1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SƠ LƯỢC VỀ THIẾT BỊ HÓA HỌC

51 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 5,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình phát triển của nhân loại, con người luôn vận dụng óc sáng tạo của mình để phát minh ra những công cụ giúp ích cho đời sống, nhất là trong sản xuất và sinh hoạt. Đó là những tiền đề cho sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt ngành công nghệ hóa học đã ra đời từ rất sớm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, trở thành một trông những ngành chủ lực trong công nghiệp sản xuất. Vào thế kỉ XX, khi việc sản xuất các sản phẩm hóa học trở nên bền vững và có hiệu quả thì yêu cầu về máy móc, thiết bị ngày càng tăng cao. Các nhà khoa học, đội ngũ kỹ sư đã phát triển nhiều thiết bị sử dụng trong công nghệ hóa học như thiết bị truyền nhiệt, truyền khối, thiết bị phản ứng,… Dưới sự nổ lực với mục tiêu tạo ra các máy móc và thiết bị hiện đại hơn, đã đặt ra những yêu cầu về vật liệu mới và hiện đại để chế tạo các thiết bị trên nhằm tăng hiệu suất của sản phẩm làm ra và giảm chi phí lắp ráp, vận hành thiết bị. Bên cạnh đó, con người cũng đã và đang tìm ra những phương pháp chế tạo hiện đại hơn nhằm tối ưu hóa chất lượng (độ bền cơ học, tính chịu nhiệt, chịu áp suất,…) của những thiết bị sử dụng trong công nghệ hóa học. Trong tương lai, khi yêu cầu về sản phẩm ngày càng cao, các nhà sản xuất trong lĩnh vực hóa học sẽ bước vào cuộc đua thương mại khi vừa phải tối ưu hóa chất lượng sản phẩm làm ra, vừa phải hạ giá thành để thu hút người tiêu dùng. Đó cũng là động lực lớn để thúc đẩy việc sản xuất các thiết bị hóa học phát triển, đặt ra yêu cầu phải cải tiến kỹ thuật để cho ra đời những thiết bị hiện đại nhất, có hiệu suất hoạt động cao, độ bền cao, giá thành rẻ. Tin chắc trong tương lai, ngành thiết kế, sản xuất thiết bị hóa học sẽ có những bước đột phá mới đáng mong đợi.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC

BÁO CÁO Môn học: CƠ SỞ TÍNH TOÁN – THIẾT KẾ THIẾT BỊ HÓA CHẤT

Đề tài: SƠ LƯỢC VỀ THIẾT BỊ HÓA HỌC

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Hữu Hiếu Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 2

TPHCM, tháng 9 năm 2017

Danh sách thành viên nhóm 2

Trang 2

Họ và tên Mã số sinh viên

1. Liêu Tấn Lợi 1511882 (Nhóm trưởng)

10. Nguyễn Thị Phương Thảo 1513085

2

Trang 3

MỤC LỤC

3

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cấu tạo của một tháp chưng cất mâm chóp 6

Hình 1.2 Một đoạn tháp chưng cất 7

Hình 1.3 Một số chi tiết bên trong tháp chưng cất 8

Hình 1.4 Phần chân tháp chưng cất 8

Hình 2.1 Bình lọc áp lực sử dụng vật liệu composite 10

Hình 2.2 Bồn composite chứa hóa chất xử lý nước thải 11

Hình 2.3 Bồn FRP chứa thực phẩm sử dụng công nghệ bọc phủ composite 12

Hình 2.4 Các thành phần cấu tạo nên vật liệu composite 13

Hình 2.5 Sợi thủy tinh – Một trong những thành phần cấu tạo vật liệu composite .14

Hình 2.6 Bồn chứa áp lực bằng thép không gỉ ba lớp 20

Hình 2.7 Cuộn inox 304 21

Hình 2.8 Bộ trao đổi nhiệt ống chùm chữ U được chế tạo từ thép không gỉ (inox) 24

Hình 3.1 Nguyên tắc hoạt động của phương pháp USM 27

Hình 3.2 Cách thức hoạt động của máy mái mòn (AJM) 29

Hình 3.3 Quá trình hoạt động của máy thủy lực 30

4

Trang 5

Hình 3.4 Phương pháp EDM 33

Hình 3.5 Nguyên lý hoạt động của phương pháp LBM 36

Hình 3.6 Nguyên tắc hoạt động của kỹ thuật cắt plasma (PAM) 38

Hình 4.1 Thiết bị chịu áp suất ngoài 39

Hình 4.2 Thiết bị chịu áp suất trong 40

Hình 4.3 Sự phá hủy thiết bị do áp suất trong 40

Hình 4.4 Sự phá hủy thiết bị do áp suất ngoài 41

Hình 4.5 Thiết bị dạng trụ nằm ngang 42

Hình 4.6 Thiết bị dạng trụ đứng 43

Hình 4.7 Thiết bị chứa dạng cầu 45

Hình 4.8 Sự phân bố áp suất lên mọi phương trong thiết bị dạng cầu 46

5

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình phát triển của nhân loại, con người luôn vận dụng óc sáng tạo củamình để phát minh ra những công cụ giúp ích cho đời sống, nhất là trong sản xuất và sinhhoạt Đó là những tiền đề cho sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt ngành côngnghệ hóa học đã ra đời từ rất sớm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, trở thànhmột trông những ngành chủ lực trong công nghiệp sản xuất Vào thế kỉ XX, khi việc sảnxuất các sản phẩm hóa học trở nên bền vững và có hiệu quả thì yêu cầu về máy móc, thiết

bị ngày càng tăng cao Các nhà khoa học, đội ngũ kỹ sư đã phát triển nhiều thiết bị sửdụng trong công nghệ hóa học như thiết bị truyền nhiệt, truyền khối, thiết bị phản ứng,…Dưới sự nổ lực với mục tiêu tạo ra các máy móc và thiết bị hiện đại hơn, đã đặt ra nhữngyêu cầu về vật liệu mới và hiện đại để chế tạo các thiết bị trên nhằm tăng hiệu suất củasản phẩm làm ra và giảm chi phí lắp ráp, vận hành thiết bị Bên cạnh đó, con người cũng

đã và đang tìm ra những phương pháp chế tạo hiện đại hơn nhằm tối ưu hóa chất lượng(độ bền cơ học, tính chịu nhiệt, chịu áp suất,…) của những thiết bị sử dụng trong côngnghệ hóa học

Trong tương lai, khi yêu cầu về sản phẩm ngày càng cao, các nhà sản xuất trong lĩnhvực hóa học sẽ bước vào cuộc đua thương mại khi vừa phải tối ưu hóa chất lượng sảnphẩm làm ra, vừa phải hạ giá thành để thu hút người tiêu dùng Đó cũng là động lực lớn

để thúc đẩy việc sản xuất các thiết bị hóa học phát triển, đặt ra yêu cầu phải cải tiến kỹthuật để cho ra đời những thiết bị hiện đại nhất, có hiệu suất hoạt động cao, độ bền cao,giá thành rẻ Tin chắc trong tương lai, ngành thiết kế, sản xuất thiết bị hóa học sẽ cónhững bước đột phá mới đáng mong đợi

6

Trang 10

Hình 1.2 Một đoạn tháp chưng cất

13. Đệm khung đỡ

14. Khung đỡ đĩa

Trang 12

2 Một số vật liệu hiện đại chế tạo thiết bị hóa học

2.1 Vật liệu composite

2.1.1 Lịch sử phát triển

Vật liệu composite, còn được gọi là Vật liệu tổng hợp, vật liệucompozit,hay composite là vật liệu tổng hợp từ hai hay nhiều vật liệu khác nhau tạo nênvật liệu mới có tính năng ưu việt hơn các vật liệu ban đầu, khi chúng làm việc riêng rẽ

Những vật liệu tổng hợp đơn giản đã có từ rất xa xưa Khoảng 5000 năm trước công nguyên con người đã biết trộn những viên đá nhỏ vào đất trước khi làm gạch để tránh bị cong vênh khi phơi nắng, điển hình về compozit chính là hợp chất được dùng để ướp xác của người Ai Cập

Người ta đã phát hiện ra cấu trúc composite ở thực vật từ rất sớm, đó là thân cây gỗ,

có cấu trúc composite, gồm nhiều sợi xenlulo dài được kết nối với nhau bằng licnin Kết quả của sự liên kết hài hoà ấy giúp cho thân cây vừa bền và dẻo - một cấu trúc composite

lý tưởng

Người Hy Lạp cổ cũng đã biết lấy mật ong trộn với đất, đá, cát sỏi làm vật liệu xây dựng; và ở Việt Nam, ngày xưa truyền lại cách làm nhà bằng bùn trộn với rơm băm nhỏ

để trát vách nhà, khi khô tạo ra lớp vật liệu cứng, mát về mùa hè và ấm vào mùa đông

Mặc dù composite là vật liệu đã có từ lâu, nhưng ngành khoa học về vật liệu

composite chỉ mới hình thành gắn với sự xuất hiện trong công nghệ chế tạo tên lửa

ở Mỹ từ những năm 1950 Từ đó đến nay, khoa học công nghệ vật liệu composite đã phát triển trên toàn thế giới và có khi thuật ngữ "vật liệu mới" đồng nghĩa với "vật liệu

composite"

2.1.2 Ứng dụng

Vật liệu composite đã và đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống:

Trang 13

- Vỏ động cơ tên lửa, tàu vũ trụ;

- Bình chịu áp lực cao;

Hình 2.1 Bình lọc áp lực sử dụng vật liệu composite

- Ống dẫn xăng dầu compoite cao cấp 3 lớp (Sử dụng công nghệ cuốn ướt của Nga

và các tiêu chuẩn sản xuất ống dẫn xăng, dầu);

- Ống dẫn nước sạch, nước thô, nước nguồn composite (ống nhựa cốt sợi thủy tinh);

- Bình, ống dẫn nước thải để xử lý, đựng hóa chất;

Trang 14

Hình 2.2 Bồn composite chứa hóa chất xử lý nước thải

- Vỏ bọc các bể, bồn dùng trong thực phẩm, sản xuất hóa chất;

Trang 15

Hình 2.3 Bồn FRP chứa thực phẩm sử dụng công nghệ bọc phủ composite

- Vỏ bọc các loại bồn bể, thùng chứa hàng, mặt bàn ghế, trang trí nội thất, tấm panellcomposite;

- Hệ thống sứ cách điện, sứ polymer, sứ cilicon, sứ epoxy các loại sứ chuỗi, sứ đỡ,

sứ cầu giao, sứ trong các bộ thiết bị điện, chống sét, cầu chì;

- Vỏ tàu thuyền composite;

- Thùng rác công cộng;

Trang 16

2.1.3 Thành phần và cấu tạo

Nhìn chung, mỗi vật liệu composite gồm một hay nhiều pha gián đoạn được phân bố trong một pha liên tục duy nhất (Pha là một loại vật liệu thành phần nằm trong cấu trúc của vật liệu tổng hợp.) Pha liên tục gọi là vật liệu nền (matrix), thường làm nhiệm vụ liên kết các pha gián đoạn lại Pha gián đoạn được gọi là cốt hay vật liệu tăng cường

(reinforcement) được trộn vào pha nền làm tăng cơ tính, tính kết dính, chống mòn, chống xước

Hình 2.4 Các thành phần cấu tạo nên vật liệu composite

Thành phần cốt

Thành phần cốt (thành phần chủ yếu) của vật liệu composite bao gồm nhóm sợi khoáng chất: sợi thủy tinh, sợi cacbon, sợi gốm; nhóm sợi tổng hợp ổn định nhiệt: sợi Kermel, sợiNomex, sợi Kynol, sợi Apyeil Các nhóm sợi khác ít phổ biến hơn: sợi gốc thực vật (gỗ, xenlulô): giấy, sợi đay, sợi gai, sợi dứa, sơ dừa, ; sợi gốc khoáng chất: sợi Amiăng, sợi

Trang 17

Silic, ; sợi nhựa tổng hợp: sợi polyeste (tergal, dacron, térylène, ), sợi polyamit, ; sợi kim loại: thép, đồng, nhôm,

Sợi thuỷ tinh

Sợi thủy tinh, được kéo ra từ các loại thủy tinh kéo sợi được (thủy tinh dệt), có đường kính nhỏ vài chục micro mét Khi đó các sợi này sẽ mất những nhược điểm của thủy tinh khối, như: giòn, dễ nứt gãy, mà trở nên có nhiều ưu điểm cơ học hơn Thành phần của thủy tinh dệt có thể chứa thêm những khoáng chất như: silic, nhôm, magiê, tạo

ra các loại sợi thủy tinh khác nhau như: sợi thủy tinh E (dẫn điện tốt), sợi thủy tinh D (cách điện tốt), sợi thủy tinh A (hàm lượng kiềm cao), sợi thủy tinh C (độ bền hóa cao), sợi thủy tinh R và sợi thủy tinh S (độ bền cơ học cao) Loại thủy tinh E là loại phổ biến, các loại khác thường ít (chiếm 1%) được sử dụng trong các ứng dụng riêng biệt

Trang 18

Hình 2.5 Sợi thủy tinh – Một trong những thành phần cấu tạo vật liệu composite

Đặc tính quan trọng của sợi thủy tinh là khả năng cách điện và cách nhiệt rất tốt, ngoài ra sợi thủy tinh rất bền do chúng không cháy, không mục nát, không thấm nước và kém tác dụng với hầu hết các acid và không hút ẩm

Ứng dụng:

- Làm vật cách nhiệt: tường vách, ống khói, lò hơi, tủ cách nhiệt,…

- Làm vật cách âm: sử dụng ở các nhà hát, văn phòng, cabin tàu thuyền,…

- Làm vật cách điện, dùng trong trang trí nội thất,…

Sợi hữu cơ

Các loại sợi hữu cơ phổ biến:

Sợi kenvlar cấu tạo từ hợp chất hữu cơ cao phân tử aramit, được gia công bằng phương pháp tổng hợp ở nhiệt độ thấp (-10 °C), tiếp theo được kéo ra thành sợi trong dung dịch, cuối cùng được xử lý nhiệt để tăng mô đun đàn hồi Sợi kenvlar và tất cả các sợi làm từ aramit khác như: Twaron, Technora, có giá thành thấp hơn sợi thủy tinh như cơ tính lại thấp hơn: các loại sợi aramit thường có độ bền nén, uốn thấp và dễ biến dạng cắt giữa các lớp

Sợi Cacbon

Sợi cacbon chính là sợi graphit (than chì), được phát minh năm 1879 bởi nhà khoa học Thomas Edison nhưng mãi đến năm 2000 thì vai trò của sợi cacbon trong công nghiệp mới được quan tâm nhiều hơn Sợi cacbon có cấu trúc tinh thể bề mặt, tạo thành các lớp liên kết với nhau, nhưng cách nhau khoảng 3,35 A° Các nguyên tử cacbon liên kết với nhau, trong một mặt phẳng, thành mạng tinh thể hình lục lăng, với khoảng cách giữa các

Trang 19

nguyên tử trong mỗi lớp là 1,42 A° Sợi cacbon có cơ tính tương đối cao, có loại gần tương đương với sợi thủy tinh, lại có khả năng chịu nhiệt cực tốt.

Sợi cacbon có vai trò quan trọng trong ngành vật liệu mới (composite), vi điện cực, vật liệu cho ngành công nghiệp dệt may, phát triển các chất tổng hợp,…

Sợi Bor

Sợi Bor hay Bore (ký hiệu hóa học là B), là một dạng sợi gốm thu được nhờ phương phápkết tủa Sản phẩm thương mại của loại sợi này có thể ở các dạng: dây sợi dài gồm nhiều sợi nhỏ song song, băng đã tẩm thấm dùng để quấn ống, vải đồng phương

Cốt vải

Cốt vải là tổ hợp thành bề mặt (tấm), của vật liệu cốt sợi, được thực hiện bằng công nghệ dệt Các kỹ thuật dệt vải truyền thống thường hay dùng là: kiểu dệt lụa trơn, kiểu dệt xa tanh, kiểu dệt vân chéo, kiểu dệt vải mô đun cao, kiểu dệt đồng phương Kiểu dệt là cách đan sợi, hay còn gọi là kiểu chéo sợi Kỹ thuật dệt cao cấp còn có các kiểu dệt đa phương như: bện, tết và kiểu dệt thể tích tạo nên vải đa phương

Vật liệu nền

Chất liệu nền polyme nhiệt rắn

Nhựa polyeste và nhóm nhựa cô đặc như: nhựa phenol, nhựa furan, nhựa amin,

nhựa epoxy Nhựa epoxy được sử dụng nhiều (sau polyeste không no) trong công nghiệp composite Do những đặc tính cơ học cao của nhựa epoxy, người ta sử dụng nó để tạo ra các composite có độ bền cao dùng cho ngành chế tạo máy bay, tàu vũ trụ, tên lửa v.v Nhựa epoxy có những đặc tính cơ học như kéo, nén, uốn, va đập và từ biến hơn

polyeste

Trang 20

Chất liệu nền polyme nhiệt dẻo

Nền của vật liệu là nhựa nhiệt dẻo như: PVC, nhựa polyetylen, nhựa polypropylen, nhựa polyamit,

Chất liệu nền kim loại

Vật liệu tổng hợp nền kim loại có modun đàn hồi rất cao có thể lên tới 110 GPa Do đó đòi hỏi chất gia cường cũng có modun cao Các kim loại được sử dụng nhiều

Theo bản chất vật liệu nền và cốt

- Tổng hợp nền hữu cơ: composite nền giấy (cáctông), composite nền nhựa, nền nhựa đường, nền cao su (tấm hạt, tấm sợi, vải bạt, vật liệu chống thấm, lốp ô tô xe máy), Loại nền này thường có thể kết hợp với mọi dạng cốt liệu, như: sợi hữu cơ (polyamit, kevlar - là sợi aramit cơ tính cao ), sợi khoáng (sợi thủy tinh, sợi cacbon, ), sợi kim

Trang 21

loại (Bo, nhôm ) Vật liệu composite nền hữu cơ chỉ chịu được nhiệt độ tối đa là khoảng 200 ÷ 300 °C.

- Tổng hợp nền khoáng chất: bê tông, bê tông cốt thép, composite nền gốm, composite cacbon - cacbon Thường loại nền này kết hợp với cốt dạng: sợi kim loại (Bo, thép, ),hạt kim loại (chất gốm kim), hạt gốm (gốm cacbua, gốm Nitơ )

- Tổng hợp nền kim loại: nền hợp kim titan, nền hợp kim nhôm Thường kết hợp với cốt liệu dạng: sợi kim loại (Bo, ), sợi khoáng (cacbon, SiC, )

Tổng hợp nền kim loại hay nền khoáng chất có thể chịu nhiệt độ tối đa khoảng 600 ÷ 1.000 °C (nền gốm tới 1.000 °C)

Theo hình dạng cốt liệu

Vật liệu tổng hợp cốt sợi

Sợi là loại vật liệu có một chiều kích thước (gọi là chiều dài) lớn hơn rất nhiều so với hai chiều kích thước không gian còn lại Theo hai chiều kia chúng phân bố gián đoạn trong vật liệu composite, còn theo chiều dài thì chúng có thể ở dạng liên tục hay gián đoạn Ta thường thấy các loại vật liệu cốt sợi này gắn liền với từ composite trong tên gọi Các sản phẩm composite dân dụng thường là được chế tạo từ loại vật liệu composite cốt sợi, trên nền nhựa là chủ yếu

Vật liệu tổng hợp cốt hạt

Hạt là loại vật liệu gián đoạn, khác sợi là không có kích thước ưu tiên Loại vật liệu composite cốt hạt phổ biến nhất chính là bê tông, thường lại được gọi ngắn gọn chỉ là bê tông, nên ta thường thấy cái được gọi là composite lại là vật liệu composite cốt sợi

Trang 22

Vật liệu tổng hợp cốt hạt và sợi

Bê tông là một loại tổng hợp (hay compozit) nền khoáng chất[2] Khi bê tông kết hợp với cốt thép tạo nên bê tông cốt thép, thì đá nhân tạo tạo thành từ xi măng là vật liệu nền, các cốt liệu bê tông là cát vàng và đá dăm thì là cốt hạt, còn cốt thép trong bê tông là cốt sợi

2.1.4 Ưu - nhược điểm của vật liệu composite

- Chịu đựng được sự thay đổi của thời tiết, chống tia UV;

- Chịu nhiệt, chịu lạnh và khả năng chống cháy cao;

- Cách điện cách nhiệt tốt;

- Dễ lắp đặt, có độ bền riêng và các đặc trưng đàn hồi cao;

- Chi phí bảo trì thấp, màu sắc đa dạng, thiết kế tạo dáng dễ dàng, chi phí sản xuất và vận chuyển không cao;

- Không thấm nước, không độc hại,…

Nhược điểm:

- Khó tái chế;

Trang 23

- Giá thành nguyên liệu thô để sản xuất vật liệu composite khá cao;

- Phương pháp gia công vật liệu composite thường mất thời gian;

- Việc phân tích mẫu vật liệu composite về cơ, lý, hóa tính rất phức tạp

2.2 Thép không gỉ (inox)

2.2.1 Lịch sử phát triển:

1912 : Nhà luyện kim người Anh Harry Brearley sang chế ra thép không rỉ khi tìm một hợp kim bảo vệ lổ khoan súng chịu mài mòn Thép không rỉ được sản xuất thương mại vào tháng 08 năm 1913

1915 : Trong thế chiến thứ I, thép không rỉ dùng để sản xuất xú-pắp động cơ máy bay.1919-1923 : Sheffield bắt đầu sản xuất thường xuyên dao, kéo thép không rỉ; các dụng cụ

và dao, kéo thép không rỉ dùng cho phẩu thuật

1924 : Mái thép không rỉ đầu tiên xuất hiện tại Hoa kỳ

1928 : Công nghiệp bia lắp bồn lên men thép không rỉ đầu tiên

1929: Xe chở sữa bằng thép không rỉ đầu tiên dùng vận chuyển 3.000 galông sữa

1929- 1930 : Bảy mái vòm đỉnh của Tòa cao ốc The Chrysler làm bằng thép không rỉ Thắng cảnh này của thành phố Nữu ước được công nhận là một trong những tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới

1931: Toa tàu lửa làm bằng thép không rỉ xuất hiện ở Hoa kỳ Cũng như xe Rolls Royce

có lưới tản nhiệt và phù điêu làm bằng thép không rỉ

1933 : Giới thiệu chậu rửa trong bếp và đồ dùng trong nhà bằng thép không rỉ

1950 : Phụ tùng xe ô tô bằng thép không rỉ được sử dụng nhiều

1954 : Sản xuất máy quay phim dưới nước bằng thép không rỉ

1963 : Sản xuất lưỡi lam đầu tiên bằng thép không rỉ

Trang 24

1969 : Người đầu tiên lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 11 được đẩy bằng tên lửa Saturn V làm bằng thép không rỉ.

2000- tới nay : giới thiệu "chim đồ chơi làm bằng inox"

Hình 2.6 Bồn chứa áp lực bằng thép không gỉ ba lớp

2.2.2 Phân loại

Có bốn loại thép không gỉ chính: Austenitic, Ferritic,Austenitic-Ferritic (Duplex), và Martensitic

- Austenitic là loại thép không gỉ thông dụng nhất Thuộc dòng này có thể kể ra các

mác thép SUS 301, 304, 304L, 316, 316L, 321, 310s… Loại này có chứa tối thiểu 7%

ni ken, 16% crôm, carbon (C) 0.08% max Thành phần như vậy tạo ra cho loại thép này có khả năng chịu ăn mòn cao trong phạm vi nhiệt độ khá rộng, không bị nhiễm từ,mềm dẻo, dễ uốn, dễ hàn Loai thép này được sử dụng nhiều để làm đồ gia dụng, bình chứa, ống công nghiệp, tàu thuyền công nghiệp, vỏ ngoài kiến trúc, các công trình xâydựng khác…

Trang 25

Hình 2.7 Cuộn inox 304

- Ferritic là loại thép không gỉ có tính chất cơ lý tương tự thép mềm, nhưng có khả

năng chịu ăn mòn cao hơn thép mềm (thép carbon thấp) Thuộc dòng này có thể kể ra các mác thép SUS 430, 410, 409 Loại này có chứa khoảng 12% - 17% crôm Loại này, với 12%Cr thường được ứng dụng nhiều trong kiến trúc Loại có chứa khoảng 17%Cr được sử dụng để làm đồ gia dụng, nồi hơi, máy giặt, các kiến trúc trong nhà

- Austenitic-Ferritic (Duplex) Đây là loại thép có tính chất "ở giữa" loại Ferritic và

Austenitic có tên gọi chung là DUPLEX Thuộc dòng này có thể kể ra LDX 2101, SAF 2304, 2205, 253MA Loại thép duplex có chứa thành phần Ni ít hơn nhiều so vớiloại Austenitic DUPLEX có đặc tính tiêu biểu là độ bền chịu lực cao và độ mềm dẻo được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp hoá dầu, sản xuất giấy, bột giấy, chế tạo tàu biển Trong tình hình giá thép không gỉ leo thang do ni ken khan hiếm thì dòng

Ngày đăng: 08/02/2018, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w