Quy luật cung – cầu hay nguyên lý cung – cầu là một trong những định luật cơ bản nhất của kinh tế học. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và người tiêu dùng được vận hành do sự điều tiết của quan hệ cung cầu. Ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung – cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan. Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu. Cầu xác định khối lượng, chất lượng và chủng loại cung về hàng hoá, những hàng hoá nào được tiêu thụ thì mới được tái sản xuất. Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cách và giá cả của nó. Cung – cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Đây là sự tác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau. Quy luật cung – cầu tác động khách quan và rất quan trọng, nếu nhận thức được chúng thì chúng ta có thể vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng lên. Vì vậy để đáp ứng nhu cầu của con người thì đòi hỏi xã hội phải đáp ứng đủ những gì mà con người cần. Song không phải nhu cầu của con người luôn ổn định trong mọi thời điểm. Ngược lại nó luôn biến động trong mọi thời điểm, và tăng lên hay hạ xuống trong một khoảng thời gian ngắn. Chính vì lẽ đó mà việc làm sao cho đủ nhu cầu của con người là một vấn đề nan giải. Mặt khác khi cầu cho con người cũng phải chú ý tới cung của nhà sản xuất tức là không dẫn đến dư thừa gây nên lỗ vốn, đồng thời nó tác động tới giá cả hàng hóa. Và khi đó con người cũng chịu sự ảnh hưởng của giá cả hàng hóa. Cung và cầu đảm bảo mối quan hệ về lợi ích giữa người bán và người mua. Trong tình hình hiện nay việc cân bằng cung cầu là rất cần thiết.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Quy luật cung – cầu hay nguyên lý cung – cầu là một trong những định luật cơ bản nhất của kinh tế học Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và người tiêu dùng được vận hành do sự điều tiết củaquan hệ cung cầu Ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung – cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu Cầu xác định khối lượng, chất lượng và chủng loại cung về hàng hoá, những hàng hoá nào được tiêu thụ thì mới được tái sản xuất Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cách và giá cả của nó Cung – cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả Đây là
sự tác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau Quy luật cung – cầu tác động khách quan và rất quan trọng, nếu nhận thức được chúng thì chúng ta có thể vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng lên Vì vậy đểđáp ứng nhu cầu của con người thì đòi hỏi xã hội phải đáp ứng đủ những gì mà con người cần Song không phải nhu cầu của con người luôn ổn định trong mọi thời điểm Ngược lại nó luôn biến động trong mọi thời điểm, và tăng lên hay hạ xuống trong một khoảng thời gian ngắn Chính vì lẽ đó mà việc làm sao cho đủ nhu cầu của con người
là một vấn đề nan giải Mặt khác khi cầu cho con người cũng phải chú ý tới cung của nhà sản xuất tức là không dẫn đến dư thừa gây nên lỗ vốn, đồng thời nó tác động tới giá cả hàng hóa Và khi đó con người cũng chịu sự ảnh hưởng của giá cả hàng hóa Cung và cầu đảm bảo mối quan hệ về lợi ích giữa người bán và người mua Trong tình hình hiện nay việc cân bằng cung cầu là rất cần thiết
Trang 2Kinh tế thị trường là sự phát triển cao hơn của kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi trên thị trường Kinh tế thị trường là một nền kinh tế khách quan do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định, trong đó toàn bộ quá trình từ sản xuất tới trao đổi, phân phối và tiêu dùng đều thực hiện thông qua thị trường.
Đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường là các chủ thể tự do lựa chọn các hình thức sở hữu, phương thức kinh doanh, ngành nghề mà luật pháp không cấm Mọi hoạt động kinh tế đều diễn ra theo quy luật của nó, sản xuất và bán hàng hoá theo yêu cầu của thị trường, bán cái gì mà thị trường cần chứ không phải bán cái mình có, tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế, các chủ thể được theo đuổi lợi ích chính đáng của mình
2 Cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là cơ chế hoạt động của nền kinh tế hàng hoá, điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá theo yêu cầu khách quan của các quy luật vốn có của nó như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ Có thể nói cơ chế thị trường là tổng thẻ các nhân tố kinh tế, cung cầu, giá cả, hàng tiền Trong đó người sản xuất và người tiêu dùng tác động lẫn nhau thông qua thị trường để xác định ba vấn đề cơ bản là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?
3 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
4 Các nhân tố của kinh tế thị trường
4.1 Giá cả
Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường của hàng hóa.Thứ nhất: Giá trị thị trường Giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hóa trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh.Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn tới hình thành một giá trị xã hội trung bình Tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong ba trường hợp sau:
(1) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản xuất ratrong điều kiện trung bình quyết định
Trang 3(2) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản xuất ratrong điều kiện xấu quyết định.
(3) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản xuất ratrong điều kiện tốt quyết định
Thứ hai: Giá trị của tiền Giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hóa và tỷ lệ nghịch với giá trị ( hay sức mua của tiền ) Bởi vậy khi giá trị thị trường của hàng hóa không đổi thì giá cả của hàng hóa vẫn có thể thay đổi do giá trị của tiền tăng lên hoặc giảm xuống
Thứ ba: Cung và cầu Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị trường Giữa cung và cầu tồn tại một mối quan hệ biện
chứng ;sự tác động giữa chúng hình thành nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trường Thứ tư : cạnh tranh trên thị trường Trong kinh tế thị trường các chủ thể hành vi kinh tế vì lợi ích kinh tế của bản thân mình mà tiến hành cạnh tranh với nhau Cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh tế nhằm giành mục đích tối đa cho mình Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường Nó là hiện tượng
tự nhiên, tất yếu của kinh tế thị trường, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh
4.2 Hàng hóa và dịch vụ :
Hàng hóa là những sản phẩm được làm ra để thỏa mãn nhu cầu của con người Đời sống con người càng nâng cao thì nhu cầu về hàng hóa của con người cũng tăng Trước nền kinh tế thị trường, do trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc hậu nên năng suất lao động thấp, do đó khối lượng hàng hóa nhỏ bé, chủng loại hàng hóa còn nghèo nàn, chất lượng hàng hóa thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu Trong nền kinh tế thị trường do sự cạnh tranh mà các doanh nghiệp luôn áp dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật mới nhất Do đó các sản phẩm được đưa ra thị trường với chất lượng cao, chủng loại phong phú, khối lượng lớn và giá cả thấp Người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm hàng hóa – dịch vụ mà mình mong muốn Cùng với sự phát triển của các loại hàng hóa ,các ngành dịch vụ cũng không ngừng được phát triển nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
4.3 Lợi nhuận:
Lợi nhuận là mục đích và là động cơ để các doanh nghiệp tham gia thị trường.Để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho thị trường ,các nhà sản xuất phải bỏ vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh Họ chỉ muốn chi phí đầu vào thấp nhất và bán hàng hóa
Trang 4với giá cao nhất để sau khi trừ đi các chi phí còn dư dôi để mở rộng và phát triển sản xuất ,củng cố và tăng cường địa vị của mình trên thị trường Khi tham gia vào thị trường các nhà sản xuất luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa chi phí sản xuất ,làm chi phí cá biệt của mình nhỏ nhất để giành ưu thế trên thị trường và thu được lợi nhuận tối đa.Để đạt được điều đó các nhà sản xuất đầu tư nghiên cứu , ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất Chính điều đó góp phần thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển Như vậy lợi nhuận là một trong những nhân tố quan trọng của kinh tế thị trường mà nếu thiếu nó kinh tế thị trường sẽ không thể ra đời và phát triển được 4.4 Tiền tệ:
Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất; nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa
II/ QUY LUẬT CUNG – CẦU:
1 Khái niệm
Định nghĩa về Cầu, ta có “Cầu được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán của
xã hội về một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó trên thị trường ở các mức giá trong một khoảng thời gian nhất định Nói cách khác, cầu về một loại hàng hóa hay dịch vụ
là lượng hàng hóa hay dịch vụ đó mà người mua dự kiến mua trên thị trường ở các mức giá trong một khoảng thời gian nhất định” 1
Cầu là một khái niệm kinh tế cụ thể gắn với sản xuất và trao đổi hàng hóa Cầu cónguồn gốc từ nhu cầu nhưng không đồng nhất với nhu cầu “Cầu không phải là nhu cầu bất kỳ mà là nhu cầu có khả năng thanh toán Nhu cầu xã hội biểu hiện trên thị trường và được đảm bảo bằng số lượng tiền tương ứng gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán” 2
Ta có thể phân cầu thành hai loại: Cầu cá nhân và cầu thị trường, khái niệm cầu
cá nhân hay cầu thị trường về một loại hàng hóa nào đó là một khái niệm bao hàm cả hai yếu tố cấu thành lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà một cá nhân hay nhóm người muốn có và có khả năng mua nó tại một thời điểm nhất định, trên một thị trường nhất định
1 Bộ GD&ĐT, Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lenin, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội – 2006
2 Bộ GD&ĐT, Kinh tế chính trị Mác – Lenin, Nxb Giáo dục
Trang 5Quy mô của cầu phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu như: giá cả, thu nhập, giá cả hàng hóa liên quan, sở thích thị hiếu, kì vọng (giá dự kiến về hàng hóa) Trong đó quantrọng nhất là giá cả 3
Đối với Cung, ta có định nghĩa như sau: “Cung về một loại hàng hóa hay dịch vụ
là tổng số hàng hóa hay dịch vụ đó mà các chủ thể kinh tế đưa ra bán trên thị trường ở các mức giá trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm cả hàng hóa được và chưa bán được.” 4
Cung do sản xuất quyết định nhưng không đồng nhất với sản xuất, những sản phẩm sản xuất để tự tiêu dùng hoặc sản phẩm sản xuất ra không có khả năng đem ra trao đổi trên thị trường thì không thể xem là cung
Ta cũng phân cung thành hai loại là cung cá nhân và cung thị trường, trong đó cung thị trường được hiểu là những lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà một doanh
nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp có khả năng và sẵn sàng cung ứng ra thị trường với một mức giá nào đó tại một thời điểm và trên một thị trường nhất định
Các yếu tố ảnh hưởng tới quy mô của cung là: giá cả của hàng hóa, giá đầu vào, công nghệ, thuế và chính sách trợ cấp, quy mô sản xuất Trong đó giá cả của hàng hóa giữ vai trò quyết định, cụ thể nhà doanh nghiệp thường ứng xử với một xu hướng ngược lại với người tiêu dùng – đó là giá cả càng cao họ càng muốn bán nhiều hàng hóa hơn vì dễ mang về cho họ nhiều lợi nhuận hơn
2 Mối quan hệ cung – cầu
Quy luật cung cầu có mối liên hệ mật thiết với nhau
Quan hệ cung cầu là mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa người bán với người mua hay giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng diễn ra trên thị trường
để xác định giá cả và số lượng hàng hóa dịch vụ
Những biểu hiện của nội dung quan hệ cung cầu:
• Khi nhu cầu tăng -> sản xuất được mở rộng -> dẫn đến nguồn cung cũng sẽ tăng theo
Ví dụ : Vào các dịp tết cổ truyền, xu hướng của người dân là mua sắm những cây cảnh trang trí nhà cửa như quýt, đào mai… do đó đoán được điều này nên cứ trước Tết
3 Xem cụ thể hơn ở phần 2.6
4 Bộ GD&ĐT, Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lenin, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội – 2006
Trang 6thì rất nhiều nơi đã mở rộng vùng trồng và cung cấp ra thị trường để cung ứng nhu cầu của người dân.
• Khi nhu cầu giảm -> sản xuất bị thu hẹp -> nguồn cung cũng giảm dần
Ví dụ : Ở miền Bắc đa số người ta sắm Đào nhiều hơn cây Mai nên các nhà vườn người ta sẽ trồng chủ yếu là cây đào để phục vụ Tết, còn cây Mai sẽ trồng ít hoặc nhập
từ miền Nam về do lý do thời tiết nên ở thị trường miền Bắc thì cung ứng cho người dân về cây Mai sẽ giảm
3 Cung – cầu tiền tệ
Cầu tiền tệ là tổng khối lượng tiền mà các tổ chức và cá nhân có để thỏa mãn các nhu cầu Nhu cầu tiền tệ không trực tiếp quyết định mức tiền tệ cung ứng vì mức tiền cung ứng nhiều hay ít phụ thộc vào quyết định của NHTW, mà nó chỉ có tác động gián tiếp đến mức cung tiền thông qua sự biến động về giá cả trên thị trường, lãi suất……Nhìn chung, trong nền kinh tế có hai nhu cầu lớn chi phối nhu cầu tiền đó là nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng Rõ ràng, nền kinh tế muốn phát triển được thì đòi hỏi các chủ thể cần gia tăng đầu tư, tạo thêm nhiều của cải vật chất Khi nhu cầu đầu tư càng tăng thì đòi hỏi nhu cầu tiền dành cho đầu tư càng lớn Nhu cầu tiền dành cho đầu
tư phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất tín dụng và tỷ suất sinh lời từ hoạt động đầu tư và chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước Đặc biệt, Nhà nước có thể khuyếnkhích các chủ thể gia tăng đầu tư bằng việc sử dụng công cụ lãi suất và chính sách thuế, chính sách chi tiêu công cộng Việc nhà nước khuyến khích hay hạn chế nhu cầu đầu tư còn tùy thuộc vào trình trạng của nền kinh tế Nếu nền kinh tế phát triển quá
“nóng” hoặc khi đang lạm phát cao thì cần hạn chế khối lượng tiền trong lưu thông, vì thế nó có thể giảm nhu cầu đầu tư của các chủ thể
Nhu cầu tiêu dùng tăng hay giảm cũng phụ thuộc nhiều vào mức thu nhập và lãi suất Nhìn chung, nền kinh tế càng hát triển, nhu cầu đầu tư gia tăng sẽ làm thu nhập của các chủ thể tăng lên Điều đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng trong nền kinh tế, làm giatăng nhu cầu tiêu dùng Mặt khác, lãi suất cũng là một trong những yếu tố tác động tới nhu cầu tiêu dùng Nếu lãi suất cho vay tiêu dùng càng tăng thì nhu cầu tiêu dùng có
xu hướng giảm và ngược lại
Cung tiền tệ là khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế Nói cách khác, mức cung tiền tệ là toàn thể khối tiền đã được cung cấp cho nền kinh tế trong một thời kì nhất định
4 Cung – cầu hàng hóa
Trang 7Nhân tố ảnh hưởng
• Những nhân tố ảnh hưởng đến cầu hàng:
-Nhu cầu mua sắm: Nhu cầu mua sắm càng tăng lên thì cầu càng có khả năng tăng lên và ngược lại
-Thu nhập của người tiêu dùng càng cao thì cầu càng tăng lên và ngược lại
-Giá cả hàng hóa càng tăng lên thì cầu về hàng hóa đó càng giảm và ngược lại
-Chất lượng và mẫu mã hàng hóa mà phù hợp với thị hiếu người tiêu dùngthì cầu về hàng hóa đó tăng lên và ngược lại
-Giá cả hàng hóa thay thế mà tăng thì cầu về hàng hóa đó sẽ tăng lên và ngược lại
-Giá cả của hàng hóa bổ trợ mà tăng thì cầu về hàng hóa đó sẽ giảm xuống và ngược lại
-Những dự kiến của người tiêu dùng về giá cả hàng hóa trong tương lai: Nếu người tiêu dùng cho rằng, trong tương lai, giá cả hàng hóa sẽ tăng lên thì cầu về hàng hóa đó trong hiện tại sẽ tăng lên
• Những nhân tố ảnh hưởng đến cung hàng :
+Giá cả các yếu tố đầu vào tăng lên thì cung về hàng hóa đó sẽ giảm xuống và ngược lại
+Trình độ công nghệ: Công nghệ càng hiện đại thì cung về hàng hóa được sản xuất ra càng tăng lên và ngược lại
+Số lượng người sản xuất càng nhiều: thì cung về hàng hóa tăng lên và ngược lại
+Giá cả của hàng hóa có cùng sử dụng vật liệu chính:
+Chính sách thuế của chính phủ: thuế về mặt hàng nào đó tăng lên thì cung về mặt hàng đó giảm đi và ngược lại
5 Tác động của tiền tệ và hàng hóa thông qua quy luật cung – cầu:
Trang 8Cung cầu tiền tác động lên cung cầu hàng hóa:
Cầu hàng hóa càng cao- cầu tiền càng cao tuy nhiên trong mối quan hệ này, ảnh hưởng của cung tiền lên cung cầu quan trọng và chủ yếu hơn cầu tiền lên cung cầu hàng Cung tiền tăng thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng từ đó cung hàng hóa tăng cầu hàng hóa cũng tăng tuy nhiên khi cung tiền đạt đến mức độ nào đó sẽ đẩy lạm phát tăng lên khiến giá hàng hóa ngày càng tăng và đẩy cầu hàng hóa đến giai đoạn nào đó sẽ khôngtăng nữa mà đứng yên và có xu hướng co lại, cầu hàng hóa giảm kéo theo cung hàng hóa cũng giảm tương ứng để đạt điểm cân bằng cùng tiền giảm thì hiệu quả ngược lại.Mối quan hệ giữa cung cầu tiền và cung cầu hàng hóa là mối quan hệ biện chứng trong đó, cung cầu tiền đóng vai trò quyết định cung cầu hàng hóa, do cung cầu tiền,
do chính sách của ngân hàng nhà nước quyết định nhưng ngược lại cung cầu hàng hóa cũng tác dộng trở lại cung cầu tiền do các chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước
có hiệu quả hay không, thực tiễn hay không, phải dựa trên cơ sở tình trạng cung cầu hàng hóa hiện tại không thể xa rời thực tế
6 Mối quan hệ giữa giá cả với cung cầu:
Giá cả cũng tác động lên cung cầu
Đây là sự tác động phức tạp theo chiều hướng và với mức độ khác nhau Khi giá một hàng hóa nào đó tăng lên người tiêu dùng sẽ phải cân nhắc hơn về việc mua hàng hóa này nhu vậy nhu cầu về nó giảm đi tương đối, nhưng giá tăng trong khi thời gian lao động xã hội vẫn như cũ thì có nghĩa là chủ thể kinh doanh sẽ thu được lợi nhuận cao hơn như vậy giá tăng sẽ tạo động lực để các chủ thể kinh doanh sản xuất nhiều hơn nghĩa là tăng cung hàng hóa đó; còn việc giảm nhu cầu về hàng hóa đó sẽ dẫn đến giảm cung Khi nhu cầu về hàng hóa nào đó tăng lên trong khi mức cung không thay đổi sẽ làm cho giá cả tăng lên và kích thích sản xuất nó, nghĩa là kích thíchtăng cung
Tuy nhiên sự tăng giá có ảnh hưởng tới cầu thường không giống nhau với các loại hàng hóa Ví dụ: khi giá lương thực, thực phẩm tăng lên thì nhu cầu về nó thường không giảm hoặc giảm không đáng kể; những việc tăng giá hàng xa xỉ sẽ làm cho nhu cầu về chúng giảm đi nhiều
Quy luật cung-cầu là quan hệ kinh tế cơ bản, tất yếu,gắn liền với bản chất của nền kinh tế thị trường Vì vậy quy luật cung cầu được xem là quy luật của nền kinh tế thị trường
Cung cầu sẽ ảnh hưởng tới giá cả thị trường:
Trang 9• Khi nguồn cung lớn hơn nhu cầu sử dụng giá cả hàng hóa , sản phẩm giảm
Trường hợp này khi cung lớn hơn cầu, tức là hàng hóa tràn lan mà nhu cầu của người mua thì ít nên giá giảm có lợi cho người mua (dẫn đến hiện tượng đầu cơ tích trữ)
Đầu cơ tích trữ là: Các nhà đầu cơ thu mua ,tích lũy số lượng lớn hàng hóa khi nhu cầu của nó trên thị trường đang thấp, thị trường đang đi xuống hoặc lúc lượng hàng cung cấp bằng với nhu cầu của thị trường , Đến khoảng thời gian phù hợp , khi trên thị trường khan hiếm nguồn cung , thị trường đã bình ổn trở lại thì bán ra để thu lợi Hoạt động này là hoạt động ngắn hạn và thu lợi nhuận từ chính sự chênh lệch về giá Ở Việt Nam có rất nhiều nhà đầu cơ những mặt hàng thường bị nhà đầu cơ áp dụng như Vàng, Sắt thép, cà phê…
• Khi nguồn cung nhỏ hơn nhu cầu giá cả hàng hóa tăng
• Khi nguồn cung bằng với nhu cầu giá cả ổn định
2.7 Mối quan hệ cung – cầu đối với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường
Ở Việt Nam hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát
từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất phát từ tínhđặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sản xuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội, của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại Với mức độ đáng kể, sự phát triển kinh tế thị trường
ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa Đương nhiên, nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền Song, để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và được triển khai bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự quản lý của Nhà nước do Đảng lãnh đạo Xét từ giác độ đó, Nhà nước có tác động trực tiếp nhất tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường Pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước chỉ đúng, khi chúng phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy luật thị trường làm cơ
Trang 10sở Xét ở mặt này, chúng mang tính khách quan Nhưng chúng lại là sự thể chế hóa, cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng, nên cũng có mặt chủ quan Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, định hướng chủ quan (ý chí của Đảng, của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ, cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lýcủa doanh nhân, thì việc ưu tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm sự
ưu tiên đó, thể hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau:
Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữutập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước, hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách… tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp
Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh
tế do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực – trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước – để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng
ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợp tăng trưởng kinh tế vớithực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…
Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế
“ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi ích giữa người vàngười, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước.Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó
Công bằng xã hội là một động lực của sự phát triển xã hội nói chung, của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng Một trong những mục tiêu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước
Trang 11hướng tới là xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội Đây là một nhiệm vụ lâu dài
Ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế được biểu hiện không chỉ ở chỗ lao động ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau, mà còn ở chỗ cống hiến – đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá khứ cũng như trong hiện tại – ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì được hưởng ngang nhau Từ đó, việc bảo đảm yêu cầu thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội được thể hiện đầy đủ ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển kinh tế là một nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước ta trong việc thực hiện chức năng phát triển, tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện các mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả Chỉ duy nhất nhà nước có được chức năng này Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nước càng được xây dựng đồng bộ, đúng đắn, nhất quán và kịp thời bao nhiêu, càng có tác động tích cực tới
sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu Song, tự nó, pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế Để cho các luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế, chúng phải được đưa vào vận hành Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ này Năng lực điều hành kinh tế bằng pháp luật là một thước đo đánh giá sự trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế
Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất, lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề, vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội
Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cũng còn những hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa được xây dựng đồng bộ, vận hành suôn sẻ; quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều bất cập; chưa
có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà nước thực sự hoàn thành tốt chức năng chủ đạo trong nền kinh tế; kinh tế tập thể còn rất yếu kém; năng lực cạnh tranh của nềnkinh tế thấp; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường…
• Với các nhà doanh nghiệp :
Trang 12Công ty sản xuất,việc nghiên cứu vấn đề cung-cầu giúp họ có thể nắm bắt được nhanh chóng nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường từ đó có thể điều
chỉnh,cung cấp lượng hàng hóa dịch vụ phù hợp,vừa đủ,tránh gây dư thừa hoặc thiếu hụt hàng hóa
Khi mức cầu của thị trường tang cao,đòi hỏi lượng cung cần tăng theo để đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng bằng cách mở rộng quy mô sản xuất hay tang năng suất lao động.Ngược lại,khi mức cầu của người tiêu dùng đối với một loạt mặt hàng nào đó giảm,đòi hỏi các nhà doanh nghiệp cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh phải thu hẹp quy mô,điều tiết lượng sản phẩm sản xuất ra sao cho phù hợp,tránh tồn động,dư thừa gây thua lỗ
Để các cơ sở có thể tồn tại và phát triển vững mạnh,các nhà đầu tư,chủ doanh nghiệp cần nghiên cứu kỷ càng,chuyên sâu về mối quan hệ cung cầu trên thị trường và tiến hành đặt cũng như giải quyết các câu hỏi : “Vì sao mức cầu giảm ?” , “Vì sao mứccầu tăng?”, “Cần làm gì trước nhưng tình huống như vậy ?”
Khi lượng cầu giảm,có thể là do giá cả mặt hàng đó quá cao so với giá trị thực của nó,chất lượng hàng hóa chưa đảm bảo so với các mặt hàng ngang giá khác hay do mẫu mã thiếu đa dạng hay không được quảng bá rộng rãi.Từ đó có thể đề ra phương hướng giải quyết cho doanh nghiệp mình.Hạ giá thành,nâng cao chất lượng sản phẩm hay đa dạng hóa mẫu mã,tránh để tồn đọng sản phẩm quá nhiều gây thua lỗ
Tương tự như vậy,khi lượng cầu tang,các doanh nghiệp cần tranh thủ tang cường mở rộng quy mô sản xuất tang năng suất lao động để tạo la khối lượng sản phẩm đủ đáp ứng cho thị trường một cách nhanh chóng kịp thời
Như vậy, việc nghiên cứu cung-cầu trên thị trường không chỉ giúp cho các doanh nghiệp cơ sở sản xuất điều tiết được lượng sản phẩm sản xuất ra mà còn đòi hỏi
họ phải có phương hướng hành động phù hợp,nhất là điều chỉnh giá thành và chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thị trường,tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp mình
• Đối với Người tiêu dùng:
Người tiêu dùng hay còn gọi là người tiêu thụ là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ cá nhân hay hộ gia đình sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ trong nền kinh tế Họ là người có nhu cầu có khả năng mua sắm các sản phẩm trên thị trường phục vụ cho cuộcsống người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình
Trang 13Theo hiệp hội Marketing Mỹ :Người tiêu dùng là những người sử dụng hàng hóa cuối cùng Ví dụ là người mẹ mua sữa bột cho đứa trẻ cũng được gọi là người tiêu dùng cho sản phẩm đó
Trong mối quan hệ cung cầu, người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng, trong
đó các quyết định của họ làm ảnh hưởng quyết định đến giá trị của hàng hóa Họ mua thực phẩm, quần áo, nhà cửa, Phương tiện đi lại trong giới hạn tài chính của mình Và
họ cũng muốn có khả năng mua được nhiều hơn Tuy nhiên cung và cầu luôn có sự không ổn định làm giá cả hàng hóa có sự thay đổi
Giả sử có gia đình nọ, họ muốn mua sắm cho tết cổ truyền sắp tới Họ dự định sẽ mua hoa mai,trái cây,bánh kẹo, đồ uống Nhưng kế hoạch của họ lại bị ảnh hưởng rất nhiều từ giá cả thị trường
Ví dụ họ phát hiện ra rằng giá Mai đã tăng do thời tiết lạnh làm hoa nở chậm Thời tiết lạnh làm ảnh hưởng đến giá trị Mai và còn ảnh hưởng đến sức mua của ngườitiêu dùng Vì nguồn cung Mai giảm thấp hơn so với nhu cầu của thị trường nên giá Mai tăng Lúc này người tiêu dùng muốn mua Mai giảm và chuyển sang loại hoa khác.Bất kể lí do gì làm cho giá cả hàng hóa tăng thì người tiêu dùng nên chọn lọc để chọn đúng giá trị của nó Giá Mai tăng sức mua giảm làm Mai không còn khan hiếm Khi
đó gia đình họ sẽ chuyển từ mua Mai sang mua loại hoa khác hoặc sẽ mua ít lại Việc chuyển qua loại hoa khác khiến giá của hoa tăng theo góp phần cân bằng cung cầu Mặt khác khi giá Mai tăng khuyến khích người trồng Mai đầu tư nhiều hơn để đáp ứngnhu cầu thị trường
Người tiêu dùng không hề thụ động Họ lựa chọn hàng hóa theo giá trị hàng hóa một cách chủ động Khi cầu vượt quá cung kéo theo giá cả hàng hóa tăng lúc này người tiêu dùng hạn chế hoặc chuyển sang hàng hóa khác Lựa chọn hàng hóa khi cung vượt quá cầu giá trị không đổi nhưng giá cả giảm
Người tiêu dùng đặt ra yêu cầu cho hàng hóa làm giá trị hàng hóa thay đổi Khi nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi đồng nghĩa giá trị của hàng hóa thay đổi Ví
dụ như hãng điện tử iPhone họ ra hàng loạt các sản phẩm Luôn thay đổi theo hướng hoàn thiện và hiện đại hơn Khi các dòng mới ra đời thì nhu cầu tăng làm giá cả tăng Lúc này nhu cầu đóng vai trò là thước đo giá cả của hàng hóa Khi đó người mua sẽ lựa chọn các sản phẩm cho giá cả thấp hơn của hãng điện tử khác Cung cầu tác động trực tiếp đến việc mua hay không mua hàng hóa của người tiêu dùng
Trang 14Chi tiêu của người tiêu dùng đại diện cho nguồn cầu căn bản đối với các sản phẩm được bán trên thị trường ảnh hưởng phân nửa đến việc xác định giá cả thị trườngcủa hàng hóa và dịch vụ
Ví dụ: Cung cầu hoa quả Việt Nam ở thị trường trong nước:
Chỉ cần dạo qua thị trường có thể thấy trái cây ngoại “áp đảo” thị trường như thếnào Trái cây ngoại xuất hiện từ siêu thị, cửa hàng, chợ và tràn lan cả trên mạng
Chủng loại trái cây cũng rất đa dạng phong phú từ hàng cao cấp cho đến hàng bình dânvới nhiều loại trái cây mới lạ như dưa Sapo, táo Rubi, lê Nashi…, giá dao động vài chục đến vài trăm nghìn đồng/kg Điển hình như: Dưa vàng của Nhật tại một cửa hàng nhập khẩu ở Hoàng Mai (Hà Nội) có giá từ 230.000 đến 250.000 đồng/kg, bơ sáp
Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), hai tháng đầu năm Việt Nam đã chi 164 triệu USD (khoảng 3.720 tỷ đồng) để nhập khẩu trái cây,rau quả Riêng nhập khẩu từ Thái Lan là 82,6 triệu USD, chiếm 50% kim ngạch nhập khẩu trái cây và rau quả của Việt Nam Tiếp theo là thị trường Trung Quốc (19%), Myanmar (9%) và Mỹ (8%) Trung bình mỗi ngày người Việt chi khoảng 62 tỷ đồng
để nhập khẩu rau củ quả.Hiện mặt hàng trái cây Thái Lan không chỉ xuất hiện chủ yếu trong kênh phân phối đại siêu thị, bán lẻ hiện đại (chuỗi siêu thị lớn, cửa hàng tiện ích ) như thời gian trước, mà đã khá phổ biến ngay tại các cửa hàng nhỏ lẻ, chợ trên địa bàn Hà Nội Các loại hoa quả Thái Lan được bày bán phổ biến như sầu riêng, chômchôm, bòn bon, me, măng cụt, xoài, quýt, nhãn thường có giá cao hơn hoa quả Việt Nam và Trung Quốc Trái cây Thái thường ngọt, ít hạt, hoặc hạt lép nên đắt gấp đôi người mua vẫn thích hơn trái cây Việt cùng loại 5
PHẦN HAI QUY LUẬT CUNG CẦU TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI
I/CUNG CẦU TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI:
5 viet
Trang 15http://tnnn.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1096/52100/can-chu-trong-thi-truong-trong-nuoc-cho-trai-cay-Đối với thế giới, cung- cầu có sự tác động, chịu ảnh hưởng chi phối của Thị trường
Trạng thái cân bằng thị trường được hình thành từ sự tác động qua lại giữa 2 đối tượng kinh tế cung và cầu Mức giá cân bằng là mức giá có số lượng hàng hóa người mua sẵn lòng mua bằng số lượng hàng người bán sẵn lòng bán Nếu mức giá thị trườngcao hơn mức giá cân bằng thì lượng cung nhiều hơn lượng cầu, xảy ra tình trạng dư cung Sự cạnh tranh của những người bán để bán được hàng sẽ làm áp lực giá giảm xuống Ngược lại nếu mức giá thị trường thấp hơn mức cân bằng thì lượng cung ít hơn lượng cầu, xảy ra tình trạng thiếu hụt Sự cạnh tranh của những người mua hàng sẽ làm áp lực giá tăng lên
-Quy luật cung - cầu có vai trò rất lớn, đặc biệt là ảnh hưởng sâu sắc và liên hệ mật thiết với nền kinh tế thế giới-thị trường kinh tế lớn nhất Những tác động của quy luật cung-cầu trong nền kinh tế có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn như: đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển;mặt khác cũng phân hóa xã hội thành người giàu - người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội
-Chứng minh: Để chứng minh rõ vai trò và sức tác động của quy luật cung - cầu trong nền kinh tế thế giới,ta nghiên cứu ví dụ về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933
+ Vài nét về cuộc khủng hoảng(The Great Depression) diễn ra trong giai đoạn
1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầu từ sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall (29-10-1929) Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển
Thương mại quốc tế suy sụp rõ rệt,từ thu thập các nhân,thuế,lợi tức đều bị ảnh hưởng
và suy thoái Xây dựng gần như bị tê liệt ở nhiều nước
+ Nguyên nhân cuộc khủng hoảng: Do sự thiếu cân bằng giữa cung-cầu
+ Tác động và hậu quả: Cuộc khủng hoảng 1929-1930 là cuộc đại khủng hoảng
có quy mô lớn nhất Mỹ là một nước tư bản phát triển nhất ,nhưng hệ thống phân phối
xã hội lúc đó rất bất công ,phần lớn thu nhập quốc dân chỉ tập trung trong tay một số ít người , Người lao động không được hưởng phần xứng đáng của họ trong chỉ số tăng của nền kinh tế Tất cả đưa đến một cuộc khủng hoảng thừa, đưa đến hiện tượng các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản,họ tự tay phá nhà máy, đánh đắm tàu, đổ của cải xuống biển để giữ giá
Trang 16Từ thị trường chứng khoán,cuộc khủng hoảng lan rộng ra tất cả các lĩnh vực khác
và trở thành cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế, chính trị,xã hội Hàng triệu người thất nghiệp, hàng triệu người bị mất nhà cửa
->Từ nguyên nhân là sự thiếu cân bằng trong quy luật cung-cầu đã dẫn đến các hệquả nghiêm trọng
Tích cực: Cung và cầu ảnh hưởng đến kinh tế ở cả hai phương diện tích cực và
tiêu cực:
: Buộc các doánh nghiệp nắm vững các trường hợp vận động của cung-cầu để đưa
ra quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất,kinh doanh.Tạo ra sự lựa chọn tự nhiên , kích thích các nhân tố , kinh thích các nhân tố tích cực phát triển, Tác động của qui luật cung-cầu trong kinh doanh quốc tế:
Có thể nói một trong những điều mang đến sự thành công cho các doanh nghiêp lớn trên thế giới đó chính là việc nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò của qui luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường Để vừa có thể đáp ứng được sức ép cạnh tranh trên thị trường vừa cân bằng được nhu cầu sử dụng của khách hàng, khả năng cung cấpdịch vụ, sản phẩm của mình buộc các doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường, vận dụng những lí thuyết kinh tế áp dụng sáng tạo vào thực tiễn và tìm ra con đường kinh doanh linh hoạt để đối phó với sự biến động không ngừng của thị trường Tổng thống
Mỹ Donald Trump cho rằng: “Thị trường sẽ tự tìm con đường phù hợp nhất cho chính mình Bạn thay đổi thì có thể cuộc sống sẽ tốt lên hoặc xấu đi, nhưng khi bạn đứng yênthì tự khắc bạn sẽ thua cuộc, đó là quy luật đào thải tất yếu của cuộc sống”
Trong lĩnh vực dịch vụ vận tải: điển hình như Uber đã vận dụng thành côngqui luật cung- cầu theo mô hình cân bằng cung-cầu
Trong lĩnh vực thương mại -điện tử
Gần đây Apple có ra mắt Iphone X Những chiếc đầu tiên về Viêt Nam giá lên đến 6x triệu, nhưng chỉ 1 ngày sau, khi mà Iphone X được xách tay, nhập về nhiều hơnthì giá giảm nhanh chóng và ổn định ở mức 3x triệu như hiện nay Đây là một ví dụ rất đơn giản về cung – cầu Khi cung khan hiếm (Iphone X nhập về rất ít), trong khi đó có nhiều người có nhu cầu mua thì tự khắc giá sẽ phải được đẩy lên Ngược lại, khi cung nhiều hơn, cầu vẫn giữ nguyên, hoặc thậm chí giảm xuống thì giá sẽ về mức thấp hơn
• Tương tự, trong trading:
Trang 17- Khi cung vượt quá cầu, thì có sự dịch chuyển về giá của đồng coin Giá đi xuống do người bán quá nhiều, trong khi đó thị trường không có nhu cầu (người mua ít) Trước khi đi xuống sẽ có một vùng giằng co, đó là vùng cung (Supply) Chúng ta
sẽ tìm cơ hội bán trong tương lai khi giá hồi lại tại vùng này Bởi vì taị mức giá đó, đa phần nhà đầu tư sẽ chốt lời
– Khi cầu vượt quá cung, thì giá của đồng coin sẽ đi lên Giá đi lên do người mua quá nhiều, trong khi đó người bán lại ít Trước khi đi lên giá sẽ giằng co tạo thành vùng cầu (Demand) Khi giá rơi xuống vùng này, chúng ta thường sẽ tìm cơ hội đầu tư bằng lệnh mua vào
Tiêu cực: Không ứng dụng được tại ra sự mất cân đối trong nền kinh tế ,khủng
hoảng đói nghèo bất bình đẳng xã hội
-> Biện pháp :
-Các nhà tư bản lớn,tập đoàn xuyên quốc gia quy mô lớn nghiên cứu các quy luật cung-cầu để tránh sai lầm Nhà nước chính phủ sẽ có các biện pháp để điều tiết sản xuất trong nước,cải tiến kỹ thuật đề ra các chính sách vè giá cả, lợi nhuận , hợp đồng kinh tế , thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng,khuyến khích các chính sách giá cả phát triênr
và đầu tư cho khoa học,công nghệ, Để áp dụng cung-cầu hợp lý cho nền kinh tế thế giới,yêu cầu đặt ra là các nước lớn-“ Đầu tàu của nền kinh tế phải có các chính sách phát triển phù hợp và đưa ra các cách xử lý hợp lý trước khủng hoảng Khuyến khích
áp dụng các chính sách kinh tế mới (Trong khủng hoảng 1929-1933, tiêu biểu có tổng thống Mỹ Franklin.D.Roosevelt) hạn chế cách thức tiêu cực như phát xít hóa,quân phiệt hóa, gây bạo động diện rộng
Như chúng ta đã biết, quốc tế là thị trường chung rộng lớn có lượng cung-cầu khổng lồ.Đây được coi là nơi giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới, mỗi nước có một lợi thế về mặt hàng riêng nhằm đẩy mạnh, làm tăng trưởng sự tác động qua lại giữa cung và cầu Và hiện nay, có một số quốc gia tiên tiến đang có nền kinh tế dẫn đầu thế giới với lượng cung – cầu đáng kể.Không thể không kể đến đó chính là Mỹ và Nhật Bản
• Đầu tiên phải kể đến Mỹ với nền kinh tế đứng đầu thế giới Quốc gia siêu cường này luôn dẫn đầu về tỉ lệ thu nhập GDP hằng năm, lượng cung-cầu đáng nể, số lượng hàng hóa sản xuất và lượng tiêu thụ rất lớn Những mặt hàng của Mỹ là nguồn cung ứng chủyếu cho các quốc gia khác Lượng cầu không chỉ giới hạn trong nước mà cả ngoài nước, nhờ nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng nên lượng cung cũng tăng lên Việt Nam cũng là một trong những nước nhập khẩu hàng hóa nhiều từ Mỹ Nhóm hàng được ta
Trang 18nhập về nhiều nhất là máy vi tính, điện tử chiếm 30,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các loại từ Mỹ, đạt 2,08 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2016.Nhóm hàng bông nhập khẩu trị giá 1,03 tỷ USD, chiếm 15%, tăng mạnh trên 62% so với cùng kỳ; tiếp đến nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm gần 10%,đạt 680,09 triệu USD, giảm 4,9%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày chiếm 3,8%, đạt 260,79 triệu USD, tăng 25% Với nguồn cầu đó, lượng cung tăng dẫn đến giá cả hàng hóa cũng tăng theo Nước mỹ cũng đã từng lâm vào khủng hoảng kinh tế Đây là cuộc khủng hoảng “thừa” do sản xuất ồ ạt, chạy đua theo lợi nhuận trong những năm 1924 -
1929 dẫn đến tình trạng hàng hóa ế thừa trong khi người lao động không có tiền mua Cung > cầu khiến giá cả sụt giảm, hàng hóa tồn đọng Phải mất nhiều thời gian nước
Mỹ mới khôi phục được nền kinh tế như hiện nay.6
• Nhật Bản - một trong những quốc gia hàng đầu về khoa học công nghệ, Nhật Bản tự hào là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới Ở bất kì mọi lĩnh vực, mặt hàng nào cũng đều đáp ứng nhu cầu của người mua Nhật Bản là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về các lĩnh vực sản xuất máy móc, nghiên cứu khoa học và công nghệ nên cũng không khó hiểu tại sao khi quốc gia này là nước sản xuất xe hơi lớn thứ 2 tên toàn cầu với những thương hiệu nổi tiếng: Toyota, Honda, Suzuki, Bên canh đó quốc gia này còn nổi tiếng với công nghiệp điện tử trên toàn thế giới và các sản phẩm điện tử chiếmmột phần lớn trong thị trường thế giới điển hình như các hãng Sony, Panasonic,
Fujitsu, Hitachi, Sharp và Toshiba Nhờ vào chất lượng sản phẩm mà hiện nay lượng cầu đang tăng và lượng cung không ngừng tăng tốc để đáp ứng
Và thị trường xăng dầu cũng là thị trường nổi trội vì luôn có nhu cầu tiêu thụ Xã hội ngày càng mọc lên nhiều nhà máy, xe cộ phương tiện giao thông ngày càng nhiều đòi hỏi cung phải tăng lên Đó là lí do các nước có trữ lượng tài nguyên dầu mỏ nhiều như Ả-rập Xê-út có điều kiện phát triển, khiến quốc gia này trở thành một trong
những nước giàu có và quyền lực nhất ở Trung Đông
Mặc dù vậy nhưng nhìn lại năm 2016 xu thế giá dầu giảm xuống hết sức trầm trọng Ngày 12-1 giá dầu thế giới giảm xuống dưới mức 30 USD/thùng, đây là lần đầu tiên từ tháng 12-2003 đến nay giá dầu giảm xuống mức này Và giá dầu thô tháng 6-
2014 từng đạt mức 108 USD/thùng, điều này có nghĩa là giá dầu thô đã giảm mạnh 72% từ tháng 6-2014 đến nay, giảm xuống mức kinh ngạc Còn làn sóng bán tháo mới chỉ trong mấy ngày đầu năm khiến cho giá dầu thế giới giảm thêm 19%, mạnh đến mức khó tin Dầu thô có mối liên hệ mật thiết với kinh tế toàn cầu, khi kinh tế toàn cầuliên tục phồn vinh, nhu cầu đối với dầu thô sẽ tăng lên, ngược lại thì sẽ giảm xuống
6 http://vinanet.vn/thuong-mai-cha/hang-hoa-nhap-khau-tu-my-nhieu-nhat-la-may-vi-tinh-dien-tu-682497.html
Trang 19Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu khiến giá dầu thế giới liên tục giảm xuống là do thị trường liên tục ở trạng thái cung vượt quá cầu nghiêm trọng, cũng như những dự đoán
về triển vọng tăng trưởng của kinh tế toàn cầu ảm đạm khiến cho nhu cầu đối với dầu thô không tăng lên Cụ thể là nội bộ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) không đoàn kết, điều phối không hiệu quả Được thành lập vào ngày 14-9-1960, mục đích của OPEC là điều phối và thống nhất chính sách dầu mỏ giữa các nước thành viên, bảo vệ lợi ích chung của các nước thành viên Hiện nay, tổ chức này có 12 thành viên, đang kiểm soát hơn 78% trữ lượng dầu mỏ của toàn thế giới, khoảng 40% nhu cầu dầu mỏ trên thế giới đều do tổ chức này cung cấp Trong tình hình xuất hiện hiện tượng cung vượt quá cầu nghiêm trọng hiện nay, các nước như Algeria hy vọng OPEC có thể điều phối các nước thành viên cắt giảm sản lượng dầu mỏ, đồng thời yêu cầu Saudi Arabia đi đầu trong việc cắt giảm sản lượng Nhưng tình hình thực tế là tháng 12-2015, Saudi Arabia vẫn tăng cường sản xuất dầu thô, sản lượng dầu thô trongtháng 12-2015 của nước này duy trì ở mức 10,15 triệu thùng/ngày, đây là tháng thứ 9 nước này liên tục duy trì mức hơn 10 triệu thùng/ngày Mặt khác Iran quay trở lại thị trường dầu thô quốc tế sẽ làm gay gắt hơn nữa mâu thuẫn cung-cầu Dự tính sau khi được dỡ bỏ trừng phạt về kinh tế, Iran sẽ toàn lực khôi phục sản lượng dầu thô Các nhà đầu tư dự tính cục diện cung vượt quá cầu của thị trường dầu thô quốc tế sẽ ngày càng xấu đi Mỹ cũng tăng sản lượng dầu thô đã làm trầm trọng hơn nữa mâu thuẫn Hiện nay, cục diện cung vượt quá cầu của dầu thô thế giới có liên quan rất lớn với việc
Mỹ tăng cường phát triển khí đá phiến Sản lượng dầu thô của Mỹ cũng rất cao, sản lượng dầu thô bình quân một ngày trong tháng 10-2015 là 9,35 triệu thùng Đối với thị trường dầu thô quốc tế, điều càng tồi tệ hơn là để mở rộng việc làm, vào cuối năm
2015 Mỹ đã dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ kéo dài trong 40 năm, từ tháng 1-2016 bắt đầu khôi phục xuất khẩu ra nước ngoài, điều này chắc chắn sẽ gây sức ép với giá dầu.7
II/CUNG CẦU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1.Thực trạng nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay:
Trải qua các giai đoạn phát triển của nền kinh tế nước nhà, nhận thức của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta ngày càng rõ và thực tế hơn tính tất yếu, mục tiêu, bản chất, đặc trưng, cấu trúc, thể chế và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Từ chỗ không thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hàng hóa dưới chủ
7 http://www.hiephoixangdau.org/nd/kien-thuc-nganh/gia-dau-the-gioi-lao-doc-nguyen-nhan-va-anh-huong.html
Trang 20nghĩa xã hội ( trước đổi mới), đến thừa nhận kinh tế hàng hóa có những mặt tích cực cần vận dụng ( Đại hội VI của Đảng), xác định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam’’ ( Đại hội IX của Đảng), và cho đến Đại hội XI của Đảng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được xác định là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Theo cách xác định hiện nay của chính phủ, Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong khi nền kinh tế ngày càng được thị trường hóa thì sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế vẫn còn ở mức độ cao Hiện tại, nhà nước vẫn sử dụng các biện pháp quản lý giá cả kiểu hành chính với các mặt hàng thiết yếu như yêu cầu các tập đoàn kinh tế và tổng công ty điều chỉnh mức đầu tư, quyết định giá xăng dầu, kiểm soát giá thép, xi măng, than Cũng xác định,việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, vươn lên một nền kinh tế hiện đại, ngang tầm với các nước trên thế giới, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.1.Thành tựu của nền kinh tế thị trường trong nước:
Với Đường lối, chính sách, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí, điều tiết của Nhà nước thì nền kinh tế của Việt Nam hiện nay có thể được xem là đúng hướng và đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật Đại hội VIII của Đảng ( 6/1996) đã tổng kết 10 năm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đến năm 2000 theo hướng: hình thành tương đối đồng bộ
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói rằng, quyết định chuyển sang kinh tế thị trường của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn thể hiện được nguyện vọng của nhân dân, khơi dậy được tiềm năng to lớn của đất nước Đại hội VIII đã khẳng định: cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực, to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội Nó chẳng những không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan, cần thiết của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
Sau 30 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đường lối đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển