Cảm nhận được một thời Cách mạng và khángchiến gian khổ,anh dũng nghĩa tình của những người kháng chiến với Việt Bắc với nhân dân,với đất nước.. Được nhà thơ diễn đạt bằngngôn ngữ biểu h
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT VÕ THỊ SÁU
BÁO CÁO KẾT QUẢ CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN MÔN
CẤP: CƠ SỞ
TÊN CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN MÔN
CHUYÊN ĐỀ LUYỆN THI TỐT NGHIỆP THPT QUỐC GIA
NĂM HỌC 2015 – 2016 ĐOẠN TRÍCH “ VIỆT BẮC”
Môn/nhóm môn: NGỮ VĂN
Người thực hiện: Phạm Thị Bích Ngọc
Năm học 2015 - 2016
MÃ:
Trang 2MỤC LỤC
Chương III: Những giải pháp ôn tập 6
Trang 3PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀI/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quán triệt nghị quyết 29 – NQ/TW của Đảng, Chỉ thị số 3008/CT-BGDĐT ngày
18/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầmnon, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm 2014-2015nêu rõ: “Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới giáo dục phổ thông theo mục tiêuphát triển năng lực và phẩm chất học sinh; nâng cao kĩ năng ngoại ngữ, tin học; rèn luyện nănglực vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển năng lực sáng tạo và tự học Tiếp tục triển khaiđổi mới phương pháp dạy và học gắn với đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánhgiá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực người học; kết hợp đánh giá trong quá trìnhvới đánh giá cuối kì, cuối năm học”
Theo tinh thần đó, văn bản số 4099/BGDĐT-GDTrH ngày 05/8/2014 về việc hướngdẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2014-2015 xác định yêu cầu đổi mới kiểmtra, đánh giá ở trường phổ thông: “Tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức liên môn vàothực tiễn; đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn cần tăng cường ra các câu hỏi mở, gắnvới thời sự quê hương, đất nược để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đềkinh tế, chính trị, xã hội”
Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ởtrường phổ thông nằm trong tương quan chung với hoạt động đổi mới các môn học khác vàphải tuân thur các nguyên tắc, các yêu cầu đã nêu trên
+ Ngày 09/9/2014 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số
3538/QĐ-BGDĐT về việc Phê duyệt phương án thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học,cao đẳng từ năm 2015 nêu rõ: “Từ năm 2015, tổ chức một kỳ thi quốc gia (Goị là kì thi trunghọc phổ thông Quốc gia) lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp THPT và làm căn cứ xéttuyển sinh đại học, cao đẳng ”
Năm học 2014 – 2015, sau khi BGH phân công giảng dạy chuyên đề ôn thi tốt nghiệpTHPT môn Ngữ văn – khối 12 Tôi đã cùng với nhóm chuyên môn xây dựng các chuyên đềluyện thi với mục đích bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức nâng cao và rèn kỹ năng làmvăn cho học sinh về các tác giả, tác phẩm cụ thể Đồng thời cũng thuận lợi cho quá trình tự học
tự bồi dưỡng hàng năm của chúng tôi trong Tổ chuyên môn
Với tầm quan trọng đó ngay từ đầu năm học tôi đã chọn chuyên đề luyện thi về đoạntrích Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
II/ MỤC ĐÍCH
1/ Nội dung
Giúp học sinh nắm chắc kiến thức về Tác giả Tố Hữu và đoạn trích Việt Bắc
Giúp học sinh ôn lại kiến thức về Tiếng Việt thông qua các câu hỏi tái hiện kiến thức.Giúp học sinh nắm chắc và phân tích được giá trị nội dung và nghệ thuật của nhữngđoạn trích nhỏ trong cả đoạn trích Việt Bắc Cảm nhận được một thời Cách mạng và khángchiến gian khổ,anh dũng nghĩa tình của những người kháng chiến với Việt Bắc với nhân dân,với đất nước
Giúp học sinh có cái nhìn so sánh với các tác phẩm cùng thời, cùng đề tài để thấyđược những giá trị về nội dung cũng như về nghệ thuật của tác phẩm
2/ Kỹ năng
Rèn kỹ năng cho học sinh qua các dạng đề cụ thể:
Trang 4- Kỹ năng tái hiện kiến thức về Tác giả,Tác phẩm.
- Kỹ năng phân tích đoạn thơ, bài thơ
- Kỹ năng cảm nhận thơ
- Kỹ năng làm kiểu bài nghị luận so sánh
- Kiểu bài nghị luận về tác phẩm đoạn trích qua các nhận định đánh giá về tác phẩm
III/ PHẠM VI ỨNG DỤNG ĐỀ TÀI
Tiến hành giảng dạy ở lớp 12ª3 và 12ª4 Trường THPT Võ Thị Sáu trong thời gian
là 06 buổi học ( Tương đương với 12 tiết học)
Thời gian là từ tháng 09 năm 2015 đến tháng 11 năm 2015.( trong 12 tiết)
IV/ PHƯƠNG PHÁP
Điều tra, thực nghiệm: Tiến hành khảo khát học sinh thường xuyên qua các bàikiểm tra Sau đó đánh giá và bổ sung những nội dung và phần kỹ năng yếu kém của họcsinh
*
* *
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG CHUYấN ĐỀ
CHƯƠNG I: CƠ SỞ Lí LUẬN
- Đổi mới phơng pháp dạy học ở tất cả câc cấp học, các bậc họccần áp dụng những phơng pháp giáo dục hiện đại để bồi dỡng chohọc sinh năng lực và t duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, phảithờng xuyên khơi dạy, rèn luyện và phát triển năng lực tự học, tựnghiện cứu năng lực nghĩa và làm một cách tự chủ Năng lực tự đặt
ra vấn đề và giải quyết vấn đề ngay trong quá trình học tập ở nhàtrờng đi đôi với vai trò mới của thầy là ngời hớng dẫn cho ngời họcbiết tự mình tìm kiến thức, xử lí những tỡnh huống, biết làm việccá nhân, với bạn với thầy, với tập thể, biết chuyển quá trình đào tạocủa mình, là ngời trọng tài đánh giá, kết quả học tập, là ngời cốvấn giúp ngời học tự đánh giá, tự điều chỉnh theo yêu cầu của mụctiêu ngời học
- Thực tế của quá trình dạy và học trong thời đại bùng nổ thôngtin hiện nay đòi hỏi ngời dạy nói chung và dạy Văn nói riêng cần phải
có những đổi mới về mặt phơng pháp dạy học sao cho phù hợp vớiyêu cầu lấy học sinh làm trung tâm Do vậy đổi mới phơng phápgiảng dạy Văn đang là yêu cầu cấp bách và nhiệm vụ nặng nề đốivới ngời thầy không chỉ để thực hiện những chỉ thị mà là nhằm
đáp ứng đợc nhu cầu chính đáng của ngời học và của công tác đàotạo trong tình hình hiện nay
- Để viết chuyờn đề này, tụi đó dựa vào nội dung về tỏc giả Tố Hữu, tỏc phẩmViệt Bắc mà sỏch giỏo khoa, sỏch giỏo viờn, sỏch chuẩn kiến thức đó cung cấp
- Huy động kiến thức Tiếng Việt: Luật thơ, đặc điểm ngụn ngữ văn chương
- Huy động kiến thức làm văn đó học rất triệt để: cỏc thao tỏc lập luận như Phõntớch, bỡnh luận, bỡnh giảng, so sỏnh, cảm nhận
CHƯƠNG II : CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thực trạng vấn đề
- Trong PPCT của Bộ và của Sở GD&ĐT xõy dựng phần học sinh được học vềTỏc gia Tố Hữu, đoạn trớch Việt Bắc chỉ cú 3 tiết Điều này dẫn đến một thực tếlà: Học sinh trong cỏc giờ học trờn lớp mới chỉ cú điều kiện nắm bắt những kiếnthức cơ bản, chưa cú điều kiện để nõng cao kỹ năng phõn tớch, cảm nhận văn học.Chớnh vỡ thế khi làm những bài tập cú liờn quan đến cỏc dạng cõu hỏi tỏi hiệnkiến thức, cỏc cõu hỏi gợi mở học sinh rất lỳng tỳng, thậm chớ khụng diến đạtđược những suy nghĩ và cảm nhận của bản thõn
- Kết quả khảo sỏt kiến thức lần thứ nhất về Tỏc gia Tố Hữu và đoạn trớch ViệtBắc
BẢNG THỐNG Kấ ĐIỂM BÀI KIỂM TRA SỐ 01 LƠP 12A5, 12 A3
Trang 6Như vậy vấn đề đặt ra cấp bách cần giải quyết trong việc ôn thi lớp 12 là nắmchắc kiến thức về tác giả, có khả năng trả lời được các câu hỏi gợi mở theo tinh thần
đổi mới kiểm tra đánh giá trong kỳ thi THPT quốc gia năm học 2014 -2015
Chương III: NHỮNG GIẢI PHÁP ÔN TẬP
Trong phần này chuyên đề sẽ được chia làm hai phần:
PHẦN I: Hệ thống các câu hỏi tái hiện kiến thức.
PHẦN II: Hệ thống các đề làm văn để học sinh rèn các kỹ năng làm văn.
I HỆ THỐNG CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC
Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và nâng cao hiệuquả dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, có thể sử dụng nhiều cách thức, biện phápkhác nhau, trong đó việc sử dụng hệ thống câu hỏi tái hiện kiến thức là một biện phápkhá quan trọng và rất cần được quan tâm sử dụng Sở dĩ là vì việc sử dụng hệ thốngcâu hỏi tái hiện kiến thức trong dạy học có thể phát huy được những ưu điểm củaphương pháp dạy học hiện đại là làm cho học sinh phải tự nỗ lực hoạt động để tìm tòi,khám phá những tri thức mới qua văn bản tác phẩm dưới sự hướng dẫn của giáo viên,qua đó hình thành cho học sinh kĩ năng đọc hiểu và thái độ tích cực đối với bộ mônnày Câu hỏi tái hiện kiến thức là những câu hỏi yêu cầu trả lời những đơn vị kiến thức nhỏliên quan mật thiết tới mỗi bài học cụ thể
Chức năng của câu hỏi tái hiện kiến thức: Giúp chúng ta bám sát nội dung bài học;Nắm chắc văn bản tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; Khắc sâu những chi tiết, sự việc, hình ảnhtiêu biểu trong tác phẩm văn học.Từ đó, kích thích niềm đam mê, sự hứng khởi trong việckhám phá và chiếm lĩnh tri thức Ngữ văn
Trang 7Câu 1 Nêu khái quát những hiểu biết về cuộc đời và con người Tố Hữu?
- Tố Hữu ( 1920 – 2002 ) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê quán tỉnh Thừa
Thiên – Huế Cha ông là một nhà nho nghèo rất yêu thơ Mẹ ông thuộc rất nhiều ca dao, dân
ca Huế Gia đình, quê hương đã góp phần quan trọng trong việc hình thành và nuôi dưỡngtâm hồn thơ Tố Hữu
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại.
- Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống, lý tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam
hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống
- Tố Hữu tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm Năm 1938, ông được kết nạp vào
Đảng Cộng sản Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt Năm 1942, ông vượt ngục tiếp tụchoạt động cách mạng Năm 1945, Tố Hữu tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Huế
- Ông từng giữ nhiều chức vụ cao trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
- Tố Hữu nhận giải nhất Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1954 – 1955 ( tập thơ Việt
Bắc), Giải thưởng ASEAN ( 1996 ), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ( 1996)
Câu 2 Tóm tắt các chặng đường thơ Tố Hữu?
Chặng đường thơ của Tố Hữu cũng là những chặng đường của cách mạng Việt Nam.Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị Tố Hữu có 7 tập thơ sau đây:
- Tập thơ Từ ấy ( 1937 -1946 ) là tập thơ đầu tay sáng tác từ năm 1937 đến 1946 Đây
là tiếng reo vui của một thanh niên giác ngộ lí tưởng, quyết hy sinh phấn đấu cho lí tưởng
cách mạng Tâm hồn ấy đã vượt qua máu lửa, xiềng xích để đi đến ngày giải phóng cùng với
đất nước
- Tập thơ Việt Bắc ( 1946 - 1954 ) được sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, tập trung thể hiện hình ảnh nhân dân, bộ đội, và căn cứ kháng chiến Việt Bắc Tố Hữu
ca ngợi những con người bình thường, người phụ nữ, anh vệ quốc đã làm những việc phithường bảo vệ Tổ quốc
- Tập thơ Gió lộng ( 1955 - 1961) viết khi miền Bắc được giải phóng, tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội Đây là thời kỳ tràn đầy sức sống và niềm vui: tập làm chủ, tập làm
người xây dựng, dám vươn mình cai quản cả thiên nhiên Đồng thời nhân dân cả nước tiếp
tục đấu tranh thống nhất đất nước Tập thơ phơi phới tinh thần lãng mạn cách mạng
- Tập thơ Ra trận ( 1962 - 1971 ) Máu và hoa ( 1972 - 1977 ) Tố Hữu sáng tác trong
thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ Hai tập thơ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
ca ngợi chiến thắng của nhân dân ta, bất chấp những hy sinh tổn thất mà chiến tranh gây ra
- Tập thơ Một tiếng đờn ( 1992 ) và Tập thơ Ta với ta ( 1999 ) viết khi đất nước bước
vào thời kỳ đổi mới, nhà thơ thể hiện những suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc sống, về lẽđời Giọng thơ thấm đượm chất suy tư
=> Những tập thơ của Tố Hữu thường gắn chặt theo sát những mốc quan trọng của
cách mạng Việt Nam
Câu 3 Nêu đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu?
Trang 8- Tố Hữu là nhà thơ cộng sản, nhà thơ cách mạng Thơ ông tiêu biểu cho dòng thơ trữ
tình- chính trị ( thơ phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhiệm vụ chính trị của đất nước Chính
trị là nguồn cảm hứng, cảm xúc chân thật sâu lắng trong thơ ông)
- Thơ Tố Hữu luôn gắn liền và tìm đến với những biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng
nên mang đậm chất sử thi và dạt dào cảm hứng lãng mạn ( thơ ông hướng tới tương lai
với niềm tin vô bờ, cuộc đời cũ sẽ tan đi, tin vào tương lai cách mạng, tin con người sống
thật tốt đẹp, Người yêu người sống để yêu nhau )
- Thơ Tố Hữu có chất giọng tâm tình, ngọt ngào, truyền cảm và đầy sức hấp dẫn.
( thể hiện qua cách hô gọi, sự xót xa thương cảm, trìu mến say mê, qua thể thơ lục bát đi vàotâm hồn dân tộc…)
- Thơ Tố Hữu mang đậm tính dân tộc ( nội dung thể hiện theo truyền thống đạo lý
của cha ông, nghệ thuật dùng thể thơ truyền thống, vận dụng tục ngữ, ca dao, thành ngữ, dântộc trong cách cảm, cách thể hiện )
Câu 4 Cho biết biểu hiện tính dân tộc trong thơ Tố Hữu?
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu thể hiện cả trong nội dung và hình thức:
Câu 5 Trình bày cách hiểu của anh/chị về nhận định của Xuân Diệu: “Tố Hữu
đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đổi trữ tình”.
- Nhận định của Xuân Diệu nhấn mạnh đến đặc điểm trữ tình – chính trị của thơ Tố
Hữu Tố Hữu dùng sáng tác để phục vụ nhiệm vụ cách mạng, trực tiếp đề cập đến vấn đềchính trị nhưng vẫn đậm chất trữ tình chứ không phải là chính trị khô khan Chính trị trởthành nguồn cảm hứng, nguồn xúc cảm chân thật, sâu lắng Được nhà thơ diễn đạt bằngngôn ngữ biểu hiện tình cảm thân mật: anh em, vợ chồng, bè bạn…
- Những bài thơ của Tố Hữu giàu nhạc điệu du dương, thấm đẫm tình cảm, đi sâu vào
lòng người và cổ vũ, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng
Câu 6 Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc? Và nêu ý nghĩa của văn bản
( bài thơ )?
- Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, miền Bắc nước ta được giải phóng.
Lịch sử đất nước bước sang trang mới Cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mới
Trang 9Tháng 10 – 1954, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khi Việt Bắc trở về
Hà Nội, nhân sự kiện có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc
- Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống
Pháp Bài thơ có hai phần: Phần một tái hiện giai đoạn gian khổ nhưng vẻ vang của cáchmạng và kháng chiến Phần hai nói lên sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi trong viễncảnh đất nước hoà bình, ca ngợi công ơn của Bác Hồ, của Đảng đối với dân tộc Đoạn tríchtrong sách giáo khoa là phần một của bài thơ
- Bài thơ Việt Bắc là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, bản tình ca về nghĩa tìnhcách mạng và kháng chiến
Câu 7 Nêu cảm nhận của anh/ chị về thiên nhiên Việt Bắc trong đoạn trích
Việt Bắc?
Trong đoạn trích, hình ảnh thiên nhiên chiến khu Việt Bắc hiện lên ở nhiều thời điểmkhác nhau với vẻ đẹp đa dạng, phong phú:
- Đó là một thiên nhiên gần gũi, ấm áp với những người kháng chiến, những hình ảnh :
rừng xanh, hoa chuối, mơ nở, rừng phách…
- Đó là một thiên nhiên lãng mạn, thơ mộng : trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng
nương.
- Đó còn là một thiên nhiên luôn sát cánh cùng con người trong chiến đấu: Nhớ khi
giặc đến giặc lùng … Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.
Câu 8 Hình ảnh con người và cuộc sống kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc
được tái hiện như thế nào?
- Con người Việt Bắc hiện lên trong cuộc sống lao động và chiến đấu hàng ngày:
+ Họ lam lũ, vất vả
+ Họ khéo léo, tài hoa
+ Họ ấm áp nghĩa tình và son sắt thuỷ chung
- Cuộc sống kháng chiến hiện lên rõ nét:
+ Đó là một cuộc sống còn khó nghèo, cơ cực
+ Nhưng cuộc sống ấy thật sôi động, hào hùng, vui vẻ, lạc quan
+ Đó còn là một cuộc sống đầy ắp nghĩa tình cách mạng
Câu 9 Đoạn trích Việt Bắc cho thấy vẻ đẹp nào của tình nghĩa cách mạng?
- Bao trùm toàn bộ đoạn trích là nghĩa tình cách mạng của một dân tộc vừa đi qua 15
năm chiến đấu đầy gian khổ, mất mát, hy sinh ( 1940 – 1954 )
- Nghĩa tình ấy hiện diện qua sự chia ngọt, sẻ bùi giữa đồng bào Việt Bắc và những
người kháng chiến
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
- Nghĩa tình ấy còn là lời khẳng định của kẻ đi, người ở về sự thuỷ chung, son sắtcủa những năm tháng không thể nào quên
-Câu 10 Cho biết kết cấu đặc biệt của đoạn trích Việt Bắc và những đặc sắc
nghệ thuật?
Trang 10Đoạn trích được học rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.
- Tính dân tộc đậm đà:
+ Thể thơ lục bát truyền thống được sử dụng nhuần nhuyễn
+ Kết cấu đối đáp thường thấy trong ca dao được sử dụng sáng tạo
+ Cặp đại từ nhân xưng mình – ta với sự biến hoá linh hoạt và những sắc thái ngữ
nghĩa biểu cảm phong phú được khai thác hiệu quả
+ Những biện pháp tu từ quen thuộc được sử dụng như: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá,hoán dụ…
- Đoạn trích cũng mang chất sử thi đậm nét khi tác giả tạo dựng được hình tượng kẻ ở,
người đi đại diện cho tình cảm của cả cộng đồng
- Bên cạnh đó, đoạn trích còn cho thấy chất trữ tình chính trị đậm đà khi Tố Hữu ngợi
ca tình cảm cách mạng thuỷ chung, son sắt giữa người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc
Câu 11 Có người nói “Việt Bắc” vừa là một bản anh hùng ca vừa là một
bản tình ca Chứng minh điều đó qua trích đoạn Việt Bắc.
Nói Việt Bắc vừa là một bản anh hùng ca vừa là một bản tình ca là khẳng định sự hoàquyện giữa sử thi và trữ tình
- Ra đời ở một bước ngoạt lớn lao của lịch sử dân tộc, thật dễ hiểu vì sao bài thơ cótính chính trị
- Thắm thiết chất trữ tình là bởi bài thơ cùng một lúc nói được nhiều tình cảm của conngười cách mạng và kháng chiến Đó là tình yêu nước lớn lao, cụ thể trong trích đoạn yêunước chính là yêu Việt Bắc-cái nôi của phong trào cách mạng, chiến khu của kháng chiếntrường kỳ Đó là tình yêu thiên nhiên Việt Bắc hùng vĩ và thơ mộng, con người Việt Bắcnghèo khổ, mộc mạc mà nghĩa tình sâu nặng Đó là lòng biết ơn, niềm kính yêu Đảng vàlãnh tụ Đó là nghĩa tình thuỷ chung với cội nguồn, với cách mạng và kháng chiến
Câu 12: Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi:
Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
+ Bốn câu thơ đầu là tiếng lòng của người ở lại nói với người ra đi Bốn câu thơ sau là
tiếng lòng của người ra đi dành cho người ở lại
+ Đoạn thơ là tiếng lòng của người đi kẻ ở, được tác giả tái hiện lại bằng lối nói đối đáprất quen thuộc của ca dao, dân ca: ta về, mình có nhớ ta,…làm cho đoạn thơ mang âmhưởng của một bài hát giao duyên vừa đằm thắm, vừa mang nặng tình nghĩa
b
Trang 11Những biện pháp tu ừ tác giả đã sử dụng trong đoạn thơ trên:
Câu 13 Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve keo rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình ( Trích Việt Bắc, Tố Hữu)
a Phân tích luật thơ trong đoạn thơ trên ?
b Hãy viết một đoạn văn ngắn nói về vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc trong đoạn
( Trích Việt Bắc, Tố Hữu)
II.CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1/ Dạng đề phân tích và cảm nhận:
Mục tiêu cụ thể: Với dạng đề này sẽ rèn cho học sinh khả năng cảm nhận một đoạn thơ bằng
việc sử dụng tổng hợp các thao tác lập luận dựa trên việc nắm vững những nội dung kiến thức cơbản về tác phẩm Mỗi đề bài cụ thể sẽ thể hiện kỹ năng và nội dung kiến thức cơ bản học sinh cầnđảm bảo Giúp học sinh thể hiện
- Giới thiệu khái quát tác giả và tác phẩm:
+ Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại “Ngọn cờ
đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lý tưởng cộng sản”
Trang 12+ Tập thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu xuất sắc của thơ
ca kháng chiến chống Pháp nói chung Trong đó, bài thơ “Việt Bắc” được coi là kết tinh sở trường
nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu
- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ:
+ Sau chiến thắng Điện Biên, trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ đã rời “thủ đô gió ngàn”
về với “thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình” để tiếp quản thủ đô và nhận nhiệm vụ mới của cách mạng + Nhân sự kiện có thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”.
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ:
+ Bài thơ vừa là tiếng hát ngọt ngào thấm đẫm chất trữ tình và tấm lòng ân nghĩa thuỷ chungcủa miền ngược và miền xuôi, của tác giả, cán bộ kháng chiến đối với quê hương Việt Bắc; vừa là
bản anh hùng ca về thế ra trận đầy sức mạnh, chiến công của cả một dân tộc quyết “chín năm làm
một Điện Biên; nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”
+ Việt Bắc xứng đáng là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng và của thơ Cách
mạng nói chung
- Nêu vấn đề:
- Một trong những đoạn gây xúc động lòng người là phần đầu của bài thơ Bằng lối đối đáp và
cách sử dụng đại từ “mình – ta” quen thuộc của ca dao, đoạn thơ giống như một lời hát giao duyên
đằm thắm, thiết tha, thể hiện tâm trạng luyến lưu giữa đồng bào Việt Bắc và người cán bộ khángchiến trong ngày chia tay ngậm ngùi
II Thân bài:
1 Vài nét về cấu tứ của bài thơ và sắc thái tâm trạng:
- Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm
tay nhau biết nói gì hôm nay
+ Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉniệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳngđịnh nghĩa tình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng
- Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứađôi Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của cadao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng
+ Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ màanh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương
+ Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm củachính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến
2 Khung cảnh buổi chia ly.
a Người ở lại lên tiếng trước: khúc dạo đầu.
- Mở đầu bài thơ là một khung cảnh chia tay của hai người với tâm trạng bâng khuâng, bồnchồn, xao xuyến, lưu luyến, vấn vương… khi hồi tưởng về những kỉ niệm gắn bó bền lâu, sâu nặng.+ Người ở lại rất nhạy cảm, sợ bạn mình sẽ thay đổi tình cảm khi về thành nên luôn luôn gợinhắc những kỉ niệm sâu nặng:
“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”
+ Trong bốn câu thơ mở đầu, điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu đồng dạng, tràn đầy thương nhớ Và cách xưng hô “mình – ta” mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng đến ca dao:
“Mình về ta chẳng cho về,
Ta nắm dải áo, ta đề bài thơ”
Tố Hữu đã vận dụng yếu tố truyền thống của văn học dân tộc để thể hiện tình cảm gắn bó thuỷchung của đồng bào đối với cách mạng
Trang 13+ Đoạn mở đầu gồm bốn câu tạo thành hai cặp lục bát và cũng là hai câu hát rất cân đối, hài
hoà Một câu hỏi hướng về thời gian: “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” của nghĩa tình
Cách mạng kháng chiến
• “Mười lăm năm ấy” là chi tiết hiện thực chỉ độ dài thời gian, từ năm 1940 thời kháng
Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh Đồng thời, đó cũng là chi tiết gợi cảm – nói lên chiềugắn bó thương nhớ vô vàn
• Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều Mười lăm năm cũng bằng thời gian Kim - Kiều
xa cách trong thương nhớ mong đợi hướng về nhau:
“Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”
• Âm điệu thơ thật ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy mà cũng dạt dào thiếttha
+ Tiếp theo đó là một câu hỏi hướng về không gian của một vùng chiến khu thiêng liêng:
“Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”
• Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cộinguồn Việt Bắc vì Việt Bắc là quê hương, cội nguồn cách mạng Việt Bắc là căn cứ địa của cáchmạng, là cái nôi nuôi dưỡng, che chở cho Đảng, cho Chính phủ, bộ đội ta trước và trong cuộckháng chiến chống Pháp
• Việt Bắc còn là cội nguồn của chiến thắng: Trước cách mạng tháng Tám, từ Việt Bắc
ta tiến về giải phóng thủ đô Hà Nội thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; sau Cách mạngtháng Tám, từ Việt Bắc ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và kết thúc bằng chiến thắngĐiện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu
• Ở đây, Tố Hữu đã mượn người ở lại hỏi người ra đi như để nhắc nhở mọi người cũng
là nhắc nhở chính mình, hãy nhớ lấy đạo lý ân tình, chung thuỷ, “uống nước nhớ nguồn” vốn là
đạo lý tốt đẹp nhất của con người Việt Nam
à Hai cặp lục bát nói trên có sự láy lại “mình về” và điệp từ “nhớ” ngân lên như một nỗi niềmlưu luyến đến day dứt khôn nguôi Điều đó đã tạo được không khí cho khúc dạo đầu của cuộc chia
ly có một không hai này
b Cảnh tiễn đưa đầy lưu luyến của kẻ ở người đi.
- Sau khúc dạo đầu là cảnh tiễn đưa bâng khuâng, tha thiết đến bồn chồn của bước đi cả haingười, như thể người yêu đưa tiễn người yêu đầy lưu luyến, vấn vương:
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”
+ Đại từ “ai”, một đại từ rất quen thuộc trong ca dao, dân ca; một đại từ vừa phiếm chỉ, vừa cụ
thể làm cho lời thơ trở nên trữ tình, tha thiết như khúc hát giao duyên quan họ “Tiếng ai tha thiết
bên cồn” là những lời hỏi han ân cần, tha thiết của đồng bào Việt Bắc, gợi biết bao kỉ niệm trong
mười lăm năm gắn bó với người cán bộ kháng chiến
+ Chỉ hai câu thơ lục bát đã diễn tả được ba trạng thái tình cảm sâu sắc thường chỉ có trong trái
tim của những cặp tình nhân say đắm
• “Tha thiết” như tiếng nói cất lên từ đáy lòng đầy yêu thương;
• “bâng khuâng” như một sự tiếc nuối, hụt hẫng;
• rồi “bồn chồn” không yên như trạng thái nôn nao chờ đợi, phấp phỏng ngóng trông của
tấc lòng
• Những từ láy và cũng là tính từ, cùng với phép đảo ngữ, cặp tiểu đối đã làm tăng lên
biết bao nỗi nhớ thương vấn vương lưu luyến Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộchiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy ắp kỉ niệm, giờ phải rời xa, biết lưulại hình ảnh nào, do vậy không tránh khỏi nỗi niềm thương nhớ, bâng khuâng khó tả
- Nó không chỉ thấm sâu vào trong lòng mà còn hằn lên từng bước đi:
Trang 14“Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nĩi gì hơm nay?”
+ Hình ảnh hốn dụ “áo chàm” trong câu thơ trên vừa gợi hình, vừa gợi cảm, vừa cụ thể, vừa
trượng trưng
• Màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc trưng của người Việt Bắc, của vùng quê nghèothượng du đồi núi Nhưng màu áo đĩ mãi khơng phai, đậm đà như tấm lịng thuỷ chung, sắt son của
họ vậy
• Trong tâm thức của người Việt Nam, màu áo chàm cịn tượng trưng cho sự giản dị, chân
thành, mộc mạc, đơn sơ “cầm tay nhau biết nĩi gì hơm nay”.
• Như vậy, “áo chàm” là hình ảnh cĩ giá trị khắc hoạ trang phục truyền thống của đồng
bào Việt Bắc, nhưng cũng để nĩi lên rằng tồn dân Việt Bắc đều ân cần tiễn đưa những người cán
bộ về miền xuơi
+ Đặc biệt hình ảnh “Cầm tay nhau biết nĩi gì hơm nay” cĩ giá trị biểu cảm rất lớn Cái tình
“tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” thì cĩ lời nào tả cho hết được Tình cảm càng thắm
đượm, nồng nàn thì ngơn từ càng bất lực Cho nên, nĩi gì đĩ cho đủ thoả khi trái tim đầy ắp cảm
xúc, thật khĩ nĩi nên lời chứ khơng phải là khơng cĩ gì để giải bày Người đi - kẻ ở chỉ biết “Cầm
tay nhau biết nĩi gì hơm nay…”
• Cái cử chỉ “cầm tay” cũng rất xúc động Bàn tay ấm nĩng trao cảm thương với trái tim
run rẩy vì xúc động đã nĩi được nhiều hơn mọi lời bằng âm thanh ríu rít
• Nhịp thơ 3/3/3/3/2 diễn tả rất tài tình một cái gì đĩ như một thống ngập ngừng, bối rốitrong tâm trạng và cử chỉ Và ba dấu chấm lửng đặt cuối câu như là một dấu lặng trên khuơn nhạc
để tình cảm ngân dài , sâu lắng
Như thế, chỉ bằng mấy câu thơ giản dị, Tố Hữu đã dựng lên được cảnh chia tay rất giàu màu sắctrữ tình, đầy đủ thời gian, khơng gian và của kẻ ở người đi
III Kết bài:
- Đoạn thơ thể hiện được tấm lịng thuỷ chung son sắt giữa người ra đi và người ở lại Nhữngtình cảm trong sáng đĩ rất tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước, anh hùng của nhân dân ta trong cuộckháng chiến chống Pháp
- Thể thơ lục bát êm đềm, sâu lắng, cách dùng đại từ “mình – ta” thân mật, điệp từ “nhớ” lặp
lại nhiều lần làm cho giọng điệu đoạn thơ ngọt ngào da diết diễn tả được chiều sâu tâm hồn và tìnhcảm con người Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp
Đề 2 : Phân tích đoạn thơ sau:
“Ta về mình có nhớ ta
…Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
cứ thế sợi nhớ, sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi "Ta - mình" của đơi
lứa yêu nhau
- Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết:
" Khi ta ở đất chỉ là nơi ở
Trang 15Khi ta đi đất bỗng hĩa tâm hồn".
Việt Bắc đã hĩa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ
như tiếng nhạc ngân nga, với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình cĩ bao giờ quên
được Việt Bắc là một khúc hát trữ tình chính trị, thuộc sốnhững bài thơ hay nhất trong đời thơ Tố Hữu Tác phẩm thểhiện ân tình sâu nặng, đằm thắm của người cách mạng đốivới quê hương Việt Bắc
- Dẫn câu nói của Tố Hữu: “Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống.Thơ chỉ tràn ra khi tim ta cuộc sống đã thật đầy” Và nhữngdòng thơ say chính là những lắng đọng thẳm sâu trong tâmhồn Tố Hữu
"Ta về mình cĩ nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nĩn chuốt từng sợi giang
Ve keo rừng phách đổ vàng Nhớ cơ em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hịa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
II Phân tích
1 Khái quát:
- Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7-1954, Hiệp định Giơ – ne – vơ
về Đơng Dương được kí kết Hồ bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phĩng và bắt tayvào xây dựng cuộc sống mới Một trang sử mới của dân tộc được mở ra
- Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuơi, Trungương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đơ Nhân sự kiện thời sự cĩ tính
lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nĩi riêng,
của thơ ca kháng chiến chống Pháp nĩi chung
- Đây là một tác phẩm dài và không phải đoạn nào cũngviết đều tay Nhưng có những đoạn quả thật là đặc sắc, ởđó người đọc cảm nhận được vẻ đẹp riêng biệt của hồn thơTố Hữu
2 Phân tích:
a
Hai câu mở đầu đoạn:
“Ta về mình có nhớ ta.
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.
- Cả bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên của cadao, dân ca Hai câu thơ này có chức năng là những lời đưađẩy, là cây cầu để nối liền các đề tài ở những câu tiếptheo; đồng thời nó cũng là cái cớ nhằm bày tỏ nỗi niềm
Mở đầu là một lời ướm hỏi: “Ta về mình có nhớ ta” → Giọng
hỏi tình tứ, với cách xưng hô mặn mà, quen thuộc: “ta – mình”.
Trang 16Câu thơ bày tỏ sự bịn rịn, lưu luyến của người ra đi đồng thờibộc lộ sự hồn hậu của con người thơ Tố Hữu.
- Để câu thơ thứ 2 là sự hô ứng, nhà thơ khẳng định: “Ta
về ta nhớ những hoa cùng người” Đó là nỗi nhớ dành cho
những gì đẹp nhất của Việt Bắc “hoa và người”: hoa-thiênnhiên; hoa và người quấn quýt trong vẻ đẹp hài hoà đằmthắm
⇒ Hai câu thơ mở đầu đã giới thiệu chủ đề của đoạn thơ:hoa (thiên nhiên) và người (nhân dân) Việt Bắc
b Tám câu thơ tiếp theo: Bộ tranh tứ hình về thiên nhiên
và con người Việt Bắc.
- Tranh tứ hình là một loại hình nghệ thuật hội họa phổ biếnthời trung đại, nó là một bộ tranh gồm 4 bức, miêu tả 4 mặtcủa một đối tượng nào đó Tố Hữu đã vẽ một bộ tứ hìnhbằng ngôn từ để ghi lại những ấn tượng sâu sắc của mình vềquê hương Cách mạng Việt Bắc
- Trong 8 câu thơ, tương ứng với cảnh thiên nhiên ở câu lụclà hình ảnh con người ở câu bát, mỗi hình ảnh ấy lại toátlên những phẩm chất đáng quí của người Việt Bắc
* Bức tranh thứ nhất (mùa đông):
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.
- Thiên nhiên: Trước hết đĩ là nỗi nhớ mùa đơng Việt Bắc - cái mùa đơng thuở gặp
gỡ ban đầu, đến hơm nay vẫn sáng bừng trong kí ức Việt Bắc hiện lên trong haicâu này có tính khái quát: một miền quê thật yên bình, êm
Rừng giăng thành lũy thép dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Trên cái nền xanh ấy nở bừng bơng hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngànlàm ấm cả khơng gian, ấm cả lịng người Hai chữ “đỏ tươi” khơng chỉ là từ ngữ chỉ sắcmàu, mà chứa đựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thinhân Cảnh vật ở đây hiện lên thật sống động, rạng rỡ
- Trên nền cảnh mênh mông, xanh ngắt của đại ngàn, hìnhảnh con người xuất hiện với một tư thế vững chãi, tự tin củangười làm chủ núi rừng: “Đèo cao ắng ánh dao gài thắt lưng”
- Mùa đông hiện lên trước tiên cũng như những khó khăncủa cách mạng trong giai đoạn chứng nước mở đầu của cáchmạng, từ những ngày đầu của mặt trận Việt Minh đi ra từ ĐộiViệt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22/12/1944) Khó khănấy nhiều gấp bội như màu xanh bạt ngàn của núi rừng, nhưng
Trang 17trong gian nan ấy, toàn Đảng toàn quân ta toàn dân ta vẫn cốgắng thắp áng lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng.
* Bức tranh thứ hai (mùa xuân):
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.
- Thiên nhiên: Cùng với sự chuyển mùa (mùa đơng sang mùa xuân) là sự chuyểnmàu trong bức tranh thơ: Màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khơi củahoa mơ khi mùa xuân đến Cả khơng gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Trắng cả khơng gian “trắng rừng”, trắng cả thời gian “ngày xuân” Hình ảnh này khá quenthuộc trong thơ Tố Hữu, hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào trường ca Theo chân Bác
gợi tả mùa xuân rất đặc trưng của Việt Bắc:
Ơi sáng xuân nay xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Cái sắc trắng tinh khơi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn người ở, thẫn thờ kẻ đi.được bao phủ bởi màu trắng tinh khiết và mỏng manh của hoa
mơ rừng Hai chữ “trắng rừng” làm cho núi rừng như sángbừng và trở nên dịu dàng, đằm thắm, quyến rũ lạ lùng
- Con người Việt Bắc hiện ra trong một công việc thầm lặng:
Nhớ người đan nĩn chuốt từng sợi giang
Hai chữ “chuốt từng” gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như bao yêu thương đợi
chờ mong ngĩng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nĩn Cảnh thì mơ mộng,tình thì đợm nồng Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân vậy
* Bức tranh thứ ba - bức tranh đặc sắc nhất (mùa hạ):
“Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô con gái hái măng một mình”.
- Thiên nhiên: Bức tranh thơ thứ ba chuyển qua rừng phách - một loại cây rất thường gặp
ở Việt Bắc hơn bất cứ nơi đâu Chọn phách cho cảnh hè là sự lựa chọn đặc sắc, bởi trongrừng phách nghe tiếng ve ran, ngắm sắc phấn vàng giữa những hàng cây cao vút, ta như cảmthấy sự hiện diện rõ rệt của mùa hè Thơ viết mùa hè hay xưa nay hiếm, nên ta càng thêmquí câu thơ của Tố Hữu:
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cơ em gái hái măng một mình
Ở đây cĩ sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu - ấn tượng của thính giác đã đemlại ấn tượng thị giác thật mạnh Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảomộc cỏ cây: Những ngày cuối xuân, cả rừng phách cịn là màu xanh, những nụ hoa cịn náukín trong kẽ lá, khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổbơng, đồng loạt tung phấn, cả rừng phách lai láng sắc vàng
Chữ đổ được dùng thật chính xác, tinh tế Nĩ vừa gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu,
vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoa rừng phách khi cĩ ngọn giĩ thoảng qua, vừa thể hiệnchính xác khoảng khắc hè sang Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh để gọi dậy màu sắc,dùng khơng gian để miêu tả thời gian Bởi vậy cảnh thực mà vơ cùng huyền ảo
- Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cơ em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn: “Cơ em gáihái măng một mình” nghe ngọt ngào thân thơng trìu mến Nhớ về em, là nhớ cả một khơnggian đầy hương sắc Người em gái trong cơng việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng Vẻđẹp lãng mạn thơ mộng ấy cịn được tơ đậm ở hai chữ “một mình” nghe cứ xao xuyến lạ, như bộc
lộ thầm kín niềm mến thương của tác giả Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa
Trang 18* Bức tranh thứ tư (mùa thu):
“Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.
- Ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành một khung cảnhhuyền ảo Không khí se lạnh của trời thu theo ánh trăng như baophủ vạn vật, cỏ cây, ngấm vào nỗi nhớ của những conngười đã gắn bó sâu nặng với Việt Bắc
- Câu kết đoạn khẳng định phẩm chất ân tình, thủy chungcủa người Việt Bắc Chữ “ai” là cách nói bóng gió, mơ hồcủa dân gian khiến câu thơ trở nên tình tứ, thiết tha Cũngchính vì vậy mà nỗi nhớ của người ra đi dành cho người ở lạicũng trở nên quyến luyến, quay quắt, cồn cào, …
- Với cách ngát nhịp quen thuộc nhưng cách ngắt nhịp 2/2của hai câu thơ tạo nên một nhịp đưa đẩy thật chậm, nó sâulắng da diết và được dồn về tất cả cho bốn chữ cuối dòngsau “ân tình, thuỷ chung” Nó như một lời giải đáp thoả mãcho sự hô ứng trong tình cảm giã kẻ ở và người đi: một tìnhcảm ân tình thuỷ chung trước sau như một
- Thế là một hành trình gian khổ đã đem lại kết quả Bứctranh tứ bình khép lại trong một ánh trăng hoà bình mong đợicủa nhân dân ta sau gần 100 năm sống dưới ách nô lệ củathực dân Pháp, đất nước giang sơn thanh bình trong khúc khảihoàn ca của niềm chiến thắng tưng bừng; để hôm nay trongbước chân quyến luyến của người cán bộ về xuôi, ân tìnhcủa một thời gắn bó vẫn sẽ sáng tỏ, quê hương cách mạngViệt Bắc vẫn khắc khoải trong sâu thẳm người ra đi
⇒ Giai điệu quyến rũ đặc biệt của giọng thơ, nỗi niềm thủychung ân tình rất đỗi đằm thắm của đoạn thơ trên nói riêngvà của “Việt Bắc” nói chung, trở thành chất men say có sứcngấm sâu vào trái tim độc giả nhiều thế hệ Đó là sứcsống của “Việt Bắc” và hồn thơ Tố Hữu
III Kết bài:
- Ngôn ngữ giản dị, ngọt ngào, giàu tính dân tộc …
- Tóm lại, đoạn thơ là bốn bức tranh, bốn cảnh sắc, bốndáng điệu Tố Hữu đã thâu tóm được những gì là đặc trưngnhất của quê hương cách mạng Tất cả đều hiện lên trongđiệp khúc nhớ thương, mặn mà, da diết
- Vô-te khẳng định: “Thơ là nhạc của tâm hồn, nhất là tâmhồn quảng đại, đa cảm” Cho dù Tố Hữu đã đi xa, nhưng những gìcòn đọng lại trong bài thơ Việt Bắc chính khúc hát của quảngđại quần chúng, nó vẫn còn vang động trong tâm hồn mỗingười yêu thơ, nó vẫn sáng mãi trên văn đàn văn nghệ dântộc
Đề 3 : Cảm nhận bức tranh tứ bình trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu?
Trang 191 Mở bài:
- Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng, nhắc đến mảnh đất trung dunghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình - nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạnggian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa, lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi Và
cứ thế sợi nhớ, sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi "Ta - mình" của đôi
lứa yêu nhau
- Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết:
" Khi ta ở đất chỉ là nơi ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn".
Vâng! Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời
thơ như tiếng nhạc ngân nga, với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ
quên được
- Đoạn thơ được phân tích sau đây đã được đánh giá như một bức tranh đẹp nhất về ViệtBắc trong nỗi nhớ của nhà thơ, là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh và người, là ấn tượngkhông thể phai mờ về con người Việt Bắc cần cù lao động, thuỷ chung tình nghĩa:
"Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve keo rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
2 Thân bài:
- Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông diễn tả những tình cảm cách mạng thật nhẹ
nhàng mà cũng thật đậm sâu Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng, của thơ ca
kháng chiến chống Pháp nói chung Bài thơ được viết vào tháng 10/1954, khi Trung ương
Đảng và Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã "Thủ đô gió ngàn" về với "Thủ đô
xa, tha thiết nồng nàn Người ra đi muốn hỏi người ở lại: không biết sau khi ta về xuôi rồi,
người ở lại có còn nhớ ta nữa chăng? Đây chỉ là câu hỏi mang tính tu từ, hỏi để tạo cái cớ
cho người ra đi khẳng định về chính mình Người ở lại có thể hiểu rằng: Sau khi ta về xuôi
rồi, không biết người ở lại có còn nhớ đến ta không, riêng ta sẽ nhớ mãi.
+ Với Tố Hữu, người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ "bát
cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng", mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của Hoa cùng Người Ở
đây, hoa vừa mang nghĩa chính, vừa mang nghĩa hoán dụ: Hoa là hoa mà cũng là thiên
Trang 20nhiên nói chung, tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc Còn con người là con ngườiViệt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son
+ Từ “cùng” tạo nên một sự liên kết mật thiết: giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc là một sự gắn bó, có hoa là có người, có người là có thiên nhiên Hoa và Người quấn quýt với
nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này.Chính điều ấy đã tạo nên cái cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ Trong bốn cặp lục bát còn lạicâu sáu dành cho nhớ hoa, nhớ cảnh, câu tám dành cho nhớ người Cảnh và Người trongmỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn
- Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương da, cái ảm đạm của những
ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất Nhưng đến với Việt Bắc trong thơ Tố
Hữu thì thật lạ Mùa đông bỗng ấm áp lạ thường:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
+ Ở hai câu thơ, câu trên là hoa, thiên nhiên Việt Bắc: Rừng Việt Bắc với những màu sắc tiêu biểu là màu xanh Đúng là hình ảnh của một vùng đất với núi rừng trùng điệp, hình ảnh
luôn luôn hiển hiện trong kỉ niệm của người đến Việt Bắc Điểm xuyết trên cái nền màu
xanh bát ngát bao la của cánh rừng, là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh
nắng mặt trời Từ xa trông tới, bông hoa như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bứctranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa, vừa cổ điển vừa hiện đại
+ Cái màu "đỏ tươi" - gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức
sống, xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng
+ Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:
“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
(Cảnh ngày hè)
+ Từ liên tưởng ấy ta thấy, mùa đông trong thơ Tố Hữu cũng lan tỏa hơi ấm của mùa hè
chứ không lạnh lẽo hoang sơ bởi màu đỏ của hoa chuối cũng như đang phun trào từ giữamàu xanh của núi rừng
+ Cùng hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên
núi làm nương, phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung cấp cho kháng chiến:
"Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng"
+ Trước thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng hơn Ởđây nhà thơ không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất Đó là
ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng.
+ Ở đây câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật
nhiếp ảnh Con người như một tụ điểm của ánh sáng Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một
vị trí, một tư thế đẹp nhất - "đèo cao" Con người đang chiếm lĩnh đỉnh cao, chiếm lĩnh núi
rừng, tự do như ý thơ mà Nguyễn Đình Thi từng khẳng định:
" Núi rừng đây là của chúng ta Trời xanh đây là của chúng ta".
(Đất nước)
Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao
la và rừng xanh mênh mang Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc.
- Đông qua, xuân lại tới Nhắc đến mùa xuân ta liên tưởng ngay đến sức sống mới của
cỏ cây, hoa lá, của trăm loài đang cựa mình thức dậy sau mùa đông dài Mùa xuân Việt Bắc cũng vậy:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Trang 21Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
+ Thiên nhiên được miêu tả ở đây cũng là rừng, nhưng là một thứ rừng mang vẻ đẹp đặc
trưng của mùa xuân Việt Bắc: rừng mơ đang giữa mùa hoa Ta thấy: bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng: "Ngày
xuân mơ nở trắng rừng"
+ "trắng rừng" được viết theo phép đảo ngữ và từ "trắng" được dùng như động từ có tác
dụng nhấn mạnh vào màu sắc, màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá, và
làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu ngọt của hoa mơ +
Động từ "nở" làm sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống Đây không phải là lần
đầu tiên Tố Hữu viết về màu trắng ấy, năm 1941 Việt Bắc cũng đón bác Hồ trong màu sắchoa mơ:
“Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”
+ Mùa xuân càng trở nên tươi tắn hơn nữa bởi sự xuất hiện của hình ảnh con người với hoạt động "chuốt từng sợi giang" Con người đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày Từ "chuốt" và hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay của con người lao động: cần mẫn,
tỉ mẩn, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút đó cũng chính là phẩm chất tần tảo của conngười Việt Bắc
- Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve, bức tranh Việt Bắc lại sống động hơn bao giờ hết:
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình
+ Thời điểm ve kêu cũng là thời điểm rừng phách đổ vàng Động từ "đổ" là động từ mạnh, diễn tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè Cấu trúc của câu thơ (“Ve” –
“kêu rừng phách đổ vàng”) còn như cho phép người đọc hiểu rằng: tiếng ve kêu khiến rừng
phách đổ sang màu vàng, bởi cái màu vàng của rừng phách nhẹ quá, lung linh quá
+ Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và
cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra Đây là một bức tranh sơn mài
được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh.
+ Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có
tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến
và cây Phách ngả sang màu vàng rực rỡ Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân
tộc
+ Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy, là hình ảnh cô gái áo chàm cầnmẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến:
"Nhớ cô em gái hái măng một mình".
+ Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng
của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết
Tố Hữu không chỉ nói cô gái, mà nói là “cô em gái”, rất trìu mến
+ Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái Tố Hữu gọiviệc lấy măng là “hái măng”, giống như việc hái hoa hái quả Thật ra, việc lấy măng rừngkhông phải là công việc nhẹ nhàng như hái hoa hái quả Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềmcảm thông, trân trọng của tác giả
- Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu ngọt:
"Rừng thu trăng rọi hòa bình
Trang 22Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
+ Không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó là ánh trăng của tự do, của hòa bình dọi sáng
niềm vui lên từng núi rừng, từng bản làng Việt Bắc Bốn tiếng “trăng rọi hòa bình” gợi lên hai liên tưởng: Ánh trăng dịu dàng, yên ả toả xuống rừng thu; cũng có thể hiểu là ánh trăng
chiếu rọi phong cảnh hoà bình, trong một đêm thu hoà bình sau khi chiến tranh vừa kết
thúc Ta cũng từng biết đến mùa thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu:
“Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu
Ấy tin thắng trận liên khu báo về”
(Tin thắng trận)
+ Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát Giữa cảnh
rừng thu ấy, con người xuất hiện trong bức tranh cũng rất độc đáo: không thấy hình dánghay màu sắc, chỉ nhận ra từ âm thanh: “tiếng hát” Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bàodân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắccủa núi rừng của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha mặn nồng
+ Kết thúc bộ tranh tứ bình bằng một bức tranh đầy nhân hậu, lạc quan Ta có thể thấy,cảnh và người Việt Bắc chuyển từ quá khứ sang hiện tại Người đọc có thể nhận ra ý đồnghệ thuật của nhà thơ vì sao không kết cấu bộ tranh tứ bình theo trình tự bốn mùa xuân, hạ,thu, đông để rồi cuối bức tranh phải là mùa đông Nhà thơ giã từ Việt Bắc giữa mùa thu Kỉniệm sau cùng, đẹp nhất là mùa thu, là phong cảnh hoà bình
+ Vâng! Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng
và khép lại đoạn thơ bằng tiếng hát "ân tình thủy chung" gợi cho người về và cả người đọc
những rung động sâu xa của tình yêu quê hương đất nước
- Về nghệ thuật, đoạn thơ thể hiện rất rõ phong cách thơ Tố Hữu: trữ tình sâu lắng, tha thiết, ân tình và đậm đà tính dân tộc.
+ Tố Hữu đã sử dụng thể thơ lục bát quen thuộc vừa dân dã, vừa cổ điển vừa hiện đại.+ Hơn nữa, nhịp điệu những câu thơ cân đối, cô đúc, ngân nga, vừa thắt buộc, lại vừa mới
mẻ lạ lùng
+ Tố Hữu cũng chú ý sử dụng các đại từ ”mình -ta” vừa truyền thống vừa hiện đại
+ Trong đoạn thơ, điệp từ nhớ được lặp lại nhiều lần, mỗi lần mang sắc thái khác nhau
theo cấp độ tăng tiến, thể hiện những rung động chân thật, mặn mà, thắm thiết của nhà thơđối với thiên nhiên và con người Việt Bắc
lí truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
- Có thể nói đoạn thơ này là một trong những đoạn thơ hay nhất của bài Việt Bắc Đoạnthơ giàu giá trị tạo hình, cấu trúc cân đối, hài hoà, cảnh vật thiên nhiên thật đẹp và conngười Việt Bắc thật nghĩa tình và đáng yêu
Đề 4 Cảm nhận về đoạn thơ sau:
“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
……….
Trang 23Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
I Mở bài:
- Việt Bắc là tập thơ xuất sắc của Tố Hữu nằm trong tập thơ Việt Bắc, sáng tác trong gian đoạn
1946 – 1954
- Bằng lối đối đáp và cách sử dụng cặp đại từ nhân xưng “mình – ta” quen thuộc của ca dao, bài
thơ như một bài hát giao duyên thể hiện ân tình sâu đậm giữa đồng bào Việt Bắc và người cán bộkháng chiến về xuôi
- Đoạn thơ này là lời người cán bộ kháng chiến về xuôi đáp lại lời nhắn nhủ của đồng bào ViệtBắc Trong đoạn thơ, ta thấy cảnh vật và con người Việt Bắc hiện lên trong nỗi nhớ người đi thậtđẹp và cũng thật tình nghĩa Nỗi nhớ ấy thật thiết tha và sâu đậm, bao phủ cả không gian, thời gian
và đầy ắp tâm trạng của người cán bộ kháng chiến
II Thân bài:
1 Mở đầu đoạn thơ là lời đáp của người ra đi khẳng định tình cảm thuỷ chung của mình:
“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”
- Người ra đi đã khẳng định “mình đi, mình lại nhớ mình” là để trả lời cho câu hỏi đặt ra của đồng bào Việt Bắc ở trên (“Mình đi mình có nhớ mình”…) Đây là lời khẳng định: người cán bộ
kháng chiến về thành nhưng vẫn nhớ đến những ngày sống ở chiến khu Việt Bắc Nói cách khác,đây là lời khẳng định phẩm chất đạo đức của người cán bộ kháng chiến
- “Ta – mình”, “mình – ta” quấn quýt, quyện hoà, ta với mình là một Lòng ta sau trước mặn
mà đinh ninh Đinh ninh là sự khẳng định chắc chắn, mãi mãi, gắn bó, thuỷ chung với Việt Bắc.
Việt Bắc là cái nôi cội nguồn của cách mạng làm sao dễ dàng quên
- Sự so sánh “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” đã khẳng định sự chung thuỷ son
sắt với Việt Bắc như tình yêu đôi lứa bền chặt, mãi mãi, không bao giờ cạn như nguồn nước kia + Trong tâm thức của người Việt Nam, nước nguồn được chảy ra vì công lao, tình nghĩa vô bờbến của người mẹ, tuôn chảy bất tận không bao giờ cạn Bao nhiêu nước thì bấy nhiêu nghĩa tìnhsâu nặng, như nghĩa mẹ tình cha
+ “Bao nhiêu” được so sánh với “bấy nhiêu” Đó là cách so sánh giữa một sự vô tận với một sự
vô tận Đọc câu thơ, ta có cảm giác dường như đó không còn là những dòng chữ im lặng nữa mà làtiếng lòng được thốt lên từ một trái tim tràn đầy xúc động của kẻ ở người về trong giây phút li biệt
2 Nhớ thiên nhiên thanh bình, yên ả và thơ mộng:
- Nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc vừa đa dạng, vừa cụ thể Trong
cuộc đời, có mảnh đất nào đã đi qua, đã từng gắn bó mà khi ra đi lại không để thương nhớ cho lòngngười Trong hoài niệm của nhà thơ, Việt Bắc không chỉ là những ngày mưa rừng sương núi màcòn là một vùng đất thơ mộng, thanh bình, yên ả gợi bao nỗi nhớ niềm thương:
“Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”
+ Nỗi nhớ Việt Bắc được so sánh như “nhớ người yêu” Một nỗi nhớ cháy bỏng, tha thiết, mãnh
liệt Tình yêu là nỗi nhớ, nhất là phải xa nhau thì nỗi nhớ càng cồn cào, da diết khôn nguôi Dườngnhư nỗi nhớ của người cách mạng với thiên nhiên, với đồng bào Việt Bắc có lẽ cũng không kémphần tha thiết như thế Vì vậy, cảnh và người phút chốc lại trở về vơi đầy trong tâm trí của người rađi