1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng blog marketing trong thương mại điện tử

89 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới sự tác động sâu sắc của công nghệ thông tin và các phương tiện điện tử đối với kinh doanh như hiện nay, các nhà tiếp thị phải định hình lại một cách cơ bản hướng tiếp cận tiếp thị,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BLOG MARKETING

TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và

có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi

Học viên thực hiện

Trình Thị Phương

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu, em đã hoàn thành luận văn thạc sỹ chuyên ngành Công nghệ thông tin với đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng Blog Marketing trong Thương mại điện tử”

Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo GS.TS Thái Thanh Sơn đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện

đề tài Em cũng xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Khoa Đào tạo Sau Đại học của Viện Đại học Mở Hà Nội và các anh chị trong lớp học đã hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian theo học và thực hiện luận văn này

Qua việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn, em đã có thêm nhiều kiến thức

bổ ích trong chuyên môn cũng như phương pháp luận nghiên cứu khoa học Trong khuôn khổ của một luận văn, chắc chắn chưa đáp ứng được đầy đủ những vấn đề đặt ra Vì điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, nên mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng luận văn không tranh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, phê bình quý báu của các thầy cô trong hội đồng thẩm định

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 11 năm 2016

Học viên

Trình Thị Phương

Trang 4

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT v

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH VẼ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MARKETING VÀ E-MARKETING 4

1.1 Marketing 4

1.1.1 Một số định nghĩa về Marketing 4

1.1.2 Vai trò và vị trí của Marketing trong kinh doanh 6

1.1.3 Các mô hình chiến lược Marketing 6

1.2 Giới thiệu về E–Marketing 11

1.2.1 Khái niệm E–Marketing 11

1.2.2 Đặc trưng cơ bản và các thế mạnh của E–Marketing so với Marketing truyền thống 11

1.2.3 Các công cụ E–Marketing cơ bản 13

CHƯƠNG 2: MẠNG XÃ HỘI – BLOG VÀ BLOG MARKETING 20

2.1 Blog và mạng xã hội 20

2.1.1 Blog 20

2.1.2 Mạng xã hội 23

2.1.3 Đề xuất sử dụng Blog trong marketing 26

2.2 Nghiên cứu về Blog Marketing 31

2.2.1 Khái niệm Blog Marketing 31

2.2.2 Thực trạng ứng dụng Blog Marketing 32

2.2.3 Các đặc điểm của Blog Marketing 35

2.2.4 Các loại hình Blog Marketing 43

2.2.5 Phương pháp ứng dụng Blog Marketing 46

Trang 5

iv

2.2.6 Nâng cao hiệu quả ứng dụng Blog Marketing 53

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG BLOG QUẢNG CÁO BÁN HÀNG LIÊN KẾT MẠNG XÃ HỘI 58

3.1 Các công cụ tham gia vào xây dựng blog quảng cáo bán hàng 58

3.1.1 Blogspot 58

3.1.2 Mạng xã hội Facebook 60

3.2 Trang blog quảng cáo bán hàng 61

3.2.1 Giới thiệu 61

3.2.2 Các tính năng chính 63

3.3 Đánh giá kết quả thực hành và hướng phát triển của blog 72

3.3.1 Đánh giá kết quả thực hành 72

3.3.2 Hướng phát triển 73

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 79

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT

AMA American Marketing Association Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ API Appliction Programming Interface Giao diện lập trình ứng dụng CRM Customer Relationship

Management

Quản lý mối quan hệ khách hàng

DDOS Distributed Denial of Service Tấn công từ chối dịch vụ phân tán DOS Denial of Service Cuộc tấn công từ chối dịch vụ HTML HyperText Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản ISO International Organization for

Standardization

Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế

MMS Multimedia Messaging Service Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện

PR Public Relations Quan hệ công chúng

SEM Search Engine Marketing Marketing trên công cụ tìm kiếm SEO Search Engine Optimization Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm SMS Short Message Services Dịch vụ tin nhắn ngắn

URL Uniform Resource Locator Định vị tài nguyên thống nhất WAP Wireless Application Protocol Giao thức ứng dụng không dây

Trang 7

vi

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: So sánh Blog và Website 27 Bảng 2.2: Cách thức xử lý bình luận 56 Bảng 3.1: Một số bài viết giới thiệu và hướng dẫn sử dụng sản phẩm 64 Bảng 3.2: Một số bài viết khảo sát khách hàng 65

Trang 8

vii

DANH SÁCH HÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình marketing mix (4P) 7 Hình 1.2: Mô hình Marketing 7P 9 Hình 2.1: Thống kê lượt người dùng mạng xã hội (triệu người) đến tháng 1/2016 26 Hình 2.2: Mô hình ứng dụng Blog Marketing 32 Hình 2.3: Thành phần chia sẻ đến mạng xã hội 49 Hình 3.1: Một số bình luận 65 Hình 3.2: Giao diện khung comment 66 Hình 3.3: Giao diện công cụ kiểm duyệt bình luận 66 Hình 3.4: Giao diện tính năng “Theo dõi qua Facebook” 67 Hình 3.5: Giao diện thanh chia sẻ mạng xã hội 68 Hình 3.6: Các cách thức chia sẻ trên facebook 68 Hình 3.7: Chia sẻ trong nhóm 69 Hình 3.8: Chia sẻ trên trang fanpage 69 Hình 3.9: Giao diện blog trên smartphone 70 Hình 3.10: Giao diện tính năng thống kê lượt truy cập 70 Hình 3.11: Giao diện tính năng theo dõi qua email 71 Hình 3.12: Email nhận bài viết mới từ blog 71 Hình 3.13: Giao diện sitemap 72

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

Cuộc cách mạng Công nghệ thông tin đã đem đến những biến đổi sâu sắc trong mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh Theo số liệu mới được công bố bởi Tổ chức thống kê số liệu Internet quốc tế (Internetworldstats), tính đến hết tháng 6/2015, Việt Nam đã có 45,5 triệu người dùng Internet, tương đương với 48% dân số Mức thâm nhập Internet của Việt Nam cũng cao hơn mức trung bình của khu vực châu Á (38,8%) và của thế giới (45%) Nhận thức và niềm tin đối với Internet cũng dần dần ngày một nâng cao Nhiều người đã thấy được tầm quan trọng của Internet trong việc trao đổi và tìm kiếm thông tin, trong đó mức độ quan tâm cao nhất là giao lưu kết bạn và chia sẻ thông tin

Đặc biệt, Internet cũng đóng vai trò quan trọng giúp lựa chọn, tìm kiếm và mua các sản phẩm Ba phần tư số người sử dụng Internet có thể tìm hiểu về các nhãn hiệu và sản phẩm mới trên mạng, và khoảng một nửa nghĩ rằng họ có một sự lựa chọn rộng rãi khi mua các sản phẩm trực tuyến

Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy khuynh hướng sử dụng các thiết bị di động, smartphone để cập nhật thông tin, tương tác xã hội đang lấn át thói quen dùng máy tính.Trong năm 2015, thiết bị di động tại Việt Nam đã đạt mức 34 triệu thiết

bị, tăng hơn so với 2014 (23 triệu thiết bị) Các số liệu thống kê cũng chỉ ra tỷ lệ sử dụng Internet bằng di động chiếm 34% dân số Hãng We Are Social cũng tính toán

số tài khoản mạng xã hội được sử dụng thường xuyên trên di động tại Việt Nam tính đến tháng 1/2015 tăng 41% so với năm 2014, nhanh hơn Trung Quốc, Ấn Độ

và Brazil Tính đến quý I/2015, có 30 triệu người sử dụng Facebook thường xuyên, tăng từ mức 8,5 triệu vào năm 2012, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất của mạng xã hội này Đây là nhân tố góp phần thúc đẩy hàng loạt dịch vụ trực tuyến phát triển, đặc biệt là thương mại điện tử trên nền tảng di động

Với sự ra đời của Internet, sự phổ biến của các thiết bị di động và sự bùng nổ của mạng xã hội, khoảng cách không gian và thời gian giữa các quốc gia, vùng

Trang 10

2

miền, giữa người với người được rút ngắn lại Các doanh nghiệp, các tổ chức và Chính phủ nhờ đó nhận ra cơ hội kinh doanh cũng như giá trị tiềm năng của các giải pháp, sản phẩm và dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin hay ứng dụng phương tiện điện tử mang lại Dưới sự tác động sâu sắc của công nghệ thông tin và các phương tiện điện tử đối với kinh doanh như hiện nay, các nhà tiếp thị phải định hình lại một cách cơ bản hướng tiếp cận tiếp thị, dẫn đến nhiều đổi mới trong hoạt động tiếp thị nói chung Những nguyên tắc tiếp thị cơ bản như định vị và phân khúc thị trường vẫn phải được duy trì, trong khi các nhà tiếp thị mở rộng và tăng cường các phương thức tiếp cận đến khách hàng thông qua các kênh ứng dụng phương tiện điện tử Cũng từ đó Marketing qua Internet, Marketing điện tử, Kinh doanh điện tử

… đã ra đời, tận dụng những thế mạnh công nghệ mới, phát huy và đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp Đây cũng là cơ hội để các nhà làm chiến lược marketing đưa

ra các phương án tiếp thị, quảng cáo giúp giảm chi phí đầu tư mà mang lại hiệu quả cao như mong đợi

Và một trong các phương pháp tiếp thị điện tử ta phải kể đến là Blog Marketing, được Jeremy Wright tổng hợp và đề xướng từ những năm đầu thế kỷ này Đây là một loại hình tiếp thị, quảng cáo, xuất bản nội dung online cho thương hiệu, sản phẩm, website, sự kiện… thông qua công cụ Mạng xã hội và Blog, được giới chuyên môn đánh giá là “hay và hiệu quả”

Trong khi các phương thức marketing cũ đã dần bão hòa và không đạt hiệu quả cao, Blog Marketing lại là hình thức online marketing “mới lạ”, thân thiện và

có tốc độ lan truyền chóng mặt, nhắm đúng từng chủ đề và trực tiếp đến từng đối tượng quan tâm

Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng Blog Marketing trong thương mại điện tử” mang tính thực tiễn cao và có khả năng ứng dụng mở rộng trong hoạt động

kinh doanh nói chung và thương mại điện tử nói riêng

Luận văn bao gồm các nội dung nghiên cứu như sau:

Trang 11

Chương 3 là ví dụ minh hoạ về ứng dụng Blog Marketing

Trang 12

Theo Phillip Kotler, cha đẻ của marketing hiện đại, Marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác

Viện Marketing Anh quốc định nghĩa Marketing là quá trình tổ chức và quản

lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến sản xuất và đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận tối đa

Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (American Marketing Association, AMA), marketing là một quá trình lập kế hoạch và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của của hàng hoá, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi nhằm thoả mãn mục đích của các tổ chức và cá nhân

Trang 13

5

Theo nhà tiếp thị nổi tiếng McCarthy, Marketing là quá trình nghiên cứu khách hàng là ai, họ cần gì và muốn gì, làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của họ nhằm tạo ra lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp bằng cách: cung cấp sản phẩm/dịch

vụ mà khách hàng cần, đưa ra mức giá khách hàng chấp nhận trả, đưa sản phẩm/dịch vụ đến với khách hàng, và cung cấp thông tin/giao tiếp với khách hàng

Ngoài ra có một số khái niệm tiêu biểu như:

“Marketing là toàn bộ hệ thống các hoạt động kinh doanh từ việc thiết kế, định giá, xúc tiến đến phân phối những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu nhằm đạt được những mục tiêu đã định.” (Bruce J.W William, Michel J.Etzel, Những nguyên tắc cơ bản của Marketing–Fundamental of Marketing)

“Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói

khác đi là lấy thị trường làm định hướng.” (I Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu về

Marketing của Liên Hiệp Quốc)

“Marketing là thiết lập, duy trì và cũng cố các mối quan hệ với khách hàng

và các đối tác có liên quan để làm thỏa mãn mục tiêu của các thành viên này.”

(Gronroos, dựa trên mô hình Marketing mối quan hệ)

“Marketing là hoạt động kinh tế trong đó hàng hóa được đưa từ người sản xuất đến người tiêu dùng.” (Học viện Hamilton, Hoa Kỳ)

Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra những đặc điểm chính của Marketing:

– Khâu tiêu thụ được coi trọng, tức là phải bán được hàng

– Marketing là hoạt động hướng tới thỏa mãn ngày một tốt hơn nhu cầu khách hàng Doanh nghiệp bán cái thị trường cần chứ phải là không bán cái mình

có Muốn biết thị trường và người tiêu dùng cần gì thì nhà sản xuất phải nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng và có những phản ứng linh hoạt

Trang 14

6

– Marketing là một quá trình xuất phát từ việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm nhu cầu khách hàng đến khi tìm ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu đó Và quá trình này sẽ được lặp lại

– Marketing gắn liền với tổ chức và quản lý, đòi hỏi đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

1.1.2 Vai trò và vị trí của Marketing trong kinh doanh

Vai trò chính của Marketing là tìm ra các xu hướng mới, những nhu cầu của khách hàng chưa được đáp ứng, từ đó chuyển thành những sản phẩm và dịch vụ mang lại lợi nhuận, chứ không đơn giản là giới hạn trong lĩnh vực truyền thông và quảng cáo như nhiều người vẫn nghĩ Marketing ngày càng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt thể hiện trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

– Marketing kết nối doanh nghiệp và khách hàng, giúp cả hai tìm đến nhau, chỉ ra cho doanh nghiệp cách thức làm hài lòng khách hàng Cụ thể Marketing giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu phong phú, phức tạp và thường xuyên thay đổi của khách hàng, từ đó cung cấp cho doanh nghiệp những biện pháp để phục vụ và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất

– Marketing giúp các nhà kinh doanh hoạch định chiến lược, tìm ra phương hướng, con đường hoạt động trong tương lai Nhờ đó mà doanh nghiệp có thể thích ứng được với những biến động thường xuyên của thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Chắc chắn việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất sẽ giúp doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường

– Marketing còn đóng vai trò lớn trong quản trị doanh nghiệp Mọi quyết định Marketing đều ảnh hưởng đến hoạt động của các chức năng, bộ phận khác trong tổ chức Cụ thể như các quyết định về sản xuất, nhân sự, tài chính đều phụ thuộc vào các quyết định Marketing

1.1.3 Các mô hình chiến lược Marketing

Trang 15

7

Mô hình Marketing hỗn hợp (Marketing–Mix):

Hình 1.1: Mô hình marketing mix (4P)

Marketing mix (4P) là một trong những khái niệm chủ yếu của Marketing hiện đại Marketing mix (4P) là tập hợp những công cụ Marketing mà công ty sử dụng để đạt được các mục tiêu trong một thị trường đã chọn Các công cụ Marketing được pha trộn và kết hợp với nhau thành một thể thống nhất để ứng phó với những khác biệt và thay đổi trên thị trường

Các công cụ Marketing gồm có: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place), xúc tiến (Promotion) và thường được gọi là 4P

Marketing mix (4P) được thể hiện như một hàm có bốn biến số là (P1, P2, P3, P4) Marketing mix của một công ty tại một thời điểm t cho một sản phẩm A có mức chất lượng q, giá bán m, chi phí phân phối y, chi phí xúc tiến z được thể hiện là (q, m, y, z) Một biến số thay đổi sẽ dẫn đến sự kết hợp mới trong Marketing mix Không phải tất cả những yếu tố thay đổi trong Marketing mix có thể điều chỉnh trong ngắn hạn Công ty có thể điều chỉnh giá bán, lực lượng bán, chi phí quảng cáo trong ngắn hạn nhưng chỉ có thể phát triển sản phẩm mới và thay đổi kênh phân phối trong dài hạn

Trang 16

8

Các thành phần cơ bản của Marketing–mix:

+ Sản phẩm (Product): Là thành phần cơ bản nhất trong Marketing mix Đó

có thể là sản phẩm hữu hình của công ty đưa ra thị trường, bao gồm chất lượng sản phẩm, hình dáng thiết kế, đặc tính, bao bì và nhãn hiệu Sản phẩm cũng bao gồm khía cạnh vô hình như các hình thức dịch vụ giao hàng, sửa chữa, huấn luyện,…

+ Giá (Price): Là thành phần cũng rất quan trọng trong Marketing mix, bao gồm: giá bán sỉ, giá bán lẻ, chiết khấu, giảm giá, tín dụng… Giá cả của sản phẩm, dich vụ phải tương xứng với giá trị khách hàng nhận được và có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm, dịch vụ khác

+ Phân phối (Place): Đó là những hoạt động làm cho sản phẩm có thể tiếp cận với khách hàng mục tiêu Công ty phải hiểu rõ, tuyển chọn và liên kết những nhà trung gian để cung cấp sản phẩm đến thị trường mục tiêu một cách có hiệu quả

+ Xúc tiến – Quảng cáo (Promotion): Xúc tiến là các hoạt động để thúc đẩy sản phẩm đến với thị trường mục tiêu Doanh nghiệp phải lên kế hoạch cho những chương trình như: quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng… Đồng thời cũng phải tuyển dụng, đào tạo và khuyến khích đội ngũ bán hàng

Mô hình Marketing 4P có mục tiêu tạo ra lợi nhuận bằng hướng đến việc cố gắng để tiêu thụ các loại hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất ra Vì vậy, người ta cũng gọi Marketing 4P là Marketing hướng sản phẩm – Product Oriented Marketing Mô hình 4P là mô hình tồn tại lâu nhất, vì nó bao phủ các thành phần rất

cơ bản của Marketing

Robert Lautherborn (1990) đã đề xuất phát triển mô hình Marketing 4P thành

mô hình Marketing 4C, trong đó tập trung vào nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng là chính, với mục tiêu sản xuất và bán cái mà thị trường cần chứ không phải là cố gắng bán cái mà mình có Vì vậy Marketing 4C cũng được gọi là

Marketing hướng khách hàng – Customer Oriented Marketing Mô hình 4P được

thay thế bằng 4C như sau:

* Product (Sản phẩm) → Customer solutions (Giải pháp cho khách hàng)

Trang 17

9

* Price (Giá cả) → Cost to the customer (Chi phí đối với khách hàng)

* Place (Thuận lợi về mặt địa điểm) → Convenience (Thuận lợi toàn diện về không gian, thời gian, phương thức giao dịch đối với khách hàng)

* Promotion (Xúc tiến – Quảng cáo) → Communication (Truyền thông giao tiếp với khách hàng)

Mô hình 4P và 4C đều mô tả các thành phần cơ bản của Marketing Mô hình 4P nhìn các công cụ Marketing theo hướng của doanh nghiệp, nhà Marketing phải làm gì để thoả mãn khách hàng và mục tiêu của doanh nghiệp, trong khi mô hình 4C nhìn các công cụ Marketing dưới góc độ của khách hàng, khách hàng nhận được

gì từ các nỗ lực Marketing của doanh nghiệp

Mô hình 7P

Mô hình Marketing 7P là một trong những lý thuyết theo xu hướng nâng cao

vị thế của marketing trong quản trị doanh nghiệp và quản trị tổ chức

Hình 1.2: Mô hình Marketing 7P

(Nguồn:

http://www.brandsvietnam.com/tieudiem/2864-Khai-quat-Mo-hinh-va-Chien-luoc-7P-Marketing)

Trang 18

10

Mô hình Marketing 7P này bao gồm 3 nấc:

Nấc 1 là 4P, bao gồm 4 yếu tố cơ bản trong quản trị marketing Đó là nhóm các giải pháp (hay chiến lược) sản phẩm, từ ý tưởng cho đến sản xuất ra sản phẩm Nhóm kế tiếp là các giải pháp giá, từ chi phí cho đến chiết khấu phân phối và giá tiêu dùng Kế đến là các giải pháp về phân phối và bán hàng và sau cùng là các giải pháp quảng bá thương hiệu sản phẩm

Nấc 2 bao gồm hai nhóm yếu tố, đó là Con người (P5) và Hệ thống (P6) P5 – Con người

Ngày càng có nhiều các phương pháp tiếp thị định hướng con người PR được phân tách thành PR đối ngoại và PR đối nội PR đối ngoại hướng đến việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ và hệ thống chăm sóc khách hàng (CRM) đối với nhà phân phối, giới báo chí, các đơn vị sở hữu truyền thông PR đối nội (Internal PR) nhắm đến việc chăm sóc từng cá nhân và gia đình nhân viên làm việc cho công

ty ở mọi cấp bậc

P6 – Gộp chung gồm quy trình hệ thống (process) và tính chuyên nghiệp (professionalism) Các doanh nghiệp ngày nay luôn đặt những quy trình quản trị (điển hình như ISO:9001) làm hệ thống quản trị, giúp thể chế hóa bộ máy làm việc, phân rõ vai trò, phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của từng cá nhân trong một tập thể quản trị

P7 – Triết lý

Nấc 3 chú trọng vai trò của tư tưởng, văn hóa trong một doanh nghiệp hay một tổ chức Các giải pháp ở cấp độ này thể hiện bởi sứ mệnh hay tầm nhìn của doanh nghiệp, của thương hiệu; văn hóa, những thói quen ứng xử và chuẩn giá trị trong doanh nghiệp, cũng như giữa thương hiệu ứng xử trước cộng đồng; tư tưởng, tầm nhìn và giá trị của tổ chức cũng cần phải được truyền đạt một cách hiệu quả đến với toàn thể cá nhân trực thuộc và kể cả đối với cộng đồng gồm có khách hàng, người tiêu dùng, đối tác, người thân của họ, hay nói rộng hơn là của toàn xã hội

Trang 19

11

Mô hình marketing 7P có thể được ứng dụng trong khá nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên mô hình này chỉ thực sự mang lại hiệu quả đối với doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, ít có sự can thiệp của các cơ chế tạo độc quyền hoặc không lành mạnh Vì vậy vẫn chưa thể đáp ứng tất cả các dạng thức trong thực tiễn

1.2 Giới thiệu về E–Marketing

1.2.1 Khái niệm E–Marketing

Cũng như Thương mại điện tử – E.commerce, người ta thường hiểu một cách đơn giản E–Marketing là hoạt động Marketing có sự hỗ trợ của các công cụ điện tử

Theo Philip Kotler, E–marketing là quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của

tổ chức và cá nhân dựa trên các phương tiện điện tử và Internet Theo quan niệm của Chaffey thì e–marketing là hoạt động Marketing đạt được mục tiêu nhờ kỹ thuật truyền thông điện tử Hay Mark Sceats thì cho rằng e–marketing chính là hoạt động tiếp thị sử dụng Internet là kênh hiển thị

Hay theo một quan niệm khác, e–marketing là hoạt động ứng dụng mạng Internet và các phương tiện điện tử để tiến hành các hoạt động marketing nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và duy trì quan hệ khách hàng thông qua nâng cao hiểu biết về khách hàng, các hoạt động xúc tiến hướng tới mục tiêu

Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản, e–marketing là hoạt động tiếp thị, quảng bá sản phẩm, dịch vụ bằng cách ứng dụng các phương tiện điện tử như điện thoại, fax, Internet …

1.2.2 Đặc trưng cơ bản và các thế mạnh của E–Marketing so với Marketing truyền thống

Từ khi xuất hiện, E–marketing đã được các marketer ứng dụng một cách nhanh chóng Bởi e–marketing có nhiều đặc trưng khác biệt so với marketing truyền

Trang 20

12

thống, đem lại hiệu quả trong hoạt động tiếp thị, quảng bá thương hiệu, sản phẩm và dịch vụ

– Không giới hạn về không gian

Mọi khó khăn về khoảng cách địa lý đã được xóa bỏ hoàn toàn trong môi trường Internet Nhờ hoạt động tiếp thị trực tuyến mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng mục tiêu trên toàn thế giới với chi phí thấp và thời gian nhanh nhất Tuy nhiên bên cạnh việc đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích thì cũng mang đến không ít thách thức Khi khoảng cách được xóa bỏ đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tham gia vào môi trường kinh doanh toàn cầu Khi đó, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

và khốc liệt Chính điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được chiến lược kinh doanh, marketing rõ ràng, chính xác và linh hoạt

– Không giới hạn về thời gian

E–marketing khai thác triệt để thời gian, có thể hoạt động liên tục tại mọi thời điểm Doanh nghiệp có thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng trực tuyến mọi lúc, mọi nơi hoặc tiến hành nghiên cứu thị trường,gửi email quảng cáo bất cứ khi nào…

– Tính tương tác cao

Tính tương tác được thể hiện qua việc hoạt động e–marketing cho phép trao đổi thông tin hai chiều và tạo ra mối quan hệ trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng Hoạt động marketing trực tuyến cung cấp thông tin theo yêu cầu của người sử dụng và cho phép người sử dụng xem các thông tin Khách hàng có thể đưa thông tin phản hồi, có thể yêu cầu nhận thêm thông tin hoặc yêu cầu không nhận thêm thông tin về sản phẩm, dịch vụ

– Khả năng hướng đối tượng thích hợp

Hoạt động marketing trực tuyến có khả năng nhắm vào các lớp đối tượng có thể là khách hàng tiềm năng Doanh nghiệp sử dụng cơ sở dữ liệu về sở thích cá

Trang 21

1.2.3 Các công cụ E–Marketing cơ bản

1.2.3.1 Trang thông tin điện tử (Website)

Trang thông tin điện tử là một công cụ e–marketing quen thuộc đối với các doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều đã thiết kế website riêng để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ và quảng bá thương hiệu Việc thiết kế website luôn được tiến hành dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp là cung cấp thông tin về các vấn đề mới, những tin tức, hình ảnh chi tiết liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hay thu thập ý kiến khách hàng… và cũng dựa vào đặc điểm của những người truy cập thường xuyên Sau khi website vào giai đoạn hoạt động, chủ sở hữu website phải lên một kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tiếp thị thông qua việc sử dụng

Trang 22

– Bố cục website: bao gồm cách bố trí, sắp xếp, phối hợp tất cả các thành phần như màu sắc, nút bấm, hình nền, kết cấu, quy tắc, đồ họa, hình ảnh, âm thanh

– Tính tương tác: cấu trúc của một website không nên quá phức tạp và quá lớn Tính tương tác tốt đồng nghĩa với việc dễ sử dụng, thể hiện ở việc người truy cập có thể dễ dàng tìm được thông tin mà họ muốn; dễ dàng di chuyển từ trang chủ sang các trang khác nhờ việc sử dụng công cụ tương tác như danh mục, liên kết; dễ dàng tải tài liệu; dễ dàng khám phá các đường link; dễ dàng theo dõi “quá trình bán hàng”; dễ dàng gửi bình luận, ý kiến đánh giá, quan điểm để những người khác có thể xem và cùng trao đổi về một vấn đề

Để có một website hiệu quả cần biết cách phối hợp ba yếu tố trên một cách hợp lý

1.2.3.2 SEM

SEM (Search Engine Marketing) là hình thức quảng cáo thông qua các công

cụ tìm kiếm Bằng cách đưa trang web của doanh nghiệp hiển thị ở những vị trí đầu trên trang kết quả của các công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, MSN… SEM được xem là hình thức quảng cáo hiệu quả do tiết kiệm được chi phí, dễ dàng kiểm soát, dễ dàng đánh giá được tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư Phương pháp này có

Trang 23

15

hai hình thức cơ bản, đó là: trả tiền theo Click (Pay Per Click) và tối ưu hóa công

cụ tìm kiếm (Search Engine Optimization)

– Pay Per Click: là cách hiển thị thông điệp quảng cáo trên phần liên kết được tài trợ trong trang kết quả tìm kiếm của Google, Yahoo, MSN… khi người dùng tìm kiếm những từ khóa có liên quan Doanh nghiệp sẽ đặt giá cơ bản cho mỗi click và trả tiền cho mỗi lần khách hàng nhấp vào quảng cáo website hiển thị trên công cụ tìm kiếm

– SEO – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm

SEO là một tập hợp các phương pháp nhằm nâng cao thứ hạng của một website trong các trang kết quả của công cụ tìm kiếm Các nhà tiếp thị sử dụng SEO với mục đích chủ yếu là nâng cao thứ hạng của danh sách tìm kiếm miễn phí theo một số từ khóa, từ đó làm tăng lượng truy cập vào trang web Doanh nghiệp không cần trả phí nếu xuất hiện trong phần kết quả tìm kiếm tự nhiên nên một trang web được tối ưu hóa sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí

Theo thống kê thì gần 50% người dùng Internet trên thế giới sử dụng công

cụ tìm kiếm để tìm thông tin về các vấn đề khác nhau Như vậy, quảng cáo thông qua công cụ tìm kiếm là một hình thức có thể đem lại hiệu quả cao

Trang 24

16

xuất hiện trên Internet, tuy nhiên hình thức này thường gây khó chịu cho người nhận, khiến họ có những ấn tượng hoặc nhận xét không tốt về công ty đã gửi spam Hiện nay ở một số quốc gia đã ban hành các bộ luật chống SPAM – Anti Spam Act – rất nghiêm ngặt Dù vậy người gửi thư quảng cáo không được phép có thể dùng một vài biện pháp lách luật như: thư chúc mừng lễ tết, chúc mừng sinh nhật, khai trương, tặng quà… Nhà tiếp thị còn có thể khắc phục nhược điểm của spam bằng cách gửi quảng cáo của mình đến hộp thư của khách hàng một hoặc hai lần và các lần cách nhau một khoảng thời gian dài để không gây khó chịu cho người nhận Đồng thời cũng cho họ biết nếu họ không muốn nhận thư nữa, chỉ cần thực hiện một số thao tác đơn giản là họ có thể loại bỏ tên của mình ra khỏi danh sách nhận thư Tuy những phương pháp trên có thể có tác dụng nhưng việc sử dụng spam vẫn

có thể mang lại một rủi ro lớn cho uy tín của công ty

– Email được sự cho phép của người nhận (Solicited Commercial Email) Đây là một trong những hình thức tiếp thị quảng cáo tốt nhất, mang lại lợi nhuận nhanh chóng với chi phí thấp nhất vì công ty có thể xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng thông qua việc gửi cho họ các bản tin, thông tin cập nhật

về sản phẩm, khuyến mại trong các khoảng thời gian khác nhau, hoàn toàn tự động Khách hàng đồng ý nhận email do công ty gửi đến là những cho người có quan tâm đến sản phẩm, dịch vụ của công ty nên có nhiều khả năng công ty sẽ nhận được đơn đặt hàng và sự hưởng ứng từ khách hàng

Nhược điểm duy nhất của hình thức này là công ty phải được sự cho phép của người nhận Và giải pháp được đưa ra đó là sử dụng các danh sách thư "tiếp nhận" (opt–in list), tức là người nhận có yêu cầu được nhận các email, họ cũng có quyền lựa chọn ra khỏi danh sách và không nhận email nữa bất cứ lúc nào

1.2.3.4 Quảng cáo trực tuyến

– Quảng cáo dạng biểu ngữ hay banner

Để thiết kế một banner quảng cáo hiệu quả đòi hỏi rất nhiều thời gian và sự đầu tư Sau khi đã lên được kế hoạch thiết kế banner thì việc tìm kiếm một vị trí tốt

Trang 25

17

để đặt quảng cáo với một chi phí hợp lý cũng được cân nhắc Vị trí đó phải phù hợp với đối tượng quảng cáo của công ty và có cùng một thị trường mục tiêu Phụ thuộc vào sự cân nhắc và lựa chọn của nhà quảng cáo mà công ty có thể đặt quảng cáo trên một trang web bất kỳ hay của một nhà chuyên cung cấp các không gian quảng cáo trên web, có thể tham gia vào các chương trình trao đổi banner…

– Quảng cáo bằng các liên kết văn bản (text link)

Textlink là loại hình quảng cáo gây ít phiền toái nhất nhưng đem lại hiệu quả Quảng cáo textlink thường không gây tốn nhiều diện tích màn hình mà lại phù hợp với nội dung mà người xem quan tâm Các quảng cáo textlink còn được đưa ra như là một kết quả được tìm thấy đầu tiên của công cụ tìm kiếm khi người xem tìm kiếm về một vấn đề nào đó

– Quảng cáo tài trợ

Với tư cách là người cung cấp tất cả hoặc một phần vốn cho một chương trình dự án nhất định,các nhà tài trợ thường nhận được một vị trí quảng cáo đẹp nhất như một phần của tài trợ Quảng cáo tài trợ cho phép nhà quảng cáo thực hiện một chiến dịch thành công mà không cần lôi kéo nhiều người vào trang web của mình Phần việc nhà tài trợ phải làm là cho quảng cáo của mình xuất hiện nổi bật nhằm tăng sự thu hút đối với khách truy cập website hay độc giả của các bản tin điện tử

1.2.3.5 Mobile marketing (M – marketing)

Theo ước tính, có khoảng trên 75% khách hàng nhận thông điệp quảng cáo nhờ được thông tin quảng cáo trên mobile Có thể hiểu đơn giản mobile marketing

là sử dụng các kênh thông tin di động làm phương tiện phục vụ cho các hoạt động marketing Mobile marketing là loại hình được các nhà tiếp thị lựa chọn do một số

ưu thế khác biệt với các loại hình khác như khả năng tương tác, đối thoại hai chiềuvới người tiêu dùng với tốc độ nhanh, chính xác, có thể đo lường hiệu quả hoạt động chính xác hơn các loại hình truyền thông truyền thống

Trang 26

18

Trong số các ứng dụng cơ bản của Mobile Markerting thìSMS (tin nhắn văn bản) là hình thức phổ biến nhất Ta có thể sử dụng SMS để gửi cho khách hàng thông tin về các sản phẩm mới, chương trình khuyến mại mới, hay một lời chúc mừng sinh nhật… Tuy nhiên số ký tự cho phép của một tin nhắn SMS hiện nay chỉ

là 160 ký tự nên phải cân nhắc thật kỹ về nội dung gửi đi Mặt khác, việc gửi tin nhắn nếu không nhận được sự cho phép của khách hàng sẽ bị xếp vào dạng “tin rác”

và làm phản tác dụng của chương trình marketing

MMS là tin nhắn đa phương tiện, bao gồm cả văn bản, hình ảnh và âm thanh

đi kèm tin nhắn Hình thức gửi MMS đến khách hàng mới chỉ được sử dụng cho các chương trình marketing của một số hãng lớn trên thế giới Lý do là vì chi phí cho tin nhắn MMS lớn hơn và không phải khách hàng nào cũng có chức năng gửi/nhận tin nhắn MMS trên điện thoại Tương tự như tin nhắn MMS, lựa chọn hình thức video xem trên điện thoại di dộng của các nhà tiếp thị cũng gặp nhiều khó khăn vì sự hạn chế của cơ sở hạ tầng

Ngoài ra các công ty còn áp dụng hình thức đưa thông tin về công ty hay các sản phẩm, dịch vụ của công ty mình lên những trang WAP (những trang web trên điện thoại di động), hoặc phổ biến hơn hết là các thông tin hỗ trợ khách hàng

Theo thống kê năm 2015, thiết bị di động tại Việt Nam đã đạt mức 34 triệu thiết bị, tăng hơn so với 2014 (23 triệu thiết bị) Với tốc độ như vậy, Việt Nam hứa hẹn sẽ là một thị trường tiềm năng đối với loại hình mobile marketing

1.2.3.6 Viral marketing

Viral marketing là loại hình truyền thông mà mọi người thường gọi với cái tên là marketing lan truyền Các nhà tiếp thị sử dụng chiến dịch marketing lan truyền với mong muốn làm bùng nổ thông điệp của công ty tới hàng nghìn, hàng vạn lần Viral marketing sử dụng tất cả các hình thức của truyền thông được thực hiện trên môi trường Internet như các đoạn video, tin nhắn văn bản, trò chơi trực tuyến, sách điện tử,… nhưng phổ biến nhất vẫn là sử dụng các mạng xã hội, diễn đàn, blog, bản tin và email

Trang 27

19

Một chiến dịch viral marketing nếu được chuẩn bị một cách chi tiết, cẩn thận

và đặc biệt là biết cách kết hợp khéo léo các yếu tố lại với nhau thì có thể tạo ra một làn sóng trên môi trường mạng, các thông điệp của công ty chắc chắn sẽ được lan xa

và rộng khắp

1.2.3.7 Kênh truyền thông xã hội (Social Media Marketing)

Social Media Marketing là một thuật ngữ để chỉ một cách thức truyền thông kiểu mới, trên nền tảng là các dịch vụ trực tuyến, với mục đích tập trung các thông tin có giá trị của những người tham gia, mà các nhà tiếp thị Việt Nam thường gọi là truyền thông xã hội hay truyền thông đại chúng Hiểu một cách rõ hơn, truyền thông

xã hội là quá trình tác động đến hành vi của con người trên phạm vi rộng, sử dụng các nguyên tắc tiếp thị với mục đích mang lại lợi ích xã hội hơn là lợi nhuận thương mại

Truyền thông xã hội được thể hiện dưới hình thức là các mạng giao lưu chia

sẻ thông tin cá nhân như Facebook, Zalo… hay các mạng chia sẻ tài nguyên cụ thể như: ảnh (tại trang www.flickr.com; www.anhso.net .), video (tại trang www.youtube.com hay www.clip.vn), tài liệu (trang www.scribb.com, www.tailieu.vn ) mà mọi người thường gọi là mạng xã hội

Để hoạt động marketing trên các trang mạng xã hội đạt hiệu quả thì các doanh nghiệp nên hướng đến nhóm người quan trọng, cũng là khách hàng tiềm năng, cung cấp những thông tin có giá trị và thú vị mà mọi người cần, không nên đưa ra những thông tin không chính xác, mà thay vào đó thể hiện thái độ chân thành

và đáng tin cậy để tạo uy tín, đồng thời cũng tích cực tham gia vào các cuộc thảo luận trực tuyến để tạo các mối quan hệ

Trang 28

Thông thường thì một blog sẽ được thiết kế dựa trên cách tổ chức như sau: những tin mới nhất sẽ nằm trên cùng, để người xem blog dễ theo dõi và cập nhật thông tin Mỗi “post” (bản tin) hay “entry” sẽ gồm có ba thuộc tính chính: tiêu đề (Tittle) giống như tựa của mỗi bài báo, cho biết chung về nội dung bản tin; thời điểm gửi bài (Date/Time) cho biết ngày giờ bản tin được gửi, và phần nội dung bản tin (Main) chứa đựng thông tin muốn gửi đến mọi người Mỗi bài đăng được chứa trong một trang lưu trữ riêng biệt mà các blogger vẫn gọi là permalink Tính năng

đa phương tiện với nhiều tiện ích về hình ảnh, âm thanh, video, một trang blog có thể chứa các siêu liên kết, hình ảnh và các liên kết

Một đặc tính quan trọng của Blog, đó là Comment – mang những thông tin phản hồi từ người đọc tin và được gắn liền với mỗi bản tin Phần bình luận (Comment) tạo ra một kênh giao tiếp phản hồi thân thiện và thuận tiện giữa người đọc và chủ blog, đồng thời là một kênh giao tiếp đa chiều giữa cộng đồng tham gia blog Tùy theo nhu cầu và mục đích mà mỗi người tạo cho mình một (hay nhiều) blog về nhiều chủ đề, lĩnh vực khác nhau

2.1.1.1 Sự ra đời và phát triển của Blog

Thuật ngữ Blog xuất hiện vào năm 1977, khi John Berger – một trong số ít người tạo trang Web cá nhân thời đó, gọi site của mình là “Weblog” bắt nguồn từ cụn từ “web login” (truy cập vào website) Năm 1999, Peter Merholz đã tách từ này thành “We blog” (chúng tôi lập website cá nhân) Từ đó blog trở thành một từ tiếng

Trang 29

21

Anh mới vừa danh từ, vừa là động từ để chỉ một tập san cá nhân trực tuyến hoặc việc đăng lên trên web một bản tin trực tuyến nhằm thông báo những sự kiện xảy ra hàng ngày về một vấn đề gì đó Và sau đó Blogger cũng trở thành một từ dùng để chỉ những người viết blog

Từ website cá nhân đơn giản đầu tiên của John Berger (1997), Peter Merholz (1999) với những nghiên cứu cơ bản về Blog Marketing của Jeremy Wright (2004)

và nhiều tác giả khác, Weblog hay Blog được sử dụng rộng rãi trong Thương mại điện tử chỉ một thời gian sau đó Blog cũng lan truyền mạnh trên nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật… Nhiều chính trị gia đã sử dụng Blog như một cách tiếp cận với quần chúng Còn người dân cũng dùng Blog để buộc những người làm chính trị phải lắng nghe và trả lời những thắc mắc của mình

Với chỉ 100 blog vào năm 1997, năm 1999 thực sự là năm “bùng nổ” của Blog Site Open Diary khai trương vào tháng 10/1998 đã sớm phát triển thành hàng ngàn trang nhật ký trực tuyến (tiền thân của Blog) và Open Diary đã trở thành cộng đồng blog đầu tiên

Năm 2004, blog trở nên quan trọng không chỉ với đời sống cộng đồng mạng

mà còn là phương tiện hữu hiệu thăm dò ý kiến công chúng, đặc biệt là trong các cuộc vận động tranh cử Ngày nay, nội dung và chủ đề của blog đã trở nên rất đa dạng, nhưng thông thường là những câu chuyện cá nhân, bản tin, danh sách các liên kết web, những bài tường thuật, phê bình một bộ phim hay tác phẩm văn học mới xuất bản và cuối cùng là những sự kiện xảy ra trong một nhóm người nào đó Blog không chỉ là một hiện tượng mang tính công nghệ, mà còn là trở thành một phong cách sinh hoạt cộng đồng mới

2.1.1.2 Các dịch vụ Blog thông dụng

Blogger

Blogger.com xuất hiện đầu tiên trong cộng đồng cư dân Blog, do Google phát triển Điểm mạnh nhất của Blogger là nhiều tính năng phụ, đơn giản và có thể

Trang 30

Wordpress

Wordpress.com có nhiều tính năng, có cấu trúc khá tốt, thường xuyên hỗ trợ người dùng và rất thuận tiện nên hiện nay Wordpress có cộng đồng người dùng đông đảo nhất hiện nay, vượt xa các dịch vụ Blog khác Wordpress cũng có nền tảng khá nhẹ nên việc vận hành cũng rất dễ dàng Người dùng hầu như không gặp một rắc rối nào với việc sử dụng blog, bởi Wordpress đã cung cấp rất nhiều tài liệu hướng dẫn cụ thể và chi tiết Wordpress là một môi trường mở, là sự đúc kết của nhiều yếu tố mà không phải nền blog nào cũng có được: cài đặt tự động, dễ quản lý, nhiều tính năng, theme phong phú, dễ sử dụng, có thể tùy biến theo ý thích Tuy nhiên Wordpress không có nhiều Widget và Wordpress cũng chỉ cho phép chỉnh sửa CSS chứ không chỉnh sửa được HTML

My Opera

My Opera là một nền tảng Blog khá nhẹ, có tốc độ nhanh và khả năng tùy biến giao diện cao Opera cho phép người dùng có thể thay đổi hoàn toàn bố cục của Blog để tăng thêm phần “cá tính” cho sản phẩm tạo ra

My Opera có không gian lưu trữ lớn (300 MB), đủ cho nhu cầu của mỗi Blogger Nền tảng Blog này hỗ trợ nhiều định dạng file, giúp cho việc phổ biến thông tin trên blog phong phú hơn Opera còn cho phép comment ẩn danh, cho phép tự xác định bài viết hiển thị trên một trang blog và người dùng còn có thể tạo forum cá nhân Tuy nhiên việc sử dụng Opera đòi hỏi nhiều kỹ thuật về kiến thức

Trang 31

23

Web, đặc biệt là CSS, giao diện của Opera được đánh giá không được đẹp và hỗ trợ rất ít tính năng

2.1.2 Mạng xã hội

2.1.2.1 Giới thiệu chung về mạng xã hội

Mạng xã hội hay mạng xã hội ảo (social network) là một nền tảng công nghệ nhằm xây dựng một mạng lưới xã hội hay một mạng lưới quan hệ giữa các cá nhân, một dịch vụ kết nối các thành viên tham gia trên Internet có chung một sở thích, đam mê, muốn trao đổi thường xuyên, trực tiếp một cách rộng rãi trong cộng đồng của họ

Những dịch vụ mạng xã hội đầu tiên chủ yếu được hình thành trên cơ sở những cộng đồng thực có mong muốn thường xuyên gặp gỡ, trao đổi tâm tình hỏi han ý kiến với nhau nhưng trong đời sống thực tế bị phân tán, xa cách nhau, không

có điều kiện vật chất để thường xuyên tụ họp rồi sau đó phát triển dần thành những người bạn có những mối quan tâm chung, có cùng sở thích, có cùng những băn khoăn về mặt tình cảm cá nhân, về xã hội, về đời sống…

Mạng xã hội đổi mới hoàn toàn phương thức và phong cách và các thành viên trong cộng đồng kết nối và giao tiếp với nhau Sự kết nối và giao tiếp ấy dần trở thành một trong những hoạt động thiết yếu trong cuộc sống mỗi ngày cho hàng trăm triệu người trên thế giới, không kể đến không gian địa lý, ranh giới quốc gia, hoàn cảnh sinh hoạt… Những thành viên tham gia cộng đồng mạng xã hội trên toàn thế giới được gọi là cư dân mạng (netizen)

Mạng xã hội nói chung có những tính năng như chat, e–mail, voice–chat, trao đổi phim ảnh, chia sẻ file, Blog và các loại trao đổi, tư vấn, chia sẻ quan điểm, tranh luận, bình luận…

Khi tạo một website tức là đã tạo ra một thế giới ảo của riêng mình, nếu người khác không biết đến địa chỉ URL hoặc biết mà không chủ động truy cập vào website đó thì họ sẽ không biết gì về các hoạt động trên website đó Trong khi nếu tham gia một mạng xã hội ảo, trở thành thành viên của một cộng đồng ảo, sau khi

Trang 32

24

kết nối bạn bè thì mọi hoạt động trên trang, từ việc kỷ niệm sinh nhật, tham gia một

sự kiện, phát biểu quan điểm, tìm kiếm lời khuyên… đều ngay lập tức được truyền tải đến cộng đồng bạn bè, và do đó có thể nhanh chóng nhận được những phản hồi, những lời bình luận bổ ích, thú vị

Về cơ bản, mạng xã hội giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau Mạng xã hội khác với các trang web thông thường ở cách truyền tải thông tin và tích hợp ứng dụng Trang web thông thường cũng giống như truyền hình, cung cấp càng nhiều thông tin, thông tin càng hấp dẫn càng tốt còn mạng xã hội tạo ra các ứng dụng mở, các công cụ tương tác để mọi người tự tương tác và tạo

ra dòng tin rồi cũng lan truyền dòng tin đó

Đặc điểm của mạng xã hội:

– Là một website mở, nội dung được xây dựng hoàn toàn bởi các thành viên tham gia

Facebook, Twitter hay bất kỳ mạng xã hội nào đều không tự tạo ra nội dung

mà chính các thành viên mới là người tạo ra nó Tất cả những gì người dùng chia sẻ, bao gồm cập nhật trạng thái, chia sẻ ảnh, video… chính là nội dung của mạng xã hội Những tính năng cơ bản của mạng xã hội cũng giúp các thành viên đăng tải nội dung và chia sẻ dễ dàng hơn

– Có sự tham gia trực tiếp của nhiều cá nhân

Theo thống kê, Facebook là mạng xã hội đứng đầu thế giới về lượt người sử dụng với 1,55 tỷ người Trong khi đó, đứng thứ 2 là mạng xã hội WhatsApp với hơn

900 triệu người dùng tính tới hết tháng 1/2016

Lượng người sử dụng mạng xã hội ngày một tăng nhanh là một cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận công chúng một cách dễ dàng với chi phí rẻ hơn rất nhiều

so với các phương tiện truyền thông khác, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

– Độ tương tác cao và hiệu ứng lan truyền nhanh chóng

Trang 33

25

Độ tương tác cao và hiệu ứng truyền lan nhanh chóng là hai trong số những

ưu điểm nổi trội của mạng xã hội

Mạng xã hội cung cấp công cụ cho phép mọi người chia sẻ thông tin và tương tác trực tuyến với nhau theo nhiều cách như thích, bình luận, tag ảnh, chat, cùng sử dụng các ứng dụng vui, kết nối về cùng một nội dung, blog hay trang web nào đó Nhờ vậy mà người dùng mạng xã hội có thể cùng nhau thảo luận, chia sẻ, tương tác ở bất cứ nơi đâu Không chỉ vậy các mạng xã hội hiện nay còn thêm tính năng liên kết các tài khoản của các mạng xã hội khác lại với nhau Với sự giúp đỡ của các ứng dụng tiện ích, ta có thể tích hợp nhiều trang mạng xã hội như Instagram, Facebook… và nhiều trang khác một cách nhanh chóng

Tính lan truyền của mạng xã hội là vô cùng mạnh mẽ Theo các con số thống

kê trên onesecond.designly.com, trung bình cứ một giây trôi qua thì có 10.520.766

số lượt người bấm like trên mạng xã hội Facebook, 594.185 lượt tin nhắn gửi lên trên mạng xã hội Twitter và có gần 64.431 tấm ảnh được gửi lên trên intagram… Thông tin được phát tán, lan truyền rất nhanh thông qua các mạng xã hội, hầu như không có giới hạn về biên giới, lãnh thổ và rất dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng Có thể nói mạng xã hội là công cụ để mọi người tự tương tác và tạo ra dòng tin rồi cùng lan truyền dòng tin đó

2.1.2.2 Các mô hình mạng xã hội

Hiện nay trên thế giới có hàng trăm mạng xã hội khác nhau: Twitter, Facebook, Google+, Youtube, Instagram, Tumblr, Pinterest… với MySpace và Facebook nổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5 tại Nam Mỹ; Friendster tại Châu Á và các đảo quốc Thái Bình Dương Mạng xã hội khác gặt hái được thành công đáng kể theo vùng miền như Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và Zalo tại Việt Nam

Người ta thường phân biệt các loại mạng xã hội: mạng xã hội dựa trên nền tảng Blog (Yahoo360Plus, VietSpace…), mạng xã hội đa phương tiện (clip.vn, youtube.com…), mạng xã hội có chức năng nghề nghiệp (Cyvee.com,

Trang 34

2.1.3 Đề xuất sử dụng Blog trong marketing

Website là một giải pháp e–marketing quen thuộc đối với các doanh nghiệp Tuy nhiên, thay vì website, một số nhà tiếp thị đã để mắt và thực hiện các chiến dịch marketing thành công trên một kênh truyền thông khác khá mới lạ và hấp dẫn,

đó là blog

Trang 35

27

Xét về mặt ứng dụng thì blog và website không khác nhau nhiều, đơn giản có thể coi đó là một nơi trên internet để người viết đăng tải thông tin và người đọc tiếp nhận thông tin Tuy nhiên do tính chất của thông tin cần truyền tải nên blog và website có những điểm khác nhau Thông tin trên website thường là thông báo, tin tức nên có độ chính xác cao, cũng do vậy mà tốc độ cập nhật rất chậm Ngược lại blog thường đơn giản, thông tin cập nhật rất nhanh

Bảng 2.1 là phép so sánh giữa blog và website, cho thấy những ưu, nhược điểm của mỗi loại hình

tư cách pháp nhân rõ ràng, giấy phép đầy đủ

Chính việc khởi tạo quá

dễ dàng dẫn đến blog chưa thực sự là nơi có thể đảm bảo những thông tin đáng tin cậy

Website

có lợi thế hơn Blog

Do hạn chế về mặt tích hợp các ứng dụng bên trong, blog chưa thể bằng được website về mặt thực hiện các chức năng trong thương mại

Website

có lợi thế hơn Blog

Khởi tạo và

sử dụng

Không phải là dễ dàng để có thể khởi tạo và sử dụng một website Việc đó đòi hỏi cao

về chi phí, trình độ nhà quản trị website

Rất dễ dàng với việc khởi tạo một blog, không cần đỏi hỏi quá nhiều kiến thức công nghệ thông tin

Blog có lợi thế hơn website

Trang 36

Có thể giao tiếp trực tiếp với Admin một cách

dễ dàng qua hệ thống tin nhắn, trả lời và bình luận rất thuận tiện

Blog có lợi thế hơn website

Phần lớn website không tạo các trang diễn đàn (forum), phòng nói chuyện (chat–

room) hay sổ lưu ý kiến khách hàng (Guest book)

Dễ dàng tạo nên một cộng đồng bạn bè, qua

đó người dùng có thể đọc trực tiếp các lời bình

và tin nhắn công khai của nhau Mạng xã hội thường xuyên thông báo cho cộng đồng bạn bè những tin tức mới nhất của blog trong cộng đồng mạng

Blog có lợi thế hơn website

Hoàn toàn miễn phí khởi tạo và duy trì hoạt động

Blog có lợi thế hơn website

Các blog nằm dưới sự bảo vệ của các công ty

hỗ trợ phát hành blog, được đảm bảo về mặt an toàn và bảo mật

Blog có lợi thế hơn website

Trang 37

29

Nhiều người cho rằng marketing thông qua website sẽ chuyên nghiệp hơn hẳn việc tiếp thị, quảng cáo truyền thông thông qua blog Tuy nhiên, dù là blog hay website, thì giá trị cốt lõi vẫn nằm ở thông tin cần truyền tải Một blog/website được đánh giá cao khi nội dung có giá trị, hấp dẫn, luôn được cập nhật, được nhiều người quan tâm và có tính tương tác cao Nội dung trên blog mang quan điểm cá nhân Góc nhìn cá nhân đôi khi hạn hẹp nhưng lại rất riêng và sâu sắc Chính vì vậy blog

đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt

Blog là một công cụ truyền thông mang lại sự tương tác, trao đổi thảo luận thuận lợi, tự nhiên giữa người đọc với người đọc, người đọc với tác giả Đây là cách

mà các nhà tiếp thị tiếp cận, gây cảm tình với người tiêu dùng, nhanh chóng nắm bắt được nhu cầu và suy nghĩ của họ

Blog cũng thể hiện rõ những ưu thế so với các trang mạng xã hội khác như: – Sở hữu nội dung

Khi chia sẻ một nội dung trên nền tảng truyền thông xã hội như Facebook, ta không thể sở hữu nội dung đó vì platform là của Facebook Chủ blog – người trực tiếp tạo ra các nội dung trên blog sẽ là người sở hữu cả các quyền liên quan đến nội dung, hình ảnh, video trong bài viết

– Không bị giới hạn về hình thức của nội dung

Nội dung thể hiện trên blog phong phú và chi tiết hơn rất nhiều so với nội dung đăng mạng xã hội Facebook, Instagram hay Twitter Ta cũng có thể kết hợp nhiều hình thức media khác nhau trong blog: hình ảnh, video, infographic với nội dung chữ, dựng bảng biểu với các kiểu trình bày đa dạng, phù hợp với mục tiêu bài viết Và nếu muốn thể hiện cá tính riêng và tự do hơn, có thể mua hosting, theme, cài thêm plugin với giá cả phải chăng

– Bài viết càng nhiều, khả năng xuất hiện khi tìm kiếm càng cao

Nếu như Facebook đang kiểm duyệt nội dung ngày càng gắt gao và hạn chế

số bài post trên newsfeed thì với blog sẽ ngược lại Số bài viết nhiều và làm SEO tốt, khả năng bài viết xuất hiện trên trang đầu càng cao

Trang 38

30

Tuy nhiên viết blog nếu không tạo ra được một phong cách, cá tính riêng, không xây dựng mối quan hệ và tham gia các hoạt động của cộng đồng thì chiến dịch marketing bằng blog cũng chẳng có cơ hội tồn tại trong thế giới ảo, blog được xây dựng có lẽ không ai biết đến

Theo số liệu thống kê tổng số lượng truy cập vào website, mạng xã hội là một trong ba nhân tố thu hút quan trọng hàng đầu, bao gồm truy cập thông qua các công cụ tìm kiếm và truy cập trực tiếp

Điểm nổi bật của mạng xã hội mà ai cũng nhận thấy đó là tính kết nối và chia

sẻ rất mạnh mẽ Nó phá vỡ những cản trở về địa lý, ngôn ngữ, quốc gia Khi mạng

xã hội trở thành xu hướng của toàn cầu thì nó cũng trở thành đối tượng được các marketer chú ý tới Trong một khảo sát của Social Media Examiner tại Mỹ và một

số nước khác, trong số 3.720 nhà tiếp thị, chủ doanh nghiệp và những người tự kinh doanh thì 96% người tham gia khảo sát sử dụng mạng xã hội trong hoạt động Marketing và 92% trong số đó đồng ý rằng mạng xã hội rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh Marketing qua mạng xã hội không còn xa lạ, nó được xem như là công cụ tương tác giữa doanh nghiệp với khách hàng của mình, doanh nghiệp có thể thông báo thông tin sản phẩm mới, giải đáp thắc mắc khách hàng, các chương trình khuyến mãi… Sự kết nối và chia sẻ trên các mạng xã hội hiện nay dường như không có giới hạn Với những tính năng như trên, ta có thể thấy lợi ích tuyệt vời của mạng xã hội đối với marketing Facebook, Twitter, Google+, Instagram, Youtube…

sẽ mang lại lượng khách hàng, độc giả vô cùng lớn

Chính vì vậy, việc kết hợp giữa xuất bản các nội dung trên Blog và các nội dung đó được chia sẻ trên mạng xã hội, nếu quản lý, vận hành chúng một cách chuyên nghiệp chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả gấp nhiều lần với chi phí thấp hơn

so với marketing và quảng cáo truyền thống Đó chính là những ưu điểm lớn của phương thức Blog Marketing, cũng là gợi mở cho một hướng đi mới trong hoạt động e–marketing của các nhà tiếp thị, trong khi các phương thức cũ đang dần kém hiệu quả

Trang 39

có thể sử dụng các dịch vụ trực tuyến tạo phiên bản mobile như

http://www.onbile.com/, http://mobify.me, Không kể đến việc hầu hết các loại hình mạng xã hội đều đã cho ra đời các ứng dụng trên thiết bị di động, điều này là một nhân tố sẽ giúp thúc đẩy hoạt động Blog Marketing trên thiết bị di động cũng như hoạt động Blog Marketing nói chung ngày càng được chú ý hơn trong thời gian tới

2.2 Nghiên cứu về Blog Marketing

2.2.1 Khái niệm Blog Marketing

Ngày nay, blog không còn là chỉ là nhật kí trực tuyến Những mô hình kinh doanh online hoặc offline đều có thể sử dụng blog để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ tới lượng khách hàng tiềm năng lớn hơn, gia tăng lượng truy cập vào website, sự quan tâm và đơn đặt hàng

Tuy chưa có một định nghĩa chính xác, nhưng Blog Marketing được hiểu là hình thức tiếp thị, quảng cáo, xuất bản nội dung online cho thương hiệu, sản phẩm, website, sự kiện… thông qua công cụ Blog

Có thể tóm tắt chiến lược Marketing qua blog như Hình 2.2:

Trang 40

2005, số lượng các blog cá nhân lên tới trên 15 triệu

Hiện nay theo thống kê trên toàn bộ thế giới có đến hơn 250 triệu trang web, hơn 8 triệu blog và gần như là nhiều vlog (video blog), và khoảng 115.000 podcast (audioblogs)

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều tập đoàn, công ty lớn tạo blog riêng Google là một trong số đó Các blog của Google được lập ra với mục đích truyền thông Họ nêu ra những tính năng, sản phẩm mới và hướng dẫn mọi người sử dụng tính năng đó một cách hiệu quả Google tương tác với người tiêu dùng bằng cách đặt ra những câu hỏi như “Những chức năng đó có phù hợp không? Có khó khăn gì trong quá trình sử dụng không?” để khách hàng trả lời Từ đó họ cải thiện sản phẩm

Có thể việc đó không trực tiếp tạo ra doanh thu nhưng nó giúp cải thiện gián tiếp doanh thu của họ thông qua truyền thông và trao đổi thông tin giữa công ty với

Ngày đăng: 22/03/2018, 19:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w