1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Buổi thảo luận 1,2 HNGĐ

3 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi thảo luận 1,2 HNGĐ
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân và Gia Đình
Thể loại bài thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 15,6 KB
File đính kèm BUỔI TL1,2.zip (13 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Buổi Thảo luận 1,2 hôn nhân gia đình............................................................................................................................................................................................................

Trang 1

2.1 Anh Tuấn và chị Lâm kết hôn năm 2002 Năm 2008, chị Lâm sang Thái Lan

du lịch sau đó tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính và trở thành nam giới Ngỡ ngàng trước sự đổi thay của vợ ngày trở về và mất hy vọng vào hôn nhân (việc chị Lâm chuyển giới anh Tuấn không biết trước), anh Tuấn đã nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy việc kết hôn của anh và chị Lâm với nguyên do, quan hệ vợ chồng cùng giới tính Theo anh chị, cơ quan chức năng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào, tại sao?

CSPL: khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014

Trước đây theo khoản 5 Điều 10 Luật HNGĐ năm 2000 quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính

Tuy nhiên hiện nay, Luật HNGĐ năm 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng tại khoản 2 Điều 8 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Như vậy, so với quy định trước đây

hiện nay, Nhà nước không còn cấm những người có cùng giới tính kết hôn mà chỉ

“không thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân này Đồng nghĩa, những người đồng tính có thể tổ chức đám cưới, sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không được thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Như vậy nghĩa là Nhà nước không cấm nhưng cũng không thừa nhận

 Trong tình huống trên trước đó, anh Tuấn và chị Lâm đã đăng kí thủ tục kết hôn đúng theo quy định của pháp luật và được pháp luật thừa nhận cho phép đăng kí kết hôn, được công nhận là trường hợp quan hệ vợ chồng hợp pháp thỏa mãn điều kiện kết hôn tại Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 Nhưng sau này, việc chị Lâm chuyển đổi giới tính nên mối quan hệ giữa hai người đã trở thành hôn nhân của người đồng giới

Mà theo khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Tuy nhiên trong trường hợp này chị

Lâm qua Thái chuyển đổi giới tính chỉ là thay đổi về ngoại hình nhưng không có giấy

tờ nào công nhận chị Lâm là đàn ông, nghĩa là chị Lâm vẫn được xem là phụ nữ Do

đó, hôn nhân giữa hai người không vi phạm điều kiện kết hôn tại khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 Nên Tòa án không thể chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn của anh Tuấn và Tòa án sẽ tiến hành hủy đơn của anh Tuấn

- Nếu anh Tuấn muốn giải quyết việc hủy hôn trái pháp luật thì chị Lâm phải tiến hành làm thủ tục xác định lại giới tính là nam (sau khi chuyển đổi) thì mới có thể xác định đây là mối quan hệ vợ chồng đồng giới vi phạm điều kiện kết hôn tại khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 Khi đó, Tòa án mới chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn của anh và chị Lâm theo yêu cầu của anh Tuấn

2.2 Năm 2017, anh Thuận (sinh năm 1978) kết hôn với chị Nga (sinh năm 2000) Sau hai năm xác lập quan hệ vợ chồng, sức khỏe anh Thuận suy kiệt Kết quả xét nghiệm từ cơ sở y tế cho thấy anh Thuận bị nhiễm HIV mà nguồn bệnh anh bị lây nhiễm là từ vợ anh – chị Nga

Tháng 7/2020, anh Thuận chết

Trang 2

Tháng 12/2020, con đẻ anh Thuận với người vợ trước của anh (đã ly hôn) là Hằng yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga với lý do việc kết hôn này trái pháp luật

Theo các anh (chị) Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao?

CSPL: điểm b khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2014, mối quan hệ hôn nhân giữa anh Thuận và chị Nga đã vi phạm một trong những điều cấm kết hôn là tảo hôn, một trong những điều kiện để được kết hôn là nam từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mà chị Nga sinh năm 2000 (17 tuổi) kết hôn với anh Thuận sinh năm 1978 (39 tuổi) vào năm 2017 Nghĩa là chị Nga đã vi phạm điều kiện kết hôn khi chưa đủ tuổi theo Luật định Do đó, việc kết hôn này trái pháp luật do

vi phạm điều kiện về độ tuổi

- Xét về chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật: con đẻ và vợ trước của anh Thuận là hợp pháp theo khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ năm 2014

- Khi anh Thuận và chị Nga làm thủ tục đăng kí kết hôn khi biết một trong các bên không đủ đều kiện kết hôn về độ tuổi mà bên làm thủ tục cho anh chị kết hôn vẫn chấp nhận, xử lý cho phép hai người kết hôn thì được coi là tổ chức tảo hôn (Tổ chức tảo hôn là việc kết hôn cho những người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ năm 2014)

 Do đó, đây là trường hợp vi phạm song phương khi vi phạm về điều kiện kết hôn, điều cấm (tảo hôn) và về thẩm quyền ở nơi làm thủ tục đăng kí kết hôn Vì vậy Tòa án

sẽ chấp nhận yêu cầu của con đẻ và vợ trước anh Thuận về hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga

- Đồng thời, người có hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 47 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ, theo đó, cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn; phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó

TH1: Giả sử chị Nga biết mình bị nhiễm HIV nhưng vẫn cố tình giấu giếm kết hôn

với anh Thuận thì chị Nga đã vi phạm điều cấm kết hôn tại điểm b khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ năm 2014 là lừa dối kết hôn Khi đó, theo khoản 1 Điều 10 Luật HNGĐ

năm 2014 theo quy định của pháp luật thì“Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn v iphạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này”

Trang 3

TH2: Giả sử chị Nga không biết mình bị nhiễm HIV, kết hôn với anh Thuận và vô

tình lây bệnh truyền nhiễm sang cho chồng thì không được xem là hành vi lừa dối kết hôn Vì chị Nga không cố ý lây bệnh sang cho chồng mình nên không vi phạm điều cấm kết hôn tại điểm b khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ năm 2014 Vì vậy Tòa án không thể hủy kết hôn của anh Thuận và chị Nga nhưng vì vi phạm điều cấm kết hôn về tảo hôn khi chị Nga chưa đủ tuổi kết hôn nên việc kết hôn này là trái pháp luật Vì vậy Tòa án có thể hủy kết hôn của anh Thuận và chị Nga theo yêu cầu của chị Hằng

Ngày đăng: 27/09/2023, 20:51

w