- Điểm mới thứ hai: không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THẢO LUẬN MÔN DÂN SỰ 1
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT: CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
NHÓM 2
LỚP: 78-TM42B2
Trang 22 Nguyễn Đồng Huyền Trang 1753801011199
Trang 3BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT – CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
PHẦN I NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÁ NHÂN:
Câu 1: Cho biết những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự
2005 về qui định mất năng lực hành vi dân sự?
Trả lời:
- Điểm mới thứ nhất:
Theo Điều 22, Bộ luật Dân sự 20051, trong các điều kiện để Tòa án ra quyết định một người nào đó mất năng lực hành vi dân sự, về chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định một người nào đó mất năng lực hành vi dân sự, Bộ luật này chỉ qui định là
“người có quyền, lợi ích liên quan” Đến Điều 22, Bộ luật Dân sự 20152, các nhà làm luật đã mở rộng phạm vi các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định một người nào đó mất năng lực hành vi dân sự, theo đó, nếu có yêu cầu từ các “cơ quan, tổ chức hữu quan”, Tòa án vẫn có thể ra quyết định trên dựa vào kết quả giám định pháp
y tâm thần
- Điểm mới thứ hai:
không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.”
không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Trang 4Bộ luật Dân sự 2015, Khoản 2 Điều 125 3 đã bổ sung thêm qui định về những trường hợp các giao dịch dân sự do người bị mất năng lực dân sự thực hiện nhưng không bị
vô hiệu Bộ luật Dân sự 2005 không có qui định về khoản này Đây là một điểm mới
và mang tính tiến bộ của Bộ luật Dân sự 2015 xuất phát từ thực tế nảy sinh nhu cầu thiết yếu của người mất năng lực hành vi dân sự hay xuất phát từ quan hệ tặng – cho đối với những người này
Câu 2: Hoàn cảnh của ông P như trong quyết định được bình luận có thuộc
trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Trả lời:
Không vì Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 qui định “Khi một người do bị bệnh
tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên
cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.” Vì vậy, đối tượng được xác định là người
mất năng lực hành vi dân sự phải là người do “bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác
mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi” còn trong kết luận giám định pháp y
tâm thần số 286/KLGĐTC của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung Kết luận, tại thời điểm hiện tại:
- Về mặt y học: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F13.7)
- Về mặt pháp luật: Khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
3 Khoản 2 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015: “Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”
Trang 5Như thế, theo kết luận trên, ông P chỉ bị khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, thuộc đối tượng qui định tại Điều 23 Bộ luật Dân sự 20154 chứ không bị tâm thần hay mắc bệnh khác mà dẫn đến không thể nhận thức, làm chủ hành vi theo Điều 22 bộ luật này
Câu 3: Nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự?
Trả lời:
Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 qui định về người mất năng lực hành vi dân
sự và Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015 qui định về người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, ta thấy được:
Điểm giống nhau:
Thứ nhất, về căn cứ chứng minh, trong cả hai trường hợp thì một người bị xem là mất
năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự khi và chỉ khi có Quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
Thứ hai, việc họ bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự dựa trên quyết định
của Tòa án phải có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan hoặc của cơ quan,
tổ chức hữu quan
Thứ ba, họ không thể tự mình tham gia tất cả các giao dịch dân sự mà pháp luật cho
phép mà các giao dịch phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện
Thứ tư, khi không còn căn cứ cho rằng họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự thì họ có quyền được khôi phục lại năng lực hành vi dân
sự của mình
Điểm khác nhau:
Về đối tượng: Người mất năng lực hành vi dân sự là do họ mắc bệnh tâm thần hoặc
bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Đối với người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do họ nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Về cơ sở để Tòa án ra quyết định: Quyết định một người bị mất năng lực hành vi dân
sự phải dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần, trong khi người bị tuyên bố là hạn chế năng lực hành vi dân sự không có điều kiện này
4 Khoản 1 Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015: “1 Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên
cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”
Trang 6Về hệ quả pháp lí: Người mất năng lực hành vi dân sự sẽ không còn năng lực hành vi
dân sự, không thể tham gia bất kì một giao dịch dân sự nào, các giao dịch dân sự của
họ sẽ do người đại diện của họ xác lập và thực hiện, trừ qui định tại Khoản 2 Điều 125
Bộ luật Dân sự Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ không bị mất hết năng lực hành vi dân sự, vì vậy việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, bên cạnh đó, họ vẫn có thể tự mình tham gia được một số giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của họ hoặc luật liên quan có qui định khác
Về người đại diện: Người đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự có thể là cá
nhân hoặc pháp nhân và được gọi là người giám hộ Người đại diện có thể được chỉ định hoặc đương nhiên trở thành người đại diện theo quy định của pháp luật
Người đại diện của người hạn chế năng lực hành vi dân sự do Tòa án quyết định
C
âu 4: Trong quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay không? Vì sao?
Trả lời:
Không vì theo Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Dân sự 20155 qui định về người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình Theo kết quả giám định pháp y tâm thần thì ông chỉ bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực, không có dấu hiệu của việc nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác, vì thế, không thể kết luận ông P bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Câu 5: Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?
Trả lời:
Căn cứ vào Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015 qui định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015 qui định về người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, ta thấy được:
5 Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015: “1 Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn
đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan,
tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự và phạm vi đại diện.”
Trang 7Điểm khác thứ nhất – Về đối tượng, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi là “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng
nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự”, còn
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người “nghiện ma túy, nghiện các chất
kích thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình”.
Điểm khác thứ hai – Về cơ sở xác định, quyết định một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần, trong khi người bị tuyên bố là hạn chế năng lực hành vi dân sự không có điều kiện này
Điểm khác thứ ba – Về việc xác định người đại diện, người đại diện cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có thể là cá nhân hoặc pháp nhân và được gọi
là người giám hộ được Tòa án chỉ định Người đại diện của người hạn chế năng lực hành vi dân sự do Tòa án quyết định
Trang 8Câu 6: Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi là thuyết phục, vì để xác định với người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải đáp ứng điều kiện được qui định trong Khoản 1 Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó:
- Về khả năng nhận thức và điều kiển hành vi: Không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất hoàn toàn do tình trạng thể chất và tinh thần
- Có yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan: Theo yêu cầu của bà Vũ Thị H, là người có quan hệ vợ chồng với ông
Lê Văn P
- Có kết luận giám định pháp y tâm thần: Kết luận giám định pháp y tâm thần số 286/ KLGĐTC của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung Kết luận: tại thời điểm hiện tại:
Về mặt y học: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F13.7)
Về mặt pháp luật: Khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 23 thì Ông P đã đủ các điều kiện để xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Vì vậy việc Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là hoàn toàn thuyết phục
Câu 7: Việc Tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Việc Tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P là thuyết phục vì xét thấy bà
H không đủ điều kiện để làm người giám hộ cho ông P (lí do, mục đích bà H yêu cầu tuyên bố ông P có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là để giải quyết vụ án li hôn giữa ông P và bà H), không đủ điều kiện cần thiết đối với người giám hộ theo qui định tại Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015.6
6Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015: “Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1 Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
2 Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
3 Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá
án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
Trang 9Câu 8: Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P là thuyết phục vì theo qui định tại
Khoản 4 Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015, “người giám hộ của người có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật này”, tuy nhiên vì xét thấy bà H không đủ điều kiện để
làm người giám hộ cho ông P (lí do, mục đích bà H yêu cầu tuyên bố ông P có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là để giải quyết vụ án li hôn giữa ông P và bà H); thêm vào đó, hiện ông Lê Văn H (cha ông P) đã mất, bà Lê Thị H đã bỏ nhà đi, không biết còn sống hay đã chết nên ông P không có người giám hộ theo qui định của Điều 53 bộ luật này Vì thế, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc pháp nhân giám hộ
Bà T là người nuôi dưỡng ông P và đang sỗng với ông P, ngoài ra, ông P yêu cầu Tòa
án chỉ định bà Huỳnh Thị T làm người giám hộ cho mình và bà T đã đồng ý Do đó, quyết định để bà T là người giám hộ cho ông P là hợp lí
Câu 9: Với vai trò là người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịch nào? Vì sao?
Trả lời:
Với vai trò là người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịch mà Tòa
án xác định thuộc quyền và nghĩa vụ của bà T được qui định tại Điều 577, 588 Bộ luật Dân sự 2015, trừ những giao dịch qui định tại Khoản 2 Điều 125
PHẦN II TƯ CÁCH PHÁP NHÂN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÍ
Câu 1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân?
4 Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.”
7 Điều 57 Bộ luật Dân sự 2015: “1 Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa
vụ sau đây: a) Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;b) Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;d) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ 2 Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.”
8 Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015: “1 Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự có các quyền sau đây:a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ 2 Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này ”
Trang 10Trả lời:
Theo Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
"1 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
2 Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
1.1 Pháp nhân được thành lập hợp pháp: pháp nhân được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và các luật khác có liên quan như Luật doanh nghiệp
2014, Luật đầu tư 2014,
1.2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: pháp nhân phải có cơ quan điều hành, tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều
lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
1.3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: Để một tổ chức tham gia vào quan hệ tài sản với tư cách là chủ thể độc lập thì phải
có tài sản riêng, tài sản của pháp nhân là tài sản thuộc quyền sở hữu của pháp nhân hoặc do nhà nước giao cho quản lý
Tính độc lập trong tài sản của pháp nhân được thể hiện ở sự độc lập với tài sản của cá nhân là thành viên của pháp nhân, với cơ quan cấp trên và các tổ chức khác
Trên cơ sở tài sản độc lập của pháp nhân, pháp nhân mới có thể chịu trác nhiệm bằng tài sản của mình
1.4 Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập: Pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và điều lệ Pháp nhân có thể đóng vai trò nguyên đơn hoặc bị đơn trước Tòa khi mà quyền lợi bị xâm phạm
Câu 2 Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi truờng có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của Bản
án có câu trả lời.
Trả lời:
Trong bản án số 1117, Bộ tài nguyên và môi truờng đã xem Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi truờng là một tổ chức có tư cách pháp nhân Điều này thể hiện trong Điều 1 Quyết định số 1364/QĐ-BTNMT: