu hỏi yêu cầu đánh giá thông qua xếp hạng.

12 Các ưu tiên được liệt kê theo thứ tự giảm dần.

13 Việt nam có đặc điểm thực hiện dự án khá hay: tiến độ rất chậm trong 24 tháng đầu tiên, sau đó tốc độ thực hiện tăng lên mức trung bình.

Trang 34

trợ thông qua các chương trình của chính phủ Sự chuyển đổi sang các hoạt động phân tích và tư vấn theo cách tiếp cận chương trình sẽ được tiếp tục để đem lại sự gắn kết mang tính chiến lược hơn trong chương trình các hoạt động phân tích và tư vấn.

các tiêu chí rõ ràng về gia nhập chương trình

Những tiêu chí này sẽ tập trung vào những lĩnh vực mà: (i) Ngân hàng có lợi thế so sánh thực so với các đối tác khác; (ii) có nhiều khả năng tạo ra tác động bền vững thông qua việc nhân rộng mô hình hoạt động kể cả khi không có vốn ODA; (iii) cấp tỉnh/địa phương đã có nhiều kết quả thực hiện thành công được ghi nhận trong quá khứ; và (iv) có nhiều

cơ hội để thúc đẩy những thay đổi triệt để và/hoặc thay đổi thể chế Nguyên tắc chọn lọc sẽ được hỗ trợ bởi cam kết với Chính phủ về việc xây dựng một chương trình có tính hệ thống và hướng tới tương lai

hiện dần theo thời gian thông qua các chiến lược rút lui, xác định trình tự và phối hợp trong nội bộ Nhóm Ngân hàng Trong một số ngành,

chương trình hoạt động gần như đã hoàn thành (ví

dụ như điện khí hóa nông thôn) nên Ngân hàng sẽ không hỗ trợ tiếp Ngân hàng cũng sẽ dừng hỗ trợ cho những lĩnh vực luôn gặp nhiều khó khăn (ví dụ như các hoạt động quy mô lớn dựa trên công nghệ thông tin) Phân chia rõ ràng trách nhiệm với IFC cũng là một điều quan trọng Chẳng hạn như Ngân hàng sẽ chấm dứt hỗ trợ cho khu vực tư nhân tham gia lĩnh vực năng lượng tái tạo khi chương trình IFC

đã được mở rộng Xác định trình tự hợp lý để hỗ trợ một số ngành cũng sẽ giúp giảm bớt tính dàn trải của chương trình Ví dụ như trong ngành tài chính, gần đến cuối kỳ CPS của NHTG, trọng tâm chú ý

sẽ chuyển từ các hạ tầng tài chính (như hệ thống thanh toán) sang các vấn đề tiếp cận và phát triển thị trường Cuối cùng, Ngân hàng sẽ làm việc với Chính phủ để tạo ra sự cạnh tranh giữa các tỉnh khi chọn tỉnh tham gia dự án Các tiêu chí rõ ràng sẽ được sử dụng, bao gồm việc thực hiện danh mục đầu tư hiện tại ở cấp tỉnh Do sự dàn trải hiện nay

hiện để đạt được kết quả một cách kịp thời hơn

đã bị mờ đi do tham gia trong nhiều ngành và

tiểu ngành Hiệu quả hoạt động không tối ưu do

(i) lệ thuộc nhiều vào cách tiếp cận đơn lẻ, nghĩa

là Ngân hàng tài trợ vốn thông qua một số lượng

lớn các hoạt động đầu tư truyền thống theo ngành

được thực hiện ở tất cả 63 tỉnh thành của Việt

Nam,14 nhưng không chú ý đầy đủ đến tính đồng

bộ của các can thiệp ở cấp tỉnh; (ii) cách thức tổ

chức thực hiện dự án phức tạp, với yêu cầu thành

lập một số đơn vị thực hiện mới cho từng dự án

mới, điều này khiến cho Ngân hàng có quá nhiều

đối tác là các đơn vị địa phương và quá nhiều tỉnh

thành cần phối hợp trong quá trình thực hiện dự

án; và (iii) chương trình các hoạt động phân tích và

tư vấn chưa thúc đẩy được những hỗ trợ tài chính

của Ngân hàng một cách phù hợp, do đó chưa tạo

được ảnh hưởng đến các chính sách và cách thức

sử dụng nguồn lực riêng của Chính phủ Với các

hoạt động đầu tư, kết quả đạt được đã mất đi tính

kịp thời do quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án

kéo dài Điều này có nghĩa là mất đi một chi phí cơ

hội lớn do đạt kết quả muộn Tính đến 31/8/2011,

danh mục đầu tư chưa giải ngân còn xấp xỉ 5,8 tỷ

USD, trong đó 48% là vốn cam kết từ tài chính

2008 hoặc thậm chí sớm hơn Những chậm trễ

trong thực hiện cũng có thể dẫn đến tình trạng chi

phí dự án leo thang, khiến cho nguồn lực bị chuyển

đi khỏi các sáng kiến mới để trở thành vốn bổ sung

cho dự án và làm giảm hệ số hoàn vốn của dự án

giảm bớt sự dàn trải, chương trình CPS mới của

Ngân hàng hướng tới mục tiêu tăng dần hợp

nhất trong chương trình cho vay, áp dụng các

hoạt động phân tích và tư vấn theo cách tiếp

cận chương trình, và tăng cường tính chọn lọc

Quy mô trung bình của các hoạt động chỉ vay vốn

IDA tăng không đáng kể, từ 109,3 triệu trong IDA

14 lên 115,2 triệu USD trong IDA 15, và cao nhất là

143,6 triệu USD trong năm 2009 Để đạt được quy

mô lớn hơn cho các hoạt động, cần áp dụng các

cách tiếp cận “cả gói”, bao gồm cả trường hợp tài

14 Trong số 78 hoạt động đang thực hiện theo CPS 2007-2011, 85% là các khoản vay hoặc tín dụng đầu tư theo ngành.

Trang 35

thực hiện một cách hệ thống hơn thông qua các phương thức truyền thông mang tính chiến lược

và có thể tiếp cận các cơ quan hành pháp cũng như các cơ quan lập pháp và rộng hơn nữa là toàn

bộ xã hội Việt Nam Ngân hàng sẽ ưu tiên hơn cho các tài liệu chú giải chính sách được đưa ra đúng lúc Như vậy, cách thức lập chương trình cho các hoạt động phân tích và tư vấn sẽ phải linh hoạt và nhanh nhạy

vay bằng cách sử dụng nhiều hơn các cơ hội đồng bộ hóa trong chương trình CPS trong toàn

bộ Nhóm Ngân hàng Thế giới và với các đối tác phát triển khác Theo dự kiến, sự phối hợp trong

nội bộ Nhóm Ngân hàng sẽ được tăng cường khi Việt Nam tiếp tục quá trình chuyển đổi thành quốc gia có thu nhập trung bình và vai trò của khu vực tư nhân tiếp tục tăng IBRD và IFC sẽ tăng cường hợp tác để phối hợp các chương trình tương ứng, cụ thể là về cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp nông nghiệp

và ngành tài chính Tăng sử dụng các khoản bảo lãnh của MIGA có thể cung cấp tái bảo đảm cho các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả các nhà đầu tư trong các dự án đối tác Nhà nước-Tư nhân, nhất là những

dự án có nhiều rủi ro liên quan đến luật định MIGA hiện đang thiết lập mối quan hệ dài hạn với Chính phủ để hỗ trợ chương trình đối tác Nhà nước-Tư nhân Nhóm Ngân hàng cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh

hỗ trợ thông qua các quan hệ đối tác có tính chiến lược với các đối tác phát triển khác, chẳng hạn như quan hệ hợp tác rất thành công hiện nay giữa Ngân hàng với DFID (Anh) về giảm nghèo, quản trị

và biến đổi khí hậu, và quan hệ hợp tác sắp tới với AusAid về cơ sở hạ tầng và cải cách kinh tế Ngoài

ra, các nguồn lực của IDA dành cho cấp quốc gia cũng sẽ được tăng cường thông qua hai dự án khu vực về quản lý tài nguyên thiên nhiên (nước và đa dạng sinh học), cùng phối hợp với các nước khác ở Đông Nam Á

thông qua nhiều sáng kiến toàn cầu và khu vực

mà Việt Nam đang tham gia Ví dụ như Chương

của chương trình và thời gian thực hiện dài nên tác

động của nguyên tắc chọn lọc sẽ chỉ có thể thấy

rõ được sau một khoảng thời gian (có thể vượt ra

ngoài khuôn khổ của kỳ CPS mới)

chương trình CPS sẽ thúc đẩy các nguồn lực của

Ngân hàng thông qua tăng cường sử dụng các

cách tiếp cận có tính hệ thống kiểu “cả gói” khi

Ngân hàng cấp vốn Trái với cách tiếp cận truyền

thống bị giới hạn ở cấp độ dự án, các cách tiếp cận

mang tính hệ thống sẽ hỗ trợ các chương trình

của chính phủ, ví dụ như các Chương trình Mục

tiêu Quốc gia, các chương trình cấp tỉnh và tiếp

cận lồng ghép những hỗ trợ của Ngân hàng ở cấp

tỉnh một cách chiến lược (đa ngành), tăng cường

sử dụng các trung gian tài chính và cách tiếp cận

theo chương trình để cho các thành phố/đô thị vay

vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ sở hạ tầng của

địa phương, và áp dụng các cách tiếp cận dựa trên

kết quả khi thiết kế dự án Đây sẽ là cơ hội lớn hơn

để gây ảnh hưởng đến cách sử dụng nguồn lực

riêng của Chính phủ (trung ương và địa phương),

đồng thời nâng cao năng lực cần thiết để thực hiện

và duy trì các kết quả của chương trình Ngoài ra,

Ngân hàng cũng đã bắt đầu thảo luận với Chính

phủ về các phương án lựa chọn nhằm củng cố các

PMU tại các tỉnh và các bộ ngành chủ quản Từ đó

có thể tăng cường hiệu quả một cách đáng kể và

nâng cao năng lực một cách bền vững hơn.15

thông qua tăng cường đối thoại chính sách và

các hoạt động phân tích và tư vấn để có thông

tin tốt hơn cho chương trình cải cách cơ cấu mà

DPO hỗ trợ, cũng như cho quá trình thiết kế dự

án, nhất là trong những lĩnh vực tham gia mới

Ngân hàng sẽ xác định và đưa vào đây các chủ

đề của chương trình các hoạt động phân tích và

tư vấn mà các nhà hoạch định chính sách quan

tâm và Ngân hàng có kiến thức chuyên môn tốt

Ngân hàng sẽ tìm kiếm nhiều cơ hội hơn nữa để

thiết lập quan hệ đối tác với các chuyên gia trong

nước và cơ quan chính phủ trong những nghiên

cứu này để tăng cường tác động của nghiên

cứu Việc phổ biến kết quả nghiên cứu sẽ được

15 Các dự án do Ngân hàng tài trợ đã “sinh ra” các PMU ở tất cả 63 tỉnh thành của Việt Nam Chỉ riêng Chương trình Phát triển Bền vững đã chiếm tới hơn 200.

Trang 36

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẽ hợp tác để hỗ trợ Việt Nam đạt được thành công với vị thế một quốc gia có thu nhập trung bình CPS trực tiếp

hỗ trợ Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội 10 năm

2011 – 2020 Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm 2011 – 2015 và hướng tới góp phần giải quyết những thách thức chính nêu ở phần trên Chương trình CPS sẽ hỗ trợ một số yếu tố trong quá trình chuyển đổi nhiều mặt này, cụ thể là chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế đô thị và công nghiệp hóa nhiều hơn; chuyển đổi trọng tâm chú ý từ số lượng sang chất lượng sản xuất và cung cấp dịch vụ; chuyển đổi từ lợi thế so sánh chi phí lao động thấp với giá trị gia tăng thấp sang phát triển sản xuất và dịch vụ, và hướng tới tăng cường vai trò của các cơ chế thị trường trong phân bổ vốn

và nguồn lực cho một khu vực tư nhân ngày càng quan trọng hơn Theo những nội dung đột phá trong kế hoạch Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội

5 năm của Chính phủ, CPS sẽ hỗ trợ các đầu tư và chính sách nhằm mục tiêu (i) tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và toàn cầu, (ii) tăng tính bền vững của quá trình phát triển, và (iii) mở rộng điều kiện tiếp cận các cơ hội kinh tế và xã hội Ba lĩnh vực này tạo nên các trụ cột của khung chiến lược CPS Ngoài ra, còn có ba chủ đề chiến lược xuyên suốt cả ba trụ cột Chương trình CPS sẽ hỗ trợ các nỗ lực (i) tăng cường quản trị, (ii) thúc đẩy bình đẳng giới; và (iii) nâng cao khả năng phục hồi khi phải đối mặt với các cú sốc kinh

tế từ bên ngoài và cú sốc khí hậu (xem Hình 2)

Trụ cột 1 – Khả năng cạnh tranh sẽ giải quyết

những vấn đề sau: (a) tính dễ bị tổn thương của Việt Nam trước sự bất ổn kinh tế vĩ mô mà các nguyên nhân cơ cấu gồm có sự méo mó trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và ngành tài chính, và sự yếu kém trong quản lý tài chính công; (b) các dịch vụ cơ sở hạ tầng chủ chốt có chất lượng thấp do sự thiếu hiệu quả trong các ngành truyền tải và phân phối điện, nước và giao thông; (c) giá trị gia tăng thấp trong hoạt động sản xuất của Việt Nam; và (d) năng lực đổi mới và cơ sở kỹ năng hạn chế của lực lượng lao động Việt Nam Trụ cột này cũng

trình Nước và Vệ sinh,,Chương trình Toàn cầu về

Viện trợ dựa trên Đầu ra, Liên minh Các Đô thị, và

các sáng kiến liên quan đến các đô thị có khả năng

phục hồi nhanh chóng sau thiên tai, hay các dịch

vụ tư vấn về thời tiết nông nghiệp với sự hỗ trợ của

Quỹ Toàn cầu về Giảm nhẹ và Khắc phục hậu quả

Thiên tai (GFDRR)

bằng cách chú trọng giải quyết các nhu cầu

phát triển năng lực trong 3 lĩnh vực: (i) Việt Nam

chuyển đổi sang nền kinh tế đô thị và công nghiệp

hóa, trong lĩnh vực này các nỗ lực của Chính phủ sẽ

được hỗ trợ nhằm tăng cường quy hoạch và quản

lý đô thị để thúc đẩy phát triển đô thị bền vững,

tạo động lực cho sự tăng trưởng; (ii) tăng cường

quản trị và năng lực thể chế pháp lý thông qua

Chương trình Tăng cường Năng lực Quốc hội của

WBI; và (iii) phân tích ngành y tế, chính sách và cải

cách Ngoài ra, WBI sẽ thúc đẩy các diễn đàn nam

– nam để thúc đẩy chia sẻ tri thức và kinh nghiệm

giữa Việt Nam và các quốc gia khác trong và ngoài

khu vực Đông Á Thái Bình Dương , ví dụ như các

Chương trình Lãnh đạo khu vực/đa quốc gia và các

hoạt động học tập trực tuyến từ xa xung quanh các

lĩnh vực chủ đề nòng cốt của WBI

tiếp tục những nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thực

hiện của danh mục hiện tại, nhấn mạnh vào cải

thiện giai đoạn triển khai dự án cho tất cả các dự

án mới Cụ thể, Ngân hàng sẽ tiếp tục phối hợp với

Bộ KH&ĐT và Nhóm 6 Ngân hàng16 để giải quyết

những vấn đề tồn tại lâu nay trong thực hiện dự án

ODA, nhân rộng các thông lệ tốt của các tỉnh, các

Tổng quan về cam kết chiến lược

Việt Nam trong tăng trưởng và giảm nghèo,

16 ADB, AFD, JICA, KfW, KEXIM, và Ngân hàng Thế giới.

Trang 37

mâu thuẫn trong thẩm quyền quản lý, làm suy yếu nỗ lực thực thi các quy định môi trường, và điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế, làm suy yếu trách nhiệm giải trình.

Trụ cột 3 - Cơ hội sẽ hỗ trợ Chính phủ xây

dựng và thực hiện chính sách, sao cho ngày càng có nhiều người dân được hưởng lợi ích

từ quá trình phát triển của đất nước, nhất là khi Việt Nam đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình Như vậy trụ cột này sẽ bao gồm những nỗ lực nhằm giải quyết các vấn

đề như: bất bình đẳng gia tăng, nhất là giữa các nhóm dân tộc thiểu số và các nhóm dân

số khác, hay giữa các hộ nông thôn và các hộ gia đình thành thị; cải cách chính sách và tăng cường thể chế cho các mạng lưới bảo hiểm xã

sẽ giải quyết một trong số những thách thức về

quản trị, đó là các khoảng trống về trách nhiệm

giải trình và phân cấp, minh bạch hóa quản lý

tài chính công

Trụ cột 2 – Tính bền vững sẽ tập trung vào

quản lý tài nguyên nước và đất; bảo tồn rừng

và đa dạng sinh học; kiểm soát ô nhiễm và các

vấn đề liên quan đến tỷ lệ kết nối thấp của

các hộ gia đình với các hệ thống vệ sinh môi

trường; các biện pháp giảm thiểu và thích ứng

trong bối cảnh Việt Nam rất dễ bị tổn thương

bởi biến đổi khí hậu; và quản lý rủi ro thiên tai

trong bối cảnh đất nước ngày càng dễ bị ảnh

hưởng bởi các sự kiện thời tiết cực đoan Với trụ

cột này, Chương trình CPS sẽ giải quyết những

yếu kém trong quản trị như sự thiếu rõ ràng và

HỘP 2 - LỒNG GHéP QUẢN TRỊ

Các cách tiếp cận ở cấp độ dự án, ngành và quốc gia sẽ được kết hợp nhằm đảm bảo rằng vấn đề quản trị được chú ý đầy đủ thông qua tất cả các trụ cột của chương trình CPS:

Ở cấp độ dự án: Các nhóm dự án sẽ được khuyến khích tìm hiểu những vấn đề căn bản để xác định xem dự án có thể

hỗ trợ những gì cho việc cải tiến quản trị (gồm các khía cạnh năng lực thể chế, sự minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và chống tham nhũng), và tìm hiểu xem các vấn đề quản trị có thể tác động như thế nào đến hiệu quả của dự án Tất nhiên các dự án không phải giải quyết tất cả mọi vấn đề, nhưng ít nhất nên xem xét câu hỏi liệu có vấn đề quản trị nào cần giải quyết không, và giải quyết như thế nào Trong từng dự án được đề xuất, các nhóm công tác của Ngân hàng sẽ được yêu cầu xem xét ngay từ quá trình chuẩn bị những câu hỏi sau:

• Đâu là những hạn chế năng lực chủ yếu trong lĩnh vực hoạt động này? Ngân hàng có đang giải quyết các vấn đề này trong những dự án khác không? Dự án được đề xuất có thể làm nhiều hơn thế không, và nếu được thì làm như thế nào?

• Có những cơ hội nào để tăng cường sự minh bạch thông qua dự án này? Dự án có thể được thiết kế để tận dụng một số

cơ hội đó không, và nếu được thì làm như thế nào?

• Có cơ hội để tăng cường trách nhiệm giải trình cho các bên liên quan ngoài chính phủ thông qua kết hợp các cơ chế khuyến khích, báo cáo công khai theo định kỳ và chia sẻ thông tin trong thiết kế dự án đề xuất không?

• Có cơ hội để trao quyền cho các bên liên quan ngoài chính phủ tham gia vào dự án đề xuất và nâng cao chất lượng kết quả không? Ngân hàng sẽ khai thác các cơ hội đó như thế nào?

• Đâu là các rủi ro tham nhũng cụ thể trong quá trình thực hiện, và Ngân hàng sẽ làm gì để giúp giảm thiểu các rủi ro đó? Trong lĩnh vực này, Khung Đánh giá Rủi ro Hoạt động của Ngân hàng sẽ là một công cụ có tính mấu chốt.

Ở cấp độ ngành: Mặc dù không nhất thiết dự án nào cũng phải là dự án về quản trị, nhưng một mong đợi hợp lý đối với

mỗi nhóm hoạt động theo ngành của Ngân hàng là phải lồng ghép tư duy quản trị một cách thật sự và đầy đủ hơn vào kế hoạch phát triển chiến lược của ngành Sẽ phải phân tích các biểu hiện chính và nguyên nhân của sự yếu kém trong công tác quản trị ở từng ngành để cung cấp thông tin cho quá trình thiết kế dự án và đối thoại chính sách Cụ thể, các nhóm công tác theo ngành sẽ được yêu cầu xác định những hạn chế quản trị chính gây trở ngại cho việc thực hiện các mục tiêu thuộc

3 trụ cột của CPS – đó là khả năng cạnh tranh, tính bền vững và cơ hội – cũng như thực hiện các kết quả và chỉ số liên quan đến CPS Dựa trên kết quả phân tích về các hạn chế quản trị, đánh giá thường niên sẽ xác định một số hoạt động ưu tiên và lồng ghép vào chương trình công việc ở Việt Nam.

Ở cấp độ cấp quốc gia: Văn phòng quốc gia sẽ tiến hành đánh giá hàng năm về các kinh nghiệm, thành công, và

khoảng cách tồn tại trong lồng ghép quản trị và có những điều chỉnh cần thiết.

Trang 38

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẽ hợp tác với Việt Nam trong nỗ lực đẩy nhanh quá trình chuyển đổi

từ quốc gia có thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập trung bình

Trụ cột 1 Khả năng cạnh tranh

Kết quả 1.1: Cải tiến Quản lý kinh tế và

Môi trường kinh doanh

1 Khung chính sách kinh tế vĩ mô: Duy

trì khung chính sách kinh tế vĩ mô lành

mạnh (có/không)

2 Quản lý tài chính công: các tỉnh sử

dụng hệ thống quản lý thông tin Kho bạc

và Ngân sách tổng hợp (TABMIS) (số tỉnh)

Ngành tài chính:

3 Cơ quan thông tin tín dụng công có

các thông tin về các khoản vay nợ trong

5 năm gần nhất của các cá nhân và công

ty (%)

4 Các ngân hàng nội địa công bố các số

liệu tài chính và bảng quyết toán trên

trang web của họ (%)

5 Các quy định dựa vào thị trường:

các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi

trong giai đoạn 2011-2015 (số lượng)

Kết quả 2.1: Cải tiến Quản lý tài nguyên thiên nhiên (“Xanh”)

12 Tài nguyên nước: Tăng cường

hiệu quả quản lý nước tại các vùng thí điểm (%)

13 Quản lý địa chính và quản lý đất

đai: Thời gian cần thiết để thực hiện

các giao dịch liên quan đến đất đai – chuyển nhượng (số ngày)

14 Bảo tồn rừng và đa dạng sinh

học: Diện tích rừng trồng của các hộ

sản xuất nhỏ được cấp chứng nhận sản xuất lâm nghiệp bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế (%)

Kết quả 3.1: Tăng cường cơ hội cho người nghèo và các hộ gia đình có khả năng phục hồi sau

các cú sốc

20 Sinh kế: Các hộ dân tại các

vùng mục tiêu cho biết họ đã được cải thiện điều kiện tiếp cận các cơ sở hạ tầng sản xuất cơ bản (%)

23 Số người được tiếp cận các nguồn nước đã cải thiện (i) tại

ĐB Sông Cửu Long và Sông Hồng; (ii) tại các khu vực đô thị mục tiêu

24 Giáo dục: số học sinh hoàn

thành bậc tiểu học tại các tỉnh thuộc dự án SEQAP (%)

25 Y tế: Tỷ lệ người nghèo và

cận nghèo nhập viện và khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập (%)

Kết quả 2.2: Tăng cường bảo vệ và quản lý môi trường (“Sạch”) Giảm ô nhiễm

15 Tăng khối lượng nước thải được

xử lý (m3/ngày)

16 Số người được cải thiện điều kiện vệ sinh (số lượng)

17 Giảm thiểu biến đổi khí hậu:

Giảm phát thải CO2 liên quan đến các hoạt động đầu tư được Ngân hàng hỗ trợ (nghìn tấn)

Kết quả 2.3: Nâng cao khả năng sẵn sàng ứng phó với các thảm họa thiên nhiên và biến đổi khí hậu (“Khả năng

phục hồi”)

18 Quản lý rủi ro thiên tai: các tỉnh

và xã mục tiêu có kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai được cấp đủ vốn để thực hiện (số lượng)

19 Thích ứng với biến đổi khí hậu:

Có khuôn khổ nhất quán để xác định mức độ ưu tiên của các hành động thích ứng với biến đổi khí hậu trong các ngành chủ chốt (có/

không)

Kết quả 1.2: Cải thiện chất lượng và hiệu

quả của các dịch vụ cơ sở hạ tầng

6 Năng lượng: Thời gian gián đoạn

trong hệ thống truyền tải điện 500 KV (số

phút/100 km đường dây)

7 Nước: Giảm khối lượng nước thất thoát

thực tế (m3/ngày)

8 Giao thông: Giảm thời gian đi lại trên

các tuyến hành lang giao thông mục tiêu

Kết quả 1.3: Tăng cường năng lực để đổi

mới & gia tăng giá trị

9 Kỹ năng và các hệ thống đổi mới: Các

sinh viên đại học được hưởng lợi ích từ

việc cải tiến giáo trình, cơ sở vật chất,

phòng thí nghiệm và các hoạt động

nghiên cứu (số lượng)

Các chuỗi giá trị nông nghiệp và doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn

10 Nông dân tại các vùng mục tiêu áp

dụng các thông lệ sản xuất nông nghiệp

tốt (số lượng)

11 Việc làm được tạo ra thêm nhờ các

hoạt động đầu tư được Ngân hàng hỗ trợ

Trụ cột 2

QUẢN TRỊ Giới KHẢ NĂNG PHỤC HỒi

HÌNH 2: CÁC KẾT QUẢ VÀ CHỉ SỐ KẾT QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH CPS TẠI VIỆT NAM

Trang 39

hội và an sinh xã hội nhằm giảm bớt tính dễ bị

tổn thương của các hộ gia đình; các yếu kém

trong cung cấp và tiếp cận các dịch vụ công

cơ bản; và bình đẳng giới, một chủ đề đặc biệt

trong IDA 16

một ưu tiên xuyên suốt cả ba trụ cột của CPS Do

đó, cách tiếp cận lồng ghép sẽ dựa trên 3 nguyên

tắc sau: (i) thúc đẩy một cách có hệ thống các hoạt

động cho vay và nghiên cứu phân tích của Ngân

hàng nhằm hỗ trợ cải tiến quản trị ở Việt Nam; (ii)

cải tiến hiệu quả thực hiện dự án bằng cách tăng

cường hiểu biết và giải quyết một cách lô-gich

(thay vì theo kiểu cơ học) các nguyên nhân gây ra

rủi ro quản trị trong quá trình thực hiện các kết quả

phát triển của dự án; và (iii) duy trì nỗ lực, bao gồm

các điều chỉnh thường xuyên nếu cách tiếp cận tỏ

ra không hiệu quả (xem Hộp 2) Điều này sẽ đem lại

một cách tiếp cận toàn diện hơn cho quản trị, như

kiến nghị của Báo cáo Hoàn thành CPS

khung chiến lược CPS Cách tiếp cận này dựa trên

hai sáng kiến mới hoàn thành gần đây Thứ nhất

là một đánh giá nội bộ của Ngân hàng (Kế hoạch

Hành động Giới Quốc gia) nhằm xác định xem CPS

có thể giải quyết các vấn đề giới như thế nào để

đạt hiệu quả cao hơn, và thứ hai là Đánh giá Giới

Quốc gia Việt Nam do Ngân hàng cùng các đối tác

phát triển khác tiến hành (Xem Phụ chương 9) Sự

hỗ trợ của Ngân hàng cho vấn đề giới trong CPS

có 4 yếu tố chính (i) hỗ trợ Chính phủ tăng cường

thực thi Luật Bình đẳng Giới và Chiến lược Bình đẳng Giới Quốc gia, một phần thông qua xây dựng nhận thức và năng lực về giới cho các bộ ngành liên quan; (ii) hỗ trợ phát triển một hệ thống số liệu giới quốc gia bằng cách kế thừa Hệ thống Chỉ số Thống kê Giới Quốc gia mới được xây dựng gần đây; (iii) áp dụng lăng kính giới để xác định các cơ hội lồng ghép giới một cách hệ thống hơn vào các hoạt động của Ngân hàng, như đã thực hiện trong

Dự án Giao thông Nông thôn 3 (xem Hộp 3), trong

đó bao gồm việc áp dụng nguyên tắc chủ đạo là thu thập dữ liệu phân tách giới một cách có hệ thống, và (iv) giúp thu hẹp khoảng cách kiến thức thông qua nghiên cứu định lượng và định tính về các vấn đề giới Tất cả các lĩnh vực hoạt động này đều có tính xuyên suốt về bản chất và tác động

đã bộc lộ rõ hơn kể từ năm 2007, nên tăng cường khả năng phục hồi của quốc gia được xác định là một ưu tiên chiến lược hiện nay Khủng hoảng

toàn cầu đã làm lộ ra khả năng dễ bị tổn thương của Việt Nam, ở cấp độ kinh tế vĩ mô cũng như cấp

hộ gia đình, đối với các cú sốc từ bên ngoài; ngoài

ra, trên phạm vi toàn cầu, con người ngày càng nhận thức rõ hơn những rủi ro do biến đổi khí hậu đem lại Do đó, khả năng phục hồi được chọn làm chủ đề thứ ba xuyên suốt cả 3 trụ cột của chương trình CPS này, thể hiện qua các khung chính sách kinh tế vĩ mô và ngành tài chính lành mạnh (các lĩnh vực cam kết thuộc Trụ cột 1 – Khả năng cạnh tranh), giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu (các lĩnh vực cam kết thuộc Trụ cột 2 – Tính bền vững), và bảo trợ xã hội cùng với hỗ trợ sinh kế cho

HỘP 3: TRAO QUYỀN CHO PHụ NỮ ĐỊA PHƯƠNG VÀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC DUY TU BẢO DƯỡNG

ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN

Các thách thức liên quan đến giao thông nông thôn gồm có thiếu vốn duy tu bảo dưỡng đường, và khó huy động nhà thầu địa phương để duy tu bảo trì thường xuyên tại các vùng sâu vùng xa Trong thời gian chuẩn bị Dự án Giao thông nông thôn 3 (có DFID đồng tài trợ), nhiều phụ nữ nghèo tại các cộng đồng dân tộc thiểu số là những người chỉ làm ruộng theo thời vụ đã bộc lộ sự quan tâm của họ đối với việc tham gia quản lý các con đường ở địa phương Ngân hàng và DFID đã triển khai một sáng kiến để tập huấn những phụ nữ này về các thông lệ kỹ thuật và xây dựng đường, đồng thời cung cấp cơ hội làm việc chính thức là duy tu bảo dưỡng các con đường ở gần cộng đồng nơi họ sinh sống Hơn 1.500 phụ nữ dân tộc thiểu

số đã được tập huấn, nhưng số người mong đợi cơ hội tương tự còn nhiều hơn thế Trong các mạng lưới đường giao thông nông thôn, 10 – 30 phụ nữ được trả lương để duy tu bảo dưỡng một đoạn đường 1-2 km trong 3 tháng Kết quả, phụ nữ vừa có vị thế kinh tế cao hơn, vừa có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các quyết định của cộng đồng, và có vai trò rõ rệt hơn trong quản lý các công việc gia đình.

Trang 40

Nam, tiến hành một đánh giá toàn diện ngành tài chính (FSAP), các hoạt động hỗ trợ ngân sách hàng năm và chương trình các hoạt động phân tích và tư vấn Ngân hàng sẽ tiếp tục hỗ trợ thực hiện các biện pháp cải tiến quản lý tài chính công (PFM), đặc biệt là hiện đại hóa công tác thu ngân sách, cải cách quản lý và giám sát chi tiêu công, cải cách các luật đầu tư công Ngân hàng sẽ nỗ lực giải quyết những khoảng trống về trách nhiệm giải trình có nguồn gốc từ quá trình phân cấp Ngân hàng và IFC sẽ hỗ trợ thêm nhằm tăng cường sự lành mạnh của ngành tài chính, cải thiện hạ tầng tài chính và điều kiện tiếp cận các dịch vụ tài chính, thông qua phát triển các thị trường vốn Điều này

sẽ bao gồm những hỗ trợ để tăng cường sự tự chủ của Ngân hàng Nhà nước Việt nam, củng cố các khung quy định và giám sát và xây dựng năng lực

để tăng hiệu quả thực thi Các hoạt động của IFC sẽ tập trung phát triển các thị trường tài chính ở Việt Nam theo chiều rộng và chiều sâu để làm cơ chế chính cho việc phân bổ vốn với sự tham gia của các tổ chức tài chính hàng đầu và các tổ chức tài chính mới xuất hiện nằm trong tốp đứng đầu trong nước nhằm tăng cường cơ số vốn và thu hút các đối tác ngân hàng quốc tế để tăng cường và phát triển khả năng cạnh tranh dài hạn của các tổ chức tài chính trong nước Ngân hàng sẽ phối hợp chặt chẽ với IFC để giải quyết các ưu tiên cải cách, bao gồm các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhà nước như ràng buộc ngân sách mềm và quản trị doanh nghiệp yếu kém Ngân hàng và IFC sẽ tăng cường đối thoại với Chính phủ về cải cách doanh nghiệp nhà nước và hỗ trợ tài chính để tái cấu trúc ngành nếu có yêu cầu IFC cũng tiếp tục hỗ trợ giới thiệu các chuẩn mực toàn cầu về quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro, và thu hút các đối tác và

Trụ cột 1 – Các kết quả tác động/Lĩnh vực cam kết của CPS

1.1: Cải tiến quản lý kinh tế và

môi trường kinh doanh

n Khung chính sách kinh tế vĩ mô

n Quản lý tài chính công

n Ngành tài chính

n Các quy định dựa vào thị trường

1.2: Cải tiến chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ cơ sở hạ tầng

n Năng lượng

n Nước

n Giao thông

1.3: Tăng cường năng lực đổi mới

và gia tăng giá trị

n Kỹ năng và Các hệ thống đổi mới

n Các chuỗi giá trị nông nghiệp và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn

người nghèo (các lĩnh vực cam kết thuộc Trụ cột

3 – Cơ hội) Tuy nhiên, không giống như quản trị và

giới là những chủ đề có các chỉ số và mốc thời gian

rõ ràng trong khung kết quả, khả năng phục hồi

được đưa vào khung kết quả thông qua các chỉ số

và mốc thời gian liên quan đến sự ổn định kinh tế

vĩ mô, bảo trợ xã hội, quản lý rủi ro thiên tai và ứng

phó với biến đổi khí hậu

Khung kết quả

Trụ cột 1 – Khả năng cạnh tranh

phủ Chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội

2020 và Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội

2011-2015 đều nhấn mạnh “những đột phá” cần thiết

liên quan đến phát triển các thể chế dựa vào thị

trường, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực Để thực

hiện được những quá trình chuyển đổi sâu rộng

mà chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội nhấn mạnh,

Việt Nam cần có những biến chuyển đồng đều

trong cơ cấu và hiệu quả hoạt động của khu vực

hành chính công, môi trường kinh doanh và việc

làm phi nông nghiệp Chương trình CPS của Nhóm

Ngân hàng với trụ cột “Khả năng cạnh tranh” rất

phù hợp với chiến lược phát triển của Chính phủ và

sẽ hỗ trợ Chính phủ thực hiện thành công chương

trình nghị sự toàn diện nhằm nâng cao chất lượng

tăng trưởng kinh tế và quản lý kinh tế

và môi trường kinh doanh Trên cơ sở phối hợp

với IMF, và thông qua những đối thoại chính sách

thường xuyên, Ngân hàng sẽ tiếp tục đóng góp

để cải tiến công tác quản lý kinh tế vĩ mô của Việt

Ngày đăng: 28/03/2018, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w