1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân huyện yên định, tỉnh thanh hóa

87 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi THQCT được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014, cụ thể: “THQCT là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với ng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VIẾT SƠN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VIẾT SƠN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN MINH SỬ

HÀ NỘI, 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Áp dụng pháp luật về thực

hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”, bản thân tôi đã nhận được sự

nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo của các thầy, cô giáo là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, cùng các Giảng viên, cán bộ quản lý thuộc Học viện Khoa học

xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Với lòng biết ơn sâu sắc, tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn các quý thầy, cô giáo Học viện Khoa học xã hội và thầy Nguyễn Minh Sử, Tiến sĩ, Phó Giám đốc Học viện Tòa án - Người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi về kiến thức, tài liệu và phương pháp để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia và hoàn thành chương trình này

Cảm ơn gia đình cùng các đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và học tập

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài này, tuy nhiên đề tài nghiên cứu của tôi vẫn còn có những hạn chế nhất định, vì vậy mong nhận được ý kiến đóng góp và chỉ dẫn của các Nhà khoa học, quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đinh Viết Sơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và chưa từng được công bố tại các công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đinh Viết Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn 6

7 Kết cấu luận văn 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố 7

1.2 Chủ thể áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố 15

1.3 Nội dung hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân 17

1.4 Những yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án xâm phạm sở hữu 24

Tiểu kết Chương 1 31

Chương 2: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA 32

2.1 Đặc điểm tình hình của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa 32

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động giai đoạn 2016-2020 35

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa 35

Bảng 2.2 Kết quả khởi tố vụ án xâm phạm sở hữu giai đoạn 2016-2020 36

Trang 6

Bảng 2.3 Kết quả áp dụng pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối

với hành vi xâm phạm sở hữu 41

Bảng 2.4 Kết quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử với các tội xâm phạm sở hữu 42

Bảng 2.5 Số vụ án bị kháng nghị giai đoạn 2016-2020 43

2.3 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 44

Tiểu kết Chương 2 56

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA 58

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các tội phạm và với các tội xâm phạm sở hữu 58

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa 61

Tiểu kết Chương 3 73

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, vai trò công tố của Kiểm sát viên trong phiên tòa là không thể thay thế Việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án

là quyền duy nhất được trao cho một cơ quan là Viện kiểm sát nhân dân Hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát là một dạng thực hành quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm

Các tội xâm phạm sở hữu là một trong những nhóm tội có tính chất chiếm đoạt, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, tổ chức trong xã hội, mà còn xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần của người dân Việc thất thoát, mất mát, hỏng hóc về tài sản do hành vi xâm hại của người phạm tội còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, đời sống của người dân, gây mất an ninh trật tự xã hội Việc truy cứu trách nhiệm hình sự với các tội xâm phạm sở hữu chính là nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản của nhân dân, giữ vững kỷ cương pháp luật, an ninh trật tự

Yên Định là một huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa, nằm tại vùng tiếp giáp giữa đồng bằng và trung du, miền núi của tỉnh, là địa bàn giao lưu văn hóa, kinh

tế giữa các huyện miền núi, trung du tỉnh Thanh Hóa Trong những năm qua, huyện có tốc độ phát triển mạnh mẽ, giao thông thuận lợi, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 9-10%, là địa bàn được đánh giá có sự tăng trưởng cao và đều đặn Bên cạnh những kết quả đạt được, huyện cũng phải đối mặt với mặt trái của

sự phát triển là một số loại tội phạm và tệ nạn xã hội tăng cao, trong đó có các tội xâm phạm sở hữu

Trong những năm vừa qua, công tác áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định đã đạt được những kết quả nhất định Việc áp dụng nghiêm những quy định của pháp luật về THQCT đã góp phần hạn chế tình trạng truy tố oan sai, đã phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm tội Từ đó

Trang 9

2

đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy công tác áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định vẫn còn có những hạn chế như: Kiểm sát viên chưa bám sát tiến độ và kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra; ban hành một số bản yêu cầu điều tra chưa đảm bảo về hình thức và nội dung; việc áp dụng các quy định của pháp luật khi truy tố còn bộc lộ nhiều hạn chế; một số vụ án Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tài liệu tham gia phiên tòa xét xử chưa tốt, nên chất lượng tranh tụng chưa cao Thực tế này đòi hỏi VKSND huyện Yên Định cần cải cách tổ chức và nâng cao hơn nữa chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động THQCT nói chung và trong THQCT đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, nhằm đánh giá việc áp dụng pháp luật về THQCT với vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND huyện Yên Định, từ đó đề xuất được những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ

án xâm phạm sở hữu tại đây, học viên đã lựa chọn đề tài “Áp dụng pháp luật về

thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa” để làm luận văn Thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Với vai trò quan trọng của THQCT trong hoạt động của VKSND, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập đến vấn đề này, có thể kể đến là:

* Về luận án, luận văn:

Luận án của tác giả Võ Thành Đủ (2018) về “Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay”, Khoa Luật, Đại học quốc gia

Hà Nội [11] Luận án của tác giả Lê Tuấn Phong (2017) về “Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [24] Luận án của tác giả Trần Văn Quý (2017) về “Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [29] Luận án của tác giả Nguyễn Hoài Nam (2018) về “Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta hiện nay”, Học viện Khoa học xã hội

Trang 10

sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, Học viện Khoa học xã hội [26] Luận văn của tác giả Nguyễn Chí Công (2018) về “Chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Luật TTHS Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [7] Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Phan Thị Sa (2018)

về “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”, Học viện Khoa học xã hội [35] Các luận văn này đã đi sâu nghiên cứu việc thực hành quyền công tố từ thực tiễn một

số địa bàn nhất định

* Sách và giáo trình:

Sách của tác giả Nguyễn Hải Phong (2013) về “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, NXB Tư pháp [23]

Sách của tác giả Lê Hữu Thể (2016) về “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật [41]

Sách của tác giả Trần Văn Luyện và cộng sự (2018) về “Bình luận khoa học BLHS năm 2015”, NXB Công an nhân dân, trong đó có những bình luận về tội xâm phạm sở hữu [19]

* Các bài báo:

Bài viết của tác giả Trần Đình Nhã (2014) về “Công tố và thực hành quyền công tố trong TTHS, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21 (277) tháng

Trang 11

4

11/2014 [22] Bài viết của tác giả Lê Mạnh Hùng (2020) về “Một số hạn chế, bất cập trong quy định về điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa án số 8/2020 [17]

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, vấn đề THQCT của Viện kiểm sát đã được tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau, mà nhiều nhất chính là dưới giác độ pháp luật TTHS và pháp luật hình sự Các công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn THQCT của VKSND trên nhiều địa bàn trên cả nước Đây là những kết quả nghiên cứu quý giá mà học viên sẽ học hỏi, kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tuy nhiên, qua đó tác giả cũng nhận thấy, vấn đề nghiên cứu về thực trạng

áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND dưới giác độ Luật Hành chính và Luật Hiến pháp chưa có công trình tiêu biểu nào Một số công trình nghiên cứu về THQCT tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ yếu xem xét dưới giác

độ pháp luật hình sự, hoặc dưới giác độ cải cách tư pháp chứ chưa nghiên cứu vấn

đề áp dụng pháp luật về THQCT của Viện kiểm sát Nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa cũng hoàn toàn chưa có công trình nghiên cứu này Chính vì vậy, đề tài mà học viên lựa chọn đảm bảo được tính khoa học, tính mới và tính cần thiết cả về lý luận và thực tiễn của một đề tài luận văn thạc sĩ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp

luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định đối với vụ án xâm phạm sở hữu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND

- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2016 - 2020

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới

Trang 12

5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT đối

với vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

- Về thời gian: Số liệu được sử dụng nghiên cứu trong luận văn từ kết quả thống kê hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định trong giai đoạn

2016 đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận được sử dụng để viết luận văn là phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại Chương 1 của luận văn nhằm nghiên cứu các tài liệu sẵn có về cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật, quyền công tố và THQCT của VKSND nhằm làm rõ những khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật về THQCT của Viện kiểm sát

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu trường hợp điển hình được

sử dụng chủ yếu trong Chương 2 của luận văn để nghiên cứu, bóc tách số liệu liên quan đến THQCT của VKSND huyện Yên Định trong giai đoạn 2016-2020 Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu, chọn lọc ra những hồ sơ vụ án xâm phạm sở hữu tiêu biểu để phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định

- Phương pháp lịch sử cũng được sử dụng tại Chương 1 của luận văn để nêu ra những quy định về THQCT trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan

- Phương pháp tổng kết, đánh giá được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 của luận văn để đánh giá việc áp dụng pháp luật về THQCT đối với

Trang 13

6

vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại đây trong thời gian tới

6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

- Luận văn tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về

áp dụng pháp luật trong THQCT của VKSND và trong THQCT đối với các vụ

án xâm phạm sở hữu

- Nhận thức và đánh giá được những kết quả, hạn chế còn tồn tại trong việc áp dụng pháp luật về THQCT với các vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

- Ý nghĩa: Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu, học viên, các cơ quan có thẩm quyền trong việc nghiên cứu, học tập cũng như hoạt động xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến THQCT

Luận văn cũng có giá trị tư liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành Kiểm sát, cán bộ làm việc tại VKSND huyện Yên Định trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề áp dụng pháp luật về THQCT đối với các vụ án xâm phạm sở hữu

7 Kết cấu luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2: Áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn VKDND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Trang 14

7

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

a) Khái niệm thực hành quyền công tố

“Công tố” là một từ ghép Hán - Việt, được cấu tạo bằng hai từ đơn là

“công” và “tố” Theo Từ điển tiếng việt, “tố” có nghĩa là nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác, còn “công” có nghĩa là thuộc về nhà nước chung cho mọi người; “công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội

kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [37 tr.200, tr.204, tr.973] Như vậy, “Công tố” theo Từ điển tiếng Việt là một khái niệm bao gồm bốn nội dung: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu trước Tòa án Các chủ thể liên quan đến hoạt động công tố bao gồm chủ thể thực hiện việc buộc tội là Nhà nước, đối tượng bị Nhà nước buộc tội là các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật

Xung quanh khái niệm quyền công tố có khá nhiều quan điểm khác nhau, như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tất cả các hoạt động của VKS, bao gồm cả

công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS đều là THQCT [6, tr.8]

Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho

VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa [50, tr.24]

Quan điểm thứ ba cho rằng: Quyền công tố là quyền đại diện cho nhà

nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật [48, tr.84-87]

Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền nhà nước giao cho

các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội [50, tr.380]

Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là quyền của nhà nước được

nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt Nam là cơ quan VKS) thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan công tố

có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội

Trang 15

8

phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ

sự buộc tội trước phiên tòa [41, tr.40]

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ năm cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa Quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật đã gắn liền, đó là lĩnh vực tố tụng hình sự Do vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực

tố tụng hình sự mà không có trong các lĩnh vực khác

Từ sự phân tích trên có thể hiểu “quyền công tố” là quyền được Nhà nước

giao cho VKSND, nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị [41, tr.40] Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền truy tố đưa vụ án ra toà

án để xét xử và thực hiện việc buộc tội đó gọi là cơ quan THQCT Việc quy định cơ quan THQCT là không giống nhau ở các nước, phụ thuộc vào chế độ chính trị của mỗi nước Ở nước ta, Nhà nước giao cho VKSND thực hiện chức năng này cho nên chỉ có VKSND mới có chức năng THQCT mà không có cơ quan nào có được

Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận sự ra đời của một cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là VKS Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định: “VKSND tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Các VKSND địa phương

và VKS quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định” [31] Sự ra đời của mô hình VKS thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước ta là một điểm tiến

bộ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất, là cơ sở cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

VKSND là cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền đưa người phạm tội ra truy tố trước pháp luật, thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội Hoạt động THQCT của VKSND nhằm thực hiện việc

Trang 16

9

buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội Mục đích của hoạt động THQCT

là phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh mọi tội phạm và người phạm tội, không kết tội oan người vô tội, không để lọt tội phạm

và người phạm tội, qua đó bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Một cách ngắn gọn, Viện KSND thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân [40] Phạm vi THQCT được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014, cụ thể: “THQCT là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [33] Theo quy định này, VKSND thực hành quyền công tố trong những lĩnh vực sau: THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; trong giai đoạn truy tố tội phạm; trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm và THQCT trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự

Nội dung thực hành quyền công tố bao gồm các hoạt động cụ thể sau:

- Yêu cầu khởi tố, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật TTHS quy định;

- Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của Cơ quan điều tra;

- Đề ra yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra

để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;

- Truy tố bị can ra trước Tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội

- Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận tại phiên tòa

sơ thẩm; nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi

và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm

Từ sự phân tích trên, tác giả đưa khái niệm về thực hành quyền công tố

như sau: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng

Trang 17

10

pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa

b) Khái niệm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể [47]

Áp dụng pháp luật được thực hiện khi xả ra các sự kiện sau:

- Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyền

và nghĩa vụ mà tự họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan của tổ chức xã hội) có thẩm quyền giải quyết

- Khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước

- Khi cần áp dụng chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật

- Khi nhà nước thấy cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật hoặc để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của sự kiện thực

tế có ý nghĩa pháp lí như xác nhận di chúc, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, hợp đồng viết tay, chữ kí của người có thẩm quyền

Áp dụng pháp luật về THQCT đối với các vụ án hình sự là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung Áp dụng pháp luật về THQCT thuộc trường hợp áp dụng pháp luật: Khi Nhà nước thấy cần thiết phải truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cần phải áp dụng chế tài pháp luật đối với người phạm tội

Cơ sở phát sinh hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND là việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, pháp luật TTHS vào thực tiễn vụ việc cụ thể nhằm truy tố một người ra trước pháp luật, buộc người đó phải chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi vi phạm pháp luật hình sự

Dưới góc độ lý luận chung về áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào từng trường hợp cụ thể đối với những cá nhân, đơn vị, tổ chức cụ thể

Áp dụng pháp luật về THQCT với các vụ án hình sự có thể coi là hoạt động

Trang 18

11

mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật TTHS nói riêng đối với các chủ thể trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự

Nội dung của hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT là hoạt động thực hiện pháp luật về quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân; hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, các quyết định tố tụng khác, các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật trong việc giải quyết thông tin về tội phạm, khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật; quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp VKSND phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội

Từ những phân tích nêu trên tác giả đưa ra khái niệm áp dụng pháp luật

về thực hành quyền công tố như sau: Áp dụng pháp luật về thực hành quyền

công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên vận dụng các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKSND để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét

xử theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự

1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

Một là, áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố thể hiện tính quyền

Trang 19

12

tố tụng không rườm rà và phức tạp Thậm chí Luật La Mã còn cho phép cá nhân

có quyền tự xử lý hành vi vi phạm pháp luật bằng sức mạnh bạo lực Việc buộc tội và xét xử nhiều khi không rõ ràng thể hiện ở việc ông vua chuyên chế, hay các quan chấp chính thời La Mã vừa làm ra luật, vừa buộc tội, vừa xét xử Khi nhà nước đã dần trở nên văn minh hơn, tính xã hội của nhà nước bộc lộ rõ; việc hình, việc hộ đã được minh định, nhà nước đã dành cho mình quyền đại diện nhân danh xã hội buộc tội, đưa một người nào đó ra tòa để xét xử với lý do họ

đã vi phạm luật hình sự Và việc buộc tội này do một cơ quan chuyên trách đảm nhiệm Từ chỗ chỉ là một công việc của tư nhân tiến tới là công việc nhà nước cho thấy quá trình phát triển của sự buộc tội từ chỗ là một quyền tự nhiên trở thành một quyền lực nhà nước thông qua khế ước xã hội hoặc sản phẩm đấu tranh giai cấp đều đúng

Tuy nhiên, đưa một người nào đó ra tòa án để xét xử theo hình luật không phải do nhà nước độc quyền Cho đến ngày nay pháp luật TTHS một số nước trong đó có Việt Nam vẫn cho phép tư nhân thực hiện quyền này gọi là quyền tư

tố Ở Việt nam có quy định trong Bộ luật TTHS về trường hợp vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bên bị hại và bên bị hại trình bày lời buộc tội tại phiên tòa Nhưng việc có đưa người bị buộc tội ra trước tòa hay không và thực hiện các công đoạn của quá trình buộc tội vẫn do cơ quan công tố đóng vai trò chính

Quyền công tố trước hết là một bộ phận của quyền lực nhà nước, được nhà nước trao cho một cơ quan cụ thể mà ở đây chính là VKSND thực hiện việc

áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS trong truy cứu trách nhiệm pháp lý một cá nhân, tổ chức Hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT cũng chỉ thuộc về VKSND, thể hiện ý chí của nhà nước ban hành các mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc với cá nhân, tổ chức phạm tội và các quyết định của VKSND được bảo đảm thực hiện bởi cưỡng chế nhà nước Việc ban hành các quyết định, văn bản trong quá trình THQCT của VKSND cũng phải tuân theo những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định bởi pháp luật TTHS Đây là những đặc điểm thể hiện tính quyền lực nhà nước rất rõ trong việc thực hành quyền công tố của VKSND

Hai là, áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố là hoạt động đưa

các quy phạm pháp luật hiện hành vào những vụ án hình sự cụ thể

Trang 20

13

Nội dung THQCT là việc VKSND sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập để truy cứu TNHS đối với người phạm tội nhằm bảo đảm việc truy

tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ

án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật [1] Theo đó, nội dung THQCT bao gồm: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định truy tố bị can; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Toàn bộ phạm vi (giới hạn) của quyền công tố trong luật TTHS diễn ra trong ba giai đoạn tương ứng với các hoạt động chức năng mà VKS thực hiện là: (i) ở giai đoạn khởi tố, điều tra - VKS kiểm tra tính hợp pháp của việc khởi tố, điều tra; (ii) ở giai đoạn truy tố - VKS quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng, gửi cùng với hồ sơ đến Tòa án, nếu như VKS không nhận thấy có các căn cứ trả lại hồ

sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án theo luật định và cuối cùng (iii) ở giai đoạn buộc tội - VKS buộc tội bị cáo tại phiên tòa xét xử và thực hiện các hành vi TTHS khác do luật định để góp phần đạt được mục đích cuối cùng

là sau kết thúc phiên tòa xét xử, thì Tòa án tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật thực sự công minh, có căn cứ và đúng pháp luật

Việc THQCT của VKSND chính là nhằm chọn lọc, đưa các quy phạm pháp luật hình sự, TTHS vào áp dụng trong thực tiễn để bảo vệ pháp luật, bảo vệ

quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi

ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND cần tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục một cách chặt chẽ, chỉ có thế mới đảm bảo quyền con người, quyền công dân và tính nghiêm minh của pháp luật

Ba là, áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố là hoạt động thể

hiện tính sáng tạo và kỹ năng nghề nghiệp của Kiểm sát viên

Thực hành quyền công tố chính là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử [41] Có thể hiểu

Trang 21

vi trái pháp luật đã xảy ra một cách hợp lý, hợp tình, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án nhưng cũng tương thích với các đặc điểm nhân thân của chủ thể

Các tiêu chuẩn, quyền, trách nhiệm của Kiểm sát viên cũng là những quy định chung, thống nhất Nhưng trình độ, năng lực, kỹ năng thực hành quyền công

tố ở mỗi Kiểm sát viên lại không giống nhau [27] Mỗi Kiểm sát viên đều có một hoàn cảnh sống, một trình độ nhận thức về chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội ở các mức độ khác nhau Cùng một trường hợp phạm tội cụ thể nhưng cách nhìn nhận, đánh giá về nhân thân của bị cáo, về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội ở mỗi KSV có khác nhau nên việc đề nghị áp dụng mức hình phạt cụ thể trong khung luật định lại ít khi giống nhau Do đó, có thể khẳng định hoạt động thực hành quyền công tố mang dấu ấn chủ quan của KSV khá sâu sắc [27]

Về căn cứ pháp luật, để THQCT, kiểm sát điều tra chủ yếu căn cứ quy định mang tính chất khung của Bộ luật TTHS, Luật tổ chức VKSND, Quy chế kiểm sát điều tra chưa quy định cụ thể, vì vậy các quy định đó chỉ mang tính hình thức Nội dung, phương pháp THQCT như thế nào đến nay hầu như chưa

có văn bản hướng dẫn cũng như chưa có những tổng kết rút kinh nghiệm mang tính toàn diện để đưa ra một quy trình chung Các Kiểm sát viên trong quá trình THQCT trong hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự chủ yếu phụ thuộc vào

kỹ năng, trình độ, kinh nghiệm của từng Kiểm sát viên để thao tác, thực hiện

Trang 22

15

nhiệm vụ được giao Chính vì vậy, quá trình áp dụng pháp luật về THQCT còn thể hiện được kỹ năng nghề nghiệp, chuyên môn của người Kiểm sát viên

1.1.3 Vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

Áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện quyền lực nhà nước và có vai trò to lớn trong việc bảo đảm

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; giữ gìn kỷ cương, phép nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Chất lượng áp dụng pháp luật về THQCT phản ánh việc thực hiện công lý, đảm bảo xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ nhà nước, bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa; góp phần vào việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân

Hoạt động áp dụng pháp luật THQCT của VKS đã góp phần quan trọng để VKS thực hiện thành công nhiệm vụ theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 là “Bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [33] Các quyết định áp dụng pháp luật về THQCT của VKS đảm bảo khách quan, công minh và chính xác sẽ góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Áp dụng pháp luật về THQCT còn là một trong những phương tiện pháp

lý trực tiếp và hữu hiệu để giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và xây dựng thói quen sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền, thực thi cá nghĩa vụ của công dân

1.2 Chủ thể áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố

Chủ thể áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố là Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên

VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [33, Điều 2] Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố,

Trang 23

16

VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: (i) Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật TTHS quy định; (ii) Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật TTHS; (iii) Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (iv) Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; (v) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội; (vi) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra

để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; (vii) Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức

vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật; (viii) Quyết định việc

áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố; (ix) Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; (x) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa

án trong trường hợp VKSND phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; (xi) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật TTHS [33, Điều 3]

Hệ thống VKSND là một hệ thống thống nhất, bao gồm VKSND tối cao, các VKSND cấp cao, các VKSND cấp tỉnh, các VKSND cấp huyện, các Viện kiểm sát quân sự VKSND tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động

tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình VKSND do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên

Trang 24

về hành vi, quyết định của mình trong việc THQCT, tranh tụng tại phiên tòa Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên có quyền ra quyết định, kết luận, yêu cầu, kiến nghị theo quy định của pháp luật [33]

1.3 Nội dung hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công

tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân

1.3.1 Quy chế thực hành quyền công tố

Căn cứ Quyết định số 111/QĐ-VKSTC, ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố; Quyết định số 505/QĐ-VKSTC, ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự; căn cứ Hướng dẫn số 09/HD-VKSTC, ngày 06/01/2020 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, quy chế thực hành quyền công tố như sau:

a) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố

- Kiểm sát viên phải nâng cao trách nhiệm, chủ động, sâu sát, toàn diện khi THQCT trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án, từ giai đoạn xác minh nguồn tin tội phạm đến giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án hình sự

- Trong giai đoạn xác minh tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố phải nâng cao trách nhiệm trong việc xét, phê chuẩn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp cưỡng chế, chủ động đề ra các yêu cầu xác minh để làm rõ

sự việc, kiên quyết yêu cầu hoặc trực tiếp quyết định hủy bỏ các quyết định không khởi tố vụ án hình sự không đúng pháp luật của CQĐT; trực tiếp xác

Trang 25

18

minh nguồn tin tội phạm theo quy định tại khoản 3, Điều 145 Bộ luật TTHS khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm

- Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, phải nắm chắc tiến độ điều tra vụ

án, chủ động đề ra yêu cầu điều tra chính xác để hỗ trợ Điều tra viên thu thập chứng cứ làm rõ vụ án; thận trọng khi xét, phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng; yêu cầu hoặc tự mình ra quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ lệnh, quyết định trái pháp luật của CQĐT Trường hợp người bị bắt, người bị khởi tố không nhận tội hoặc tài liệu chứng cứ có mâu thuẫn, thì phải trực tiếp lấy lời khai, hỏi cung bị can trước khi phê chuẩn, bảo đảm chống oan hoặc bỏ lọt tội phạm; thực hiện nghiêm và đầy đủ biện pháp trực tiếp kiểm sát khi Điều tra viên tiến hành các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét Kiểm sát chặt chẽ và tuân thủ nghiêm túc việc hỏi cung bị can, lấy lời khai có ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh tại trụ sở CQĐT, Viện kiểm sát các cấp và các cơ sở giam giữ; tăng cường kiểm sát chặt chẽ việc đình chỉ điều tra, kiên quyết yêu cầu hoặc trực tiếp hủy bỏ Quyết định đình chỉ không đúng pháp luật của CQĐT

- Trong giai đoạn truy tố, phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, kiểm tra, rà soát lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng; tiến hành phúc tra, đánh giá chính xác, khách quan cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội Trước khi quyết định việc truy tố, nếu cần thiết thì trực tiếp hỏi cung bị can, ghi lời khai người làm chứng, người bị hại, trực tiếp xem xét các dấu vết, vật chứng; nâng cao chất lượng bản Cáo trạng bảo đảm việc truy tố bị can phải đúng người, đúng tội danh, đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đúng thời hạn luật định

- Quá trình THQCT phải kịp thời phát hiện các trường hợp bức cung, nhục hình và xử lý nghiêm theo pháp luật; bảo đảm và tạo điều kiện cho người bào chữa và người tham gia tố tụng khác nghiên cứu hồ sơ và thực hiện quyền bào chữa; kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong hoạt động khởi tố, điều tra để ban hành kiến nghị, kháng nghị khắc phục bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố tuân thủ đúng quy định của pháp luật

- Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân

sự Trung ương thực hiện tốt việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kịp thời phát hiện, xử lý các tội phạm xâm phạm hoạt

Trang 26

19

động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015

b) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc nội dung của vụ án, các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, dự kiến các vấn đề cần xét hỏi, nội dung tranh luận và đối đáp, các tình huống tố tụng có thể phát sinh tại phiên tòa

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chủ động xét hỏi, tranh luận để làm rõ các tình tiết của vụ án, các vấn đề mới phát sinh (nếu có), xác định các nội dung liên quan để định hướng tranh luận, làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo

- Sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ bản án, quyết định của Tòa án để phát hiện vi phạm pháp luật (nếu có), chú ý đối chiếu nội dung bản án và nội dung tuyên án của Hội đồng xét xử tại phòng xử án, bảo đảm tính thống nhất, công khai và đúng quy định của pháp luật; kiên quyết kháng nghị hoặc đề xuất kháng nghị phúc thẩm khi có căn cứ

- Đối với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm, lãnh đạo Viện cần trực tiếp THQCT hoặc lựa chọn, phân công Kiểm sát viên có năng lực, kinh nghiệm THQCT, kiểm sát xét xử và kỹ năng xử lý tình huống tham gia phiên tòa; với những vụ án VKS cấp trên THQCT và kiểm sát điều tra sau đó phân công ủy quyền cho VKS cấp dưới THQCT và kiểm sát xét xử cần thực hiện cơ chế biệt phái Kiểm sát viên của VKS cấp trên trực tiếp hoặc cùng Kiểm sát viên VKS cấp dưới THQCT, kiểm sát xét xử tại phiên tòa

c) Thực hành quyền công tố trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự

- Kiểm sát viên phải nắm chắc phạm vi, nội dung kháng cáo của người tham gia tố tụng, kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát; nghiên cứu kỹ hồ sơ

vụ án, đặc biệt là phần nhận định và quyết định của bản án sơ thẩm liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị; chuẩn bị tốt bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, dự kiến nội dung cần tiếp tục tranh tụng làm rõ để cập nhật vào nội dung phát biểu về kháng cáo, kháng nghị và việc giải quyết vụ án

- Chú ý cập nhật, đánh giá những tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm liên quan đến việc xem xét kháng cáo, kháng nghị để có quan điểm phù hợp, đúng quy định của pháp luật; tăng cường kiểm tra, xác minh làm rõ những

Trang 27

- VKS cấp phúc thẩm cần ưu tiên Kiểm sát viên có năng lực, kinh nghiệm trực tiếp thụ lý giải quyết vụ án Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội, án

có kháng nghị phúc thẩm, án đã bị hủy để điều tra, xét xử lại…

- Sau phiên tòa phúc thẩm, VKS cấp phúc thẩm cần báo cáo ngay với VKS có thẩm quyền để xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ theo quy định của pháp luật; nếu phát hiện VKS cấp sơ thẩm có những thiếu sót,

vi phạm trong quá trình truy tố, xét xử sơ thẩm, VKS cấp phúc thẩm cần ban hành thông báo rút kinh nghiệm kịp thời nhằm chấn chỉnh những sai sót, nâng chất lượng công tác này cho VKS cấp dưới

d) Trách nhiệm của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố

Trong quá trình kiểm tra, xác minh, khởi tố, điều tra và truy tố, tài liệu của Cơ quan điều tra hoặc của VKS thu thập đều phải được đưa vào hồ sơ vụ án,

vụ việc theo đúng trình tự tố tụng

Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ vụ án, vụ việc của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, bảo đảm tài liệu trong hồ sơ phải được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng và được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra, VKS kèm theo bản thống kê tài liệu theo quy định của pháp luật

Khi nhận được tài liệu liên quan đến vụ án, vụ việc do Cơ quan điều tra chuyển đến, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính hợp pháp của tài liệu đó Trường hợp phát hiện tài liệu thu thập không đúng quy định của pháp luật hoặc không có giá trị chứng minh thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng quy định của pháp luật

Việc giao, nhận, thống kê, đóng dấu và đánh số bút lục tài liệu, hồ sơ vụ

án trong giai đoạn điều tra, truy tố được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 88 Bộ luật TTHS, các quy định khác của pháp luật và Điều 66 của Quy chế công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố

Trang 28

và thể hiện bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [46]

Việc áp dụng pháp luật về THQCT trong giai đoạn khởi tố vụ án xâm phạm sở hữu chính là việc vận dụng các quy định của pháp luật hình sự, phân loại và xác định hành vi vi phạm pháp luật đã cấu thành tội xâm phạm sở hữu chưa, thuộc loại tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt hay không có tính chất chiếm đoạt Để có thể THQCT chính xác, trước hết phải nắm vững các đặc điểm pháp lý của loại tội phạm này để khởi tố đúng người, đúng tội

Dựa vào quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng, các tội xâm phạm sở hữu có thể chia thành các nhóm hành vi sau: Nhóm 1 là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực như tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản; nhóm 2 là hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện tội phạm như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản; nhóm 3 là hành vi dùng thủ đoạn gian dối như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; nhóm 4 là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai như tội Cướp giật tài sản [16] Tuy nhiên, thủ đọa cách thức, đối tượng thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau và quá trình THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu chính là dựa trên các đặc điểm này để phân biệt, phân loại và truy tố đúng tội danh, tương ứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm xâm phạm sở hữu thực hiện

Các hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT trong giai đoạn khởi tố vụ án xâm phạm sở hữu cụ thể bao gồm:

- Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can [35, khoản 1 Điều 165]

- Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật [35, khoản 2 Điều 165]

Trang 29

về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm [35, khoản 8 Điều 165]

- Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do [35, khoản 4 Điều 165]

1.3.3 Áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, truy tố với các vụ án xâm phạm sở hữu

Hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT ở giai đoạn điều tra là việc Viện kiểm sát áp dụng các quy định của pháp luật TTHS, để thực hiện các hoạt động sau:

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này [35, khoản 5 Điều 165]

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiền hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu CQĐT truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt [35, khoản 6 Điều 165]

- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiền hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu

Trang 30

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc THQCT theo quy định của Bộ luật TTHS [35, khoản 10 Điều 165]

Để THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, bảo đảm việc điều tra khách quan, toàn diện, đúng pháp luật khi phát hiện các quyết định tố tụng của CQĐT không có căn cứ và trái pháp luật thì VKS có quyền ra quyết định huỷ bỏ các quyết định đó như: Quyết định tạm giữ; quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định khởi tố bị can; quyết định về việc bảo lĩnh; quyết định đình chỉ điều tra vụ án của CQĐT…; trường hợp bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu mà CQĐT không ra quyết định truy nã thì VKS phải kịp thời yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can [24]

Sau khi kết thúc hoạt động điều tra, CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra Nếu CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và chuyển hồ sơ cho VKS thì bắt đầu giai đoạn truy tố Nội dung áp dụng pháp luật về THQCT của VKS trong giai đoạn này là căn cứ vào quy định của pháp luật TTHS và pháp luật hình sự quyết định việc có truy tố bị can ra trước Toà án để xét xử hay không Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật nếu xét thấy có đủ căn cứ để truy tố bị can thì VKS thực hiện việc truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản cáo trạng hoặc trả hồ

sơ để điều tra bổ sung, ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

1.3.4 Áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử với các vụ án xâm phạm sở hữu

Hoạt động xét xử vụ án hình sự nói chung và xét xử các vụ án xâm phạm

sở hữu nói riêng là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước (ở đây là quyền tư pháp), do vậy, hoạt động tư pháp hình sự phải được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng

tư pháp Xét xử vụ án hình sự là khâu trung tâm của hoạt động tư pháp hình sự Kết quả của hoạt động xét xử là việc Tòa án ra bản án kết luận về tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự, các biện pháp tư pháp và các nội dung khác Hoạt

Trang 31

24

động xét xử của Tòa án được tiến hành trên cơ sở các hoạt động khởi tố, điều tra của CQĐT và hoạt động truy tố của VKS Giai đoạn xét xử là giai đoạn thứ tư trong trình tự tố tụng giải quyết một vụ án hình sự

Nếu như công tố là truy cứu TNHS, là truy tố và buộc tội trước Toà án thì xét xử chính là việc phán xét, là kết tội hoặc không kết tội bị cáo.Trong ba chức năng cơ bản của tư pháp hình sự (chức năng xét xử, chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội) thì công tố thuộc về chức năng buộc tội Còn Tòa án dĩ nhiên thực hiện chức năng xét xử Với yêu cầu bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử quy định tại khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp, rõ ràng công tố chỉ là một bên tranh tụng chứ không thể khác được Trong khi đó, xuất hiện tại phiên tòa, kiểm sát viên đồng thời đóng hai vai: kiểm sát xét xử và thực hành quyền công tố

Trong quá trình THQCT trong xét xử vụ án xâm phạm sở hữu, việc áp dụng pháp luật được thể hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau của Kiểm sát viên như: Kiểm sát viên nghiên cứu kỹ hồ sơ, nội dung vụ án, các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, đối chiếu với các quy định của pháp luật để đánh giá những nội dung cần hỏi, nội dung cần tranh luận, đối đáp cũng như các tình huống tố tụng

có thể phát sinh tại phiên tòa để vận dụng đúng các quy phạm nhằm xác định đúng bản chất vấn đề, đưa ra phương án giải quyết vụ việc Mục đích của hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT trong quá trình xét xử tuy vẫn phải thực hiện việc xem xét, đánh giá nhằm gỡ tội cho người có hành vi phạm tội nhưng thực hiện quyền buộc tội vẫn là mục đích chính của hoạt động THQCT

1.4 Những yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án xâm phạm sở hữu

1.4.1 Sự hoàn thiện, thống nhất của các quy định pháp luật

Đầu tiên khi nói đến việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, phải kể đến sự ảnh hưởng của chính các quy định pháp luật về THQCT đối với các vụ

án xâm phạm sở hữu nói riêng, pháp luật hình sự nói chung

Để việc áp dụng pháp luật có hiệu quả trước hết phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất, sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội; phù hợp với những điều kiện kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội và dự liệu được các quan hệ xã hội cần điều chỉnh… Sau khi đã ban hành pháp luật, vấn đề quan trọng có ảnh hưởng tới hiệu quả áp dụng pháp luật là công tác phổ biến, tập huấn nội dung pháp luật cho chủ

Trang 32

25

thể áp dụng pháp luật (ở đây là Viện kiểm sát và Kiểm sát viên) và công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân để mọi người nắm được các quy định của pháp luật, từ đó họ có ý thức tự giác tuân theo pháp luật

Hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT để khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử một người phạm tội xâm phạm sở hữu sẽ đạt được hiệu quả cao nếu nhà nước ta ban hành đầy đủ các quy định pháp luật hình sự, xây dựng cấu thành tội xâm phạm sở hữu rõ ràng, cụ thể Trên cơ sở đó, áp dụng quy trình, thủ tục pháp luật TTHS minh bạch, rõ ràng để có thể đưa người thực hiện hành vi phạm tội ra truy tố, xét xử trước pháp luật Các quy phạm điều chỉnh hoạt động THQCT của Kiểm sát viên cũng là những quy định gắn bó trực tiếp, mật thiết và có ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về THQCT có đúng, phù hợp và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo quyền công dân, quyền con người trong TTHS hay không

1.4.2 Ý thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ năng lực, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm sống của Kiểm sát viên

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người lao động là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, đóng vai trò chủ thể của quá trình sản xuất, quyết định kết quả của hoạt động sản xuất Do vậy trong công tác áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu, yếu tố con người có tầm ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT Con người là chủ thể của hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT chúng ta đang nhắc đến ở đây chính là Kiểm sát viên của VKSND Khi xem xét đến yếu tố con người, cần phải đề cấp đến các nội dung ý thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của mỗi Kiểm sát viên

Ý thức chính trị của Kiểm sát viên có vai trò rất quan trọng, trực tiếp quyết định đến hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố Việc thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ giúp cho Kiểm sát viên có một thế giới quan khoa học, một nhân sinh quan cộng sản Lập trường tư tưởng chính trị vững vàng của Kiểm sát viên sẽ là tiền đề vững chắc bảo đảm cho hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT đúng với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Vai trò ý thức chính trị của Kiểm sát viên đặc biệt phát huy khi phải áp dụng pháp luật trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay với những mặt trái của nó Chính ý thức chính trị của

Trang 33

26

mỗi Kiểm sát viên là nhân tố thường trực nhắc nhở khi tiến hành các hoạt động

áp dụng pháp luật, Kiểm sát viên không rơi vào tình trạng “pháp luật đơn thuần”, máy móc, tách rời các quy phạm pháp luật với lợi ích chung của xã hội

Ý thức chính trị ở trình độ cao của Kiểm sát viên không chỉ là nhân tố để đảm bảo các quy phạm pháp luật được áp dụng đúng đắn và chính xác, mà còn giúp cho Kiểm sát viên có được những bản lĩnh để xử lý các tình huống trong thực tiễn một cách nhanh chóng, kịp thời và sáng tạo

Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho Kiểm sát viên trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của Kiểm sát viên Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên bao gồm những đức tính: Liêm chính, trung thực, thẳng thắn, lòng nhân ái, sự dũng cảm, tính công bằng, vô tư khách quan, tinh thần trách nhiệm, sự tự tin, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT Bản chất hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố là xem xét tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi, có tội hay không có tội Các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành luôn gắn liền với các quyền của con người, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Nhà nước [12] Nếu Kiểm sát viên có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm, có lòng nhân ái, có tâm trong sáng, không có thái độ thờ ơ, không áp dụng pháp luật một cách máy móc, dập khuôn, thì kết quả áp dụng pháp luật sẽ là những quyết định hợp tình, hợp lý, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền con người, quyền công dân Ngược lại sự sa sút về phẩm chất đạo đức của Kiểm sát viên, coi việc sử dụng áp dụng pháp luật về THQCT

để phục vụ trong những mưu đồ cá nhân, tiêu cực, tham nhũng, hối lộ, sẽ cho ra những sản phẩm áp dụng pháp luật là các quyết định trái luật, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền của cá nhân, tổ chức và nhà nước

Trình độ, năng lực của Kiểm sát viên là yếu tố quyết định đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án phạm xâm phạm sở hữu Bởi lẽ, Kiểm sát viên có trình độ, có năng lực, được đào tạo bài bản, sẽ nhận thức được đầy

đủ, đúng đắn vị trí, thẩm quyền của VKSND trong TTHS nói chung và công tác THQCT nói riêng; sẽ hiểu đúng và đầy đủ các quy định tố tụng về THQCT, cũng như các quy định về tội phạm xâm phạm sở hữu, phân biệt được các tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu Mặt khác, Kiểm sát viên có trình độ, năng lực

Trang 34

27

sẽ nắm bắt được đầy đủ, chính xác các chứng cứ và đánh giá đúng chứng cứ buộc tội, gỡ tội, tức là đánh giá đúng bản chất vụ việc, từ đó có thể đưa ra được các quyết định THQCT đúng pháp luật Từ sự phân tích này, có thể khẳng định nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực cao sẽ nắm vững quy định của pháp luật, nắm chắc bản chất vụ việc, thì việc áp dụng áp dụng pháp luật sẽ hiệu quả cao Ngược lại nếu Kiểm sát viên có hạn chế về trình độ, năng lực, chưa coi trọng các thủ tục TTHS theo quy định của pháp luật, chưa tự học hỏi, nghiên cứu đầy đủ các quy định pháp luật cũng như quy chế nghiệp vụ của ngành, hoạt động theo thói quen, kinh nghiệm có thể dẫn đến hệ quả áp dụng pháp luật không đúng, thậm chí bỏ lọt người, lọt tội hoặc truy tố oan, sai

Kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm sống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT của Kiểm sát viên Các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành một cách thấu tình, đạt lý, chính xác, đúng pháp luật chắc chắn phải là sản phẩm của những Kiểm sát viên có kỹ năng nghề nghiệp cao và giàu kinh nghiệm sống, am hiểu nhân tình thế thái, bên cạnh những yếu tố nghề nghiệp, đạo đức và ý thức chính trị Chính vì vậy, Luật Tổ chức VKSND đã đưa ra các tiêu chuẩn để được bổ nhiệm Kiểm sát viên, ngoài những chuẩn chung sau khi tốt nghiệp cử nhân luật và một khóa đào tạo nghiệp

vụ kiểm sát thì phải có một thời gian công tác pháp luật nhất định Đối với Kiểm sát viên sơ cấp thì phải có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên; đối với Kiểm sát viên trung cấp thì đã là Kiểm sát viên sơ cấp ít nhất năm năm; đối với Kiểm sát viên cao cấp thì đã là Kiểm sát viên trung cấp ít nhất năm năm; đối với Kiểm sát viên Viện kiểm nhất nhân dân tối cao thì phải là Kiểm sát viên cao cấp ít nhất năm năm [33]

1.4.3 Ý thức pháp luật của Kiểm sát viên

Ý thức pháp luật là tổng hợp những học thuyết, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người, thể hiện thái độ, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật, về tính hợp lý hay không hợp lý trong hành vi xử sự của con người, trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và các chủ thể khác [47]

Kiểm sát viên là người thường xuyên, liên tục tiếp xúc với pháp luật, có điều kiện học tập, nghiên cứu pháp luật và là chủ thể áp dụng pháp luật nên thường có ý thức pháp luật cao Trong hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT,

Trang 35

án một cách hời hợt, chủ quan, phiến diện và rất dễ dẫn đến oan, sai

Ý thức pháp luật của Kiểm sát viên ở tầm cao sẽ giúp cho Kiểm sát viên hiểu đúng và chính xác nội dung của từng quy định pháp luật luật TTHS và pháp luật hình sự; tìm đúng quy phạm pháp luật để áp dụng khi THQCT; đánh giá các

sự kiện, các tình tiết, các chứng cứ một cách khách quan, chính xác, không thiên

vị, không bỏ qua bất kỳ tình tiết nào dù nhỏ nhất; biết đâu là vấn đề mấu chốt, đâu là những tình tiết có ý nghĩa quan trọng của một vụ án, từ đó Kiểm sát viên đưa ra được các quyết định THQCT đúng pháp luật, công minh, phù hợp với thực tiễn khách quan, đúng người, đúng tội Mặt khác ý thức pháp luật của Kiểm sát viên tạo cho Kiểm sát viên có bản lĩnh nghề nghiệp, có kỹ năng nghề nghiệp, giúp cho Kiểm sát viên tự tin, quyết đoán khi đưa ra quyết định áp dụng pháp luật về THQCT, đồng thời cũng giúp cho Kiểm sát viên đưa ra được quy trình

áp dụng pháp luật để giải quyết từng vụ án cụ thể một cách khoa học, chính xác, tiết kiệm thời gian, công sức

1.4.4 Tác động từ dư luận xã hội (hay công luận)

Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến Những người theo học ở Liên Xô

(cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga) Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công

luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”) Khái niệm dư luận xã hội

được hiểu là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện

tượng có tính thời sự Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự

phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường

tổ chức (hội nghị, hội thảo…) Dư luận xã hội không phải là một phép cộng các

ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định Chỉ có những sự kiện, hiện

Trang 36

và vi phạm pháp luật Các phương tiện thông tin đại chúng là địa chỉ tin cậy để các đương sự, bị can, bị cáo và mọi công dân cung cấp thông tin và nhờ lên tiếng bảo vệ lợi ích của mình Những dư luận xã hội không tốt về hoạt động của Viện kiểm sát, Tòa án như xét xử không nghiêm minh, oan, sai, chạy án đã tác động, giúp ích rất nhiều cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng thực hiện tốt hơn việc điều tra, truy tố, xét xử

Nếu dư luận xã hội phản ánh đúng đắn các tình tiết của vụ án, nhận định

và bình luận một cách khách quan, không thiên vị để chờ phán quyết của cơ quan tiến hành tố tụng sẽ là điều hết sức thuận lợi cho Kiểm sát viên cũng như Thẩm phán trong quá trình tố tụng Khi đó, tính giáo dục, thuyết phục của hoạt động tố tụng sẽ được nhân lên gấp nhiều lần trong đời sống xã hội [12] Trường hợp truy tố, xét xử không công bằng, không nghiêm minh, có vi phạm pháp luật, soan, sai, lọt người, lọt tội, thì dư luận xã hội lại là người trọng tài nghiêm khắc lên tiếng, phát hiện và đòi hỏi công lý phải được thực thi Áp lực từ dư luận xã hội sẽ giúp cho Kiểm sát viên thận trọng hơn trong việc áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố, đặc biệt là đối với những vụ án trọng điểm, được dư luận quan tâm

Trang 37

30

Nhưng nếu dư luận xã hội phản ánh các tình tiết, sự việc một cách phiến diện, hời hợt và chủ quan bình luận, bàn tán, nhận định một cách quá đà (khen hoặc chê; lên án hoặc bảo vệ quá mức) thì khi áp dụng pháp luật về THQCT, Kiểm sát viên phải chịu một áp lực không nhỏ từ dư luận xã hội Trong trường hợp như vậy, Kiểm sát viên phải có bản lĩnh, phải ra quyết định áp dụng pháp luật đúng luật, không ra những quyết định áp dụng pháp luật về THQCT chiều theo dư luận và công luận xã hội [12]

1.4.5 Tác động từ những tiêu cực xã hội

Hiện nay, những tiêu cực xã hội (đặc biệt là nạn hối lộ) đã và đang tấn công vào hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng, trong đó có cơ quan VKSND, gây ra những tác hại không nhỏ, giảm sút lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, vào Nhà nước Các đường dây chạy án, môi giới hối lộ, dẫn dắt vào con đường cờ bạc, rượu chè, mại dâm đã và đang tấn công vào đội ngũ cán bộ của ngành Tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, trong đó có Kiểm sát viên Khi Kiểm sát viên đã chấp nhận sự tiêu cực này, coi hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT như là sự ban ơn cho đương sự

để vòi vĩnh, ngã giá thì chắc chắn quyết định áp dụng pháp luật của Kiểm sát viên sẽ bị biến dạng, méo mó Các quyết định được ban hành trong trường hợp này thực chất chỉ là hình thức, sáo rỗng để biện minh cho một nội dung đã được biết trước và đã bị làm sai lệch Nếu tác hại của nạn hối lộ và tiêu cực trong xã hội đối với đời sống xã hội là rất nghiêm trọng thì tác hại của nó đối với hoạt động THQCT còn nghiêm trọng hơn rất nhiều, vì nó không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân lương thiện, không chỉ làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp, mà còn làm công lý không được thực thi; trật tự và công bằng xã hội bị đảo lộn Một thực tế

mà chúng ta phải thẳn thắn thừa nhận là bên cạnh một lực lượng đông đảo đội ngũ Kiểm sát viên liêm khiết, công tâm và có trách nhiệm khi thực thi nhiệm vụ, thì vẫn còn một số ít Kiểm sát viên đã bị sa ngã, bị cám dỗ, trở thành nạn nhân của tệ nạn hối lộ và tiêu cực xã hội

Chúng ta có thể nhận thấy rằng, để cho hoạt động THQCT được chính xác, hiệu quả, có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật, các yếu tố trên đã có tác động không nhỏ đến quá trình áp dụng pháp luật về THQCT của Kiểm sát viên

Trang 38

31

Tiểu kết Chương 1

Chương 1 của luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các vụ án xâm phạm sở hữu, bao gồm: Khái niệm về thực hành quyền công tố; khái niệm áp dụng pháp luật

về thực hành quyền công tố; đặc điểm của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố; vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố Chương 1 cũng đã phân tích được nội dung của hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các vụ án sở hữu của VKSND, bao gồm áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố trong các giai đoạn: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Đồng thời Chương 1 của luận văn cũng đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu như: Sự hoàn thiện, thống nhất của các quy định của pháp luật; ý thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn của Kiểm sát viên;

Ý thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp của Kiểm sát viên; Tác động từ công luận và dư luận xã hội; cũng như các yếu tố tiêu cực của xã hội

Qua nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố với các vụ án xâm phạm sở hữu nhằm đảm bảo những quy định của pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh, khách quan, toàn diện trong việc điều tra, truy tố, xét xử tội xâm phạm sở hữu Đây không chỉ là hoạt động nhằm đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, còn là hoạt động thể hiện kinh nghiệm chuyên môn, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp của người Kiểm sát viên

Trang 39

32

Chương 2: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

2.1 Đặc điểm tình hình của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Đặc điểm tình hình của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ

án xâm phạm sở hữu

Yên Định là một huyện thuộc vùng đồng bằng bán sơn địa, tiếp giáp với vùng trung du, miền núi của tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hoá 28 km

về phía Tây Bắc Huyện có 24 xã, 2 thị trấn, với diện tích tự nhiên 228 km2, dân

số 163.151 người; kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong đó đất nông nghiệp 14.414 ha Qua quá trình lao động sáng tạo không ngừng nghỉ, nhân dân Yên Định đã xây đắp nên một vùng quê có bề dày lịch sử, truyền thống yêu nước

và cách mạng, một huyện anh hùng cả trong chiến đấu và lao động sản xuất

Những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức do dịch bệnh, thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu; song được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tập trung nguồn lực đầu tư của Trung ương, của tỉnh; sự nỗ lực, cố gắng, quyết tâm cao của cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, huyện đã đạt được những kết quả quan trọng Nổi bật là tình hình chính trị ổn định, nội bộ đoàn kết, Nhân dân đồng thuận, kinh tế - xã hội phát triển, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu hằng năm đều đạt và vượt kế hoạch

đề ra, an ninh - quốc phòng được đảm bảo

Bên cạnh những thuận lợi, những kết quả đạt được thì trên địa bàn huyện Yên Định cũng xuất hiện nhiều tiêu cực về an ninh trật tự, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, trong đó có các tội phạm xâm phạm sở hữu như trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo chiểm đoạt tài sản , tính chất, mức độ hậu quả do loại tội phạm này gây ra ngày càng nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng xấu đến trật tự

Trang 40

33

an toàn xã hội trên địa bàn Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND huyện Yên Định Yêu cầu đặt ra đối với VKSND huyện Yên Định là phải nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ

án xâm phạm sở hữu, đảm bảo giải quyết nhanh chóng, kịp thời, chính xác các

vụ án xâm phạm sở hữu, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, qua đó răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm

Trong quá trình áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố nói chung

và đối với vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng, VKSND huyện Yên Định luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần của cấp ủy, chính quyền địa phương, cũng như sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn huyện Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho VKSND huyện Yên Định hoàn thành tốt nhiệm vụ

2.2 Quá trình thành lập và phát triển của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Định

Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh số 20 công bố Luật tổ chức VKSND, đánh dấu sự ra đời của hệ thống VKSND trong Bộ máy Nhà nước ta [26] Tiếp sau đó, ngày 31/12/1960, Viện trưởng VKSND tối cao đã ký Quyết định số 01 thành lập VKSND tỉnh Thanh Hoá Năm 1961, VKSND huyện Yên Định được thành lập, từ đó đến nay, VKSND huyện Yên Định đã vượt qua khó khăn, thử thách, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm

vụ được giao, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển quê hương, đất nước

Về chức năng, nhiệm vụ của VKSND huyện Yên Định:

Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, VKSND cấp huyện có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

Về bộ máy quản lý:

Thực hiện quy định của Luật Tổ chức VKSND và các văn bản hướng dẫn thi hành, bộ máy quản lý của VKSND huyện Yên Định hiện nay như sau:

Ngày đăng: 26/06/2021, 05:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Bình An (2017), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Tác giả: Phạm Bình An
Năm: 2017
2. Trần Thế Băng (2019), Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong vụ án hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Tác giả: Trần Thế Băng
Năm: 2019
3. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
7. Nguyễn Chí Công (2018), Chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Luật TTHS Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Luật TTHS Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Chí Công
Năm: 2018
10. Trần Văn Độ (2001), Một số vấn đề về quyền công tố, Tạp chí Luật học số 3/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền công tố
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2001
11. Võ Thành Đủ (2018), Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay
Tác giả: Võ Thành Đủ
Năm: 2018
12. Bùi Minh Đức (2017), Điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tình Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tình Quảng Ngãi
Tác giả: Bùi Minh Đức
Năm: 2017
13. Lương Thúy Hà (2012), Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta
Tác giả: Lương Thúy Hà
Năm: 2012
14. Thạch Thiên Hà (2018), Định danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Thạch Thiên Hà
Năm: 2018
15. Nguyễn Ngọc Hòa (2019), Bình luận khoa học BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2019
16. Dương Văn Hoàng (2018), Trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Dương Văn Hoàng
Năm: 2018
17. Lê Mạnh Hùng (2020), Một số hạn chế, bất cập trong quy định về điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và giải pháp khắc phục, Tạp chí Tòa án số 8/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hạn chế, bất cập trong quy định về điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và giải pháp khắc phục
Tác giả: Lê Mạnh Hùng
Năm: 2020
18. Lê Thanh Hưng (2015), Chức năng thực hành quyền công tố của VKSND trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đăk Nông, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng thực hành quyền công tố của VKSND trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đăk Nông
Tác giả: Lê Thanh Hưng
Năm: 2015
19. Trần Văn Luyện và cộng sự (2018), Bình luận khoa học BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tác giả: Trần Văn Luyện và cộng sự
Nhà XB: NXB. Công an nhân dân
Năm: 2018
20. Nguyễn Hoài Nam (2018), Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hoài Nam
Năm: 2018
21. Nguyễn Nông (2010), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về ủy quyền trong hoạt động của Viện Kiểm sát, Tạp chí Kiểm sát Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về ủy quyền trong hoạt động của Viện Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Nông
Năm: 2010
22. Trần Đình Nha (2014), Công tố và thực hành quyền công tố trong TTHS, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21 tháng 11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tố và thực hành quyền công tố trong TTHS
Tác giả: Trần Đình Nha
Năm: 2014
23. Nguyễn Hải Phong (2013), Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, NXB Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Hải Phong
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2013
59. Website: http://tuyengiao.vn/nghien-cuu/ly-luan/ban-ve-khai-niem-du-luan-xa-hoi-129085 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w