1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tìm hiểu về tác giả nguyễn tuân

35 788 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 71,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Nguyễn Tuân, ngôn từkhông chỉ là chất liệu mà còn là văn chương và nhà văn đã có ý thức “lạ hóa” nó, đểtạo dấu ấn độc đáo cho mình đồng thời lôi cuốn người đọc.. Bối cảnh xã hội,

Trang 1

cứ cây bút nào Ông cũng được coi là một trong ba nhà văn sớm có tác phẩm ngaybuổi đầu độc lập của dân tộc

Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là phong cách tài hoa, uyên bác Nóthể hiện ở những từ ngữ, hình tượng nghệ thuật trong văn của ông Ngôn ngữ củaNguyễn Tuân có đầy đủ màu sắc, âm thanh và hình tượng Với vốn hiểu biết phongphú nhiều lĩnh vực, năng lực thẩm mỹ sắc sảo và lối viết tài hoa Những bài viết củaông đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong lòng độc giả Đối với Nguyễn Tuân, ngôn từkhông chỉ là chất liệu mà còn là văn chương và nhà văn đã có ý thức “lạ hóa” nó, đểtạo dấu ấn độc đáo cho mình đồng thời lôi cuốn người đọc Chính vì vậy ông đượcxem là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt

Trang 2

NỘI DUNG

1 Tác giả Nguyễn Tuân

1.1 Tiểu sử - con người

1.1.1 Tiểu sử

Nguyễn Tuân sinh (10-7-1910) tại phố Hàng Bạc, Hà Nội Gia đình cótruyền thống Nho học Nhưng lúc này Nho học đã thất thế, nhường chỗ cho Tây học

Cả một thế hệ vốn gắn bó với cửa Khổng sân Trình bỗng dưng trở nên lỗi thời trước

xã hội giao thời Tây - Tàu nhố nhăng; sinh ra tư tưởng bất đắc chí (trong đó có cụ TúHải Văn, thân sinh của Nguyễn Tuân) Bối cảnh xã hội, không khí gia đình đặc biệt ấy

đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong cá tính, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật củanhà văn Nguyễn Tuân Là một trí thức giàu tinh thần dân tộc, Nguyễn Tuân đã phảitrải qua những năm tháng vô cùng khổ sở, có lúc bế tắc, tuyệt vọng

Năm 1929, bị đuổi học và không được vào làm việc ở bất cứ công sở nàotrên toàn cõi Ðông Dương (vì tham gia bãi khóa chống giáo viên Pháp nói xấu ngườiViệt Nam, tại trường trung học Nam Ðịnh) Cùng một nhóm bạn, vượt biên giới sangLào; bị bắt ở Thái Lan, đưa về giam ở Thanh Hóa Hơn một năm sau, ra tù Ði tráiphép vào Sài Gòn, đến Vinh thì bị bắt và bị quản thúc ở Thanh Hóa Kể từ đây,Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần sâu sắc Ông lao vào conđường ăn chơi trụy lạc, thành kẻ “đại bất đắc chí”, như một người “hư hỏng hoàntoàn”

Năm 1938, tham gia vào đoàn làm phim “Cánh đồng ma”, quay tại HồngKông

Từ 1942 đến 1945, ngày càng bế tắc, suy sụp, đã có ý định tự sát

Cách mạng tháng Tám đã cứu sống cuộc đời cũng như trang viết NguyễnTuân Ông hân hoan chào đón cuộc đổi đời lịch sử, tự “lột xác” và chân thành đứngvào hàng ngũ nhà văn Cách mạng Năm 1950, vào Ðảng Cộng sản Ðông Dương Từ

Trang 3

1948-1958, là tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam Luôn hăng hái tham gia vào haicuộc kháng chiến Tiếp tục đi nhiều, có mặt ở tuyến lửa ác liệt, dùng văn chương ngợi

ca đất nước và cùng nhân dân đánh giặc

Nguyễn Tuân hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực: viết văn, làm báo, diễn kịch… ở lĩnh vực nào ông cũng say sưa thể hiện cái “Tôi” của mình Trong số các nhàvăn đã từng kinh qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc

Mỹ, Nguyễn Tuân là người đến với cách mạng khá sớm Nguyễn Tuân mất ngày 7-1987 tại Hà Nội

Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ ChíMinh về văn học nghệ thuật (đợt I)

1.1.2 Con người

Nguyễn Tuân là một trí thức dân tộc rất mực tài hoa, uyên bác Ông amtường cả Hán học lẫn Tây học, đặc biệt, có lòng say mê thiết tha đối với tiếng Việt.Rất mực đề cao và chú tâm gìn giữ nhân cách nghệ sĩ, nên Nguyễn Tuân căm ghétthói xấu xa đê tiện, rởm đời, vô văn hóa

Ðọc văn ông, người đọc không chỉ có khoái cảm thẩm mỹ từ nghệ thuậtngôn từ mà còn được bồi dưỡng thêm tri thức về nhạc, họa, điêu khắc, kiến trúc, lịch

sử, địa lý, điện ảnh,… Thực tế ấy chứng tỏ Nguyễn Tuân là một tài năng phong phú,

có năng lực ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật

Ðời viết văn hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Tuân là một quá trình lao độngnghệ thuật thật sự nghiêm túc Về sau, khi đã ở đỉnh cao nghề nghiệp, ông vẫn khôngbao giờ tỏ ra lơi lỏng, hời hợt; mà ngược lại, luôn nghiêm khắc với chính mình Ðây làmột nhà văn “suốt đời đi tìm cái Ðẹp, cái Thật” (Nguyễn Ðình Thi), tự nhận mình làngười “sinh ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa”

Trang 4

Trước Cách mạng tháng Tám, trong bối cảnh nước mất, xã hội đảo điên

“lộn tùng phèo” mọi thứ quan niệm, mọi giá trị, Nguyễn Tuân đã đứng hẳn về phíadân tộc và truyền thống dũng cảm chống lại sức công phá của lối sống xu thời Sángtác của ông thời kỳ này dồn sức chủ yếu vào việc phục hiện lại các giá trị văn hóathuộc lĩnh vực tinh thần và xã hội Trên trang viết Nguyễn Tuân, những “vẻ đẹp xưa”chợt sống dậy trong niềm xót xa tiếc nuối khôn nguôi Dù điều kiện bấy giờ khôngcho phép nhà văn bộc lộ trực tiếp tâm sự u hoài đối với dân, với nước, người đọc vẫncảm nhận được một tấm lòng chân thành và rất mực thủy chung Ông đã ghé vai vàochống chọi, hàn gắn, sắp xếp lại với kỳ vọng gìn giữ những giá trị thiêng liêng nhấtvốn hun đúc nên Quốc hồn, Quốc túy Việt Nam Nếu có thể ví trang sách như tấm láchắn hữu hiệu thì nhà văn Nguyễn Tuân – giai đoạn trước 1945 – chính là người cảm

tử quân đang chiến đấu với cái ác, tử thủ ở thành trì Chân – Thiện – Mỹ

Từ sau 1945, Nguyễn Tuân viết đều đặn, càng tỏ ra sâu sắc trong tư tưởngnghệ thuật Nhà văn có dịp đi nhiều, vừa đi vừa mở lòng đón nhận bao nhiêu thanhsắc của cuộc sống mới đang từng giây từng phút sinh sôi Nếu trước kia chỉ có thể bộc

lộ tâm sự yêu nước thương dân một cách kín đáo, thì giờ đây con người tài hoa uyênbác ấy như được tháo củi sổ lồng, phát huy hết mọi sở trường, cất cao lời ngợi ca đấtnước và con người Việt Nam trong thời đại mới

Nếu trước Cách mạng tháng Tám, quan niệm về cái Ðẹp của Nguyễn Tuân

đậm màu sắc chủ quan, “không bà con gì với luân lý thời đại” thì giờ đây, đã có sự hài

hòa cần thiết Bởi cái Ðẹp giờ hiện hữu trong thực tại, là đời sống muôn màu củaNhân Dân; như có thể cầm lên tay mà nâng niu ngắm nghía Hoài cổ không còn mang

ý nghĩa níu kéo dĩ vãng mà được nâng lên thành ý thức về sự góp mặt của dĩ vãng ởhiện tại

Trang 5

1.2 Sự nghiệp

Tác phẩm tiêu biểu:

- Trước 1945: Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1939), Ngọn đèn dầu lạc (1939), Thiếu quê hương (1940), Tàn đèn dầu lạc (1941), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943), Tóc Chị Hoài (1943), Nguyễn (1945).

- Sau 1945: Chùa Ðàn (1946), Ðường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Thắng càn (1963), Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập I/1955, tập II/1956), Sông

Ðà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Ký (1976), Hương vị và cảnh sắc đất nước (1978), Tuyển tập Nguyễn Tuân (1994).

Quá trình sáng tác các đề tài chính:

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành côngngay từ những tác phẩm đầu tay Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyệnngắn hiện thực trào phúng Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường

của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: “Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua ”

Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh

ba đề tài: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóng một thời”, và “đời sống truỵ lạc”.

Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết “chủ nghĩa xê dịch” này trong tâm trạng

bất mãn và bất lực trước thời cuộc Nhưng viết về “chủ nghĩa xê dịch”, Nguyễn Tuân

lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị củađất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến, yêu thương và tài

hoa (Một chuyến đi).

Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá

khứ còn “Vang bóng một thời” Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong

Trang 6

tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã Tất cả được thể hiệnthông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua

cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao “Chữ người tử tù”).

Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc Ở những tác phẩmnày, người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc Trong tình trạngkhủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm

tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua).

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụcuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trêncương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độcđáo của mình Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầynghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu vàsản xuất

1.3 Phong cách nghệ thuật

Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc

Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể

thâu tóm trong một chữ “ngông” Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của

Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ

là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hóa, mĩ thuật

Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vươngsót lại và ông gọi là Vang bóng một thời Sau Cách mạng, ông không đối lập giữa quákhứ, hiện tại và tương lai Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổkính, vừa trẻ trung hiện đại

Trang 7

Nguyễn Tuân học theo “chủ nghĩa xê dịch” Vì thế ông là nhà văn của

những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của nhữngphong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội…

Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết Ông có nhiềuphát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình Phongcách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìmđến thể tuỳ bút như một điều tất yếu Ông còn có đóng góp không nhỏ cho sự pháttriển của ngôn ngữ văn học Việt Nam

Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổiquan trọng Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệthuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đạichúng Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc haynhững mặt tiêu cực của xã hội

2.1 Khái niệm

Nghệ thuật ngôn từ (hay nghệ thuật của ngôn từ) là một loại hình nghệ thuậtlấy ngôn từ làm chất liệu, đối sánh với các loại hình nghệ thuật có chất liệu khác.1

Trong phần này, vấn đề cần chú ý trước hết là đòi hỏi người nghiên cứu phải

phân biệt được hai khái niệm “Nghệ thuật ngôn từ” và “Ngôn từ nghệ thuật” “Ngôn

từ nghệ thuật” là kết quả của những biện pháp tu từ cùng những quy tắc tổ chức lời

văn, nhằm góp phần bộc lộ những giá trị tư tưởng – thẩm mỹ trong một tác phẩm cụthể.2 Như vậy, đều cùng nói đến ngôn từ, nhưng “ngôn từ nghệ thuật” sau này mới bàn

đến những phẩm chất nghệ thuật của nó, còn ở “nghệ thuật ngôn từ” chỉ đề cập những

thuộc tính về mặt chất liệu để làm nên đặc trưng của văn học mà thôi

1 Lý luận văn học (tập I), NXB Đại học Sư Phạm, 2002, tr.184 (trích lại).

2 Lý luận văn học (tập I), NXB Đại học Sư Phạm, 2002, tr.184 (trích lại).

Trang 8

2.2 Đặc trưng

2.2.1 Tính hình tượng - gián tiếp

Chất liệu của tất cả các loại hình nghệ thuật cơ bản, đơn thuần, chứ chưamang tính tổng hợp như hội họa, âm nhạc, vũ đạo,… mặc dù là đường nét, màu sắc,

âm thanh, tiết tấu hay hình thể…đều là vật chất, vật thể, với những trạng thái của nócho nên chúng đều có tính hình tượng - trực tiếp, có nghĩa là công chúng có thể trựctiếp nghe nhìn hình tượng của các loại hình nghệ thuật này Sau khi nghe nhìn xong,công chúng vẫn tha hồ thỏa sức tưởng tượng thêm, nhưng vốn đã có được hình ảnhtrực quan ban đầu

Trái lại, ngôn từ không phải là vật chất hay vật thể, mà chỉ là kí hiệu củachúng mà thôi cho nên hình tượng mà thơ văn xây dựng nên không thể nghe nhìn mộtcách trực quan Hình tượng văn chương không tác động trực tiếp vào các giác quancủa chúng ta, dù là thị giác hay thính giác Người thưởng thức tác phẩm văn chươngđược gọi là độc giả còn người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật thường được gọi làkhán giả, mặc dầu cả 2 loại người này đều dùng mắt cả Chỉ bởi, đối với văn chươngkhông ai trực tiếp nhìn, ngắm hình tượng của nó bằng mắt cả Các hình tượng vănchương hiện lên trong óc người thưởng thức bằng trí tưởng tượng Người đọc phá vỡ

ý nghĩa các từ, câu để liên tưởng với các biểu tượng về đối tượng được miêu tả, nhờvào trí tưởng tượng mà người đọc dường như tái tạo đối tượng miêu tả mà văn bản chỉ

ra Như thế chúng ta không sờ thấy, nghe thấy, nhìn thấy trực tiếp tượng văn chương.Các hình tượng văn chương thiếu tính trực quan, chúng phi vật thể Ðộc giả dườngnhư phải vận dụng mọi cơ quan cảm giác để tiếp nhận hình tượng văn chương

2.2.2 Tính tư duy trực tiếp

Lời nói và tư duy gắn chặt với nhau Không thể tư duy mà không có lời nói

và lời nói chính là tư duy Vì vậy, nếu nói văn chương miêu tả ngôn từ thì đồng thờiphải nói văn chương miêu tả tư tưởng Văn chương vừa vẽ lên những bức chân dung

Trang 9

về tư tưởng của con người Văn chương là ngành nghệ thuật duy nhất tái tạo các quátrình tư duy của con người Mỗi con người trong văn chương là mỗi nhà tư tưởng; họkhông những là con người biết suy nghĩ, cảm xúc, có ý thức về mình mà còn có ý thức

về người - họ có ý kiến nhất định trước vận mệnh và cuộc đời Đây là một ưu thế đặcthù của văn chương Nghệ thuật nào cũng gắn liền với tư tưởng Nhưng các loại hìnhnghệ thuật khác biểu hiện tư tưởng của con người một cách gián tiếp Qua một bứctranh, bản nhạc chúng ta không tìm được những tư tưởng cụ thể mà chỉ là đoán định -ngay cả những bức tranh tượng về con người Các nghệ thuật đó không dựng lên đượccon người đang tư duy Trong văn chương, quá trình tư duy của con người được thểhiện một cách trực tiếp Người đọc tiếp xúc trực tiếp qua các lời thoại của nhân vậthoặc lời nói thầm của các nhân vật - những ý tưởng chưa thốt nên lời

2.2.3 Tính vô cực hai chiều về không – thời gian

Chất liệu ngôn từ của hình tượng văn chương cũng đã làm cho tính chấtkhông gian và thời gian của hình tượng văn chương có đặc trưng riêng Người ta phân

chia thế giới nghệ thuật ra làm 2 loại chủ yếu: nghệ thuật thời gian và nghệ thuật không gian Loại hình nghệ thuật mà hình tượng của nó chiếm một khoảng không gian

và bất động là loại nghệ thuật không gian, đây là loại nghệ thuật chiếm lĩnh đối tượng

mà các phần của nó cái này nằm bên cạnh cái kia Loại nghệ thuật mà hình tượng của

nó diễn ra theo thứ tự trước sau và chiếm một khoảng thời gian nhất định là nghệ thuậtthời gian, nó chiếm lĩnh đối tượng mà bộ phận của nó lần lượt xuất hiện trong thờigian

2.2.3.1 Nghệ thuật thời gian

Ðứng về phương diện thời gian, người ta xếp văn chương vào loại nghệthuật thời gian Chính đặc trưng chất liệu ngôn từ đã qui định tính chất thời gian củahình tượng văn chương Lời nói là âm thanh được phát ra từng tiếng lần lượt theo thờigian Hình tượng văn chương có khả năng to lớn trong việc chiếm lĩnh đối tượng mà

Trang 10

các bộ phận của nó xuất hiện theo thời gian Văn chương chủ yếu tái hiện các quátrình đời sống, các sự vật và hiện tượng nối tiếp nhau trong thời gian.

Có một loạt các nghệ thuật thời gian, nhưng nghệ thuật thời gian - văn chương

là có tính đặc thù Tính đặc thù đó là ở chỗ, trong văn chương, thời gian được thể hiệnuyển chuyển, biến hóa khôn lường nhà văn có thể ép mỏng lại hoặc kéo căng thời gian

ra tùy theo yêu cầu nghệ thuật nhất định Thời gian trong văn chương không nhất thiếtđược thể hiện đúng như thật, trực tiếp như thời gian trên sâu khấu là trùng khít vớithời gian được miêu tả Trong văn chương thời gian nhiều khi chỉ là khoảng khắcnhưng được nhà văn đặc tả tỉ mỉ và có thể có cả lời bình phẩm kéo dài hàng trangsách

2.2.3.2 Nghệ thuật không gian

Người ta đã xếp văn chương vào hàng nghệ thuật thời gian, nhưng đứng ởgóc độ nào đó mà xét thì văn chương còn là nghệ thuật không gian - loại nghệ thuậtkhông gian đặc biệt Không gian nghệ thuật của văn chương là có tính đặc thù Tínhđặc thù này cũng là do đặc thù chất liệu xây dựng hình tượng - ngôn từ, quy định Cáclời nói trong tác phẩm văn chương không phải được diễn ra cùng một lúc mà theo trật

tự trước sau và ngay trong lời nói các từ cũng từ này tiếp sau từ kia Có lợi thế về mặtthời gian, nhưng quảng tính thời gian của lời nói đã là trở ngại cho văn chương khimiêu tả không gian

Không gian trong văn chương có thể rất hẹp cũng có thể rất rộng: một sựvật, một con người, một căn phòng v.v và có thể là một công trường, một chiếntrường Nói chung, không gian trong văn chương không bị một hạn chế nào

2.2.4 Tính vạn năng và tính phổ thông

2.2.4.1 Tính vạn năng

Mỗi từ mỗi câu của lời nói là yếu tố tư tưởng, mà tư tưởng là hình ảnh của thếgiới khách quan, lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng, văn chương có tínhvạn năng trong việc phản ánh đời sống Tính vạn năng đó, thể hiện:

Trang 11

- Chiều rộng của phạm vi hiện thực phản ánh: Không có giới hạn về phạm vihiện thực trong văn chương Bất cứ phạm vi hiện thực nào văn chương cũng có khảnăng với tới.

- Chiều sâu của sự phản ánh: Tính vạn năng còn được biểu hiện ở chỗ khảnăng phản ánh chiều sâu của hiện thực Bức tranh hình tượng văn chương thực sự làbức tranh của không gian 3 chiều: cao, sâu, rộng

- Phương diện vô hình, tâm tưởng: Tính vạn năng còn ở chỗ bất kỳ phươngdiện nào của hiện thực văn chương cũng có thể đạt tới Ðặc biệt là phương diện vôhình - tâm tưởng Những dòng suy tư của con người, một khó khăn của nghệ thuật tạohình, thì ở văn chương là một lợi thế Tính vạn năng của văn chương còn ở chỗ nhàvăn tự do xử lí mối quan hệ thời gian thực tế trong miêu tả, có khả năng miêu tả bất cứnội dung nào dưới hình thức nào

2.2.4.2 Tính phổ thông

Chất liệu xây dựng hình tượng văn chương ngôn từ - phương tiện giao tiếp của

xã hội đã làm cho văn chương có tính phổ thông

- Về mặt sáng tác: Ðể trở thành nghệ sĩ chuyên nghiệp thì thật là khó, nhưng

có thể nói hầu như người nào cũng có thể làm được vài câu thơ Hơn nữa, phương tiệnvật chất phục vụ cho sáng tác văn chương đơn giản nhất so với bất cứ nghệ thuật nào:giấy - viết và thậm chí có khi cũng không cần hai thứ đó nữa (Ví dụ văn chương dângian hay loại ứng tác)

- Về mặt truyền bá: Văn chương truyền bá rất dễ dàng nhưng lại thâm nhậpsâu vào bạn đọc Phương tiện duy nhất cần thiết cho sự truyền bá là ngôn từ - mà ngôn

từ thì ai cũng có Điều kiện và phương tiện cần thiết cho sự truyền bá cũng thật là đơngiản là những quyển sách hoặc thậm chí không có sách, và bất kỳ ở đâu, lúc nào Nókhác hẳn sân khấu, điện ảnh, âm nhạc là những nghệ thuật mà điều kiện và phươngtiện truyền bá có những đòi hỏi nhất định và nhiều khi rất phức tạp

- Về mặt tiếp nhận: Yêu cầu quan trọng nhất để tiếp nhận văn chương làngôn từ, mà ngôn từ thì ai cũng có Vì vậy, ai cũng có thể tiếp nhận được văn chương,

Trang 12

kể cả các em bé mới ra đời Mặt nữa, bạn đọc có thể lựa chọn những cung bậc và nhịp

độ tùy thích và thời gian tùy thích

3.1 Từ ngữ chân thực với lượng thông tin phong phú, đa dạng, chính xác

Nguyễn Tuân được biết đến là người rất am hiểu về nhiều lĩnh vực của cuộcsống Kiến thức mà ông có được là nhờ vào những tháng ngày đi tung hoành khắp mọimiền của đất nước và nhiều quốc gia trên thế giới Chính vì thế mà Nguyễn Tuân đãđóng góp cho nền văn học nhiều trang viết sắc sảo, đầy tính nghệ thuật, ca ngợi quêhương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và sảnxuất dựng xây quê hương Đọc tác phẩm của Nguyễn Tuân ta thấy hấp dẫn bởi nhữngtrang viết chân thực với lượng thông tin phong phú, đa dạng, chính xác Với nhiềunăm kinh nghiệm của một nhà báo, bác Tuân có vốn sống, vốn hiểu biết khá sâu rộng.Nguyễn Tuân có mặt ở nhiều nơi, quan tâm tới nhiều mặt của đời sống nhưng với ôngmột khi đã quan tâm tới cái gì thì tìm hiểu đến từng chi tiết nhỏ Chính vì vậy màphần lớn những tùy bút, ký,… của Nguyễn Tuân có lượng thông tin với độ chính xácrất cao Nhiều bài đã cung cấp cho người đọc những kiến thức đa dạng, tôn vinh nhiềuđặc trưng văn hóa dân tộc, giới thiệu cho bạn bè năm châu vẻ đẹp của người Việt ta

Những sáng tác của Nguyễn Tuân trong giai đoạn 1945 – 1975 rất phongphú về thể loại, song tùy bút vẫn là thể loại thành công nhất trong số đó Tùy bút

“Người lái đò sông Đà” được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp của Nguyễn Tuân.

Những trang viết trong tác phẩm này thay vì đưa người đọc bước vào thiên nhiên củavùng Tây Bắc đầy hấp dẫn, cảnh sắc Tây Bắc đẹp tuyệt vời với núi sông diễm lệ,những thung lũng lúa chín vàng, bao sắc màu rực rỡ nao lòng người thì nhà vănNguyễn Tuân lại dành trọn vẹn số trang và ngòi bút tinh tế của mình để cho ra đời tácphẩm tập trung miêu tả con sông Đà – con sông hội tụ tất cả những nét đặc trưng nhấtcủa Tây Bắc Dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn Nguyễn Tuân, sông Đà giờ đây khôngcòn là một dòng sông vô tri vô giác mà hiện lên như một sinh thể sống có tính cách

Trang 13

riêng, có cá tính nổi bật như chính con người chúng ta Hình ảnh con sông Đà đượcnhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượngđộc đáo đối với người đọc Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượngsông Đà bằng chất liệu ngôn ngữ và tình cảm phong phú Sông Đà hiện lên là dòngsông hung bạo, ngổ ngược, không chảy theo khuôn khổ Vẻ đẹp hiểm trở, nguy hiểm

của sông Đà “đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng giờ ngọ mới

có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này

bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia” Chỉ với vài chi tiết được tác giả phác họa, con sông Đà hiện lên với

nhiều phức tạp, khó khăn, nguy hiểm khôn lường Tác giả đã diễn tả cảm xúc khi đi

qua đoạn sông này “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mất vừa vụt tắt điện” Một lối so sánh độc đáo, đầy táo bạo

và cũng không kém phần tinh tế Sông Đà đẹp, nhưng chắc có lẽ chỉ có Nguyễn Tuânmới thấy hết được cái đẹp của sự hùng vĩ, hoang dại và nguy hiểm Khi Nguyễn Tuânmiêu tả tiếng thác réo, người đọc có cảm tưởng như đang đứng trước sông Đà hùng vĩ

chiêm ngưỡng vẻ đẹp khó cưỡng đó” “Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” Từ ngữ tạo cho

câu văn những giọng điệu dồn dập, gay cấn, đầy cảm xúc Một cảnh tưởng hùng vĩ,nguy hiểm vô cùng Một cách so sánh, tuyệt vời, hiếm thấy trong văn học

Đặc biệt hơn nữa, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân hình ảnh người lái đòvượt qua dòng chảy của sông Đà thì phải vượt qua ba trận chiến hiểm trở, táo bạo.Nhà văn của chúng ta cung cấp cho độc giả một lượng thông tin mà chắc có lẽ chỉ đến

với “Người lái đò sông Đà” người đọc mới biết cũng như được hòa vào cùng cảm giác

vượt thác với người lái đò như vậy Tác giả miêu tả rất kĩ ba trận vượt thác này Trận

thứ nhất “mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo Sóng

Trang 14

nước như thể quân liều mạng vào sát nách” Sang đến trận thứ hai “tăng thêm nhiều của tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bên phía bờ hữu ngạn” Và trận cuối cùng dường như ít cửa hơn nhưng lại quyết liệt và mãnh liệt nhất.

Sông Đà hiện lên không khác nào một con thủy quái đang đòi nuốt chửng người lái đò

và chiếc thuyền bất cứ lúc nào có thể Con sóng chính là “kẻ thù số một” của người lái

đò, với tất cả đặc tính nham hiểm và thâm độc nhất Chưa dừng lại ở đó, Nguyễn Tuân

còn khiến người đọc bất ngờ hơn nữa khi miêu tả sự hùng vĩ, hung dữ đó “quãng mặt ghềnh hát loong, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuyết bất cứ người lái đò nào tóm được qua quãng ấy” Sông Đà hiện lên như một kẻ bất chấp hết, có thể lấy đi tính

mạng của những ai vô tình đi qua đây Sự hiểu biết sâu sắc cặn kẽ của Nguyễn Tuân

về sự vật, hiện tượng mà cụ thể ở đây là dòng sông Đà cũng như hình ảnh người lái đò

đã đưa lại cho người đọc những trang viết đầy hấp dẫn thú vị

Nhắc tới tài năng trong nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Tuân thì sẽ không

thể nào quên được tùy bút “Tờ hoa” Nhắm nháp từng chữ, từng câu trong “Tờ hoa” ta

lâng lâng bởi một niềm khoái cảm, trong niềm kính phục vô hạn, thấy lòng mình nhưcũng bừng nở từng đợt sóng hoa nhập cùng hồn văn Nguyễn Tuân Dòng cảm xúcxuyên suốt tùy bút này là bắt đầu từ sững sờ cho tới ngưỡng mộ trước vốn ngôn từquảng bác, sức liên tưởng, tưởng tượng lạ lùng, phi thường, tài viết cứ như chơi chơiđùa đùa mà thực ra là một sự đầu tư công phu, đánh đổi bằng cả những vốn kiến thứcchắt lọc được trong cuộc đời Nguyễn Tuân Thực sự so với số lượng của Tờ hoa thìquá chênh lệch với lượng kiến thức mà Nguyễn Tuân đã cung cấp cho ta Chỉ với gầnnăm trang sách mà nhà nghệ sỹ ấy đã làm thoả mãn óc tò mò của người ham hiểu biếtbằng những con số chính xác về quá trình ong tìm hoa, làm mật Đấy là tri thức vềloài ong kéo mật Để làm nên giọt đem thơm thảo vào sự sống, ong kia đã bay 8.000cây số, 2.700.000 chuyến bay từ tổ đến khắp nơi có hoa quanh vùng Và để làm rađược nửa lít mật, ong phải hút chất ngọt tỏa hương của hơn 5 vạn loài hoa Đoạn viết

về con trai hoài thai ngọc từ hạt cát biển vô tình lọt qua cửa trai “lấy máu lấy rãi mình

Trang 15

ra mà bao phủ hạt đau, hạt xót” ta bỗng có cảm giác như ba nhà sinh vật, điêu khắc,văn học cùng hội nhập tuyệt đẹp nơi tác giả Chắc không ít nghệ sỹ ngôn từ phải ước

ao, thèm muốn có được vốn từ đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa cực kỳ phong phúcủa Nguyễn Tuân để khi hứng lên, khi cần thiết sẽ sẵn lòng tung ra, để cùng hòa vớithiên nhiên, với tạo hóa Hạt cát, hạt bụi biển, hạt đau, hạt bụi bặm nơi rốn bể; hạt đau,hạt xót, hạt cát khối tình con; hạt ngọc tròn trặn ánh ngời;… hiện lên giờ đây mangmột hương vị đặc sắc đến lạ lùng

Nguyễn Tuân thể hiện nỗi đau quặn thắt và niềm vui mỏi mệt, thỏa mãn củacơn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, tạo ra cái đẹp cho đời Huy động biết bao nhiêuvốn từ ngữ để lột tả cho hết cái màu xanh của hạt cát, hạt ngọc nơi lòng trai Hayngười đọc cũng dễ dàng có cảm giác được chìm sâu vào ký ức để khảo cứu về các loạiđồng hồ đông tây kim cổ cùng tác giả vô cùng thú vị biết bao Các loại đồng hồhương, đồng hồ hương vòng ngự dụng đeo ngọc đời Lý được tái hiện bằng một câuvăn dài, trang trọng, đài cát, rất phù hợp với lối sinh hoạt cung đình của các vị vua

chúa phương Đông “bằng đồng thánh thót những giọt rồng đều đặn” Hương vòng

ngự dụng của vua nhà Lý xưa đọc kinh Phật có hạt ngọc đính vào từng vòng hương.Lửa hương cháy đến cữ ấy thì hạt ngọc lại đứt, rơi xuống và nghe ngọc gieo mình lanhlảnh vào một cái bình hồ kim ngân, người đọc biết là đêm đã vợi đi một canh nữa.Nhưng không phải Nguyễn Tuân chỉ đơn giản là đi ca ngợi những loại đồng hồ đượchiện đại hóa mà dụng ý nhà văn muốn nhắn nhủ người đọc hôm nay chớ nhanh quênnhững gì cha ông từng sáng tạo, đừng vội loá mắt, ù tai trước những kỹ thuật hiện đại.Thời gian tự nhiên, vật lý, lịch sử … đều chỉ có 1 chiều Thuận theo tự nhiên và lịch

sử thì trước sau cũng sẽ thành công Phong phú, uyên bác và tài hoa nghệ sỹ là phẩm

chất của thiên tùy bút “Tờ hoa” Chỉ “Tờ hoa” người đọc mới biết được những kiến thức quá đỗi đắt giá ấy: “Tất cả, tất cả,… tôi ví như những cánh hoa, nụ hoa, đài hoa, đoá hoa, tràng hoa,… kết thành những tờ hoa trắng và trong, tinh và khiết, độc đáo, tài hoa nhất mực, ngời ánh lên trong tùy bút của Nguyễn Tuân, thứ tùy bút không bao

Trang 16

giờ có phiên bản thứ 21”3 Và nếu là một người chẳng biết gì về ngọc trai, về mật ongthì qua những trang viết của Nguyễn Tuân bạn cũng bồi đắp cho mình phần nào lượngkiến thức không chỉ chính xác mà còn đầy hình ảnh, vừa đúng lại vừa đẹp, tràn đầyxúc cảm.

Không ngại để nói hiểu biết của Nguyễn Tuân thuộc dạng khan hiếm trongvăn đàn văn học Việt Nam Sở hữu vốn kiến thức dày dặn, đào sâu cặn kẽ những khíacạnh, chi tiết nhỏ nhất mà hầu như không ai nhận ra được cùng kho tàng ngôn từ đặcsắc thì giờ đây và tin rằng sau này cũng vậy, Nguyễn Tuân mãi là nhà văn xứng đáng

để gọi là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam

3.2 Giàu chất trữ tình thơ mộng

Từ ngữ giàu chất trữ tình, thơ mộng là một trong những nghệ thuật ngôn từ cơbản được Nguyễn Tuân sử dụng trong suốt quá trình sáng tác với đủ các sắc diện.Chất trữ tình trong từ ngữ của ông sau cách mạng là cái thiết tha với đất nước, với

nhân dân và cuộc kháng chiến Trong “Đường vui” và “Tình chiến dịch” ta cũng có

thể nhận thấy rõ sự chuyển biến này Ngôn ngữ trữ tình trong văn ông vừa chân tìnhvừa ấm áp, nó ánh lên tình yêu đất nước, yêu cuộc sống thiết tha và niềm lạc quan tintưởng vào tương lai tốt đẹp Đặc biệt là trong những câu văn tả cảnh, Nguyễn Tuân đã

sử dụng những từ ngữ trữ tình và hết sức thơ mộng, chuyển tải chất tình đằm sâu củanhà văn say sưa với 83 cảnh và người trên những con đường kháng chiến, dù có thể

đó không phải là cảnh vui mà là cảnh hoang vắng u buồn “Đồng lúa chín tắt tiếng đạn, lại càng thăm thẳm hơn Cái mênh mông vàng nẫu của đồng lúa chín không bóng dáng lom khom của dân cày, trông còn cô quạnh bằng mấy mươi cái tịch liêu xanh lè của rừng”

Từ xưa đến nay thiên nhiên luôn là một nguồn cảm hứng vô tận với các nhàthơ, nhà văn làm đề tài sáng tác Nếu như những thi nhân, văn nhân trung đại hướngtâm hồn mình với mây, hoa, tuyết, nguyệt, cầm, kì, thi, tửu - những thú vui tao nhã ở

3 Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập II, NXB Văn học, 1982.

Trang 17

đời thì những tác giả hiện đại lại hướng ngòi bút của mình về cảnh sắc thiên nhiên củađất nước, của con người trong thời đại đổi mới và Nguyễn Tuân cũng không ngoại lệ.

Có thể nói, thiên nhiên hùng vĩ là một đề tài không quá mới lạ, trong đó viết về đề tàisông nước đã có nhiều bài thơ, bài văn rất thành công Ta đã được chiêm ngưỡng mộtdòng sông mênh mông, hoang vắng, buồn man mác thấm đượm nỗi nhớ nhà trong

“Tràng giang” của Huy Cận hay một khung cảnh đìu hiu, cách biệt của thiên nhiên sông nước Kinh Bắc trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm Nếu những

bài thơ trên chỉ là điều kiện, chỉ là cái cớ để các nhà thơ bày tỏ lòng mình thì đến với

“Người lái đò sông Đà” người đọc mới cảm nhận được rõ nét về một tác phẩm viết về dòng sông thực sự Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân hình ảnh dòng sông “độc bắc lưu” hiện lên với một vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng nhưng cũng không kém phần trữ tình,

thơ mộng

Con Sông Đà hùng vĩ dài trên năm trăm cây số, ở nơi thượng nguồn nómang một vẻ đẹp hào hùng và thách thức, vậy mà vượt qua đoạn thượng nguồn dòngsông hoàn toàn mang bộ mặt khác: thơ mộng, trữ tình, thanh bình, yên ả; nó giống

như một cô thiếu nữ xinh đẹp trút bỏ cái vẻ “đỏng đảnh” để trở về với vẻ đẹp dịu

dàng, lãng mạn của mình- một nét tính khác của Sông Đà đươc Nguyễn Tuân dùngngòi bút tài hoa để miêu tả mang đậm chất trữ tình Lúc thì nhà văn nhìn con sông từtrên tàu bay, từ trên cao, có lúc lại nhìn qua đám mây mùa xuân, khi nhìn qua đámmây mùa thu, có khi tác giả cảm nhận dòng sông bằng nỗi nhớ của cố nhân, gặp thìvui mừng, xa thì nhớ nhung Cũng có khi bằng đôi mắt lịch sử, của hồi ức, của quákhứ, và ở điểm nhìn, con Sông Đà lại có một vẻ đẹp khác nhau Con sông đầy ghềnhthác tung bọt trắng xóa nhìn từ trên xuống ngoằng ngoèo như một cái dây thừng Rồi

có lúc nó lại giống như một thiếu nữ mà có lẽ nói đúng hơn là một tiên nữ giáng trần

khiến cho người ta phải mê mẩn: “Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

Ngày đăng: 12/01/2018, 19:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuân (11/8/2016), https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB Link
1. Phương Lựu (chủ biên), Lý luận văn học, NXB Đại học Sư phạm, 2002 Khác
2. Nhiều tác giả, 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng Tháng 8, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
3. Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập II, NXB Văn học, 1982 Khác
4. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Lịch sử văn học Việt Nam, tập III, NXB Đại học Sư phạm, 2002. Tài liệu internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w