- Các cuộc khai thác của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự chuyển biến và phân hóa: giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện, tạo tiền đề bên trong
Trang 1Câu 1: Cơ sở h/ thành TTHCM (Cơ sở khách quan).
a.Bối cảnh l/sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
* B/cảnh l/ sử VN cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
- Chính quyền triều Nguyễn từng bước khuất phục trước các cuộc x/lược của tư bản Pháp, lần lượt ký các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi VN Cho đến cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại Hệ tư tưởng p/kiến đã tỏ ra lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử.
- Các cuộc khai thác của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự chuyển biến và phân hóa: giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện, tạo tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX.
- Các “tân thư”, “tân văn”, “tân báo” và ảnh hưởng của trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào làm cho phong trào yêu nước của n/dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản.
- Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc ta, các sĩ phu Nho học có tư tưởng tiến bộ đã tổ chức những cuộc vận động đ/tranh chống thực dân Pháp theo mục tiêu và phương pháp mới: Chủ trương cầu ngoại viện, bạo lực của Phan Bội Châu; chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” của Phan Chu Trinh; con đường khởi nghĩa anh hùng của Hoàng Hoa Thám tất cả đều thất bại.Qua đó, đã thúc đẩy NAQ ra đi tìm đường cứu nước mới của nhân dân VN.
* Bối cảnh quốc tế:
-CNTB trở thành CNĐQ, CNTB xác lập sự thống trị trên phạm vi thế giới Lúc này không chỉ dừng lại ở sự
áp bức giai cấp trong chính quốc mà đã mở rộng ra sự áp bức đối với các dân tộc khác Vì thế, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không chỉ còn là hành động riêng lẻ nữa mà trở thành cuộc đấu tranh chung của dân tộc thuộc địa chống ĐQ.
- Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trở thành cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản trên TG.
- Sự thắng lợi của CM tháng 10 Nga, CNXH trở thành hiện thực trên TG, đánh dấu bước chuyển biến lớn của thời đại Thời đại quá độ lên CNXH và giúp HCM nhận ra một chân lý của thời đại “Chỉ có CNXH, CNCS mới giải phóng được các d/tộc bị áp bức và những người lao động trên TG khỏi ách nô lệ”.
b.Những tiền đề tư tưởng – lý luận.
* Giá trị truyền thống của dân tộc VN.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từchủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; từ tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách trong hoạn nạn khó khăn; từ truyền thống lạc quan yêu đời; từ truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài, khiêm tốn
- Trong những giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là dòng chủ lưu chảy suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành chuẩn mực cao nhất trong bảng giá trị tinh thần văn hóa Việt Nam, trở thành đạo lý sống cao cả nhất của người Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước.
* Tinh hoa văn hóa của nhân loạ
- Tiếp thu tư tưởng và văn hóa phương Đông:
+ Nho giáo
Trang 2+ Phật giáo
+ Tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn.
- Tiếp thu tư tưởng và văn hóa phương Tây:
+ Ham mê môn lịch sử Pháp và tìm hiểu cuộc đại cách mạng Pháp năm 1789.
+ Ca ngợi ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập và quyền sống của con người ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập năm
1776 của nước Mỹ.
+ Chịu ảnh hưởng tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng như Vonte, Monte, Croxo,…
+ Rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp.
* Chủ nghĩa Mác – Lênin
- Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tư tưởng của Người cũng góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác-Lênin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập, tự do.
- Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh đã diễn ra dựa trên:
- Nền tảng của những tri thức văn hóa tinh túy.
- Mục tiêu cứu nước, giải phóng dân tộc.
- Khả năng độc lập, tự chủ và sáng tạo.
- Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh đã diễn rất khó khăn, nhưng chân thành, giản dị.
- Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin từ cảm tính đến lý tính: theo phương pháp mác xít, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất, vận dụng phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, không dập khuôn, máy móc, giáo điều
- Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới.
Câu 2: CM giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường CMVS.
a Bài học từ sự thất bại của con đường cứu nước trước đó:
- Các cuộc đ/tranh giành độc lập cuối TK XIX diễn ra theo hệ tư tưởng p/kiến đều thất bại là do chưa có đường lối và phương pháp CM đúng đắn
- Các cuộc đấu tranh giành độc lập đầu TK XX: con đường bạo động của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đuổi
hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; con đường của Phan Chu Trinh cũng chẳng khác nào “xin giặc rủ lòng thương”; con đường của Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến
- Con đường của Nguyễn Thái Học theo hệ tư tưởng tư sản, đã chứng tỏ giai cấp tư sản VN không đảm đương được sứ mệnh dân tộc
HCM sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước đã bị biến thành thuộc địa, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, HCM được chứng kiến phong trào cứu nước của ông cha Người nhận thấy con đường ấy đều mang nặng cốt cách phong kiến Người khâm phục tinh thần cách mạng của cha ông, nhưng không tán thành con đường CM của họ Người xuất ngoại, đến nhiều quốc gia trên TG để tìm một con đường cứu nước mới
b Cách mạng tư sản là không triệt để:
Trang 3Người đọc Tuyên ngôn độc lâp của nước Mỹ, tìm hiểu thực tiễn cuộc cách mạng Tư sản Mỹ, đọc tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của CM Pháp, tìm hiểu CMTS Pháp Người nhận thấy: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì tước lục c/nông, ngoài thì áp bức thuộc địa” Bởi lẽ đó, Người không đi theo con đường CMTS
c Con đường giải phóng dân tộc:
- HCM thấy được CM tháng 10 Nga không chỉ là một cuộc CM vô sản, mà còn là một cuộc CM giải phóng
dân tộc Nó nêu tấm gương sáng về sự giải phóng các dân tộc thuộc địa và “Mở ra trước mắt họ thời đại CM chống
đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”
- Người hoàn toàn tin theo Lênin và quốc tế III vì đã bênh vực cho các dân tộc bị áp bức Người thấy trong lý luận của Lênin một phương hướng mới để giải phóng dân tộc: Con đường CMVS
Ý nghĩa :Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sỹ phu và của các nhà CM có xu hướng tư sản đương thời,
HCM đã đến với học thuyết CM của chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường CMVS” chỉ có CNXH, Chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ
Câu 3: Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trứơc cách mạng vô sản ở chính quốc.
a Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo
* Sức sống của chủ nghĩa tư bản chủ yếu tập trung ở các nước thuộc địa
- HCM nhận thấy sự tồn tại và phát triển của CNTB là dựa trên sự bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc và nhân
dân các dân tộc thuộc địa Vì vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc phải kết hợp chặt chẽ với các cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa thì mới tiêu diệt được hoàn toàn CNTB
- Hơn nữa, theo đánh giá của HCM trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa sự tồn tại, phát triển của CNTB chủ yếu dựa vào việc bóc lột nhân dân các nước thuộc địa.Vi vậy, cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc trước kia chẳng khác nào đánh rắn đằng đuôi
* Khả năng cách mạng to lớn của nhân dân các dân tộc thuộc địa.
- Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cách mạng thuộc địa có tầm quan trọng đặc biệt Trong đó, nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn
- Chính sách khai thác thuộc địa hết sức tàn bạo của CNĐQ là mâu thuẫn giữa nhân dân thuộc địa với CNĐQ ngày càng gay gắt Vì vậy, mà tiềm năng cách mạng của các dân tộc bị áp bức là rất to lớn
- Trong khi yêu cầu Quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản quan tâm đến cách mạng thuộc địa HCM vẫn khẳng định công cuộc giải phóng nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực tự giải phóng
* Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập
- Người đánh giá cao sức mạnh của một dân tộc vùng dậy chống đế quốc thực dân Người chủ trương phát huy
nỗ lực chủ quan của dân tộc, tránh tư tưởng bị động trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài.“Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”
- Tinh thần yêu nước và Chủ nghĩa dân tộc của các dân tộc thuộc địa là một sức mạnh tiềm ẩn của cách mạng giải phóng dân tộc Sức mạnh đó nếu được Chủ nghĩa Mác – Lênin giác ngộ và soi đường thì CMGPDT ở các nước thuộc địa sẽ có một sức bật rất lớn và có khả năng chủ động cao so với CMVS ở chính quốc
b Quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc
Trang 4- Trong phong trào cộng sản quốc tế đã từng tồn tại quan điểm xem thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc Quan điểm này vô hình dung đã làm giảm tính chủ động, sáng tạo của các phog trào cách mạng ở thuộc địa Hồ Chí Minh đã phê phán và chỉ ra sai lầm của quan điểm đó
- Theo Hồ Chí Minh, giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế
quốc Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ lệ thuộc hay quan hệ chính - phụ.
Năm 1925 Người viết, “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vời khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”
- Nhận thức đúng vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa và sức mạnh dân tộc, Nguyễn Ái Quốc cho
rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước và giúp đỡ cách mạng vô sản ở chính quốc.
Bởi vì “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở thuộc địa”, và “Ngày mà hàng trăm nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ
có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”
Ý nghĩa :Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận thực tiễn và lý luận to lớn; một cống hiến quan trọng
vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã được thắng lợi của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong gần một thế kỷ qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn
Câu 4: XD Nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ của Nhân dân.
HCM có quan điểm nhất quán về xây dựng 1 nhà nước mới ở VN, đó là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ Đây là quan điểm cơ bản nhất của HCM về xây dựng nhà nước VN dân chủ cộng hòa cho người sáng lập Quan điểm đó xuyên suốt và có tính chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của nhà nước cách mạng ở Việt Nam
a Nhà nước của dân
- Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong Nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân Quan điểm trên được thể hiện qua hai bản Hiến pháp mà Người đã lãnh đạo soạn thảo trong suốt
24 năm làm Chủ tịch nước là Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959
- Nhân dân làm chủ Nhà nước tức là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước Nhân dân có bầu ra các đại biểu,
ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Đồng thời, nhân dân cũng có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với
sự tín nhiệm của nhân dân
- Người cũng nêu lên quan điểm Dân là chủ và dân làm chủ Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân Do đó, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước
Trong nhà nước của dân, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Nhà nước của dân phải bằng nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là công bộc của dân
b Nhà nước do dân
Trang 5- Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ Nhà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra, do dân ủng
hộ, đóng thuế để hoạt động Do đó, khi cơ quan Nhà nước không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì
có quyền bãi miễn nó Tuy nhiên, quyền lợi, quyền hạn của nhân dân bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ của người công dân
- HCM quan niệm phải xây dựng Nhà nước Việt Nam mới hợp hiến, hợp pháp Nhà nước do nhân dân tạo ra và quản lý ở chỗ:
+ Toàn bộ công dân bàu ra Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
+ Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Chính phủ
+ Hội đồng Chính phủ là cơ quan hành pháp Nhà nước cao nhất, thực hiện các nghị quyết của Quốc hội và chấp hành p/luật
+ Mọi công việc của bộ máy Nhà nước trong việc quản lý XH đều thực hiện ý chí của dân
c Nhà nước vì dân
- Nhà nước vì dân là nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vị lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ lợi ích nào khác Đồng thời, cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu cử, được nhân dân thừa ủy quyền và cũng là người lãnh đạo, hướng dẫn của nhân dân
- Nhà nước đó là một Nhà nước trong sạch, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính Phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và được học hành Cán bộ nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh
- Cán bộ thì phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính , là người lãnh đạo thì phải có trí tuệ hơn người, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi với dân, trọng dụng hiền tài Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài Cán bộ là đầy tờ của dân chứ không phải là làm quan phát tài
Ý nghĩa: Tư tưởng HCM về xây dựng nhà nước của dân , do dân, vì dân có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, sâu
sắc định hướng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới ở VN Học tập và quán triệt tư tưởng này để xây dựng được 1 nhà nước ngang tầm với nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới là vô cùng quan trọng
Câu 5: Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam
- Đề cập các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước Nga và của phong trào công nhân châu Âu, Lênin nêu hai yếu tố, đó là sự kết hợp chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân
- Khi đề cập đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, bên cạnh hai yếu tố là chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân, Hồ Chí Minh còn kể đến yếu tố thứ ba, đó là phong trào yêu nước Đây là một quan điểm quan trọng của Hồ Chí Minh về sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam
- Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với quá trình hình thành của Đảng Cộng sản Việt Nam.Đồng thời Người cũng đánh giá rất cao vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam Nhưng Người nêu thêm yếu tố phong trào yêu nước, coi nó là một trong ba yếu tố kết hợp dẫn đến việc hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam là vì:
+ Phong trào yêu nước có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam Là giá trị văn hoá trường tồn trong văn hoá Việt Nam
+ Phong trào công nhân kết hợp được với phong trào yêu nước bởi vì hai phong trào đó đếu có mục tiêu chung: giải phóng dân tộc, làm cho Việt Nam được hoàn toàn độc lập, xây dựng đất nước hùng cường Hơn nữa, phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân, phong trào công nhân xét về nghĩa nào đó nó lại là phong trào yêu nước
Trang 6+ Phong trào nông dân kết hợp với phong trào công nhân Nói đến phong trào yêu nước Việt Nam phải kể đến phong trào nông dân Do đó giữa phong trào công nhân và phong trào yêu nước có mối quan hệ mật thiết với nhau + Phong trào yêu nước của trí thức Việt Nam là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Chính những người này trở thành những yếu nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ý nghĩa: HCM là người sáng lập ra ĐCSVN và cũng là người trực tiếp lãnh đạo, rèn luyện ĐCSVN Sự ra đời của
ĐCSVN là một sự sáng tạo to lớn của HCM phù hợp với thực tiễn CMVN đồng thời cũng đóng góp vào kho tang lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin và làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin
Câu 6: Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam
- HCM khẳng định: ĐCSVN là Đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang
bản chất giai cấp công nhân
- Nội dung quyết định bản chất g/cấp công nhân của Đảng là:
+ Mục tiêu của Đảng cần đạt tới CNVS
+ Nền tảng tư tưởng của Đảng: là Chủ nghĩa Mác–Lênin
+ Đường lối của Đảng: vì độc lập tự do và CNXH, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người
+ Nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng: Đảng tuân thủ một cách nghiêm túc, chặt chẽ nhưng nguyên tắc XD Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản
- Từ việc xác định quy luật hình thành của ĐCSVN, Người nhiều lần khẳng định Đảng còn là đảng của dân tộc VN
+ Trong báo cáo chính trị tại Đại hội II (2/1951), HCM khi nêu lên Đảng ta còn là Đảng của nhân dân lao động và của toàn dân tộc, Người nêu lên toàn bộ cơ sở lý luận và các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng mà những nguyên tắc này tuân thủ một cách chặt chẽ thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản của Lênin
+ Năm 1961, Bác viết: “Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc không thiên tư, thiên vị”
+ Năm 1965, HCM khẳng định lại: Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc
Từ quy luật hình thành và phát triển đảng, HCM đã đi đến luận điểm ĐCSVN là Đảng của giai cấp công nhân đồng thời là Đảng của cả dân tộc Việt Nam Đảng là đội tiền phong của đạo quân vô sản, Đảng tập hợp vào hàng ngũ của mình những người “tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và quốc tế cộng sản… dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận của Đảng”
Cách diễn đạt của HCM về bản chất giai cấp công nhân của Đảng xét về mặt ngôn từ có chỗ khác nhau nhưng thực chất Người luôn khẳng định tính chất giai cấp công nhân của ĐCSVN
Điều này thể hiện:
- Về tính giai cấp công nhân
+ Đảng tổ chức và sinh hoạt theo những nguyên tắc Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản
+ Đảng đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
+ Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ
tư tưởng của giai cấp công nhân
- Về tính dân tộc của Đảng
Trang 7+ Đảng đại diện và tiêu biểu cho lợi ích của toàn dân tộc, hoạt động của Đảng là nhằm đem lại lợi ích cho toàn thể dân tộc Hồ Chí Minh viết: “ngoài lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”
+ Cơ sở xã hội của Đảng rất rộng lớn cả dân tộc bao gồm cả quốc dân, trừ bọ phản quốc và tham ô ra ngoài+ Đảng viên của Đảng bao gồm những người Việt Nam yêu nước, những người con ưu tú của dân tộc
+ Thành phần xuất thân của đảng viên rất đa dạng: công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản…
Ý nghĩa: Quan niệm của HCM về bản chất ĐCSVN có ý nghĩa to lớn đối với CMVN Đã tập hợp được sức mạnh
dại đoàn kết toàn dân tộc để tạo ra 1 sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời cũng quy
tụ vào trong tổ chức Đảng những người con ưu tú nhất của dân tộc VN đảm đương được sứ mệnh của mình, dẫn dắt
cả dân tộc VN đạt được nhiều thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước
Câu 7: Quan niệm về Đảng Cộng sản VN cầm quyền.
* Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền trở thành đảng cầm quyền
- Qua những năm tháng thực tiễn tìm tòi học hỏi, nghiên cứu lý luận, HCM đã tìm thấy con đường cách mạng
ở chủ nghĩa Mác – Lênin và quyết định đi theo con đường của cách mạng tháng Mười vĩ đại HCM người cộng sản đầu tiên của VN đã sớm xác định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng VN
- Từ lý tưởng cao cả ấy, HCM thấy cần phải có một đảng lãnh đạo phong trào cách mạng để thực hiện mục tiêu trên Chính vì vậy, từ những năm 1920 trở đi, Người tích cực chuẩn bị cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức để tiến tới thành lập Đảng, HCM nhất quán cho rằng cách mạng VN muốn thành công phải đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin
- Đảng CSVN là Đảng CM chân chính, mang bản chất của giai cấp công nhân Đảng không bao giờ “hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho giai cấp khác” Đảng dìu dắt giai cấp vô sản, lãnh đạo giai cấp vô sản, lãnh đạo cách mạng VN là để đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc Đảng là “tận tâm”, “tận lực”, “phụng sự” và “trung thành” với lợi ích của dân tộc VN, Đảng không còn lợi ích nào khác
- Chỉ có một Đảng như thế mới có thể đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, phồn vinh cho đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH
- Với đường lối chính trị đúng đắn, tổ chức chặt chẽ, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành chính quyền, thành lập nước VN trở thành Đảng cầm quyền
- Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng VN qua 2 thời kỳ: từ năm 1930 đến năm 1945 là thời kỳ chưa giành được chính quyền; từ năm 1945 đến nay là thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ được chính quyền thực dân phong kiến
để xây dựng chính quyền nhân dân, để trở thành Đảng cầm quyền
* Quan niệm của HCM về Đảng cầm quyền.
“Đảng cầm quyền” là khái niệm khoa học dùng trong khoa học chính trị, chỉ đạo một đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để điều hành, quản lý đất nước nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình
- Theo HCM, Đảng cầm quyền là Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực nhà nước và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
- Phương thức lãnh đạo, công tác chủ yếu của Đảng là giáo dục, thuyết phục, vận động tổ chức quần chúng vào đấu tranh giành chính quyền
Trang 8- Theo HCM, bản chất của Đảng không thay đổi Mục đích, lý tưởng của Đảng vẫn là giải phóng giai cấp, triệt
để giải phóng con người, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân và tiến lên CNXH Với chủ tích HCM, “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” là bản chất của CNXH Đó là điểm xuất phát để xây dựng Đảng ta xứng đáng với danh hiệu
“Đảng cầm quyền”
Đó là một điển hình mẫu mực về mối quan hệ gần gũi, thân thiết hiếm có giữa lãnh tụ với quần chúng, ngay ở những giây phút lịch sử trang trọng nhất
Hai là, Hồ Chí Minh yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải đi đúng đường lối quần chúng, đồng thời bản thân
Người nêu cao tấm gương về lòng yêu mến và tin tưởng rất mực vào khả năng và sức mạnh của nhân dân Bác nói:
"Nước lấy dân làm gốc", "Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" Bác thường xuyên căn dặn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, và phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân
Ba là, cán bộ, đảng viên phải biết phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân Bác nói: "Bao
nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại "
Bốn là, Hồ Chí Minh thường yêu cầu cán bộ, đảng viên “phải từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng".
Người đã nhiều lần phê phán tệ xa rời quần chúng, lên mặt "làm quan cách mạng”, "quan nhân dân”, không thấy mình là đày tớ, người học trò của nhân dân Bác đã nêu ra một quan điểm rất rõ: Không phải cứ viết lên trán hai chữ
"cộng sản" thì đương nhiên sẽ được mọi người quý trọng Quần chúng nhân dân chỉ quý trọng những người có đức,
có tài, hết lòng phụng sự nhân dân.Phải yêu dân, kính dân thì dân mới dành sự yêu kính cho mình
2 Phong cách dân chủ
Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
Trước hết, theo Hồ Chí Minh, mọi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong
tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời tinh thần ấy cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người
Hồ Chí Minh không bao giờ đặt mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, mà luôn luôn tranh thủ bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội, khi cần thiết, triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt - một hình thức “Diên Hồng” của thời đại mới - để xin ý kiến các đại biểu quốc dân
Thứ hai, là phải mở rộng dân chủ đề phát huy sức mạnh của tập thể Người thường nói: Đề ra công việc, đẻ ra
nghị quyết, không khó, vấn đề là thực hiện nó Ai thực hiện? - Tập thể, quần chúng Vì vậy, có dân chủ, bàn bạc tập thể mới cùng thông suốt, nhất trí, mới cùng quyết tâm thực hiện, tránh được "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" Sở
dĩ xảy ra mất đoàn kết vì người đứng đầu ở nơi đó còn chuyên quyền, độc đoán, áp đặt chủ quan, trong hội nghị thì mọi người miễn cưỡng đồng tình, sau hội nghị, nếu đã không thông thì sẽ không quyết tâm thực hiện Vì vậy, Người
yêu cầu: "Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình" "Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến"; "thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó
khăn" Bản thân Người là tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ
Thứ ba, là nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ
nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ Người giải thích: "Tập thể
lãnh đạo là dân chủ Cá nhân phụ trách, tức là tập trung.Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”.
3 Phong cách nêu gương
Trang 9Theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm
Trước hết, cần nêu gương trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc Đối với mình phải
không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc "dĩ công vi thượng" (để việc công lên trên, lên trước việc tư)
Thứ hai, muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy
gian khổ, hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo, ở Người đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và đời tư, giữa đạo đức vĩ nhân và đạo đức đời thường Khi địa vị càng cao, uy tín càng lớn, Hồ Chí Minh càng ra sức tự hoàn thiện,
- là vì m/đích đó Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được c/quyền, ủy thác cho tôi gánh việc C/ phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một m/đích, làm cho ích quốc lợi dân”.
3 Đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị và khiêm tốn hết mực
Tấm gương đạo đức HCM được thể hiện trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, đó là đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị và đức khiêm tốn hết mực Người coi khinh sự xa hoa để sống một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần, kiệm, liêm, chính một cách cần mẫn
HCM luôn luôn nói đi đôi với làm Trong hành trình tìm đường cứu nước, dù ở đâu, làm gì, HCM chấp nhận mọi công việc, miễn là việc đó có lợi cho tổ chức, cho cách mạng Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị trí cao nhất nhưng luôn trung thành, tận tụy vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, không mưu cầu
lợi ích riêng cho cá nhân và gia đình Người tâm sự khi phải giữ trọng trách Chủ tịch nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận.Bao giờ đông bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui Tôi chỉ có một sự ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biết để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.
Tư tưởng và tấm gương “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào” một lần nữa lại được HCM trịnh trọng tuyên bố trước kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (31-10-1946): “Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm.Tôi xin nhận Giờ tôi tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: HCM không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan, phát tài” Trong lời
tuyên bố của HCM, chúng ta chú ý rằng Người nhấn mạnh việc đảm nhận chức vụ trong một hoàn cảnh đất nước khó khăn, đầy gian khổ, hy sinh khi “Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất” Chức vụ đó là do Quốc hội (nhân dân) ủy thác thì phải gắng sức làm Còn khi đồng bào đã cho lui thì lại vui vẻ trở về cuộc sống của một người dân bình thường
Người luôn khẳng định: Sự nghiệp anh hùng cách mạng Việt Nam là của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta;
còn khuyết điểm thì Người nhận về mình Hiếm có một vị lãnh tụ nào trên thế giới đứng trước toàn dân để Tự phê bình, nhận lấy khuyết điểm của mình và cho rằng do mình “tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự
mong muốn của đồng bào” Có lẽ, Hồ Chí Minh là lãnh tụ duy nhất trên thế giới có nhiều đóng góp vĩ đại cho Tổ quốc mình, nhưng khi đi vào cõi vĩnh hằng trên ngực áo không hề có bất kỳ một tấm huân, huy chương nào
* Phong cách của HCM
Trang 10Phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cũng to lớn của Đảng, của dân tộc ta, mãi mãi là nguồn sáng bất tận soi rọi vào mỗi tâm hồn con người Việt Nam, hướng cho mọi người đến với chân, thiện, mỹ của cuộc sống Người là tấm gương giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều thiện chống lại thói
hư, tật xấu Học tập và làm theo phong cách vì dân, trọng dân, gần dân của Người để không ngừng củng cố lòng tin của nhân dân với cán bộ, đảng viên, cũng như củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
1 Phong cách quần chúng.
Phong cách quần chúng trong tư tưởng HCM bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghía Mác - Lênin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng HCM luôn có lòng tin vô tận đối với quần chúng Người luôn luôn chăm lo tăng cường mối liên hệ với quần chúng, coi đó là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
Phong cách quần chúng trong tư tưởng HCM thể hiện bằng phong cách sâu sát quần chúng, vì lợi ích của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, của những người chiến sĩ cộng sản suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Trước hết, HCM yêu cầu cán bộ, đảng viên gần dân, thấu hiếu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và bản thân
Người là tấm gương sáng về phong cách gần dân Sự gần gũi đó được thể hiện ngay từ phút đầu tiên Người ra mắt quốc dân Khi vừa đọc một đoạn Tuyên ngôn Độc lập, Người đã dừng lại hỏi: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?" Chỉ là một câu hỏi thôi, một câu hỏi bình dị, tự nhiên mà thực sự đã làm xúc động trái tim hàng chục triệu đồng bào toàn quốc! "Cả muôn triệu một lời đáp: Có! Như Trường Sơn say gió Biển Đông"
Câu 8: Xây dựng Đảng – Quy luật tồn tại và phát triển của Đảng
- Trình bày quan điểm HCM về xây dựng Đảng
+ XD Đảng CSVN trong sạch, vững mạnh chiếm 1 vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng HCM.///+
XD Đảng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài vì khi CM gặp khó khăn hay cả khi CM đang trên đà thắng lợi cũng rất cần đến XD Đảng
+ XD Đảng gắn liền với sự tồn tại của Đảng
- Tính tất yếu khách quan của công tác XD và chỉnh đốn Đảng được HCM lý giải theo các căn cứ sau:
+ XD chỉnh đốn đảng bị chế định bởi quá trình phát triển liên tục của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo Trước những diễn biến hết sức phức tạp của những điều kiện khách quan và chủ quan do đó bản thân Đảng phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới để vươn lên làm tròn trọng trách trước giai cấp và dân tộc
+ Hoàn cảnh KT – XH có cả mặt tốt và mặt xấu, cái xấu có thể ảnh hưởng đến cán bộ Đảng viên => ảnh hưởng tới đảng do đó phải XD và chỉnh hướng Đảng
+ XD và chỉnh đốn Đảng là cơ hội của mỗi ván bộ Đảng viên tự rèn luyện giáo dục tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó Đặc biệt là giữ gìn những phẩm chất tốt đẹp
+ Trong điều kiện Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền thì việc XD và chỉnh đốn Đảng được HCM coi là công việc phải tiến hành thường xuyên vì HCM thấy rõ được tính 2 mặt của quyền lực
Ý nghĩa: XD Đảng theo tư tưởng HCM có 1 ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Đảng ta đã trở thành Đảng
cầm quyền Chính vì vậy XD Đảng mang tính chất quy luật và là nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân Đảng Đổi mới Đảng sẽ làm cho toàn Đảng trở thành 1 khối thống nhất về nhận thức và tư tưởng làm cơ sở cho sự thống nhất về hoạt động đủ sức trèo lái con thuyền CMVN vượt qua thử thách
Câu 9: Vai trò và sức mạnh của đạo đức
* Đạo đức là cái gốc của Người cách mạng