1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở khoa học của việc xác định lợi nhuận định mức trong việc hình thành giá sàn mua nông sản phẩm

55 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lợi nhuận là nhu cầu tất yếu để tái sản xuất và tái sẵn xuất trở rộng 1/Những vấn đề cơ bản về giá trị, giá cả và lợi nhuận 1.Giá trị và giá cả 2.Tỷ suất lợi nhuận bình quân TH/LƯợi nhuậ

Trang 1

Lợi nhuận là nhu cầu tất yếu để

tái sản xuất và tái sẵn xuất trở rộng 1/Những vấn đề cơ bản về giá trị, giá cả và lợi nhuận

1.Giá trị và giá cả

2.Tỷ suất lợi nhuận bình quân

TH/LƯợi nhuận là nhu cầu tất yếu để tái sản xuất và tái sản xuất

1.Trong chế độ công hữu xã hội về ruộng đất

2.Đảm bảo lợi nhuận định mức là nhu cầu tối thiểu để

tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng

PHẦN THỨ HAI

Thực hiện về cấu thành lợi nhuận trong giá mua nông sẵn

ở nước ta qua các thời kỳ Thực tiễn và kinh nghiệm ở một

nước trên thế giới

1/Thực trạng về cấu thành lợi nhuận trong giá mua nông sản ở

nước ta thời gian qua

Trang

1-3

4-7

T-12

12-23

Trang 2

I/Thuc tién va kinh nghiệm ở một số nước trong việc đầu tư

vào sản xuất nông nghiệp, quần lý, điều hành giá cả nông sản

bao dam lợi ích cho người sản xuất

PHAN THUBA

Cơ sơ khoa học xác định lợi nhuận định mức và một số giải

pháp cơ bản bảo đâm cho giá mua thực hiện được lợi

nhuận định rrưức

1/CƠơ sở khách quan để hình thành lợi nhuận định mức trong

giá mua nông sản

1.Thuế nông nghiệp

2.Các loại quỹ của hợp tác xã hoặc của tập đoàn sản xuất

11/Phương pháp hình thành lợi nhuận định mức trong giá mua

nông sản

1.Thuế sử dụng đất nông nghiệp

2.Các loại quỹ của hợp tác xã

3.Quỹ văn hoá - xã hội

4 Quỹ phất triển sản xuất

II/Một số giải pháp cơ bản đảm bảo cho giá mua thực hiện

được lợi nhuận định mức

Trang 3

LOI NHUAN BINH MUC TRONG VIEC HINH THANH

GIA SAN MUA NONG SAN PHAM

LOI NOI DAU

Nông nghiệp nước ta hiện nay và trong những năm tới vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Mấy năm gần đây thị giá trị

tổng sản phẩm nông nghiệp giảm dân xuống chỉ còn khoảng 30-40%

trong tổng giá trị sản phẩm xã hội; nhưng kim ngạch xuất khẩu nông

sản hàng hoá chiếm tới 46-52% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong đó

nhiều nông sản quan trọng đã hình thành những vùng sản xuất tập

trung, lượng xuất khẩu mỗi năm một tăng, đứng thứ hai, thứ ba thế giới

như gạo, cà phê, hạt điều , có loại mỗi năm đem về cho đất nước hàng

tỷ đô la Lao động nông nghiệp còn tới 67% lao động cả nước Vì vậy

“phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với chế biến nông, lâm, thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp

hoá, hiện đại hoá” là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu

được Đại hội Đảng lần thứ VIHI đề ra cho toàn Đảng, toàn dân ta (Văn

kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VINH, trang 170)

Đặc điểm lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp là phụ thuộc

nhiều vào điều kiện tự nhiên Sự rủi ro do tác động của điều kiện tự nhiên, hoặc do cung-cầu sẽ làm thay đổi chí phí sản xuất nông sản,

hoặc làm cho giá nông sản lên xuống thất thường, bất ổn định Nếu hệ

quả của các biến động trên làm cho giá cả thấp hơn chỉ phí sản xuất thì người nông dân sẽ giảm sản xuất, hoặc không tiếp tục sản xuất nữa

Tình hình đó sẽ bất lợi cho sự phát triển của nên kinh tế nới chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Khi đó sẽ tác động ngược trở lại đối với

chính người nông dân Nông dân vốn gắn bó với đất và trên mỗi vùng

đất lại chỉ thích hợp với một, hoặc một số loại cây trồng nhất định, nếu sản xuất không có hiệu quả thì việc tiếp tục sản xuất sẽ rất khố khăn và

Trang 4

tất nhiên xã hội lại có thể thiếu nông phẩm tiêu đùng, “nhân - quá” này

sẽ đưa đến kết quả là không thể đạt được mục tiêu đối với sản xuất nông nghiệp mà Đại hội VIH của Đảng đã đề ra

Vì vậy, với tư cách là người quản lý nền kinh tế, Nhà nước phải giải quyết khâu then chốt là bảo dam cho người nông dân, dù có phải sản xuất trong điều kiện khó khăn của tự nhiên hay thị trường vẫn bù đấp được chi phí sản xuất và có lợi nhuận

Để làm được điều đó, trong cơ chế thị trường có sự quản lý của

Nhà nước thì Nhà nước phải xác định được giá sàn mua nông sản để

làm chuẩn tối thiểu cho việc điều hành giá cả và thị trường Trước hết là

những nông sản có vị trí quan trọng trong nền kinh tế

Trong cơ cấu giá sàn, tất nhiên bao gồm cả chỉ phí sản xuất và lợi

nhuận

Chỉ phí sản xuất trong giá sàn bao gồm toàn bộ chỉ phí vật chất

và lao động mà người nông đân đã đầu tư vào một chu kỳ sản xuất để

tạo ra sản phẩm, đã có những công trình nghiên cứu vấn đề này

“Lợi nhuận trong giá sàn bao nhiêu?” là một vấn đề vừa mang

tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn mà cả người quản lý và người sản xuất đều quan tâm, bởi vì trong điều kiện thiên nhiên và thị trường bất

lợi cho sản xuất thì kết quả phổ biến của sản xuất là lợi nhuận thấp,

hoặc không có lợi nhuận, thậm chí bị lỗ Chính vì vậy, đề tài này sẽ nêu lên một số vấn dé cơ bản về “Cơ sở khoa học của việc xác định lợi

nhuận định mức trong việc hình thành giá sàn mua nông sản phẩm”

nhằm gớp phần vào việc xây dựng chính sách giá đối với sản xuất nông nghiệp trong cơ chế thị trường, bảo đảm cho người nông dân sản xuất

đạt được hiệu quả, để họ yên tâm sản xuất góp phần thực hiện nhiệm vụ

và mục tiêu đối với nông nghiệp mà Đại hội VII của Đảng đã đê ra

Trang 5

- Lợi nhuận là nhu cầu tất yếu để tái sản xuất và tái sản xuất mở

Trang 6

PHAN THU NHAT

LỢI NHUẬN LÄ NHU CẨU TẤT YẾU ĐỂ TẢI SẢN XUẤT

VA TAISAN XUAT MO RONG

1.Giá trị và giá cd

Trong kinh tế thị trường yếu tố mà cả người sản xuất và người kinh doanh đều quan tâm là giá cả thị trường Giá cả thị trường quyết định lợi nhuận cho người sản xuất và kinh doanh Các quyết định trong việc lựa chọn phương án đầu tư, chọn các yếu tố sản xuất để thu lợi

nhuận tối đa đều phải tính đến giá cả Giá cả thị trường là “tín hiệu” để

đưa ra các quyết định đầu tư sản xuất kinh doanh, đồng thời giá cả cũng

là “tín hiệu” để Nhà nước điều hành quản lý trong những trường hợp cần thiết Các nhà kinh tế học đã lý luận rất đúng về sự hình thành giá

cả là:

Một là theo ý niệm của các nhà kinh tế học cổ điển như A-Smith

và D.ricacdô đã cho rằng: giá trị thực hiện (giá cả) là biểu hiện bằng

tiên của giá cả tự nhiên (giá trị hàng hoá) Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã kế thừa, phát triển tư tưởng trên và đã đưa ra khái niệm giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Theo Các Mác:

“Giá cả, tự nó không phải có gì khác mà là biểu hiện bằng tiền của giá

trị”

Tuy diễn đạt khác nhau nhưng các nhà kinh tế cổ điển đêu để cập

đến vấn đề cốt lõi nhất của giá cả là giá trị hàng hoá Song các khái niệm trên còn rất đơn giản chỉ phù hợp và đầy đủ trong điều kiện sản

xuất hàng hoá giản đơn, khi giá cả chỉ phản ánh giá trị của hàng hoá nội

địa, khi tiền tệ còn là phạm trù thuần tuý làm phương tiện lưu thông hàng hoá, với những giả định là chưa có giao lưu hàng hoá quốc tế và giá trị tiên tệ trong một Quốc gia ổn định và chưa có thị trường tài chính

Quốc tế phát triển

(1) Các Mác: tiền công giá cả và lợi nhuận nhà xuất bản sự thật 1946 trang 44

Trang 7

vừa độc lập, vừa phụ thuộc vào thị trường hàng hoá và thị trường tài chính Quốc tế thì các nhân tố cụ thể hình thành nên giá cả trở nên phức

tạp Giá cả thị trường phản ánh cung cầu của thị trường trong nước và thị trường Quốc tế

Hai là về mặt lượng các nhà kinh tế học cổ điển đã khẳng định

mối quan hệ giữa giá cả với giá trị là tổng số giá cả ngang bằng với

tổng giá trị của tất cả hàng hoá đó, song giá cả của từng thứ hàng hoá

lại thường xuyên tách rời (cao hơn hoặc thấp hơn) giá trị của nó Giá cả

của một loại hàng hoá cụ thể ngang bằng với giá trị của nó chỉ là trường hợp tạm thời và ngẫu nhiên Như vậy giá cả và giá trị có mối quan hệ

khăng khít với nhau không chỉ riêng từng loại hàng hoá, giá cả lấy giá trị làm cơ sở, mà còn có mối quan hệ cân đối lớn trong phạm vi toàn bộ nên kinh tế quốc dân, tổng giá cả bằng tổng giá trị Từ mối quan hệ này thì giá trị chỉ có thể phân giải thành các bộ phận cấu thành giá trị (C,V,m) không thể cộng các bộ phận biệt lập nhau để hình thành giá trị

và như vậy giá cả khi phân ánh giá trị cũng phải tuân theo nguyên lý này Do đó, cả lý thuyết và hoạt động thực tiễn hình thành giá cả không

thể tuỳ tiện định ra các bộ phận cấu thành giá trị Do vậy, khi hình

thành giá cả phải bảo đảm tính khách quan hợp lý giữa các bộ phận cấu thành giá cả, đồng thời phải bảo đảm cân đối lớn vê mặt hiện vật cũng

như về mặt giá trị của quá trình tái sản xuất xã hội, cung và cầu hàng

hoá, thu chi ngân sách

Ba là quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá các nhà

kinh tế học cho rằng đó là hai mặt của một hàng hóa có sự nhất trí với nhau Giá cả hàng hoá không những biểu hiện bằng tiền giá trị mà còn

phải phản ánh giá trị sử dụng của hàng hoá Trên thị trường giá cả hình

thành thống nhất theo đơn vị sử dụng (chất lượng), do vậy mức giá hình thành theo chất lượng hàng hoá, có tính đến chi phí sử dụng và tính thay

thế lẫn nhau của hàng hoá trong sản xuất cũng như trong tiêu dùng

Giá cả và giá trị sử dụng của hàng hoá là hai phương tiện khá mạnh và

trong tầm tay để các đơn vị kinh doanh thực thi các biện pháp cạnh

tranh Sự thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dụng là cơ sở để hình thành

mức giá trên thị trường

-_ Bốn là giá cả thị trường chịu tác động trực tiếp của hai yếu tố đó

là giá cân bằng thị trường và quan hệ cung cầu trong từng thời gian Khi

lượng cung xã hội ngang bằng lượng cầu thì sẽ hình thành mức giá cân

Trang 8

bằng cung cầu Giá này khác với giá cả thị trường và cũng không phải

là mức giá bình quân trên thị trường Giá thị trường có thể cao hơn, có thể thấp hơn hoặc cân bằng cung cầu, tương ứng các trường hợp

cung<cầu, cung>cầu và cung=cầu, do các nhân tố tác động trực tiếp

đến cung cầu, làm tác động đến gía cả như:

- Các nhân tố tác động trực tiếp đến cung hàng hoá, quy mô

nguồn tài nguyên thiên nhiên được huy động vào sản xuất, quy mô kỹ thuật sản xuất, lao động và kỹ năng của người lao động trình độ tổ chức sản xuất

- Các nhân tố tác động đến cầu hàng hoá như tổng thu nhập các

tầng lớp dân cư, kết cấu dân cư, các nhân tố kinh tế và phi kinh tế khác

- Các nhân tố tác động cả cung và cầu hàng hoá, tổng dân cư, tiên

tệ, cung tiền tệ tín dụng, chính sách đầu tư và thuế, nhân tố ngoài nước

và ngoại thương

Như vậy giá cả là một phạm trù kinh tế rất tổng hợp, là chỉ tiêu

kinh tế tác động một cách nhanh nhạy đến kết qủa kinh doanh Nó thu

hút sự chú ý của các chủ thể sản xuất kinh doanh vì chính nó quyết định

sự tồn tại và phát triển của họ trong kinh tế thị trường Vì vậy tìm ra

phương pháp thích hợp có căn cứ khoa học, hợp tình hình thực tiễn để xác định các bộ phận cấu thành giá cả (C, V, m) nhất là bộ phận lợi

nhuận có ý nghĩa đặc biệt trong việc khuyến khích hay kìm hãm phát

triển sản xuất kinh doanh

2.TỶ suất ơi nhuận bình quản

Mức chí phí sản xuất cho 1 đơn vị sản phẩm là do đơn vị sản xuất

hoặc người sản xuất có thể quy định, còn lợi nhuận là do thị trường

quyết định, bởi vì giá cả do thị trường quyết định nên xác định lợi nhuận bình quân trong cơ cấu giá cả là vấn đề hết sức quan trọng vì: Lượi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định

hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như của cả nền kinh tế Lợi nhuận là chỉ tiêu lựa chọn phương án sản xuất

Trong xã hội tư bản Mác đã chỉ ra rằng nhà tư bản bỏ vốn vào kinh doanh “nhằm mục đích không những là để tái sản xuất ra số tư bản

đã ứng ra, mà là để sản xuất ra một giá trị thừa ra so với tư bản ấy“,

(1) Tư bản quyền 3 tập [ trang 184 nhà xuất bản sự thật Hà nội 1962

Trang 9

lợi nhuận

Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số giữa gía trị thặng dư với tư bản

khả biến Còn tỷ suất lợi nhuận là tỷ số giữa giá trị thặng dư với tổng tư

bản ứng trước (tu ban bất biến và tư bản khả biến)

Xu hướng tất yếu trong kinh tế thị trường tổng số tư bản (vốn) đâu tư

vào các ngành sản xuất kinh đoanh khác nhau phải thu được lợi nhuận bình

quân, nếu không các đơn vị sản xuất kinh doanh lập tức di chuyển vốn sang sản xuất kinh doanh những hàng hoá có lợi nhuận cao hơn Chính sự đi

chuyển vốn giữa các ngành đã hình thành nên xu hướng bình quân hoá lợi nhuận

1 Trong chế đô công hữu xã hội về ruông đất;

Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại điện

duy nhất quản lý toàn bộ ruộng đất trên đất nước, người nông dân được

Nhà nước giao quyên sử dụng ruộng đất lâu dài và được pháp luật bảo

vệ quyền đó Luật ruộng đất nước ta quy định nông đân được sử dụng đất trồng cây hàng năm trong thời gian 20 năm, cây lâu năm là 50 năm Hết thời gian trên nếu Nhà nước không có nhu câu thu hồi đất, nông dân nếu có nhu cầu sử đụng tiếp thì được Nhà nước tiếp tục giao theo thời hạn như trên Vì vậy, quan hệ ruộng đất trên đất nước chỉ diễn

ra giữa hai chủ thể: Nhà nước là người quản lý và nông dân là người sử

dụng; nông dân không còn phải nộp địa tô cho địa chủ như thời kỳ phải

sống dưới chế độ phong kiến, mà chỉ phải nộp thuế sử đụng đất do Nhà

nước quy định Thuế sử dụng đất thực chất là một phần nhỏ của sản

phẩm thặng dư dưới hình thức địa tô chênh lệch I do độ mâu mỡ tự

nhiên vốn có của ruộng đất mang lại và do nông dân canh tác đã khai

thác khả năng mầu mỡ tự nhiên đó của ruộng đất mà có, Nhà nước thu thuế sử dụng đất vào mục đích chung của nên kinh tế, thuế suất tối đa cũng chỉ bằng khoảng 8-9 sản lượng sản xuất hàng năm của từng loại cây Mức thuế được ổn định lâu dài để khuyến khích nông dân thâm

canh tăng năng suất cây trồng Và, không phải bất kỳ ruộng đất nào,

không phải bất kể canh tác trong điều kiện khách quan nào Nhà nước

cũng thu thuế sử dụng đất nông nghiệp Luật thuế sử dụng đất nông

Trang 10

nghiệp quy định việc miễn giảm thuế thích hợp với từng điều kiện

khách quan cụ thể của từng hộ sản xuất, đồng thời lại có chính sách

khen thưởng đối với người sử dụng tốt, bảo vệ tốt ruộng đất Tất cả những quy định đó đều nhằm khuyến khích nông dân thâm canh, phát triển sẵn xuất nông nghiệp

Ngoài phần thuế sử đụng đất nông nghiệp nộp cho Nhà nước thì

phần sản phẩm thặng dư phải giành một phần để đóng góp các quỹ an

ninh quốc phòng, xây dựng trường y tế , số còn lại do người sản xuất

tạo ra hoàn toàn thuộc về họ Dưới hình thức giá trị thì phân này là lợi

nhuận của người sản xuất

Nhưng trong nền kinh tế thị trường, giá cả do thị trường quyết định và lên xuống thất thường, trong đó quan hệ cung-cầu có ý nghĩa quyết định sự biến động của giá cả Vì vậy, mặc đù tiến hành sản xuất

trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, nhưng nếu không có lợi hoặc lỗ thì

người sản xuất sẽ không tiếp tục sản xuất nữa, bởi lẽ rất đơn giản: họ

không có điều kiện để tái sản xuất Trong khi đó nhu cầu xã hội về

nông sản là thường xuyên và có xu hướng ngày một tăng Nền kính tế của ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhà

nước “thực hiện giá bảo hộ đối với một số nông sản và hàng xuất khẩu

khi giá thị trường xuống quá thấp ảnh hưởng đến sản xuất và xuất

khẩu”? và “có chính sách trợ giá có chọn lọc đối với hàng nông sản,

hàng xuất khẩu, bảo hộ đúng mức sản xuất nội địa, bảo hộ lợi ích của

cả người sản xuất và người tiêu dùng”), Những chính sách đó thực chất

là những chính sách vĩ mô nhằm bảo đảm cho nông dân bù đấp chỉ phí

sản xuất và có một tỷ lệ lãi nhất định để họ tiếp tục tái sản xuất và mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu xã hội Thực chất đây là một loại giá sàn bao gồm cả chỉ phí sản xuất và lợi nhuận tối thiểu như là lợi nhuận định

mức hình thành

(1) Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chap hanh Trung wong kho4 VIL

(2) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc

giữa nhiệm kỳ VIL

Trang 11

xuất và tái sản xuất trở rôrtg:

a/_Nhu câu nông sản phẩm là nhụ câu tất yếu để tôn tại và phát triển xã hội loại người

Đời sống xã hội loài người có nhiều mặt hoạt động: lao động sản

xuất, khoa học - kỹ thuật, văn hoá - nghệ thuật, chính trị, tÔn giáo

Những hoạt động đó thường xuyên có quan hệ tác động qua lại lẫn

nhau Xã hội càng phát triển thì các hoạt động đó càng phong phú và có trình độ cao hơn Nhưng trước khi tiến hành các hoạt động đó, con

người phải tồn tại, phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện đi lại Trong đó nhu cầu cơ bản nhất, quyết định sự tồn tại đời sống con người là thức ăn bao gồm

lương thực, thực phẩm (gạo, thịt, trứng, sữa, rau, quả ) đó là những

nông sản phẩm do ngành sản xuất nông nghiệp tạo ra không chỉ cung cấp cho bản thân ngành nông nghiệp mà còn cung cấp cho tất cả các

ngành sản xuất vật chất khác và toàn xã hội Đặc biệt lương thực là loại

nông sản chiến lược mọi quốc gia đều phải quan tâm thực hiện chiến lược an toàn về lương thực để ổn định tình hình kinh doanh và ổn định

tình hình kinh tế chính trị

Đồ mặc và nhiều sản phẩm công nghiệp khác cũng có nguồn lấy

từ nguyên liệu lấy từ nông sản như bông, đay, mía, cây làm giấy, cao su

Những nhu cầu trên không chỉ tăng về số lượng mà còn đồi hỏi

cao hơn về chất lượng bởi vì nhu câu của mỗi người ngày một tăng lên,

SỐ người sinh ra ngày một nhiều hơn, nhu câu nguyên liệu cho công

nghiệp hoặc sản phẩm cho xuất khẩu ngày càng tăng.

Trang 12

Dân số | Sản lượng | BQ đâu Sản 8Q đâu one ‘ mia 8x tang

(triệu (1000T) người lượng người đường | hàng năm | Tấn)

(Theo số liệu thống kê nông nghiệp của Tổng cục Thống ké năm 1979, 1995.)

Do đó, nếu không phát triển sản xuất nông nghiệp thì không đáp

ứng được nhu cầu của xã hội, trong đó bao gồm cả nhu cầu tiêu dùng

cho đời sống hàng ngày của con người, nhu cầu của sản xuất, xuất khẩu

và các nhu cầu khác Suy cho cùng sự phát triển của sản xuất công

nghiệp hay xuất khẩu và mọi hoạt động khác cũng là để đáp ứng nhu

cầu tiêu đùng ngày càng tăng của con người mà thôi Như vậy, có thể nói sản xuất nông sản phẩm là nhu cầu tất yếu để tồn tại và phát triển

xã hội loài người

bí Lợi nhuận là nhụ câu tất yếu để tái sắn xuất và tái sản xuất

md rong nông nghiệp:

Phần trên đã trình bày cho thấy nhu cầu của xã hội về nông sản

phẩm ngày càng tăng là tất yếu Giả sử người sản xuất nông sản phẩm

không có lợi nhuận, họ bỏ sản xuất trong khi nhu cầu của xã hội và

nông sản phẩm ngày càng tăng và khi các tiến bộ của khoa học chưa tạo

ra được những sản phẩm thay thế thì sản xuất nông sản phẩm vẫn cần

thiết cho toàn xã hội và nếu như sản xuất một loại nông sản nào đó

không có lợi nhuận, họ bỏ sản xuất loại sản phẩm đó để chuyển vốn đầu

tư vào ngành sản xuất khác có lợi hơn, đến lúc đó loại nông sản mà họ Vừa rỜi bỏ sẽ bị thiếu hụt, không đủ cung cấp cho xã hội và tình trạng

này cứ liên tiếp diễn ra từ loại sản phẩm này đến sản phẩm khác trong khi nhu cầu xã hội ngày càng tăng thì tình trạng bất ổn định (dù chỉ là

Trang 13

ổn định tương đối) về cung-cầu trong nên kinh tế luôn diễn ra sự biến động giá cả, thậm chí biến động đữ dội, nhất là những nông sản phẩm quan trọng, thiết yếu cho đời sống và sản xuất thì làm sao tạo ra được nền kinh tế sản xuất ổn định và đời sống kinh tế, chính trị xã hội ổn

định Rốt cuộc, cả người sản xuất và người tiêu dùng đều phải chịu hậu

quả của biến động giá do nguyên nhân sâu xa bất nguồn từ chỗ người

sản xuất không có lợi nhuận, ngừng sản xuất làm cho cung-cầu căng thẳng Đặc điểm lớn nhất của sản xuất nông nghiệp là phụ thuộc rất lớn

vào điêu kiện tự nhiên của ruộng đất, sự phân bố dân cư và mức độ tiêu dùng toàn xã hội đời hỏi sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng đủ nhu cầu

tiêu dùng cho cả công đồng xã hội Để thoả mãn được nguyện vọng của

tiêu dùng thì động lực lớn nhất đối với người sản xuất để họ tái sản xuất

và tái sản xuất mở rộng Đây là yêu cầu hoàn toàn khách quan mà Mác

đã nêu ra trong nguyên lý về tích luỹ để tái sản xuất và tái sản xuất mở

rộng, về tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận bình quân Vì sản xuất ra của cải

vật chất là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội Xã hội không thể

ngừng tiêu dùng, do đó sản xuất không thể ngừng được, phải thực hiện

tái sản xuất Tính tự nhiên của đời sống xã hội là phải tiêu đùng và tiêu

dùng ngày một tăng Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi sản xuất phải thực

hiện tái sản xuất mở rộng về cả chiêu sâu và chiều rộng

Muốn tái sản xuất mở rộng và ngày một hiện đại hoá thì phải có

nhiều vốn Muốn có nhiều vốn phải tăng tích luỹ vốn, do vậy tích luỹ vốn gắn liền với tái sản xuất mở rộng và trở thành quy luật kinh tế

chung của các hình thức kinh tế - xã hội có tái sản xuất mở rộng

Xết về thực chất tích luỹ là sự chuyển hoá phần giá trị dưới hình

thức lợi nhuận do lao động tạo ra thành vốn để mở rộng phát triển sản

xuất nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho xã hội

Từ nên sản xuất nhỏ, sản xuất nông nghiệp còn giữ vai trò rất quan trọng trong nên kinh tế quốc dân muốn thực hiện được tái sản xuất

mở rộng ngoài việc thực hiện cơ cấu kinh tế mở thu hút đầu tư nước ngoài, phải thực hiện chính sách vĩ mô thu hút nguồn vốn nội lực có sắn

trong dân bằng chính sách bảo đảm cho sản xuất thu được lợi nhuận thoả đáng so với vốn đầu tự do người sản xuất bỏ ra, có như vậy mới tạo

động lực lôi cuốn người sản xuất tập trung vốn lao động, trí tuệ vào sản xuất

Trang 14

12

PHAN THU HAI

THUC TRẠNG VỀ CẤU THÀNH LỢI NHUẬN TRONG GIA MUA NONG SAN Ở NƯỚC TA QUA CÁC THỜI KỲ

THỰC TIỀN VÀ KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

I Thuc trang về cấu thành lợi nhuân trong giá mua nông sản ở nước ta thời gian qua:

Những quan điểm cơ bản của Đảng về lợi nhuận trong giá mua nông sản ở nước ta thời gian qua

Giá cả là một lĩnh vực lớn trong chính sách kinh tế luôn luôn được Đáng quan tâm lãnh đạo bảo đảm cho sự hình thành và vận động của nó đúng quy luật phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, phục vụ

nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn

Lượi nhuận là một bộ phận của giá trị hàng hoá, nó là một lĩnh vực rất nhậy cảm trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Sự lên xuống của sản xuất, kinh doanh gắn liền với sự tăng giảm của lợi nhuận Vì vậy trong các chính sách kinh tế nói chung và chính sách giá cả nói

riêng Đảng ta luôn luôn nhận thức đúng đắn quy luật giá tri, cụ thể:

- đrong thời kỳ theo cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp, Đảng đã

phê phần hai thiên hướng đối với quy luật giá trị: "Hoặc là phục tùng

mù quáng quy luật giá trị, nhấn mạnh một chiều khuyến khích bằng lợi

ích vật chất, kích thích của giá cả Do đó, có xu hướng chạy theo giá thị trường tự do, đặt giá không nghiên cứu toàn diện, không tuỳ thuộc vào các nhiệm vụ chính trị - kinh tế của Đảng, Nhà nước và yêu cầu kế hoạch hoá nên kinh tế quốc dân tiến lên chủ nghĩa xã hội; hoặc là xem

thường quy luật giá trị, không thừa nhận sự tồn tại khách quan của nó,

hoặc không biết vận dụng nó để kích thích sản xuất phát triển và phục

Vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; do đó xem nhẹ hạch toán kinh

Trang 15

tế, dat gid cả không dựa trên cơ sở giá trị, không tính toán đến yêu cầu của quy luật giá trị"G),

+ Lợi nhuận được hình thành trong việc xác định giá là "giá cả

phải lấy nhiệm vụ chính trị và kinh tế từng thời kỳ làm căn cứ chính sách, lấy giá trị hàng hoá làm cơ sở, đồng thời có tính đến quan hé cung-cầu về hàng tiêu dùng nói chung, phải kết hợp hai mặt giá trì sử dụng và giá trị hàng hoá trong sản xuất cũng như trong phân phối để

tính toán và xác định đúng đắn giá thành và giá cả thích hợp theo từng

mặt hàng và phẩm chất hàng: phải biết sử dung giá cả làm đòn xeo

trong yếu để kích thích sản xuất phát triển, thúc đấy cách mạng kỹ thuật

và phân công lao đông mới trong xã hội và làm công cụ phân phối lại

thu nhập quốc dân để tăng tích luỹ phục vụ tái sản xuất mở rộng và

công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và cải thiện đời sống nhân dân, giá cả

phải góp phần giải quyết tốt các mối quan hê lớn của nền kinh tế: quan

hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng; giữa công nghiệp và nông nghiệp; giữa

cung và cầu; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thành cải tạo xã

hội chủ nghĩa; góp phần củng cố khối liên mính công nông và khối đoàn kết các dân tộc"®?),

Lợi nhuận trong giá mua nông sản được hình thành theo quan

điểm chỉ đạo giá là: "Để phục vụ và kích thích sản xuất phát triển, giá

thu mua phải bảo đâm cho đơn vị và người sản xuất bù đấp chi phí sản

xuất hợp lý và có lãi thích đáng để tái sản xuất mở rộng; chủ yếu nó phải có tác dụng thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, phân bố và tổ chức lao động

hợp lý, bỏ thêm công và vốn vào một đơn vị diện tích để thâm canh tăng

năng suất, hạ giá thành, đồng thời góp phần cũng cố hợp tác xã nông

nghiép "©, "giữ quan hệ giữa giá thu mua, giá bán lẻ hàng tiêu dùng

và giá bán tư liệu sản xuất cho hợp tác xã, vừa bảo đảm cho nông dân

và thợ thủ công có thu nhập hợp lý, vừa bảo đảm tích luỹ của Nhà

nude",

(1) & (2) Nghị quyết Hội nghị lần thứ Mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II,

được trích in trong tập "Phương hướng - nhiệm vụ - phương châm - chính sách giá cả” do Uỷ ban

Vật giá Nhà mrớc ấn hành năm 1967 - trang 26, 27, 28

(3) & (4) Nghị quyết Hội nghị lần thứ Mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IH,

trích in trong sách đã dẫn, trang 27, 28.

Trang 16

14

Đối với miền núi: "giá cả phải nhằm kích thích sản xuất lương

thực, cây công nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi phục vụ việc quy hoạch

các vùng sản xuất trọng điểm, nhất là vùng tập trung cây công nghiệp

và chăn nuôi , đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá thay thế cho kinh

tế tự cung tự cấp, làm cho kinh tế miền núi và miền xuôi bổ sung và hỗ trợ cho nhau"€),

Trong những trường hợp cân thiết quan điểm chính sách của

Đảng về lợi nhuận trong nông nghiệp còn được ghí rất cụ thể vẻ tỷ lệ lãi: "Mức giá mua thóc và các nông sản khác trong hợp đồng cũng như ngoài hợp đồng đều phải theo nguyên tắc thoả thuận, bảo đảm cho nông dan trong điều kiện sản xuất bình thường bù đắp được chí phí xã hội cần thiết và có lãi 30-40% so với giá thành (tỷ lệ lãi có phân biệt theo loại

sản phẩm và theo vùng: đối với thóc là 40%) Mức giá phải phù hợp với

sức mua đồng tiền và tính đến quan hệ cung-cầu "ẲG),

Tỷ lệ lãi trên đây xuất phát từ thực tế trong việc phân phối tổng thu nhập trong sản xuất thóc ở vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm từ 1985 trở về trước Việc tính toán trong thời kỳ đó tuy tính bảng tiên nhưng đồng thời phải quy ra thóc bởi vì đồng tiên mất giá quá nhanh Với năng suất lúa vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đó 2.500kg/ha, trừ chí phí vật chất (c) quy ra thóc là 915kg = 37% sản

lượng, trả công lao động (V) hết 881kg = 35% sản lượng, còn lại là lãi

(m) 704kg = 28% sản lượng Tỷ lệ lãi so với tổng chỉ phí là:

— x 100 = - x 100 = 39%

Tỷ lệ lãi 40% so với giá thành bao gồm: thuế nông nghiệp nông

dân phải nộp 10/sản lượng; quỹ hợp tác xã từ 10-15% (riêng các tinh

phía Nam phải nộp quỹ tập đoàn là 2%), hiện nay thuế sử dụng đất

nông dân phải nộp khoảng 9%/sản lượng, các loại quỹ khoảng 2/sản

lượng Tĩnh các khoản trích nộp này chiếm khoảng 14% giá thành

(1) & (2) Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI,

ngày 09/4/1987, trang 7.

Trang 17

Nếu trừ 2 khoản thuế và quỹ hợp tác xã ra thì tỷ lệ lãi mà người

nông dân được hưởng chỉ đạt khoảng 26% (trước năm 1987 người nông

dân làm ra sau khi trang trải thuế nông nghiệp và quỹ hợp tác xã còn lại

là giá trị ngày công xem như không có lãi)

Tiền công và thu nhập trong nông nghiệp đối với đồng bằng sông Hồng khoảng 2,5-2,6 kg thốc; đối với đồng bằng sông Cửu Long

Từ thực tế điều tra chỉ phí sản xuất (như phụ biểu số 2* kèm theo),

các khoản chỉ phí tính theo giá thực tế hình thành trên thị trường và giá

trị thực tế của đồng tiền thì tỷ lệ lãi của một số nông sản quan trọng

trong thời kỳ trước năm 1990 như sau:

Mia bup nhan DBSH | DBSCL tươi khô MBắc | MNam

Thời kỳ cơ chế kế hoạch cứng

Trang 18

Biéu sé 2":

GIÁ THÀNH, GIÁ MUA , TỶ LỆ LÃI QUA CÁC NĂM CỦA MOT S6 NONG SAN QUAN TRONG

Trang 22

20

Mức lãi trên đây là mức lãi mà người sản xuất trực tiếp thu được

sau khi họ bán sản phẩm của họ sản xuất ra

-Khi chuyển sang cơ chế thị trường, Đảng cũng đã chỉ ra rằng

"chính sách giá cả phải vận dụng nhiều quy luật, trong đó quy luật giá trị có tác động trực tiếp"C, Lợi nhuận được hình thành phụ thuộc tình hình cung cầu giá cả, thị trường, những chính sách vĩ mô của Nhà nước

tác động gián tiếp tới cung cầu giá cả thị trường, vì vậy: "Chính sách giá

phải vận dụng tổng hợp nhiều quy luật, trong đó quy luật giá trị có tác

động trực tiếp Giá cả phải phù hợp với giá trị đồng thời phải phù hợp

với sức mua của đồng tiền và tính đến quan hệ cung-câầu Các yêu cầu

điều tiết thu nhập, bảo đảm chính sách xã hội, thúc đẩy cải tạo xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện thông qua sử dụng đồng bộ nhiễu biện pháp,

trong đó có biện pháp giá cả, tài chính, tín dung ; chi ding biện pháp

giá cả để dap ứng những yêu cầu đó sẽ đẩy giá tới mức thoát ly giá

trị

Từ năm 1991 đến nay, về quản lý giá Nhà nước không quy định

mức giấ cụ thể cho từng loại nông sản hàng hoá: mức giá nông sản hàng hoá do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định, riêng đối với một

số hàng hoá nông sản quan trọng Nhà nước quản lý giá một cách gián tiếp, tức là đựa trên cơ sở hình thành giá đầu vào của sản xuất mà hình thành giá thành nông sản Căn cứ vào tỷ lệ lãi từ 30-40% tuỳ theo vùng

và mặt hàng mà hình thành gía cả sẵn xuất cao hơn giá định hướng của

Nhà nước, nên tỷ lệ lãi so với giá thành của nông sản hàng hoá có thể

cao thấp khác nhau theo sức mua của cung cầu, Nhà nước không quy

định giá cụ thể

Giá thành giá cả và tỷ lệ lãi trên giá thành của lúa đông xuân qua

một số năm thuộc đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (xem biểu số 6)

Qua biểu ta thấy chi phí cho 1 ha lúa đông xuân ở đồng bằng

sông Hồng cao hơn đồng bằng sông Cửu Long từ 1.125.000 đồng đến

1.260.000 đồng Trong khi năng suất lúa đông xuân ở đồng bằng sông Hồng tăng từ 4.700 kg/ha dén 5.500 kg/ha (tang 17%), déng bằng sông Cửu Long tang tir 4.500 - 6.000 kg/ha ( tang 33%)

Trang 23

đông xuân của 2 vùng đồng bằng qua một số năm

Trang 24

22

Do nâng suất cao, chí phí thấp nên giá thành lúa đồng bằng sông Cửu Long thấp hơn đồng bằng sông Hồng từ 240-300 đ/kg Năm 1997 giá bán lúa ở 2 vùng lại xấp xỉ như nhau, thậm chí có lúc lúa đồng bằng sông Cửu Long lại cao hơn giá lúa ở đồng bằng sông Hồng:

-Đồng bằng sông cửu long 1.050 " 1.300 "

Về giá trị ngày công, trước năm 1987 khi tính toán giá thành để

quy định giá mua lúa ở đồng bằng sông Hồng giá trị ngày công tương ứng bằng 2,5-2,6 kg thóc, ở đông bằng sông Cửu long tính tương ứng 10

kg thóc, nhưng từ năm 1991 đến nay, Nhà nước không quy định giá

mua bán thóc cụ thể mà chỉ định hướng giá điều hành Việc tính giá tiền công căn cứ vào giá thị trường tại mỗi vùng, nếu so với giá lúa thì

giá trị ngày công làm lúa ở đồng bằng sông Hồng giao động từ 5-8,5 kg

thóc, ở đồng bằng sông Cửu long từ 8-13 kg thóc; tỷ lệ lãi so với giá

thành do thị trường quyết định, qua thực tế mấy năm gần đây thì tỷ lệ

lãi đối với đồng bằng sông Hồng chỉ đạt từ 17-32% thậm chí năm 1997 hầu hết nông dân sản xuất lúa không có lãi, có lúc có nơi giá lúa xuống dưới 1.350 đ/kg, người sản xuất bị lỗ (tỷ lệ lãi am), đối với đồng bằng

sông Cửu Long đạt thấp nhất là 23,8% (1997) , cao nhất là 74% (1994-

1995) Trong khi tỷ lệ lãi thực hiện so với chỉ phí sản xuất của một số

doanh nghiệp Nhà nước qua điều tra liên Bộ như sau: (số liệu năm

1995)

Don vi tinh %

-Chung cho tất cả các doanh nghiệp: 8,93

(Trung ương và địa phương)

Trong đó:+Ngành công nghiệp nặng: 10,49

+Ngành xây dựng va vật liệu XD: 14,67

-Cụ thể một số doanh nghiệp như sau:

+Nhà máy thuốc lá Thăng long: _ 6,10 +Nhà mấy nguyên liệu thuốc lá: 2,77

+N6ng trường cà phê 719: 19,70

Trang 25

+Nông trường cà phê Iacham: 11,43

+COng ty cung ứng cà phê xuất khẩu: 1,15

+Công ty cao su Bình long: 92,07

Tính chung thu nhập bình quân của người lao động thuộc các

doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 là: 13.166.000 đồng; trong đó các doanh nghiệp địa phương quản lý là 6.096.000 đồng gấp hơn 7 lần thu

nhập của người lao động trồng lúa ở đồng bằng sông Hồng và 1,9 lần thu nhập của người trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu long

Từ kết quả phân tích trên ta thấy có thể rút ra mấy vấn đề chú ý: -Việc quy định tỷ lệ lãi trên giá thành lúa hiện nay để định hướng điêu hành gi4 không thể nhìn vào tỷ lệ phần trăm cao hay thấp để đánh

giá, mà phải căn cứ vào tiền công, thu nhập của người lao động làm ra

sản phẩm đó

-Thu nhập của người trồng lúa hiện nay quá thấp, nhất là đốt với đồng bằng sông Hồng Muốn nâng cao thu nhập cho nông dân trồng lúa thì phải m kiếm thêm nghề phụ, phải sản xuất kinh doanh tổng hợp,

nhằm tăng số ngày công lao động trong năm, đồng thời phải nâng mức

lợi nhuận cho người sản xuất tạo ra nông sản hàng hoá

Ty lệ lãi của một số nông sản quan trọng trong thời kỳ kinh tế thị

trường như sau:

Biểu số 7: Tý lệ lãi của một số nông phẩm '

DV tinh: %/Z san xuat

oại NP Lúa Che | Càphê Lon thit Nam DBSH | DBSCL | Mia | DP Mi | nhankho [ies Ì MNam

Trang 26

24

So sánh tỷ lệ lãi giữa các cây trồng có một số nhận xết tổng quất là:

- Những nông sản hàng hoá sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu nếu

có thị trường xuất khẩu rộng rãi ổn định đạt được tỷ lệ lãi cao và tương đối ồn định (cà phê, lúa gạo đồng bằng sông Cửu long)

- Những nông sản hàng hoá sản xuất ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước (mía đường) đạt được mức lãi theo sát mức là do Nhà nước định hướng

- Những nông sản hàng hoá sản xuất ra thị trường tiêu thụ bấp

bênh, khí thuận lợi, khi khó khăn tỷ lệ lãi người sản xuất thu được thấp

có lúc không có lãi thậm chí có thời điểm giá bán thu được không bù

đắp đủ chỉ phí sản xuất bỏ ra

-Tỷ lệ lãi các loại nông sản nếu so với yêu cầu tái sản xuất mở rộng, đối với nên sản xuất nông nghiệp hàng hoá là thấp và nếu so với

thu nhập của các nghề khác là quá thấp chưa được mức lãi tối thiểu để

người sản xuất thực hiện tái sản xuất

Tuỳ điều kiện cụ thể của từng nước Chính phủ các nước đều có

những hình thức can thiệp vào sự hình thành giá mua nông sản, phần

lớn các nước can thiệp bảng hình thức gián tiếp là chủ yếu, cũng có

nước quy định giá mua và mức lãi cụ thể Nói chung, cả hai hình thức

đều nhầm mục đích bảo đảm thu nhập và có lãi cho nông dân để họ yên tâm sản xuất cung cấp nông sản cho xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhất là đối với những nông sản chiến lược, đặc biệt là lương

thực, cụ thể:

1 Ở Mỹ: Sản xuất lúa gạo do các chủ nông trại thực hiện Diện

tích trung bình của các nông trại trồng lúa là 114 ha Sản lượng lúa gạo của Mỹ chỉ chiếm 2% sản lượng lúa gạo thế giới, nhưng hơn 50% lúa

gạo Mỹ được xuất khẩu, chiếm 17% thị trường gạo thế giới Xét vê giá

trị thì lúa gạo chỉ chiếm một bộ phận nhỏ bé trong nền kinh tế Mỹ Nhưng xết về khía cạnh chính trị thì lúa gạo có ý nghĩa không nhỏ bé,

Trang 27

nhất là về chính trị đối ngoại Vì vậy Chính phủ Mỹ rất quan tâm đến sản xuất lúa gạo

- Năm 1929, lần đầu tiên "Đạo luật về thị trường nông sản" được

ban hành Nội dung chính là quy định chế độ cho vay đối với những

hợp tác xã nào đứng ra mua số nông sản dư thừa trên thị trường

- Năm 1933 ban hành "Luật điều hành sản xuất nông nghiệp", trong d6 4p dung giá bảo hộ để bênh vực người sản xuất, đồng thời kiểm soát quy mô sản xuất Đến năm 1935 thì luật này được cụ thể hoá thêm trong một loạt thư pháp đến nay vẫn còn hiệu lực: cho vay tồn trữ,

điều tiết điện tích, hạn ngạch lưu thông (áp dụng khi cung vượt quá 10% lúc bình thường):

+ Điều tiết ruộng đất: hàng năm Chính phủ có chương trình điều tiết ruộng đất và có chính sách trợ giúp hoặc đền bù đối với diện tích điều tiết Biện pháp này nhằm kiểm soát và điều khiển nguồn cung lương thực phù hợp với yêu cầu của thị trường

+iỔn định giá thị trường: Công ty tín dụng thương nghiệp (một

cơ quan chuyên trách của Bộ Nông nghiệp Mỹ) cho vay từ đầu vụ gặt

để các chủ ruộng tồn trữ nông phẩm, giữ ổn định (tương đối) giá thị

trường không giảm nhiều do có thu hoạch lúa Số tiền vay = giá định

mức tạm ứng x lượng tồn trữ Giá gạo định mức tạm ứng thay đổi theo tình hình cụ thể hàng năm: năm 1976 định mức giá tạm ứng là

135USD/tấn, 1981 = 176USD/tấn, 1982 = 75 % giá trung bình 3 năm

trước đó Khi lúa gạo được bán dần dần ra thị trường thì đồng thời chủ

ruộng trả lại tiền vay (+ lợi tức) Hết thời gian 9 tháng nếu chủ nông trại

không muốn tồn trữ nữa thì có thể chuyển giao số sản phẩm đó cho

Công ty tín dụng thương nghiệp, coi như đã hoàn trả số tiền này

+ Trợ cấp thu nhập: biện pháp này nhằm đền bù thua thiệt cho

người sẵn xuất lúa gạo một khoản chênh lệch giữa giá bán thực tế so với

giá bình quân trên thị trường 5 tháng đầu vụ, bảo đảm thu nhập cho

người sản xuất lúa tương đương thu nhập của người làm ngành nghề

khác.

Ngày đăng: 24/03/2018, 02:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w