Nội dung thực hành quyền công tố bao gồm các hoạt động cụ thể sau: - Yêu cầu khởi tố, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can tr
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, vai trò công tố của Kiểm sát viên trong phiên tòa là không thể thay thế Việc truy tốngười phạm tội ra trước Tòa án là quyền duy nhất được trao cho một cơ quan là Viện kiểm sát nhân dân Hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát là một dạng thực hành quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm
Các tội xâm phạm sở hữu là một trong những nhóm tội có tính chất chiếm đoạt, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, tổ chức trong xã hội, mà còn xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần của người dân
Việc thất thoát, mất mát, hỏng hóc về tài sản do hành vi xâm hại của người phạm tội còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, đời sống của người dân, gây mất an ninh trật tự xã hội Việc truy cứu trách nhiệm hình sự với các tội xâm phạm sở hữu chính là nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản của nhân dân, giữ vững kỷcương pháp luật, an ninh trật tự
Yên Định là một huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa, nằm tại vùng tiếp giáp giữa đồng bằng và trung du, miền núi của tỉnh, là địa bàn giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các huyện miền núi, trung du tỉnh Thanh Hóa Trong những năm qua, huyện có tốc độ phát triển mạnh mẽ, giao thông thuận lợi, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 9-10%, là địa bàn được đánh giá có sựtăng trưởng cao và đều đặn Bên cạnh những kết quảđạt được, huyện cũng phải đối mặt với mặt trái của sự phát triển là một số loại tội phạm và tệ nạn xã hội tăng cao, trong đó có các tội xâm phạm sở hữu
Trong những năm vừa qua, công tác áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định đã đạt được những kết quả nhất định Việc áp dụng nghiêm những quy định của pháp luật về THQCT đã góp phần hạn chế tình trạng truy tốoan sai, đã phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm tội Từ đó
2 đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy công tác áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định vẫn còn có những hạn chế như: Kiểm sát viên chưa bám sát tiến độ và kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra; ban hành một số bản yêu cầu điều tra chưa đảm bảo về hình thức và nội dung; việc áp dụng các quy định của pháp luật khi truy tố còn bộc lộ nhiều hạn chế; một số vụ án Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tài liệu tham gia phiên tòa xét xử chưa tốt, nên chất lượng tranh tụng chưa cao Thực tế này đòi hỏi VKSND huyện Yên Định cần cải cách tổ chức và nâng cao hơn nữa chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động THQCT nói chung và trong THQCT đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, nhằm đánh giá việc áp dụng pháp luật về THQCT với vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND huyện Yên Định, từ đó đề xuất được những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại đây, học viên đã lựa chọn đề tài “Áp dụ ng pháp lu ậ t v ề th ự c hành quy ề n công t ố đố i v ớ i v ụ án xâm ph ạ m s ở h ữ u t ừ th ự c ti ễ n Vi ệ n ki ể m sát nhân dân huy ện Yên Đị nh, t ỉnh Thanh Hóa” để làm luận văn Thạc sĩ.
Tình hình nghiên c ứ u liên quan đến đề tài
Với vai trò quan trọng của THQCT trong hoạt động của VKSND, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giảđề cập đến vấn đề này, có thể kểđến là:
* Về luận án, luận văn:
Luận án của tác giả Võ Thành Đủ (2018) về “Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ởnước ta hiện nay”, Khoa Luật, Đại học quốc gia
Hà Nội [11] Luận án của tác giả Lê Tuấn Phong (2017) về “Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [24] Luận án của tác giả Trần Văn Quý (2017) về“Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xửsơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [29] Luận án của tác giả Nguyễn Hoài Nam (2018) về “Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ở nước ta hiện nay”, Học viện Khoa học xã hội
[20] Các luận án này đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thực hành quyền công tố theo yêu cầu của cải cách tư pháp hoặc tại một sốđơn vị Viện kiểm sát
Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Lương Thúy Hà (2012) về “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện trong cải cách tư pháp ởnước ta”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [13] Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Lê Thanh Hưng (2015) về “Chức năng thực hành quyền công tố của VKSND trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đăk Nông”, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội [18] Luận văn của tác giả Nguyễn Hữu Phước
(2016) về “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, Học viện Khoa học xã hội
[26] Luận văn của tác giả Nguyễn Chí Công (2018) về “Chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Luật TTHS Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ”, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội [7] Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Phan Thị Sa (2018) về “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện MộĐức, tỉnh Quảng Ngãi”, Học viện Khoa học xã hội [35] Các luận văn này đã đi sâu nghiên cứu việc thực hành quyền công tố từ thực tiễn một sốđịa bàn nhất định
Sách của tác giả Nguyễn Hải Phong (2013) về “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, NXB Tư pháp [23]
Sách của tác giả Lê Hữu Thể (2016) về “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật [41]
Sách của tác giả Trần Văn Luyện và cộng sự (2018) về “Bình luận khoa học BLHS năm 2015”, NXB Công an nhân dân, trong đó có những bình luận về tội xâm phạm sở hữu [19]
Bài viết của tác giả Trần Đình Nhã (2014) về “Công tố và thực hành quyền công tố trong TTHS, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21 (277) tháng
11/2014 [22] Bài viết của tác giả Lê Mạnh Hùng (2020) về “Một số hạn chế, bất cập trong quy định về điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa án số 8/2020 [17]
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, vấn đề THQCT của Viện kiểm sát đã được tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau, mà nhiều nhất chính là dưới giác độ pháp luật TTHS và pháp luật hình sự Các công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn THQCT của VKSND trên nhiều địa bàn trên cả nước Đây là những kết quả nghiên cứu quý giá mà học viên sẽ học hỏi, kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài
Tuy nhiên, qua đó tác giả cũng nhận thấy, vấn đề nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND dưới giác độ Luật Hành chính và Luật Hiến pháp chưa có công trình tiêu biểu nào Một số công trình nghiên cứu về THQCT tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ yếu xem xét dưới giác độ pháp luật hình sự, hoặc dưới giác độ cải cách tư pháp chứ chưa nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật về THQCT của Viện kiểm sát Nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa cũng hoàn toàn chưa có công trình nghiên cứu này Chính vì vậy, đề tài mà học viên lựa chọn đảm bảo được tính khoa học, tính mới và tính cần thiết cả về lý luận và thực tiễn của một đề tài luận văn thạc sĩ.
M ục đích và nhiệ m v ụ nghiên c ứ u
3.1 M ục đích nghiên cứ u: Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định đối với vụ án xâm phạm sở hữu
Các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2016 - 2020
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới
Đối tượ ng và ph ạ m vi nghiên c ứ u
4.1 Đối tượ ng nghiên c ứ u: Hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu việc áp dụng pháp luật về THQCT theo quy định của pháp luật hiện hành
- Về không gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
- Về thời gian: Số liệu được sử dụng nghiên cứu trong luận văn từ kết quả thống kê hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định trong giai đoạn
Phương pháp nghiên cứ u
Phương pháp luận được sử dụng để viết luận văn là phương pháp luận của
Chủnghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại Chương 1 của luận văn nhằm nghiên cứu các tài liệu sẵn có về cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật, quyền công tố và THQCT của VKSND nhằm làm rõ những khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật về THQCT của Viện kiểm sát
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu trường hợp điển hình được sử dụng chủ yếu trong Chương 2 của luận văn để nghiên cứu, bóc tách số liệu liên quan đến THQCT của VKSND huyện Yên Định trong giai đoạn 2016-2020 Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu, chọn lọc ra những hồ sơ vụ án xâm phạm sở hữu tiêu biểu để phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật về THQCT của VKSND huyện Yên Định
- Phương pháp lịch sử cũng được sử dụng tại Chương 1 của luận văn để nêu ra những quy định về THQCT trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan
- Phương pháp tổng kết, đánh giá được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 của luận văn để đánh giá việc áp dụng pháp luật về THQCT đối với
6 vụ án xâm phạm sở hữu tại VKSND huyện Yên Định Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại đây trong thời gian tới.
K ế t qu ả nghiên c ứu và ý nghĩa củ a lu ận văn
- Luận văn tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong THQCT của VKSND và trong THQCT đối với các vụ án xâm phạm sở hữu
- Nhận thức và đánh giá được những kết quả, hạn chế còn tồn tại trong việc áp dụng pháp luật về THQCT với các vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
- Ý nghĩa: Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu, học viên, các cơ quan có thẩm quyền trong việc nghiên cứu, học tập cũng như hoạt động xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến THQCT
Luận văn cũng có giá trịtư liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành Kiểm sát, cán bộ làm việc tại VKSND huyện Yên Định trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề áp dụng pháp luật vềTHQCT đối với các vụ án xâm phạm sở hữu.
K ế t c ấ u lu ận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tốđối với vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu từ thực tiễn VKDND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu tại Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật về thực hành quyền công t ố
1.1.1 Khái ni ệ m áp d ụ ng pháp lu ậ t v ề th ự c hành quy ề n công t ố a) Khái ni ệ m th ự c hành quy ề n công t ố
“Công tố” là một từ ghép Hán - Việt, được cấu tạo bằng hai từ đơn là
“công” và “tố” Theo Từ điển tiếng việt, “tố” có nghĩa là nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác, còn “công” có nghĩa là thuộc về nhà nước chung cho mọi người; “công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [37 tr.200, tr.204, tr.973] Như vậy, “Công tố” theo Từ điển tiếng Việt là một khái niệm bao gồm bốn nội dung: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu trước Tòa án Các chủ thể liên quan đến hoạt động công tố bao gồm chủ thể thực hiện việc buộc tội là Nhà nước, đối tượng bịNhà nước buộc tội là các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
Xung quanh khái niệm quyền công tố có khá nhiều quan điểm khác nhau, như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tất cả các hoạt động của VKS, bao gồm cả công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS đều là THQCT [6, tr.8]
Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho
VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa [50, tr.24]
Quan điểm thứ ba cho rằng: Quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật [48, tr.84-87]
Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sựđối với người phạm tội [50, tr.380]
Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là quyền của nhà nước được nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt Nam là cơ quan VKS) thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội
8 phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa [41, tr.40]
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ năm cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa Quyền công tố chỉđược xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật đã gắn liền, đó là lĩnh vực tố tụng hình sự Do vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sựmà không có trong các lĩnh vực khác
Từ sự phân tích trên có thể hiểu “quyền công tố” là quyền được Nhà nước giao cho VKSND, nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị [41, tr.40] Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tốmà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền truy tốđưa vụ án ra toà án để xét xử và thực hiện việc buộc tội đó gọi là cơ quan THQCT Việc quy định cơ quan THQCT là không giống nhau ở các nước, phụ thuộc vào chế độ chính trị của mỗi nước Ở nước ta, Nhà nước giao cho VKSND thực hiện chức năng này cho nên chỉ có VKSND mới có chức năng THQCT mà không có cơ quan nào có được
Hiến pháp năm 1959đã ghi nhận sự ra đời của một cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là VKS Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định: “VKSND tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Các VKSND địa phương và VKS quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định” [31] Sự ra đời của mô hình VKS thay thế cho mô hình Viện công tốởnước ta là một điểm tiến bộ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất, là cơ sở cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa.
VKSND là cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền đưa người phạm tội ra truy tốtrước pháp luật, thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội Hoạt động THQCT của VKSND nhằm thực hiện việc
9 buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội Mục đích của hoạt động THQCT là phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh mọi tội phạm và người phạm tội, không kết tội oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, qua đó bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Một cách ngắn gọn, Viện KSND thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân [40] Phạm vi THQCT được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014, cụ thể: “THQCT là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [33] Theo quy định này, VKSND thực hành quyền công tố trong những lĩnh vực sau: THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; trong giai đoạn truy tố tội phạm; trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm và THQCT trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự
Nội dung thực hành quyền công tố bao gồm các hoạt động cụ thể sau:
- Yêu cầu khởi tố, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật TTHS quy định;
- Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của Cơ quan điều tra;
- Đề ra yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;
- Truy tố bịcan ra trước Tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội
- Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm; nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm
Từ sự phân tích trên, tác giả đưa khái niệm về thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng
Ch ủ th ể áp d ụ ng pháp lu ậ t v ề th ự c hành quy ề n công t ố
Chủ thể áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố là Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên
VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND có nhiệm vụ bảo vệ
Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chếđộ xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [33, Điều 2] Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố,
VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: (i) Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật TTHS quy định; (ii) Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tốtheo quy định của Bộ luật TTHS; (iii) Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (iv) Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; (v) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội; (vi) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; (vii) Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật; (viii) Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố; (ix) Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; (x) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp VKSND phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; (xi) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật TTHS [33, Điều 3]
Hệ thống VKSND là một hệ thống thống nhất, bao gồm VKSND tối cao, các VKSND cấp cao, các VKSND cấp tỉnh, các VKSND cấp huyện, các Viện kiểm sát quân sự VKSND tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình VKSND do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên
Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao [33]
Các chức danh tư pháp trong VKSND gồm có: Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND, Viện kiểm sát quân sự các cấp; Kiểm sát viên; Thủtrưởng, Phó thủ trưởng CQĐT; Điều tra viên; Kiểm tra viên Trong đó chức danh được giao nhiệm vụ THQCT là Kiểm sát viên Vì vậy Kiểm sát viên là chủ thể áp dụng pháp luật về THQCT Kiểm sát viên VKSND được chia làm 4 ngạch: Kiểm sát viên VKSND tối cao; Kiểm sát viên cao cấp; Kiểm sát viên trung cấp; Kiểm sát viên sơ cấp Khi THQCT, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình trong việc THQCT, tranh tụng tại phiên tòa Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên có quyền ra quyết định, kết luận, yêu cầu, kiến nghịtheo quy định của pháp luật [33].
N ộ i dung ho ạt độ ng áp d ụ ng pháp lu ậ t v ề th ự c hành quy ề n công t ố đố i v ớ i
tố đối với vụ án xâm phạm sởhữu của Viện kiểm sát nhân dân
1.3.1 Quy ch ế th ự c hành quy ề n công t ố
Căn cứ Quyết định số 111/QĐ-VKSTC, ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố; Quyết định số 505/QĐ-VKSTC, ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự; căn cứ Hướng dẫn số 09/HD-VKSTC, ngày 06/01/2020 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, quy chế thực hành quyền công tốnhư sau: a) Th ự c hành quy ề n công t ố trong giai đoạ n kh ở i t ố, điề u tra và truy t ố
- Kiểm sát viên phải nâng cao trách nhiệm, chủ động, sâu sát, toàn diện khi THQCT trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án, từ giai đoạn xác minh nguồn tin tội phạm đến giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án hình sự.
- Trong giai đoạn xác minh tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố phải nâng cao trách nhiệm trong việc xét, phê chuẩn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp cưỡng chế, chủ động đề ra các yêu cầu xác minh để làm rõ sự việc, kiên quyết yêu cầu hoặc trực tiếp quyết định hủy bỏ các quyết định không khởi tố vụ án hình sự không đúng pháp luật của CQĐT; trực tiếp xác
18 minh nguồn tin tội phạm theo quy định tại khoản 3, Điều 145 Bộ luật TTHS khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
- Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, phải nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, chủ động đề ra yêu cầu điều tra chính xác để hỗ trợ Điều tra viên thu thập chứng cứ làm rõ vụ án; thận trọng khi xét, phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng; yêu cầu hoặc tự mình ra quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ lệnh, quyết định trái pháp luật của CQĐT Trường hợp người bị bắt, người bị khởi tố không nhận tội hoặc tài liệu chứng cứ có mâu thuẫn, thì phải trực tiếp lấy lời khai, hỏi cung bị can trước khi phê chuẩn, bảo đảm chống oan hoặc bỏ lọt tội phạm; thực hiện nghiêm và đầy đủ biện pháp trực tiếp kiểm sát khi Điều tra viên tiến hành các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét Kiểm sát chặt chẽ và tuân thủ nghiêm túc việc hỏi cung bị can, lấy lời khai có ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh tại trụ sở CQĐT, Viện kiểm sát các cấp và các cơ sở giam giữ; tăng cường kiểm sát chặt chẽ việc đình chỉ điều tra, kiên quyết yêu cầu hoặc trực tiếp hủy bỏ Quyết định đình chỉ không đúng pháp luật của CQĐT
- Trong giai đoạn truy tố, phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, kiểm tra, rà soát lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng; tiến hành phúc tra, đánh giá chính xác, khách quan cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội Trước khi quyết định việc truy tố, nếu cần thiết thì trực tiếp hỏi cung bị can, ghi lời khai người làm chứng, người bị hại, trực tiếp xem xét các dấu vết, vật chứng; nâng cao chất lượng bản Cáo trạng bảo đảm việc truy tố bị can phải đúng người, đúng tội danh, đúng tính chất, mức độ hành vi phạmtội và đúng thời hạn luật định.
- Quá trình THQCT phải kịp thời phát hiện các trường hợp bức cung, nhục hình và xử lý nghiêm theo pháp luật; bảo đảm và tạo điều kiện cho người bào chữa và người tham gia tố tụng khác nghiên cứu hồ sơ và thực hiện quyền bào chữa; kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong hoạt động khởi tố, điều tra để ban hành kiến nghị, kháng nghị khắc phục bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tốtuân thủ đúng quy định của pháp luật
- Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương thực hiện tốt việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kịp thời phát hiện, xử lýcác tội phạm xâm phạm hoạt
19 động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015. b) Th ự c hành quy ề n công t ố trong giai đoạ n xét x ử sơ thẩ m v ụ án hình s ự
- Trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc nội dung của vụ án, các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, dự kiến các vấn đề cần xét hỏi, nội dung tranh luận và đối đáp, các tình huống tố tụng có thể phát sinh tại phiên tòa
- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chủ động xét hỏi, tranh luận để làm rõ các tình tiết của vụ án, các vấn đề mới phát sinh (nếu có), xác định các nội dung liên quan đểđịnh hướng tranh luận, làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo
- Sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ bản án, quyết định của Tòa án để phát hiện vi phạm pháp luật (nếu có), chú ý đối chiếu nội dung bản án và nội dung tuyên án của Hội đồng xét xử tại phòng xử án, bảo đảm tính thống nhất, công khai và đúng quy định của pháp luật; kiên quyết kháng nghị hoặc đề xuất kháng nghị phúc thẩm khi có căn cứ
- Đối với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm, lãnh đạo Viện cần trực tiếp THQCT hoặc lựa chọn, phân công Kiểm sát viên có năng lực, kinh nghiệm THQCT, kiểm sát xét xử và kỹ năng xử lý tình huống tham gia phiên tòa; với những vụ án VKS cấp trên THQCT và kiểm sát điều tra sau đó phân công ủy quyền cho VKS cấp dưới THQCT và kiểm sát xét xử cần thực hiện cơ chế biệt phái Kiểm sát viên của VKS cấp trên trực tiếp hoặc cùng Kiểm sát viên VKS cấp dưới THQCT, kiểm sát xét xử tại phiên tòa c) Th ự c hành quy ề n công t ố trong xét x ử phúc th ẩ m các v ụ án hình s ự
- Kiểm sát viên phải nắm chắc phạm vi, nội dung kháng cáo của người tham gia tố tụng, kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát; nghiên cứu kỹ hồsơ vụán, đặc biệt là phần nhận định và quyết định của bản án sơ thẩm liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị; chuẩn bị tốt bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, dự kiến nội dung cần tiếp tục tranh tụng làm rõ để cập nhật vào nội dung phát biểu về kháng cáo, kháng nghị và việc giải quyết vụ án
- Chú ý cập nhật, đánh giá những tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm liên quan đến việc xem xét kháng cáo, kháng nghị để có quan điểm phù hợp, đúng quy định của pháp luật; tăng cường kiểm tra, xác minh làm rõ những
20 nội dung liên quan đến kháng nghị phúc thẩm (nếu có) trước khi tham gia phiên tòa phúc thẩm
Nh ữ ng y ế u t ố tác động đế n áp d ụ ng pháp lu ậ t v ề th ự c hành quy ề n công t ố của Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án xâm phạm sở hữu
1.4.1 S ự hoàn thi ệ n, th ố ng nh ấ t c ủa các quy đị nh pháp lu ậ t Đầu tiên khi nói đến việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, phải kể đến sự ảnh hưởng của chính các quy định pháp luật về THQCT đối với các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng, pháp luật hình sự nói chung Để việc áp dụng pháp luật có hiệu quả trước hết phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất, sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội; phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và dự liệu được các quan hệ xã hội cần điều chỉnh… Sau khi đã ban hành pháp luật, vấn đề quan trọng có ảnh hưởng tới hiệu quả áp dụng pháp luật là công tác phổ biến, tập huấn nội dung pháp luật cho chủ
25 thể áp dụng pháp luật (ở đây là Viện kiểm sát và Kiểm sát viên) và công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân để mọi người nắm được các quy định của pháp luật, từđó họ có ý thức tự giác tuân theo pháp luật
Hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử một người phạm tội xâm phạm sở hữu sẽ đạt được hiệu quả cao nếu nhà nước ta ban hành đầy đủcác quy định pháp luật hình sự, xây dựng cấu thành tội xâm phạm sở hữu rõ ràng, cụ thể Trên cơ sởđó, áp dụng quy trình, thủ tục pháp luật TTHS minh bạch, rõ ràng để có thể đưa người thực hiện hành vi phạm tội ra truy tố, xét xử trước pháp luật Các quy phạm điều chỉnh hoạt động THQCT của
Kiểm sát viên cũng là những quy định gắn bó trực tiếp, mật thiết và có ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về THQCT có đúng, phù hợp và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo quyền công dân, quyền con người trong TTHS hay không
1.4.2 Ý th ứ c chính tr ị, đạo đứ c ngh ề nghi ệ p , trình độ năng lự c, k ỹ năng ngh ề nghi ệ p và kinh nghi ệ m s ố ng c ủ a Ki ể m sát viên
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người lao động là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, đóng vai trò chủ thể của quá trình sản xuất, quyết định kết quả của hoạt động sản xuất Do vậy trong công tác áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án xâm phạm sở hữu, yếu tố con người có tầm ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT Con người là chủ thể của hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT chúng ta đang nhắc đến ở đây chính là Kiểm sát viên của VKSND Khi xem xét đến yếu tố con người, cần phải đề cấp đến các nội dung ý thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của mỗi Kiểm sát viên Ý thức chính trị của Kiểm sát viên có vai trò rất quan trọng, trực tiếp quyết định đến hiệu quả áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố Việc thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ giúp cho Kiểm sát viên có một thế giới quan khoa học, một nhân sinh quan cộng sản Lập trường tư tưởng chính trị vững vàng của Kiểm sát viên sẽ là tiền đề vững chắc bảo đảm cho hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT đúng với đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Vai trò ý thức chính trị của Kiểm sát viên đặc biệt phát huy khi phải áp dụng pháp luật trong điều kiện kinh tế thịtrường hiện nay với những mặt trái của nó Chính ý thức chính trị của
26 mỗi Kiểm sát viên là nhân tố thường trực nhắc nhở khi tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật, Kiểm sát viên không rơi vào tình trạng “pháp luật đơn thuần”, máy móc, tách rời các quy phạm pháp luật với lợi ích chung của xã hội Ý thức chính trị ở trình độ cao của Kiểm sát viên không chỉ là nhân tố để đảm bảo các quy phạm pháp luật được áp dụng đúng đắn và chính xác, mà còn giúp cho Kiểm sát viên có được những bản lĩnh để xử lý các tình huống trong thực tiễn một cách nhanh chóng, kịp thời và sáng tạo Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên là những giá trịđạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho Kiểm sát viên trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của Kiểm sát viên Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên bao gồm những đức tính: Liêm chính, trung thực, thẳng thắn, lòng nhân ái, sự dũng cảm, tính công bằng, vô tư khách quan, tinh thần trách nhiệm, sự tự tin, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT Bản chất hoạt động áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố là xem xét tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi, có tội hay không có tội Các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành luôn gắn liền với các quyền của con người, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Nhà nước [12] Nếu Kiểm sát viên có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm, có lòng nhân ái, có tâm trong sáng, không có thái độ thờ ơ, không áp dụng pháp luật một cách máy móc, dập khuôn, thì kết quả áp dụng pháp luật sẽ là những quyết định hợp tình, hợp lý, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền con người, quyền công dân Ngược lại sự sa sút về phẩm chất đạo đức của Kiểm sát viên, coi việc sử dụng áp dụng pháp luật về THQCT để phục vụ trong những mưu đồ cá nhân, tiêu cực, tham nhũng, hối lộ, sẽ cho ra những sản phẩm áp dụng pháp luật là các quyết định trái luật, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền của cá nhân, tổ chức và nhà nước
Trình độ, năng lực của Kiểm sát viên là yếu tố quyết định đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT đối với vụ án phạm xâm phạm sở hữu Bởi lẽ, Kiểm sát viên có trình độ, có năng lực, được đào tạo bài bản, sẽ nhận thức được đầy đủ, đúng đắn vị trí, thẩm quyền của VKSND trong TTHS nói chung và công tác THQCT nói riêng; sẽ hiểu đúng và đầy đủ các quy định tố tụng về THQCT, cũng như các quy định về tội phạm xâm phạm sở hữu, phân biệt được các tội trong nhóm tội xâm phạm sở hữu Mặt khác, Kiểm sát viên có trình độ, năng lực
27 sẽ nắm bắt được đầy đủ, chính xác các chứng cứ và đánh giá đúng chứng cứ buộc tội, gỡ tội, tức là đánh giá đúng bản chất vụ việc, từ đó có thểđưa ra được các quyết định THQCT đúng pháp luật Từ sự phân tích này, có thể khẳng định nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực cao sẽ nắm vững quy định của pháp luật, nắm chắc bản chất vụ việc, thì việc áp dụng áp dụng pháp luật sẽ hiệu quả cao Ngược lại nếu Kiểm sát viên có hạn chế vềtrình độ, năng lực, chưa coi trọng các thủ tục TTHS theo quy định của pháp luật, chưa tự học hỏi, nghiên cứu đầy đủ các quy định pháp luật cũng như quy chế nghiệp vụ của ngành, hoạt động theo thói quen, kinh nghiệm có thể dẫn đến hệ quả áp dụng pháp luật không đúng, thậm chí bỏ lọt người, lọt tội hoặc truy tố oan, sai
Kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm sống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT của Kiểm sát viên Các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành một cách thấu tình, đạt lý, chính xác, đúng pháp luật chắc chắn phải là sản phẩm của những Kiểm sát viên có kỹ năng nghề nghiệp cao và giàu kinh nghiệm sống, am hiểu nhân tình thế thái, bên cạnh những yếu tố nghề nghiệp, đạo đức và ý thức chính trị Chính vì vậy, Luật Tổ chức VKSND đã đưa ra các tiêu chuẩn để được bổ nhiệm Kiểm sát viên, ngoài những chuẩn chung sau khi tốt nghiệp cử nhân luật và một khóa đào tạo nghiệp vụ kiểm sát thì phải có một thời gian công tác pháp luật nhất định Đối với Kiểm sát viên sơ cấp thì phải có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên; đối với Kiểm sát viên trung cấp thì đã là Kiểm sát viên sơ cấp ít nhất năm năm; đối với Kiểm sát viên cao cấp thì đã là Kiểm sát viên trung cấp ít nhất năm năm; đối với Kiểm sát viên Viện kiểm nhất nhân dân tối cao thì phải là Kiểm sát viên cao cấp ít nhất năm năm [33]
1.4.3 Ý th ứ c pháp lu ậ t c ủ a Ki ể m sát viên Ý thức pháp luật là tổng hợp những học thuyết, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người, thể hiện thái độ, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật, về tính hợp lý hay không hợp lý trong hành vi xử sự của con người, trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và các chủ thể khác [47]
Kiểm sát viên là người thường xuyên, liên tục tiếp xúc với pháp luật, có điều kiện học tập, nghiên cứu pháp luật và là chủ thể áp dụng pháp luật nên thường có ý thức pháp luật cao Trong hoạt động áp dụng pháp luật về THQCT,
28 ý thức pháp luật của Kiểm sát viên là một yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết để áp dụng pháp luật một cách chính xác và đúng đắn [39]
Nếu ý thức pháp luật của Kiểm sát viên ở mức độ thấp rất dễ dẫn đến việc hiểu sai nội dung của quy phạm pháp luật; đánh giá, xem xét các tình tiết của vụ án một cách hời hợt, chủ quan, phiến diện và rất dễ dẫn đến oan, sai Ý thức pháp luật của Kiểm sát viên ở tầm cao sẽ giúp cho Kiểm sát viên hiểu đúng và chính xác nội dung của từng quy định pháp luật luật TTHS và pháp luật hình sự; tìm đúng quy phạm pháp luật để áp dụng khi THQCT; đánh giá các sự kiện, các tình tiết, các chứng cứ một cách khách quan, chính xác, không thiên vị, không bỏ qua bất kỳ tình tiết nào dù nhỏ nhất; biết đâu là vấn đề mấu chốt, đâu là những tình tiết có ý nghĩa quan trọng của một vụ án, từ đó Kiểm sát viên đưa ra được các quyết định THQCT đúng pháp luật, công minh, phù hợp với thực tiễn khách quan, đúng người, đúng tội Mặt khác ý thức pháp luật của Kiểm sát viên tạo cho Kiểm sát viên có bản lĩnh nghề nghiệp, có kỹnăng nghề nghiệp, giúp cho Kiểm sát viên tự tin, quyết đoán khi đưa ra quyết định áp dụng pháp luật về THQCT, đồng thời cũng giúp cho Kiểm sát viên đưa ra được quy trình áp dụng pháp luật để giải quyết từng vụ án cụ thể một cách khoa học, chính xác, tiết kiệm thời gian, công sức
1.4.4 Tác độ ng t ừ dư luậ n xã h ộ i (hay công lu ậ n)
Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến Những người theo học ở Liên Xô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ“dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga) Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”) Khái niệm dư luận xã hội được hiểu là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…) Dư luận xã hội không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định Chỉ có những sự kiện, hiện
29 tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khảnăng tạo ra dư luận xã hội [59]