NHẬN ĐỊNH LUẬT HÌNH SỰ Câu 1: Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương Các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản. Nhận định trên là sai. Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương Các tội xâm phạm sở hữu không chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn có thể là một số hành vi khác như: Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141 BLHS), hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 142 BLHS), hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS), hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 BLHS)… Câu 3: Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Nhận định trên là đúng. Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 thì tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Tuy nhiên, các tài sản trên chỉ trở thành đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định chứ không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Một số trường hợp tài sản bị chiếm đoạt nhưng không là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu như: Vật: Những vật có sẵn trong tự nhiên Vật có tính năng đặc biệt Vật không có giá trị Vật đã bị chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu Tiền giả Giấy tờ có giá mà trên đó ghi tên chủ sở hữu Quyền tài sản. Câu 5: Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành tội Cướp tài sản (Điều 133 BLHS) Nhận định trên là sai. Không phải mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành tội Cướp tài sản mà hành vi đe dọa dùng vũ lực đó phải đe dọa xảy ra “ngay tức khắc”. Nếu chỉ là hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS) hoặc Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS). Câu 13: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người. Nhận định trên là sai. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong tội trộm cắp tài sản chỉ cần là lén lút với người quản lý tài sản. Thông thường, người phạm tội có tâm lý muốn che giấu hành vi phạm tội của mình đối với người không có trách nhiệm quản lý tài sản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội cong khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ. Câu 14: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) Nhận định trên là sai Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối còn là hành vi cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 104 BLHS) Câu 15: Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS) Nhận định trên là sai. Không phải mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà chỉ những hành vi không trả lại mà dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến tình trạng không có khả năng chi trả mới phạm tội tại Điều 140 BLHS Câu 17: Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữa trái phép tài sản (Điều 141 BLHS) Nhận định trên là sai Hành vi cấu thành Tội chiếm giữa trái phép tài sản phải là cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm khi có yêu cầu trả lại hoặc giao nộp lại tài sản của người có quyền. Câu 40: Thẩm phán, Hội thẩm có thể là chủ thể của Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo Điều 293 BLHS Nhận định trên SAI Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt, phải là người có thẩm quyền trong việc thực hiện các hành vi tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự. Các chủ thể đó phải là các chủ thể được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự là: Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra vụ án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó thì Hội thẩm và thẩm phán không có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự nên Thẩm phán và Hội thẩm không là chủ thể của Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo Điều 293 BLHS. Câu 42: Mọi hành vi ra quyết định mà biết rõ là trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều cấu thành Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296 BLHS). Nhận định trên SAI Chủ thể của Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296) là người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Nếu một người không có thẩm quyền mà ra quyết định biết rõ là trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì quyết định đó tuy trái pháp luật nhưng người ra quyết định đó không phạm Tội ra quyết định trái pháp luật, mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282). Câu 45: Người bị hại có thể là chủ thể của Tội khai báo gian dối (Điều 307 BLHS) Nhận định trên SAI Chủ thể của Tội khai báo gian dối tại Điều 307 chỉ giới hạn bởi ba loại người tham gia tố tụng là người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Các đương sự khác trong tố tụng nếu có hành vi khai báo gian dối không bị xử lý về hình sự. Câu 47: Mọi trường hợp biết người khác phạm tội, tuy không hứa hẹn trước mà giúp họ lẩn trốn đều cấu thành Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS). Nhận định SAI. Không phải hành vi che giấu tội phạm nào cũng cấu thành tội che giấu tội phạm. Điều kiện đặt ra để hành vi che giấu tội phạm cấu thành tội phạm là không có hứa hẹn trước mà che giấu tội phạm thuộc một trong những tội phạm được nêu tại Điều 313 BLHS như Tội giết người (Điều 93), Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội sản xuất trái phép chất ma túy(Điều 193),… Như vậy, trường hợp biết người khác phạm tội, tuy không hứa hẹn trước mà giúp họ lẩn trốn chỉ cấu thành tội che giấu tội phạm khi che giấu tội phạm thuộc một trong những tội phạm được nêu tại Điều 313.
Trang 1NHẬN ĐỊNH LUẬT HÌNH SỰ
Câu 1: Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương Các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.
Nhận định trên là sai
Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương Các tội xâm phạm sở hữu không chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn có thể là một số hành vi khác như: Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141 BLHS), hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 142 BLHS), hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS), hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 BLHS)…
Câu 3: Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.
Nhận định trên là đúng
Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 thì tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản Tuy nhiên, các tài sản trên chỉ trở thành đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định chứ không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Một số trường hợp tài sản bị chiếm đoạt nhưng không là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu như:
Vật:
Những vật có sẵn trong tự nhiên
Vật có tính năng đặc biệt
Vật không có giá trị
Vật đã bị chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu
Tiền giả
Giấy tờ có giá mà trên đó ghi tên chủ sở hữu
Quyền tài sản
Câu 5: Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành tội Cướp tài sản (Điều 133 BLHS)
Nhận định trên là sai
Trang 2Không phải mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành tội Cướp tài sản mà hành vi đe dọa dùng vũ lực đó phải đe dọa xảy ra “ngay tức khắc” Nếu chỉ là hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể cấu thành Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS) hoặc Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS)
Câu 13: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.
Nhận định trên là sai
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong tội trộm cắp tài sản chỉ cần là lén lút với người quản lý tài sản
Thông thường, người phạm tội có tâm lý muốn che giấu hành vi phạm tội của mình đối với người không có trách nhiệm quản lý tài sản Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội cong khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ
-Câu 14: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS)
Nhận định trên là sai
Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối còn là hành vi cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 104 BLHS)
Câu 15: Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS)
Nhận định trên là sai
Không phải mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà chỉ những hành vi không trả lại mà dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến tình trạng không có khả năng chi trả mới phạm tội tại Điều 140 BLHS
Trang 3Câu 17: Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữa trái phép tài sản (Điều
141 BLHS)
Nhận định trên là sai
Hành vi cấu thành Tội chiếm giữa trái phép tài sản phải là cố tình không trả lại cho chủ
sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm khi có yêu cầu trả lại hoặc giao nộp lại tài sản của người có quyền
Câu 40: Thẩm phán, Hội thẩm có thể là chủ thể của Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo Điều 293 BLHS
Nhận định trên SAI
Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt, phải là người có thẩm quyền trong việc thực hiện các hành vi tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự Các chủ thể đó phải là các chủ thể được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự là: Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra vụ án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Theo đó thì Hội thẩm và thẩm phán không có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự nên Thẩm phán và Hội thẩm không là chủ thể của Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo Điều 293 BLHS
Câu 42: Mọi hành vi ra quyết định mà biết rõ là trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều cấu thành Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296 BLHS).
Nhận định trên SAI
Chủ thể của Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296) là người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Nếu một người không có thẩm quyền
mà ra quyết định biết rõ là trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì quyết định đó tuy trái pháp luật nhưng người ra quyết định đó không phạm Tội ra quyết định trái pháp luật, mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282)
Câu 45: Người bị hại có thể là chủ thể của Tội khai báo gian dối (Điều 307 BLHS)
Trang 4Nhận định trên SAI
Chủ thể của Tội khai báo gian dối tại Điều 307 chỉ giới hạn bởi ba loại người tham gia
tố tụng là người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Các đương sự khác trong tố tụng nếu có hành vi khai báo gian dối không bị xử lý về hình sự
Câu 47: Mọi trường hợp biết người khác phạm tội, tuy không hứa hẹn trước mà giúp họ lẩn trốn đều cấu thành Tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS).
Nhận định SAI
Không phải hành vi che giấu tội phạm nào cũng cấu thành tội che giấu tội phạm Điều kiện đặt ra để hành vi che giấu tội phạm cấu thành tội phạm là không có hứa hẹn trước
mà che giấu tội phạm thuộc một trong những tội phạm được nêu tại Điều 313 BLHS như Tội giết người (Điều 93), Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội sản xuất trái phép chất
ma túy(Điều 193),…
Như vậy, trường hợp biết người khác phạm tội, tuy không hứa hẹn trước mà giúp họ lẩn trốn chỉ cấu thành tội che giấu tội phạm khi che giấu tội phạm thuộc một trong những tội phạm được nêu tại Điều 313