MỞ ĐẦU 2 1. Vị trí, vai trò của khoa học đối với văn học 3 1.1. Vị trí 3 1.2. Vai trò 3 2. Đặc điểm của hướng tiếp cận văn học từ khoa học 4 3. Khảo sát một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu theo hướng tiếp cận văn học từ các khoa học 6 3.1. Taine 6 3.1.1 Quan niệm tác giả 6 3.1.2. Công trình nghiên cứu tiêu biểu 7 3.2. Tác giả Nguyễn Bách Khoa ( Trương Tửu, 19131999) 7 3.2.1. Quan niệm của tác giả 7 3.2.2. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu 9 3.3. Một số tác giả khác 12 4. Tích cực và tiêu cực 14 4.1. Tích cực 14 4.2. Tiêu cực 15 KẾT LUẬN 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 MỞ ĐẦU Khoa học đóng vai trò rất quan trọng đối với xã hội hiện nay, chi phối đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó văn học không phải là ngoại lệ. Ở những thập niên đầu thế kỉ XX, những thành tựu khoa học của phương Tây đã gây nhiều cảm hứng cho các nhà phê bình nước ta. Với lối phê bình văn học theo hướng tiếp cận văn học từ các khoa học đã đem đến một cách nhìn mới mẻ và đầy tiềm năng cho sự phát triển của văn học nghệ thuật. Hướng tiếp cận này chú trọng việc phân tích, giải mã tác phẩm dựa trên mối quan hệ logic, có tính khoa học, giải thích những vấn đề văn học nghệ thuật đơn thuần không giải thích được. Dựa trên việc khảo sát một số tác giả phê bình văn học bằng việc tiếp cận từ các khoa học để hiểu rõ hơn về những thành công và hạn chế của lối phê bình này. 1. Vị trí, vai trò của khoa học đối với văn học 1.1. Vị trí Văn học vốn được xem là một bộ môn khoa học, nên vị trí của khoa học đối với văn học đóng một vai trò quan trọng, nó còn quan trọng hơn trong việc đánh giá, nhận xét giá trị tác phẩm và phong cách sáng tác của tác giả thông qua quá trình phê bình. Khoa học thâm nhập thẳng vào đời sống tinh thần, vào thế giới quan, vào nhân sinh quan, vào tâm lý và tình cảm con người, thâm nhập gián tiếp nhưng có tính chất căn bản vào tình cảm con người qua việc làm biến đổi môi trường thị giác của họ, tạo ra những thói quen thị giác mới trong thực tại đời sống. Khoa học đã tác động phức tạp và đa dạng vào sáng tác nghệ thuật và đòi hỏi có hình ảnh của nó in dấu trên tác phẩm, tức có góp phần sinh ra các hình thức mới của nghệ thuật. Sự tác động này không một chiều thô thiển mà phải được coi như sự đối thoại sinh động nhiều hình thức nghệ thuật tưởng như là sự đồng thanh tương ứng với thực tại thấm đẫm ảnh hưởng khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, tiếp cận văn học từ góc nhìn khoa học là một hướng tiếp cận mới mà người mở đường cho khuynh hướng tiếp cận này ở Việt Nam là Nguyễn Bách Khoa. 1.2. Vai trò Theo H. Taine, điều quan trọng nhất, cũng là khó nhất trong mỗi nghiên cứu là tìm ra nét đặc trưng và chủ đạo mà mọi cái khác có thể được suy ra từ đó. Vì vậy, dùng khoa học để rọi chiếu văn học giúp người phê bình, người tiếp nhận nhìn tác phẩm từ một góc nhìn mang tính chính xác của các yếu tố khoa học, hướng tiếp cận này đi ngược lại với khuynh hướng phê bình truyền thống trước đó là bình văn và cảm thụ văn học theo dòng tâm sự, mang nhiều yếu tố cảm tính. Khi được nhìn từ các khoa học thì “tâm sự chỉ là phần hữu thức” “phần nổi của tảng băng”, trong khi cá tính con người lại chủ yếu thuộc “cõi tiềm thức”, ở phần chìm, chiếm chín phần mười của tảng băng. Cá tính, theo Nguyễn Bách Khoa, là một “kiến trúc” bao gồm nhiều yếu tố hóa hợp nhau rồi kết tinh lại, trong đó nổi trội là ba yếu tố: sinh lí di truyền (huyết thống), địa lý tự nhiên (quê quán, khí hậu, thổ ngơi, vị trí địa lí, lịch sử) và quan trọng nhất là điều kiện xã hội (bối cảnh xã hội thời đại, vị trí đẳng cấp nhà văn)”. Bằng cái nhìn khoa học, người tiếp nhận thấy được giá trị tác phẩm, cá tính nhà văn từ góc nhìn rõ ràng hơn, ít khai thác đời tư mà dựa vào đời tư, nơi sinh sống, những mối ảnh hưởng từ di truyền và môi trường trong việc hình thành cá tính và nghệ thuật sáng tác của họ. 2. Đặc điểm của hướng tiếp cận văn học từ khoa học Thuật ngữ khoa học mang nội hàm ý nghĩa là “dựa trên cơ sở lí lẽ (đối lập với tôn giáo) , chữ “khoa học” được tác giả Nguyễn Bách Khoa dùng với hai nghĩa: thứ nhất là sự “khách quan” trong phân tích đánh giá các sự kiện; thứ hai là vận dụng các lý thuyết của những bộ môn khoa học như tâm lý học, di truyền học, xã hội học,... và phê bình văn chương. Tiếp cận văn học dựa trên khoa học là cách lấy nhận thức lí tính làm chủ, mượn đường dẫn lý thuyết để tìm tòi quy luật nghệ thuật của tác phẩm văn học đồng thời phơi bày cái đẹp dựa trên cơ sở lý thuyết. Tính khoa học ảnh hưởng vào trong văn học dưới sự lý giải của Nguyễn Bách Khoa tạo nên tiêu chí của loại phê bình này là “cần gác bỏ hết những tình cảm riêng, những thành kiến và dư luận đã định giá thi nhân và tác phẩm kia” để “làm hết nghĩa vụ của một nhà phê bình vẫn tôn thờ khoa học” (Nguyễn Du và Truyện Kiều, 1942). Vì thế, đặc điểm của khoa học trong văn học chủ trương rõ ràng và đối lập với truyền thống bình văn và cảm thụ văn học – phê bình ấn tượng, trực giác chủ quan (Hoài Thanh chủ soái). Theo đó người phê bình xuất phát từ một cái “thú”, một sự “đồng cảm, đồng tình” với nhà văn và tác phẩm, đi tới chỗ trình bày lại những ý nghĩ, những cảm xúc của mình do tác phẩm gợi lên. Do đó, một bài phê bình theo lối ấn tượng thường mang cái nhìn chủ quan của nhà phê bình, phân tích về “con người và tác phẩm”, nói nhiều về tâm lí và thường ca ngợi mà không chứng minh một cách khách quan. Trong giai đoạn 1932 – 1945, một số công trình phê bình văn học dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học của Phân tâm học đã để lại nhiều ấn tượng. Trương Tửu với bài phê bình “Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương” trên báo Tiến Hóa. Năm 1936, Nguyễn Văn Hanh viết “Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài”. Ông giải thích rằng nữ sĩ Hồ Xuân Hương bị ám ảnh, bị thần kinh do dục tình không thỏa mãn, Nguyễn Văn Hanh vận dụng một cách quá đơn giản, quá khái quát sơ đồ “dồn nén ẩn ức thăng hoa (libido)”: “Dục tình ngày càng tăng, càng nén lại càng bồng bột. Ngày qua tháng qua sức đã nén, dồn ép tình dục càng tăng và sự cần kia càng khẩn cấp. Kết quả: Xuân Hương khủng hoảng tình dục, khủng hoảng nặng sẽ kết bệnh thần kinh”. Sau này, Đỗ Lai Thúy đã tìm cách lý giải thực chất cái dâm, cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương bằng một cách tiếp cận khác, mới mẻ và tiến bộ hơn: ông đã dựa vào phương pháp tâm lý học phân tích, lý thuyết siêu cổ mẫu của C.G.Jung kết hợp với tín ngưỡng phồn thực. Đỗ Lai Thúy phát hiện trong thơ Hồ Xuân Hương: “Những biểu tượng phồn thực là nỗi ám ảnh của bà. Trước hết ở tính toàn hiện của nó. Nghĩa là ở đâu nó cũng có mặt. Từ những hình ảnh thực đến ảo giác. Vào thế giới Hồ Xuân Hương như bước vào một nhà kính vạn gương, những biểu tượng phồn thực được nhân lên đến vô tận, tạo thành một thế giới riêng biệt, tuy không khỏi có sự biến ảnh dị dạng. Nhưng đó chính là ống kính đặc tả để ghi lại những trạng thái sung mãn nhất của sự sống”. 3. Khảo sát một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu theo hướng tiếp cận văn học từ các khoa học 3.1. Taine 3.1.1 Quan niệm tác giả Taine (Hippolyte Adolphe Taine) là nhà triết học, nhà sử học và nhà phê bình văn học Pháp. Ông là người đứng đầu của trường phái văn hóa lịch sử, trường phái chịu ảnh hưởng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học xã hội. Khi nghiên cứu một nhà văn, Taine đưa ra ba nguyên lí cần phải áp dụng là chủng tộc, địa điểm và thời điểm. Luận đề nổi tiếng: Dòng giống, Địa dư, Thời đại (La Race, la Milieu, le Moment) mà các nhà phê bình coi là cốt lõi phương pháp phê bình văn học của Taine, được nêu lên trong tác phẩm Về năng lực nhận thức (De l’intelligence 1870) của ông. Trong tác phẩm này, mặc dù có tiếp thu nhiều quan điểm của thuyết duy cảm và thuyết liên tưởng( associationnisme) có cội nguồn ở Anh, song về cơ bản H.Taine đã đưa ra một lý thuyết nhận thức sự vật với hệ thống khái niệm và thao tác tư duy chặt chẽ của riêng ông. Theo H.Taine, điều quan trọng nhất, cũng là khó nhất trong mỗi nghiên cứu là tìm ra nét đặc trưng và chủ đạo ( un traitcaracteristique et dominant) mà mọi cái khác có thể được suy ra từ đó. Trong cuốn La Fontaine và thơ ngụ ngôn của ông ( La Fontaine et ses fables), Taine cho rằng có thể qua các yếu tố về nòi giống, hoàn cảnh địa lý và thời điểm lịch sử nhà văn sống để lí giải mọi sự bí ẩn của văn chương. Trường phái văn hóa – lịch sử tìm giá trị của văn chương không phải ở bản thân văn chương, mà ở đối tượng in dấu của văn chương, tức là văn hóa lịch sử. Như vậy, nó đã có phần đồng nhất văn chương với thực tại xã hội mà văn chương phản ánh. Vì vậy, lịch sử văn chương mà Taine muốn tạo dựng thực chất là lịch sử văn minh, lịch sử tư tưởng xã hội. Mối quan hệ biện chứng, chân thực giữa các quá trình xã hội và quá trình văn học chưa được giải thích rõ. Thuyết chủng tộc địa lí lịch sử này cho đến nay vẫn chưa hẳn là vô ích, chỉ có điều nên vận dụng nó như thế nào, ở mức độ nào trong việc phê bình văn học. Phê bình văn học đầu thế kỷ XX ở Việt Nam chịu ảnh hưởng H. Taine chủ yếu là tư tưởng phê bình với ba nhân tố trên (dòng giống, địa dư, thời đại) và sự trình bày hệ thống chặt chẽ các khái niệm. 3.1.2. Công trình nghiên cứu tiêu biểu Tác phẩm có tiếng vang đầu tiên chính là luận văn Tiến sĩ mà Taine bảo vệ năm 1853: Cảo luận về truyện ngụ ngôn của La Phôngten (Essaisur les fables de la Fontaine). Năm 1857, ngoài cuốn Những tiểu luận về phê bình và lịch sử (Les essais de la critique et l’histoire), Taine còn cho ra mắt công trình được phổ cập Các triết gia Pháp thế kỉ XIX (Les Philosophes Francais du XIXe siècle). Sau các chuyến viễn du tới Anh và Italia, Taine cho xuất bản một loạt những công trình như: Chủ nghĩa thực chứng Anh ( Le Positivisme anglais). Lịch sử văn học Anh (Histoire de la literature anglaise) – năm 1854. Triết học nghệ thuật Italia (Philosophie de l’art en Italie). Triết học nghệ thuật Hy Lạp (Philosophie de l’art en Grec). Về cái lý tưởng trong nghệ thuật (De l’Ideal dans l’art). Về năng lực nhận thức (De l’intelligence – 1870). La Fontaine và thơ ngụ ngôn của ông (La Fontaine et ses fables). 3.2. Tác giả Nguyễn Bách Khoa ( Trương Tửu, 19131999) 3.2.1. Quan niệm của tác giả Nguyễn Bách Khoa gọi phương pháp phê bình văn học của mình là Phê bình khoa học. Ông quan niệm rằng khi phê bình với phương pháp này thì cần gác bỏ hết những tình cảm riêng, những thành kiến và dư luận đã định giá thi nhân kia và tác phẩm kia để làm hết nghĩa vụ của một nhà phê bình vẫn tôn thờ khoa học (Nguyễn Du và Truyện Kiều). Chữ khoa học được Nguyễn Bách Khoa dùng với hai nghĩa: Thứ nhất là sự khách quan trong phân tích, đánh giá sự kiện, hiện tượng. Thứ hai là vận dụng lí thuyết của những bộ môn khoa học như tâm lí học, xã hội học, di truyền học, xã hội học ...vào phê bình văn chương. Nguyễn Bách Khoa cho rằng phê bình văn học phải tìm hiểu cá tính nhà văn. Ông cho rằng Nghiên cứu một văn phẩm mà không tìm đến cá tính của nhà văn và hình ảnh xã hội đương thời với nhà văn phản chiếu trong tác phẩm ấy tức là không hiểu gì về nghệ thuật phê bình hết. Bởi lối phê bình tìm hiểu “tâm sự nhà văn trong tác phẩm văn chương” kiểu truyền thống vừa dễ dãi vừa không đúng đắn. Ông tìm hiểu các nhà khoa học phương Tây và thử nghiệm nhiều lý thuyết khoa học trong việc phê bình. Trong các công trình nghiên cứu của ông, tiêu biểu là các thuyết: Thuyết chủng tộc – địa lý của Taine; thuyết Phân tâm học của Freud; học thuyết Mác về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội. Nguyễn Bách Khoa sử dụng lối tiếp cận xã hội học Mácxít để xem xét tác phẩm văn học. Nhưng cũng có một số ý kiến trái chiều cho rằng ông không phải là nhà Mác – xít thứ thiệt. Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu như Nguyễn Du và Truyện Kiều, Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, văn chương Truyện Kiều… có thể thấy Nguyễn Bách Khoa đề cao lý luận Mác về xã hội và văn học. Ông quan niệm “khoa học đủ thế lực” phá tan bí mật của vũ trụ. Ông cho rằng: “óc khoa học là khí cụ tiến hóa của đẳng cấp đang lên”, hình thức tư duy trong các tác phẩm của ông là văn bản khoa học thực sự. Chúng xác định về mặt nội dung khái niệm, có cách suy đoán theo quy luật nhận thức và được thiết lập thành hệ thống chặt chẽ. Xem xét sự vật trong hệ thống là đặc điểm chính của phong cách phê bình Nguyễn Bách Khoa. 3.2.2. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu Nguyễn Du và Truyện Kiều Truyện Kiều là một tác phẩm văn học đặc sắc của nền văn học trung đại Việt Nam, do đó nó đóng một vị trí quan trọng trong việc trở thành một đối tượng văn học mà các nhà nghiên cứu, phê bình hướng đến để tiếp cận và khám phá. Trên chặng đường nghiên cứu và phê bình Truyện Kiều thì đã có nhiều hướng khảo sát và bình giá ở nhiều phương diện khác nhau. Tính khoa học bắt đầu được quan tâm đến, trong số đó cuốn Nguyễn Du và Truyện Kiều là một hướng tiếp cận mang hướng khoa học của Nguyễn Bách Khoa. Nguyễn Du và Truyện Kiều được xuất bản năm 1942, đây là một cuốn chuyên khảo được Nguyễn Bách Khoa hướng đến phương pháp phê bình mới, mang tính khoa học hơn lối phê bình truyền thống của các tác giả khác. Ông đã vận dụng nhiều lí thuyết khoa học trong phê bình văn học, đối với Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đã vận dụng ba lí thuyết nổi bật để tiếp cận, đó là: Thuyết chủng tộcđịa lí của Taine, thuyết Phân tâm học của Freud và học thuyết của Mác về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội. Thứ nhất, theo thuyết chủng tộc địa lí của Taine thì trong Nguyễn Du và Truyện Kiều cá tính của Nguyễn Du là sản phẩm của sự chung đúc huyết thống dòng họ Nguyễn và địa phương tính Nghệ Tĩnh với huyết thống họ Trần và địa phương tính Bắc Ninh, đó là kết tinh của lòng ham sống say sưa, cái khí tiết hiên ngang không chịu khuất phục của giống nòi ( Nghệ tĩnh) với đất của ái tình, của tinh thần mẫu hệ, Những tính bồng bột...chiều theo cái đà phát triển của muôn loài (Bắc Ninh). Thứ hai, theo thuyết Phân tâm học của Freud: đây là một thành tựu vĩ đại của Khoa học thế kỉ XX, có ý nghĩa và lợi ích về nhiều mặt. Từ thành quả này của khoa học thế giới, Nguyễn Bách Khoa đã áp dụng nó vào quá trình phê bình tác phẩm văn học. Thứ ba, theo học thuyết của Macxít, Nguyễn Bách Khoa tiếp cận Nguyễn Du và Truyện Kiều trên nhiều lĩnh vực như triết học, kinh tế, chính trị, xã hội,... Nguyễn Bách Khoa là người đầu tiên xem xét Truyện Kiều trên hai phương diện là bối cảnh xã hội thời đại và nhân vật. Ông xem xét các nhân vật chính trong truyện: Kim Trọng, Từ Hải, Thúy Kiều và các cảnh ngộ mà nhân vật gặp phải như là hình ảnh toàn khối của Nguyễn Du. Mỗi nhân vật, mỗi cảnh ngộ đã thể hiện một khía cạnh: Kim Trọng là đa cảm, đa tình, quả quýêt, Từ Hải là một ước mơ làm một vị anh hùng trong tưởng tượng, Thúy Kiều nhân vật chủ chốt là sự thể hiện những mâu thuẫn trong tâm tính Nguyễn Du một (cốt cách đa tình đa cảm, hành động theo bản năng và trái tim mà suy nghĩ và lí luận thì lại phải nấp sau bản ngã của tộc họ và đẳng cấp). Văn chương truyện Kiều Văn chương Truyện Kiều được viết năm 1944. Trong cuốn sách này, Nguyễn Bách Khoa đã dùng cái nhìn của lý thuyết cấu trúc kí hiệu học và tiếp nhận nghệ thuật để hình thành nên cách nhìn của bản thân về văn chương Truyện Kiều. Ở đó, ông đánh vào trực diện những vấn đề “tế nhị” và “tinh vi” nhất của Truyện Kiều bằng giải thích khoa học, “mổ xẻ” vấn đề mà Hoài Thanh và Đinh Gia Trinh không phân tách được. Tuy quá duy lý nhưng đã đặt ra được những quan điểm thiết thực cho đời sống phê bình của tác phẩm. Văn chương Truyện Kiều đi sâu vào nghiên cứu “chất thơ” và “cái đẹp”, “lập giới thuyết minh bạch”, đưa ra những quan điểm mới lạ, cấp tiến mà trước đó chưa có. Rằng cái vỏ âm thanh, ngôn ngữ chuyển tải ý nghĩa mà người dùng gửi gắm. Tư duy của Nguyễn Bách Khoa mang tính khoa học qua việc ông “xác lập các định nghĩa, giải thích một loạt các khái niệm, tiến đến tìm mối liên hệ logic giữa các khái niệm nhằm nhận thức đối tượng”. Trong Văn chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa tập trung phân tích hai hiện tượng, đó là thiên tài nghệ sĩ và chất thơ nghệ thuật. Về thiên tài nghệ sĩ, ông cho rằng vấn đề thiên tài, nói chung là các vấn đề về tư duy, linh hồn, cá tính con người đều gắn với tổ chức sinh lí con người. Về chất thơ nghệ thuật, cụ thể là chất thơ trong Truyện Kiều, ông cho rằng chất thơ” Truyện Kiều “chứa chan chất tàn héo tiêu ma”, là “sự thất bại, tuyệt vọng, sự bi ai sầu muộn, sự đầu hàng” của một đẳng cấp quý tộc ở địa vị Nguyễn Du. Văn chương Truyện Kiều mang hướng tiếp cận khoa học ở chỗ tác phẩm đã đi theo một hệ thống chặt chẽ trong kết cấu. Đi từ việc xác định “chất thơ” truyện Kiều là nỗi bi ai sầu muộn đến việc chất thơ ấy chi phối cấu tạo hệ thống hình thức như thể thơ, âm điệu… Cuối cùng là sự tác động của nó đến chủ thể tiếp nhận qua sự thích hợp với tâm lí dân tộc mà được hoan nghênh, đón nhận. Việc được nhận định chất thơ của một tác phẩm cũ trong tư duy mới theo một hệ thống đã trở thành bước tiến quan trọng trong tiến trình phát triển của phê bình văn học Việt. Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ là một công trình quan trọng trong sự nghiệp nghiên cứu của Nguyễn Bách Khoa. Công trình này được khai sinh năm 1944 khi văn học Việt Nam đang trong tiến trình hiện đại hóa, đời sống văn học sôi nổi, những lý thuyết, phương pháp luận nghiên cứu từ bên ngoài được vận dụng vào Việt Nam. Việc nghiên cứu công trình trên giúp chúng ta hiểu sâu hơn về ông: ý thức tiên phong, đặc điểm tư duy khoa học, sở trường nghiên cứu, khả năng vận dụng mô hình lý thuyết bên ngoài vào thực tiễn văn học Việt Nam, văn phong, tinh thần làm việc và cả những hạn chế trong cách xử lý, cách vận dụng các tri thức khoa học khi tham chiếu vào một hiện tượng văn học cụ thể. Đồng thời chúng ta có căn cứ để đánh giá đóng góp của ông trong lịch sử hiện đại hóa phương pháp nghiên cứuphê bình văn học ở Việt Nam. Để khảo cứu văn tài Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bách Khoa đã phải theo cái “phương pháp khoa học cao nhất, hiệu nghiệm nhất trong tư tưởng giới hiện đại của loài người” đó là “phương pháp duy vật biện chứng”. Từ đây ông đã bắt đầu phê phán lí thuyêt của H.Taine như một lí thuyết “duy vật dung tục và máy móc”. Nguyên lí cơ bản để giải thích về những “cá nhân đặc biệt” của ông là các luận điểm của C. Mác. Nguyễn Bách Khoa đã dựa trên hoàn cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, và số phận đẳng cấp sĩ phiệt Nho giáo mà Nguyễn Công Trứ là một “phần tử” để làm cơ sở giải thích hầu như mọi vấn đề của “hiện tượng Nguyễn Công Trứ”: thái độ đối với cái nghèo, sự hành lạc, cái ngông, chí nam nhi... Có thể nói rằng, đến Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bách Khoa đã chứng minh được khả năng vận dụng phương pháp phê bình mác xít. Nhiều luận điểm của ông về Nguyễn Công Trứ, sau này, được các học giả kế thừa. Điều đó đã chứng tỏ giá trị khoa học của công trình. 3.3. Một số tác giả khác Ở Việt Nam, ngoài Nguyễn Bách Khoa thì đã có nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu, tiếp cận văn học từ các khoa học. Có thể kể đến một số tác giả như: Nguyễn Văn Hạnh, đây là tác giả đã ứng dụng lí thuyết phân tâm học để phân tích về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương. Đào Duy Anh có hướng phê bình, khảo cứu Truyện Kiều theo hướng tiếp cận khoa học. Trong cuốn khảo luận về Kim Vân Kiều Truyện. Đào Duy Anh đã khảo sát, bình luận Truyện Kiều tương đối toàn diện về các mặt: tiểu sử tác giả, lai lịch tác phẩm, tư tưởng của tác giả đến tác phẩm đến nhân vật, văn chương và địa vị tác phẩm trong đời sống tư tưởng và văn hóa dân tộc. Ông đã có những thái độ khách quan, nghiêm túc và cẩn trọng khi bình giá Truyện Kiều. Cuốn khảo cứu Kim Vân Kiều Truyện được xem là một cuốn nghiên cứu phê bình đầu tiên theo lối khảo cứu khoa học. Nguyễn Đình Giang trong Thử tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều theo một phương pháp mới của mình đã vận dụng phương pháp tính tình khoa trong việc nghiên cứu tính tình của Nguyễn Du thông qua các nhân vật Truyện Kiều. Nguyễn Đình Giang cho rằng, mỗi nhân vật đã mang trong mình ba con người tâm lí khác nhau. Thứ nhất, là con người hoàn toàn thoải mái vì khát vọng đã thực hiện trong đời sống rồi. Thứ hai, là con người chỉ sống hoàn toàn những ước vọng trong mộng tưởng vì hoàn cảnh thân xác, trí tuyệt, tình cảm hay xã hội không cho phép thực hiện những ý tình của mình ra ngoài được. Thứ ba, là con người sống trong xung đột và mâu thuẫn giữa lí tưởng của đời sống thực tại. Theo ông, văn chương chính là một cách sống để có thể bù trừ cho phần tâm lí đã bị dồn nén, những khát vọng mà hoàn cảnh bên ngoài không cho phép thực hiện điều đó. Đó là một lối giải thoát và bù trừ tâm lí mà nhà phân tâm học Freud đã từng nói. Đây là một trong những nguyên nhân để các nghệ sĩ gửi gắm nỗi lòng vào văn chương. Dựa trên những lí thuyết của tính tình khoa mà Nguyễn Đình Giang đã tìm hiểu tâm sự của Nguyễn Du qua Truyện Kiều. Qua đó, ông đưa ra những nhận xét về tâm lí của Nguyễn Du, về sự tác động của tâm lí Nguyễn Du đến việc phân chia hệ thống nhân vật cũng như về nhân sinh quan của tác giả đối với cuộc sống. Đàm Quang Thiện trong cuốn Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều đã vận dụng lí thuyết phân tâm học để tìm hiểu về tâm lí của Thúy Kiều với ý niệm bạc mệnh trong cuộc đời của nàng. Đàm Quang Thiện dẫn lí luận về di truyền học và cho rằng Thúy Kiều mang một tiên thiên rất nặng nề về tình cảm. Sở dĩ nàng như vậy là chịu sự ảnh hưởng di truyền từ Vương ông và Vương bà, họ đều là những người giàu tình cảm. Để chứng minh kết luận này, ông đã đưa ra những dẫn chứng và lí luận sắc bén về khái niệm nhiễm sắc thể và về sự di truyền. Dựa trên lí thuyết phân tâm học linh hồn con người được chia thành ba phần: bản ngã là phần chứa đựng trong nó tất cả những bản năng được tạo nên bởi sự di truyền, tự ngã là ý thức tâm lí của mỗi người khiến cho họ hiểu chính mình và hoàn cảnh của mình, thượng ngã là cái gọi là lương tâm. Mỗi lần bản ngã đưa ra một ước vọng không phù hợp với chuẩn mực xã hội thì sẽ bị cái gọi là thượng ngã đẩy lùi. Sự đẩy lùi đó khiến cho con người có cảm giác mặc cảm. Đây là sự lí giải cho mặc cảm bạc mệnh của nhân vật Thúy Kiều, chính vì vậy mà Thúy Kiều đã sáng tác cho mình bản đàn có tên là bạc mệnh. 4. Tích cực và tiêu cực 4.1. Tích cực Sự khác nhau giữa khoa học về văn chương và phê bình là ở chỗ phê bình không thuần lý thuyết mà mang tính thực tiễn. Phê bình không bao quát toàn bộ hiện tượng văn chương mà chỉ quan tâm đến tác phẩm. Chính vì vậy phê bình khoa học không nhằm mục đích rút ra cái bản chất, cái quy luật của văn học mà chỉ hướng tới cái cụ thể. Phê bình cho phép sự xuất hiện của ấn tượng chủ quan, những tình cảm những cảm xúc mang tính cá nhân. Tuy nhiên đó phải là những cảm xúc mang tính đại diện mới có giá trị cao. Nguyễn Bách Khoa đã đưa ra được quan điểm của mình về “phê bình khoa học” theo một cách rõ nhất đó là “sự khách quan trong phân tích đánh giá sự kiện, hiện tượng” và “vận dụng các lí thuyết của những bộ môn khoa học khác (tâm lí học, di truyền học, xã hội học,…). Lối phê bình theo lí thuyết này đối lập với lối phê bình truyền thống: hoặc thiên về cảm thụ chủ quan, hoặc thiên về phê bình phù phiếm, như cách nói của ông, tức mô tả tỉ mỉ cái khéo trong việc đặt câu dùng chữ, tả người... Thay đổi được lối “phẩm bình” cũ về văn chương bằng một lối bằng một lối phê bình toàn diện và hệ thống hơn đối với tác phẩm văn học, để cho tác phẩm của phê bình ngày càng khách quan hơn. Bộc lộ những quan điểm phê bình khác trước, ngôn ngữ phê bình linh hoạt hơn, bày tỏ cách nhìn nhận mỗi hiện tượng văn học mang tính quy mô sâu rộng hơn lối phê bình truyền thống. Khoa học trong phê bình tạo ra những sản phẩm có giá trị lâu dài mang tính lập luận chặt chẽ, như các tác phẩm của Nguyễn Khoa Bách chúng xác định về nội dung khái niệm có cách suy đoán theo quy luật nhận thức và được thiết lập thành một hệ thống chặt chẽ. 4.2. Tiêu cực Đưa phê bình văn học đi theo một lối mòn, như Nguyễn Khóa Bách ông quá tin vào suy luận logic khiến cho mọi đánh giá trở nên máy móc, trong khi thực tế ngày nay cho ta biết rằng sự sinh thành và phát triển của các sự vật không phải bao giờ cũng tuân theo một trình tự có thể đoán trước được. Bên cạnh cái tất yếu còn song hành cái phi logic. Cũng như một số công trình khác, Nguyễn Bách Khoa ít chú trọng đến bình diện nghệ thuật của tác phẩm văn học. Trong cuốn sách Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, chúng ta không thấy sự phân tích về thể loại, ngôn ngữ, hình tượng... Ở Việt Nam trước đây, khá phổ biến tình trạng khi tiếp cận tác phẩm, nhà phê bình chỉ chú trọng phân tích bình diện nội dung tư tưởng mà ít chú trọng phương thức thể hiện, đó là một nhận thức phiến diện về phê bình mác xít, dẫn đến hậu quả, khá nhiều công trình phê bình mác xít thiếu sự phân tích nghệ thuật hoặc có phân tích nhưng hời hợt. Nhà phê bình Nguyễn Bách Khoa chỉ khắc phục được hiện tượng này trong công trình Văn nghệ bình dân Việt Nam, nhưng ông lại sai lầm ở bình diện khác. Theo thực tế học thuật ở Việt Nam, các khoa Ngữ văn thường có hai mảng ngôn ngữ và văn học. Mảng ngôn ngữ học mang tính khoa học còn mảng nghiên cứu và phê bình văn học (theo nghĩa phân biệt với ngôn ngữ học) không được đặc trưng bởi tính khoa học mà đón nhận nhiều đường hướng khác nhau. Văn phong của nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học thành công là thứ văn phong có sức quyến rũ riêng biệt chứ không phải là thứ ngôn ngữ sản xuất hàng loạt theo các khung khổ. Vậy nên khoa học trong phê bình nếu như không tiết chế phù hợp sẽ bóp nghẹt những tư tưởng phê bình mới mẻ mang tính sáng tạo. KẾT LUẬN Phê bình văn học là một trong những bộ môn khoa học góp phần quan trọng trong việc đưa tác phẩm văn học đến gần hơn với bạn đọc. Trong tiến trình phát triển của mình, phê bình văn học Việt Nam đã có nhiều đổi mới sáng tạo, trong đó thì phê bình tác phẩm văn học theo lối tiếp cận các khoa học là một phương pháp đã mang lại nhiều thành tựu lớn với tên tuổi của nhiều nhà nghiên cứu qua các thời kì. Tuy nhiên, để lối tiếp cận văn học này được phát triển theo một định hướng đúng đắn và phát huy hết vai trò, nhiệm vụ của mình thì đòi hỏi các nhà nghiên cứu, phê bình khoa học cần phải có cái nhìn sâu sắc, đầy đủ và toàn diện để đưa ra những lí luận, lí thuyết chính xác, cụ thể và mang tính ứng dụng cao. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Bùi Thị Thu Hằng, “Công trình Tâm lí và tư tưởng Nguyễn Công Trứ của Nguyễn Bách Khoa và vấn đề tiếp nhận của phương pháp nghiên cứu xã hội học”, Đại học Thái Nguyên 2. Nguyễn Thành, “Đặc điểm phê bình văn học của Trương Tửu”, tạp chí Khoa học Đại học Huế, tập 72A, số 3, năm 2012 3.http:khoavanhocngonngu.edu.vnnghiencuuluanvancuancshvchsv6511truy%E1%BB%87nki%E1%BB%81uquaph%C3%AAb%C3%ACnhph%C3%A2nt%C3%A2mh%E1%BB%8Dc%E1%BB%9Fmi%E1%BB%81nnam19541975.html 4.http:khoavanhocngonngu.edu.vnnghiencuuluanvancuancshvchsv6511truy%E1%BB%87nki%E1%BB%81uquaph%C3%AAb%C3%ACnhph%C3%A2nt%C3%A2mh%E1%BB%8Dc%E1%BB%9Fmi%E1%BB%81nnam19541975.html 5.http:thuvien.thanglong.edu.vn:8081dspacebitstreamDHTL_12345678914072KY%20YEU%202014%20PHAN%202_28.pdf 6. Trịnh, Bá Đĩnh, 2011, Tiếp cận văn học Việt Nam từ các lý thuyết phương Tây, phòng lý luận, viện văn học.
Trang 1MỞ ĐẦU 2
1 Vị trí, vai trò của khoa học đối với văn học 3
1.1 Vị trí 3
1.2 Vai trò 3
2 Đặc điểm của hướng tiếp cận văn học từ khoa học 4
3 Khảo sát một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu theo hướng tiếp cận văn học từ các khoa học 6
3.1 Taine 6
3.1.1 Quan niệm tác giả 6
3.1.2 Công trình nghiên cứu tiêu biểu 7
3.2 Tác giả Nguyễn Bách Khoa ( Trương Tửu, 1913-1999) 7
3.2.1 Quan niệm của tác giả 7
3.2.2 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu 8
3.3 Một số tác giả khác 12
4 Tích cực và tiêu cực 13
4.1 Tích cực 13
4.2 Tiêu cực 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2MỞ ĐẦU
Khoa học đóng vai trò rất quan trọng đối với xã hội hiện nay, chi phối đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó văn học không phải là ngoại lệ
Ở những thập niên đầu thế kỉ XX, những thành tựu khoa học của phương Tây đã gây nhiều cảm hứng cho các nhà phê bình nước ta Với lối phê bình văn học theo hướng tiếp cận văn học từ các khoa học đã đem đến một cách nhìn mới mẻ
và đầy tiềm năng cho sự phát triển của văn học nghệ thuật Hướng tiếp cận này chú trọng việc phân tích, giải mã tác phẩm dựa trên mối quan hệ logic, có tính khoa học, giải thích những vấn đề văn học nghệ thuật đơn thuần không giải thích được Dựa trên việc khảo sát một số tác giả phê bình văn học bằng việc tiếp cận
từ các khoa học để hiểu rõ hơn về những thành công và hạn chế của lối phê bình này
2
Trang 31 Vị trí, vai trò của khoa học đối với văn học
1.1 Vị trí
Văn học vốn được xem là một bộ môn khoa học, nên vị trí của khoa học đối với văn học đóng một vai trò quan trọng, nó còn quan trọng hơn trong việc đánh giá, nhận xét giá trị tác phẩm và phong cách sáng tác của tác giả thông qua quá trình phê bình Khoa học thâm nhập thẳng vào đời sống tinh thần, vào thế giới quan, vào nhân sinh quan, vào tâm lý và tình cảm con người, thâm nhập gián tiếp nhưng có tính chất căn bản vào tình cảm con người qua việc làm biến đổi môi trường thị giác của họ, tạo ra những thói quen thị giác mới trong thực tại đời sống Khoa học đã tác động phức tạp và đa dạng vào sáng tác nghệ thuật và đòi hỏi có hình ảnh của nó in dấu trên tác phẩm, tức có góp phần sinh ra các hình thức mới của nghệ thuật Sự tác động này không một chiều thô thiển mà phải được coi như sự đối thoại sinh động - nhiều hình thức nghệ thuật tưởng như
là sự đồng thanh tương ứng với thực tại thấm đẫm ảnh hưởng khoa học - kỹ thuật Tuy nhiên, tiếp cận văn học từ góc nhìn khoa học là một hướng tiếp cận mới mà người mở đường cho khuynh hướng tiếp cận này ở Việt Nam là Nguyễn Bách Khoa
1.2 Vai trò
Theo H Taine, điều quan trọng nhất, cũng là khó nhất trong mỗi nghiên cứu là tìm ra nét đặc trưng và chủ đạo mà mọi cái khác có thể được suy ra từ đó
Vì vậy, dùng khoa học để rọi chiếu văn học giúp người phê bình, người tiếp nhận nhìn tác phẩm từ một góc nhìn mang tính chính xác của các yếu tố khoa học, hướng tiếp cận này đi ngược lại với khuynh hướng phê bình truyền thống trước đó là bình văn và cảm thụ văn học theo dòng tâm sự, mang nhiều yếu tố cảm tính Khi được nhìn từ các khoa học thì “tâm sự chỉ là phần hữu thức”
“phần nổi của tảng băng”, trong khi cá tính con người lại chủ yếu thuộc “cõi tiềm thức”, ở phần chìm, chiếm chín phần mười của tảng băng Cá tính, theo Nguyễn Bách Khoa, là một “kiến trúc” bao gồm nhiều yếu tố hóa hợp nhau rồi
Trang 4kết tinh lại, trong đó nổi trội là ba yếu tố: sinh lí di truyền (huyết thống), địa lý
tự nhiên (quê quán, khí hậu, thổ ngơi, vị trí địa lí, lịch sử) và quan trọng nhất là điều kiện xã hội (bối cảnh xã hội thời đại, vị trí đẳng cấp nhà văn)”
Bằng cái nhìn khoa học, người tiếp nhận thấy được giá trị tác phẩm, cá tính nhà văn từ góc nhìn rõ ràng hơn, ít khai thác đời tư mà dựa vào đời tư, nơi sinh sống, những mối ảnh hưởng từ di truyền và môi trường trong việc hình thành cá tính và nghệ thuật sáng tác của họ
2 Đặc điểm của hướng tiếp cận văn học từ khoa học
Thuật ngữ khoa học mang nội hàm ý nghĩa là “dựa trên cơ sở lí lẽ (đối lập với tôn giáo)1, chữ “khoa học” được tác giả Nguyễn Bách Khoa dùng với hai nghĩa: thứ nhất là sự “khách quan” trong phân tích đánh giá các sự kiện; thứ hai
là vận dụng các lý thuyết của những bộ môn khoa học như tâm lý học, di truyền học, xã hội học, và phê bình văn chương
Tiếp cận văn học dựa trên khoa học là cách lấy nhận thức lí tính làm chủ, mượn đường dẫn lý thuyết để tìm tòi quy luật nghệ thuật của tác phẩm văn học đồng thời phơi bày cái đẹp dựa trên cơ sở lý thuyết Tính khoa học ảnh hưởng vào trong văn học dưới sự lý giải của Nguyễn Bách Khoa tạo nên tiêu chí của loại phê bình này là “cần gác bỏ hết những tình cảm riêng, những thành kiến và
dư luận đã định giá thi nhân và tác phẩm kia” để “làm hết nghĩa vụ của một nhà phê bình vẫn tôn thờ khoa học” (Nguyễn Du và Truyện Kiều, 1942) Vì thế, đặc điểm của khoa học trong văn học chủ trương rõ ràng và đối lập với truyền thống bình văn và cảm thụ văn học – phê bình ấn tượng, trực giác chủ quan (Hoài Thanh chủ soái) Theo đó người phê bình xuất phát từ một cái “thú”, một sự
“đồng cảm, đồng tình” với nhà văn và tác phẩm, đi tới chỗ trình bày lại những ý nghĩ, những cảm xúc của mình do tác phẩm gợi lên Do đó, một bài phê bình theo lối ấn tượng thường mang cái nhìn chủ quan của nhà phê bình, phân tích về
1 Henri Benac, Dẫn giải ý tưởng văn chương, NXB GD, tr.772.
4
Trang 5“con người và tác phẩm”, nói nhiều về tâm lí và thường ca ngợi mà không chứng minh một cách khách quan
Trong giai đoạn 1932 – 1945, một số công trình phê bình văn học dựa trên
cơ sở lý thuyết khoa học của Phân tâm học đã để lại nhiều ấn tượng Trương Tửu với bài phê bình “Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương” trên báo Tiến Hóa Năm
1936, Nguyễn Văn Hanh viết “Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài” Ông giải thích rằng nữ sĩ Hồ Xuân Hương bị ám ảnh, bị thần kinh do dục tình không thỏa mãn, Nguyễn Văn Hanh vận dụng một cách quá đơn giản, quá khái quát sơ đồ “dồn nén - ẩn ức - thăng hoa (libido)”: “Dục tình ngày càng tăng, càng nén lại càng bồng bột Ngày qua tháng qua sức đã nén, dồn ép tình dục càng tăng và sự cần kia càng khẩn cấp Kết quả: Xuân Hương khủng hoảng tình dục, khủng hoảng nặng sẽ kết bệnh thần kinh” Sau này, Đỗ Lai Thúy đã tìm cách lý giải thực chất cái dâm, cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương bằng một cách tiếp cận khác, mới mẻ và tiến bộ hơn: ông đã dựa vào phương pháp tâm lý học phân tích, lý thuyết siêu cổ mẫu của C.G.Jung kết hợp với tín ngưỡng phồn thực
Đỗ Lai Thúy phát hiện trong thơ Hồ Xuân Hương: “Những biểu tượng phồn thực là nỗi ám ảnh của bà Trước hết ở tính toàn hiện của nó Nghĩa là ở đâu nó cũng có mặt Từ những hình ảnh thực đến ảo giác Vào thế giới Hồ Xuân Hương như bước vào một nhà kính vạn gương, những biểu tượng phồn thực được nhân lên đến vô tận, tạo thành một thế giới riêng biệt, tuy không khỏi có sự biến ảnh
dị dạng Nhưng đó chính là ống kính đặc tả để ghi lại những trạng thái sung mãn nhất của sự sống”
Trang 63 Khảo sát một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu theo hướng tiếp cận văn học
từ các khoa học
3.1 Taine
3.1.1 Quan niệm tác giả
Taine (Hippolyte Adolphe Taine) là nhà triết học, nhà sử học và nhà phê bình văn học Pháp Ông là người đứng đầu của trường phái văn hóa- lịch sử, trường phái chịu ảnh hưởng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học xã hội
Khi nghiên cứu một nhà văn, Taine đưa ra ba nguyên lí cần phải áp dụng là chủng tộc, địa điểm và thời điểm Luận đề nổi tiếng: Dòng giống, Địa dư, Thời đại (La Race, la Milieu, le Moment) mà các nhà phê bình coi là cốt lõi phương pháp phê bình văn học của Taine, được nêu lên trong tác phẩm Về năng lực nhận thức (De l’intelligence- 1870) của ông Trong tác phẩm này, mặc dù có tiếp thu nhiều quan điểm của thuyết duy cảm và thuyết liên tưởng( associationnisme) có cội nguồn ở Anh, song về cơ bản H.Taine đã đưa ra một lý thuyết nhận thức sự vật với hệ thống khái niệm và thao tác tư duy chặt chẽ của riêng ông Theo H.Taine, điều quan trọng nhất, cũng là khó nhất trong mỗi nghiên cứu là tìm ra nét đặc trưng và chủ đạo ( un traitcaracteristique et dominant) mà mọi cái khác
có thể được suy ra từ đó Trong cuốn La Fontaine và thơ ngụ ngôn của ông ( La Fontaine et ses fables), Taine cho rằng có thể qua các yếu tố về nòi giống, hoàn cảnh địa lý và thời điểm lịch sử nhà văn sống để lí giải mọi sự bí ẩn của văn chương
Trường phái văn hóa – lịch sử tìm giá trị của văn chương không phải ở bản thân văn chương, mà ở đối tượng in dấu của văn chương, tức là văn hóa- lịch sử Như vậy, nó đã có phần đồng nhất văn chương với thực tại xã hội mà văn chương phản ánh Vì vậy, lịch sử văn chương mà Taine muốn tạo dựng thực chất là lịch
sử văn minh, lịch sử tư tưởng xã hội Mối quan hệ biện chứng, chân thực giữa các quá trình xã hội và quá trình văn học chưa được giải thích rõ
6
Trang 7Thuyết chủng tộc- địa lí- lịch sử này cho đến nay vẫn chưa hẳn là vô ích, chỉ có điều nên vận dụng nó như thế nào, ở mức độ nào trong việc phê bình văn học Phê bình văn học đầu thế kỷ XX ở Việt Nam chịu ảnh hưởng H Taine chủ yếu
là tư tưởng phê bình với ba nhân tố trên (dòng giống, địa dư, thời đại) và sự trình bày hệ thống chặt chẽ các khái niệm
3.1.2 Công trình nghiên cứu tiêu biểu
Tác phẩm có tiếng vang đầu tiên chính là luận văn Tiến sĩ mà Taine bảo
vệ năm 1853: Cảo luận về truyện ngụ ngôn của La Phôngten (Essaisur les fables
de la Fontaine)
Năm 1857, ngoài cuốn Những tiểu luận về phê bình và lịch sử (Les essais
de la critique et l’histoire), Taine còn cho ra mắt công trình được phổ cập Các triết gia Pháp thế kỉ XIX (Les Philosophes Francais du XIXe siècle).
Sau các chuyến viễn du tới Anh và Italia, Taine cho xuất bản một loạt những công trình như:
3.2 Tác giả Nguyễn Bách Khoa ( Trương Tửu, 1913-1999)
3.2.1 Quan niệm của tác giả
Nguyễn Bách Khoa gọi phương pháp phê bình văn học của mình là "Phê bình khoa học" Ông quan niệm rằng khi phê bình với phương pháp này thì cần
"gác bỏ hết những tình cảm riêng, những thành kiến và dư luận đã định giá thi nhân kia và tác phẩm kia" để "làm hết nghĩa vụ của một nhà phê bình vẫn tôn
thờ khoa học" (Nguyễn Du và Truyện Kiều) Chữ "khoa học" được Nguyễn Bách
Khoa dùng với hai nghĩa: Thứ nhất là sự khách quan trong phân tích, đánh giá
Trang 8sự kiện, hiện tượng Thứ hai là vận dụng lí thuyết của những bộ môn khoa học như tâm lí học, xã hội học, di truyền học, xã hội học vào phê bình văn chương
Nguyễn Bách Khoa cho rằng phê bình văn học phải tìm hiểu cá tính nhà văn.
Ông cho rằng "Nghiên cứu một văn phẩm mà không tìm đến cá tính của nhà văn
và hình ảnh xã hội đương thời với nhà văn phản chiếu trong tác phẩm ấy tức là
không hiểu gì về nghệ thuật phê bình hết" Bởi lối phê bình tìm hiểu “tâm sự nhà văn trong tác phẩm văn chương” kiểu truyền thống vừa dễ dãi vừa không
đúng đắn
Ông tìm hiểu các nhà khoa học phương Tây và thử nghiệm nhiều lý thuyết khoa học trong việc phê bình Trong các công trình nghiên cứu của ông, tiêu biểu là các thuyết: Thuyết chủng tộc – địa lý của Taine; thuyết Phân tâm học của Freud; học thuyết Mác về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội
Nguyễn Bách Khoa sử dụng lối tiếp cận xã hội học Mác-xít để xem xét tác phẩm văn học Nhưng cũng có một số ý kiến trái chiều cho rằng ông không phải là nhà Mác – xít thứ thiệt Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu như
Nguyễn Du và Truyện Kiều, Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, văn chương Truyện Kiều… có thể thấy Nguyễn Bách Khoa đề cao lý luận Mác về xã hội và
văn học
Ông quan niệm “khoa học đủ thế lực” phá tan bí mật của vũ trụ Ông cho rằng: “óc khoa học là khí cụ tiến hóa của đẳng cấp đang lên”, hình thức tư duy trong các tác phẩm của ông là văn bản khoa học thực sự Chúng xác định về mặt nội dung khái niệm, có cách suy đoán theo quy luật nhận thức và được thiết lập thành hệ thống chặt chẽ Xem xét sự vật trong hệ thống là đặc điểm chính của phong cách phê bình Nguyễn Bách Khoa
3.2.2 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
* Nguyễn Du và Truyện Kiều
Truyện Kiều là một tác phẩm văn học đặc sắc của nền văn học trung đại
Việt Nam, do đó nó đóng một vị trí quan trọng trong việc trở thành một đối tượng văn học mà các nhà nghiên cứu, phê bình hướng đến để tiếp cận và khám
8
Trang 9phá Trên chặng đường nghiên cứu và phê bình Truyện Kiều thì đã có nhiều
hướng khảo sát và bình giá ở nhiều phương diện khác nhau Tính khoa học bắt
đầu được quan tâm đến, trong số đó cuốn Nguyễn Du và Truyện Kiều là một
hướng tiếp cận mang hướng khoa học của Nguyễn Bách Khoa
Nguyễn Du và Truyện Kiều được xuất bản năm 1942, đây là một cuốn
chuyên khảo được Nguyễn Bách Khoa hướng đến phương pháp phê bình mới, mang tính khoa học hơn lối phê bình truyền thống của các tác giả khác Ông đã
vận dụng nhiều lí thuyết khoa học trong phê bình văn học, đối với Nguyễn Du
và Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đã vận dụng ba lí thuyết nổi bật để tiếp cận,
đó là: Thuyết chủng tộc-địa lí của Taine, thuyết Phân tâm học của Freud và học thuyết của Mác về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội
Thứ nhất, theo thuyết chủng tộc - địa lí của Taine thì trong Nguyễn Du và Truyện Kiều cá tính của Nguyễn Du là sản phẩm của sự chung đúc huyết thống
dòng họ Nguyễn và địa phương tính Nghệ Tĩnh với huyết thống họ Trần và địa phương tính Bắc Ninh, đó là kết tinh của "lòng ham sống say sưa, cái khí tiết hiên ngang không chịu khuất phục của giống nòi ( Nghệ tĩnh) với "đất của ái tình", " của tinh thần mẫu hệ", " Những tính bồng bột chiều theo cái đà phát triển của muôn loài" (Bắc Ninh)
Thứ hai, theo thuyết Phân tâm học của Freud: đây là một thành tựu vĩ đại của Khoa học thế kỉ XX, có ý nghĩa và lợi ích về nhiều mặt Từ thành quả này của khoa học thế giới, Nguyễn Bách Khoa đã áp dụng nó vào quá trình phê bình tác phẩm văn học
Thứ ba, theo học thuyết của Macxít, Nguyễn Bách Khoa tiếp cận Nguyễn
Du và Truyện Kiều trên nhiều lĩnh vực như triết học, kinh tế, chính trị, xã hội,
Nguyễn Bách Khoa là người đầu tiên xem xét Truyện Kiều trên hai phương diện là bối cảnh xã hội thời đại và nhân vật Ông xem xét các nhân vật chính trong truyện: Kim Trọng, Từ Hải, Thúy Kiều và các cảnh ngộ mà nhân vật gặp phải như là "hình ảnh toàn khối" của Nguyễn Du Mỗi nhân vật, mỗi cảnh ngộ đã thể hiện một khía cạnh: Kim Trọng là đa cảm, đa tình, quả quýêt, Từ Hải
Trang 10là một ước mơ "làm một vị anh hùng trong tưởng tượng", Thúy Kiều nhân vật chủ chốt là sự thể hiện những mâu thuẫn trong tâm tính Nguyễn Du một ("cốt cách đa tình đa cảm, hành động theo bản năng và trái tim mà suy nghĩ và lí luận thì lại phải nấp sau bản ngã của tộc họ và đẳng cấp")
* Văn chương truyện Kiều
Văn chương Truyện Kiều được viết năm 1944 Trong cuốn sách này,
Nguyễn Bách Khoa đã dùng cái nhìn của lý thuyết cấu trúc kí hiệu học và tiếp nhận nghệ thuật để hình thành nên cách nhìn của bản thân về văn chương
Truyện Kiều Ở đó, ông đánh vào trực diện những vấn đề “tế nhị” và “tinh vi” nhất của Truyện Kiều bằng giải thích khoa học, “mổ xẻ” vấn đề mà Hoài Thanh
và Đinh Gia Trinh không phân tách được Tuy quá duy lý nhưng đã đặt ra được những quan điểm thiết thực cho đời sống phê bình của tác phẩm
Văn chương Truyện Kiều đi sâu vào nghiên cứu “chất thơ” và “cái đẹp”,
“lập giới thuyết minh bạch”, đưa ra những quan điểm mới lạ, cấp tiến mà trước
đó chưa có Rằng cái vỏ âm thanh, ngôn ngữ chuyển tải ý nghĩa mà người dùng gửi gắm Tư duy của Nguyễn Bách Khoa mang tính khoa học qua việc ông “xác lập các định nghĩa, giải thích một loạt các khái niệm, tiến đến tìm mối liên hệ logic giữa các khái niệm nhằm nhận thức đối tượng”
Trong Văn chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa tập trung phân tích hai hiện tượng, đó là thiên tài nghệ sĩ và chất thơ nghệ thuật Về thiên tài nghệ
sĩ, ông cho rằng vấn đề thiên tài, nói chung là các vấn đề về tư duy, "linh hồn",
cá tính con người đều gắn với tổ chức sinh lí con người Về chất thơ nghệ thuật,
cụ thể là chất thơ trong Truyện Kiều, ông cho rằng "chất thơ” Truyện Kiều
“chứa chan chất tàn héo tiêu ma”, là “sự thất bại, tuyệt vọng, sự bi ai sầu muộn,
sự đầu hàng” của một đẳng cấp quý tộc ở địa vị Nguyễn Du
Văn chương Truyện Kiều mang hướng tiếp cận khoa học ở chỗ tác phẩm
đã đi theo một hệ thống chặt chẽ trong kết cấu Đi từ việc xác định “chất thơ” truyện Kiều là nỗi bi ai sầu muộn đến việc chất thơ ấy chi phối cấu tạo hệ thống
10