1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHƯƠNG 3

12 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 33,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thi pháp nhân vật, quan niệm nghệ thuật vè con người, quan niệm nghệ thuật vè con người qua các thời kỳ văn học, quan niệm nghệ thuật vè con người trong tác phẩm văn học cụ thể, khái niệm thi pháp học của Trần Đình Sử.

Trang 1

CHƯƠNG 3: THI PHÁP NHÂN VẬT

****

3.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

3.1.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người

3.1.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lý giải, cảm thụ

của chủ thể

Quan niệm nghệ thuật về con người là phạm trù quan trọng trong vấn đề nghiên cứu về thi pháp nhân vật Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học Một nhân vật muốn sống cùng thời gian, nó phải mang một giá trị nghệ thuật riêng mà thời đại nào người ta cũng tìm được ý nghĩa trong nó,

tìm được bản chất vấn đề Macxim Gorki từng nhận định: “Văn học là nhân học”, nguồn gốc xuất phát của văn học là cuộc đời, thì nó vẫn trở lại cuộc đời,

vẫn hướng đến con người Vì vậy nhân vật văn học thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng về con người là điều tất yếu

Ở tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng, trong những năm chiến tranh Nguyễn

Minh Châu đã cất công “đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” và Nguyệt chính là hiện thân của quan niệm nghệ thuật về con người đó.

Vẻ đẹp tâm hồn của cô gái xung phong thể hiện qua tư thế ngồi một cách thản nhiên nhìn ra ngoài, giọng nói điềm nhiên, bình tĩnh khi xe chạy qua đoạn đường

đầy hố bom cũ và mới, rồi tiếng máy bay ầm ầm “Địch quây tròn trên đầu như xay lúa, rất thấp, thả pháo sáng và bắn hai mươi ly” Từ nhân vật Nguyệt đã dần

làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật về con người trong thời kháng Mĩ ác liệt của tác giả, đó là những cô gái xung phong giàu lòng dũng cảm, gan dạ, sống nghĩa tình với đồng đội

Để xây dựng một nhân vật mang tính đại diện cho những con người như thế thì chủ thể sáng tạo phải am hiểu về con người Đi sâu vào mọi ngõ ngách của cuộc sống để khám phá, để cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn, tâm tư, tình cảm của họ

mà từ đó tìm ra những quan niệm nghệ thuật về con người Đó là khái niệm cơ

Trang 2

bản để nhà văn thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người

Theo Trần Đình Sử: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn

liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng

3.1.1.2 Cơ sở xã hội, lịch sử, văn hóa của quan niệm nghệ thuật về con người

“Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu

tả con người trong văn học Nhưng các nguyên tắc đó có cơ sở thực tế sâu xa trong lịch sử” Chủ thể sáng tạo sống trong những thời kì nhất định, vì thế mà

điều kiện về lịch sử xã hội cũng như văn hóa đều tác động đến con người Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là một sản phẩm của lịch sử

“Quan niệm nghệ thuật về con người là sản phẩm của văn hóa, tư tưởng”.

Tức là văn hóa, tư tưởng trong từng thời kì ảnh hưởng đến quan niệm nghệ thuật

về con người của tác giả

“Quan niệm nghệ thuật về con người cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính

nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn của nghệ sĩ”

Tóm lại, các yếu tố về mặt xã hội như chính trị, lịch sử, văn hóa tư tưởng có ảnh hưởng đối với quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Và quan niệm nghệ thuật về con người cũng phản ánh tư tưởng của nhà văn về con người, về cuộc sống và nó mang đậm dấu ấn sáng tạo của từng tác giả, từ đó làm nên sự phong phú và đa dạng cho nền văn học nói chung

3.1.1.3 Ý nghĩa quan niệm nghệ thuật về con người

“Quan niệm nghệ thuật về con người không phải là bất cứ cách cắt nghĩa

cách lí giải nào về con người mà là cách cắt nghĩa mang tính phổ quát, mang ý nghĩa triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người”.

Trang 3

“Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong chiều sâu của nó”, chủ thể sáng tạo đi sâu vào những tâm tư, tình cảm của con người.

Càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người càng khẳng định bản lĩnh sáng tạo và thành tựu của họ

3.1.2 Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

3.1.2.1 Tương quan giữa nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác

phẩm văn học, mà trước hết là biểu hiện tập trung ở nhân vật, bởi “nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học”.

Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách

nghĩ, cách cắt nghĩa, lí giải về con người của nhà văn Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng

Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng của các cá thể con

người trong tác phẩm văn học, cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ

Từ hai khái niệm trên cùng với quá trình tham khảo, tìm hiểu chúng tôi đưa

ra một số mối tương quan giữa nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật về con người, cụ thể như sau

Nhân vật trong tác phẩm văn học là những hình tượng cụ thể “mô tả lại” thế

giới con người theo quan niệm, tư tưởng, tình cảm và nhận thức thẩm mĩ của tác giả Vậy nên, nhân vật văn học trong tác phẩm không phải là con người thực xuất hiện một cách trọn vẹn, mà chỉ là những hình tượng, lát cắt, bộ phận phản chiếu thế giới thực tại thông qua cách nhìn nhận, quan niệm nghệ thuật về con người, ý thức sáng tạo và ý đồ sáng tác của tác giả

Trang 4

Nhân vật chỉ là biểu hiện cụ thể, cá biệt về con người, về quan điểm nghệ thuật của tác giả Trong một giai đoạn lịch sử các nhà văn, nhà thơ có thể tạo cho mình những nhân vật, hệ thống nhân vật tiêu biểu, thể hiện những quan niệm riêng để phong cách của họ không trùng lấp với nhau

3.1.2.2 Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người

Để miêu tả nhân vật thì chủ thể sáng tạo phải am hiểu con người, phải có những phương tiện, cách thức để thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong văn bản nghệ thuật Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từ biểu hiện của nhân vật, thông qua các yếu tố cấu thành như: cách xưng hô, tên nhân vật, chân dung nhân vật, hành động, tâm lý, ngôn ngữ, kết cục

3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người qua các thời kì văn học

3.2.1 Thời kì văn học dân gian

3.2.1.1 Con người trong thần thoại

Thần thoại là sản phẩm của người nguyên thủy nhưng người nguyên thủy chưa là người đích thực cho nên thần thoại cũng chưa phải là nghệ thuật Tuy nhiên, thần thoại lưu giữ kí ức nguyên sơ nên có ảnh hưởng sâu sắc tới văn nghệ sau này Thần thoại là thế giới siêu nhiên được đồng nhất với hiện tượng tự nhiên như là thực thể Con người thần thoại thường mang chức năng của một vài hiện tượng tự nhiên như thần Zeus – chúa tế thế giới, Apollo – thần Mặt trời,

Hầu như thần thoại nước nào cũng mang chức năng tự nhiên, văn hóa, xã hội, sáng tạo ra thế giới, loài người Do chưa tách khỏi thế giới tự nhiên cho nên con người trong thần thoại dễ biến hóa qua lại giữa người và tự nhiên Ngoài ra, con người thần thoại còn có dạng lưỡng thể, nửa người, nửa vật Đặc điểm đáng chú ý là con người trong thần thoại là người đầu tiên, vị tổ tiên của tộc người và nhân loại, người đẻ ra loài người, người sáng tạo ra thế giới, người tạo ra đất trời, ngày đêm và muôn vật

Thần thoại về nguồn gốc tổ tiên của người Việt: “Lạc Long Quân lấy con gái

Đế Lai là Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, trăm trứng ấy nở thành trăm người con trai Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng,

Trang 5

mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được” Hai người bèn chia con mà ở riêng Năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển, chia nhau mà thống trị những xứ đó, đó là thủy tổ của các nhóm Bách Việt Người con cả trong số những người con theo mẹ lên Phong Châu (nay là Phú Thọ) và được tôn làm vua gọi là Hùng Vương lập ra nước Văn Lang”.

Hay thần thoại về người đã tạo ra trời đất: “Thuở ấy, chưa có thế gian, chưa

có muôn vật Trời đất chỉ là một vùng hỗn độn, tối tăm Bỗng một vị thần khổng

lồ xuất hiện Thần dùng đầu đội trời lên cao Rồi thần đắp đất đá thành một cái cột để chống trời Cột càng được đắp lên cao bao nhiêu thì bầu trời càng cao rộng ra bấy nhiêu Thần hì hục đào đắp để nâng vòm trời lên mãi lên mãi Từ

đó, trời đất mới phân đôi Đất phẳng như cái mâm vuông, trời tròn như chiếc bát úp Nơi trời đất giáp nhau gọi là chân trời Khi trời đất đã ổn định, rạch ròi, thần phá đi cái cột, hất tung đất đá khắp nơi Vì thế, cột trụ trời bây giờ không còn nữa, nhưng vết tích của cột vẫn còn ở núi Yên Phụ (Kim Môn, Hải Dương) Còn những nơi đất đá văng đến, thì thành núi đồi, gò đống; những chỗ bị đào thì thành biển sâu hồ rộng Rồi những thần khác xuất hiện nối tiếp công việc xây dựng nên cõi thế gian này Các vị thần đó rất nhiều, như thần Sao, thần Sông, thần Núi, thần Biển ”.

Khác với cổ tích, con người trong thần thoại không có chức năng đánh giá nên có nhiều nghĩa

3.2.1.2 Con người trong sử thi

Sử thi (anh hùng ca) là sản phẩm của thời đại hình thành các bộ tộc người, cội nguồn của nó là những bài ca ca ngợi các vị tộc trưởng tài trí, thiêng liêng hùng mạnh Con người trong sử thi ảnh hưởng từ thần thoại cho nên có liên hệ mật thiết với các thần linh và phép lạ nhưng nhìn chung là những anh hùng, tráng sĩ có sức lực và tài nghệ tuyệt vời Sử thi gắn với ý thức phân biệt bộ tộc và

những cuộc chiến bảo vệ danh dự của bộ tộc, dòng họ mình Trong sử thi “Đăm Săn”, người anh hùng Đăm Săn đã chiến đấu với Mtao Mxây để giành lại danh

dự cho bộ tộc mình, thể hiện ý thức tình cảm cộng đồng bền vững

Trang 6

Con người sử thi có lí trí rất cao, không hành động vì cảm giác hoặc tình cảm ham muốn nhất thời Họ đại diện cho toàn năng của bộ tộc chứ không phải là ý thức cá nhân Đó là con người lý tưởng hóa Con người sử thi được quan niệm là

có thực trong truyền thuyết chứ không phải là sản phẩm hư cấu

3.2.1.3 Con người trong truyện cổ tích

Cổ tích là sản phẩm của thời đại mà cộng đồng tan rã, bị phân hóa ra thành các mặt đối lập, huyền thoại mất thiêng Cổ tích là sáng tác có ít nhiều ý thức hư cấu, bịa đặt, được truyền miệng Cổ tích bao gồm những mảnh vụn của thần thoại, sử thi, các mẫu chuyện đời thường, các câu chuyện vui được thêu dệt bằng trí tưởng tượng hoang đường Nhân vật trong truyện cổ tích thường là nhân vật tài giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, người con riêng, người nghèo khổ, nhân vật xấu xí, nhân vật thông minh, nhân vật ngốc nghếch và cả những câu chuyện về các con vật nói năng và hoạt động như con người

Con người trong truyện cổ tích quan tâm tới số phận cá nhân Kết thúc truyện thường có hậu Con người cổ tích đã giảm sút nhiều về tính thần kỳ, toàn năng của các thần Năng lực của họ dồn vào vật thần kỳ, một vật trung gian mà người

ta có thể cho, giành lấy hoặc đánh mất Sức mạnh của con người cổ tích là ở chính nghĩa của họ Thiện thì gặp may mắn, được giúp đỡ, ác thì bị trừng trị Con người lương thiện làm tròn bổn phận của mình còn kẻ ác là kẻ phá hoại lẽ công bằng

Chẳng hạn như trong “Tấm Cám”, Tấm trèo cây cau, mẹ ghẻ chặt cây, nói

dối là đuổi kiến, Tấm cũng tin, sau đó Tấm bảo Cám dội nước sôi để trắng, Cám cũng không nghi ngờ gì, vua thấy Cám thay Tấm làm hoàng hậu, vua cũng không biết phản ứng Tấm bị mẹ con dì ghẻ ức hiếp cũng không dám đấu tranh

mà luôn trông chờ vào sự cứu giúp của Bụt Vì vậy có thể nói con người cổ tích chưa có hoạt động nội tâm hoặc nội tâm không phát triển, không nhất quán Điều

đó là do con người trong truyện cổ tích sống theo lẽ công bằng phổ quát chứ không phải bằng tài trí Con người trong cổ tích luôn trông chờ sự giúp đỡ của các đấng siêu nhiên chứ không tự bản thân giải quyết vấn đề

3.2.2 Thời kì văn học trung đại

Trang 7

Văn học trung đại là một loại hình văn học, sản phẩm của xã hội xây dựng trên các quan hệ phong kiến Văn học trung đại biểu hiện khá phong phú, bao gồm các thể loại khác nhau và biến động theo từng giai đoạn Mỗi thể loại có đặc trưng riêng, có một cách quan niệm và biểu hiện con người riêng nhưng nhìn chung con người trong văn học trung đại có một số đặc điểm: mang dấu ấn đẳng cấp, dấu ấn hệ tư tưởng, của sáng tác dân gian

Con người trung đại chịu ảnh hưởng của mô hình “thiên địa nhân”, trời đất

và người dung hòa với nhau Con người thấy hình ảnh của mình thông qua các ước lệ tượng trưng như mai, tùng, liễu, mắt phượng, mặt rồng… Chẳng hạn:

“Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc/ Nợ tang bồng vay trả trả vay”, “Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết/ Người ở đời sao khỏi tiết gian nan” Con người

trung đại hướng mình về cái bao la của vũ trụ, cảm thức trước vẻ đẹp của nó và

tỏ lòng trước thiên nhiên Vì vậy, cái song hành vũ trụ - con người là cảm thức của cả một mô hình văn học trong thời kì trung đại

Con người trung đại chịu ảnh hưởng của đạo đức, họ khép mình theo khuôn khổ chuẩn mực đạo đức của thời đại Xã hội trung đại được nhìn nhận trong một

hệ thống tôn giáo đạo đức, nổi bật lên đó là chức năng giáo huấn con người, hướng con người hoàn thiện đạo đức cá nhân

Thời trung đại đã hình thành rõ quan niệm con người cá nhân Họ bắt đầu giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư trong sáng tác Con người cá nhân trong văn học trung đại có một quá trình tự ý thức Trong từng thời kì lịch

sử chịu ảnh hưởng của các ý thức hệ đương thời nhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vận động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống

3.2.3 Thời kì văn học hiện đại

Văn học hiện đại là sản phẩm của thời kì xã hội phong kiến tan rã, quan hệ tư bản được xác lập, văn học của thời kì con người cá nhân tư sản, văn học của ý thức cá tính của tác giả, ý thức nghệ thuật tự giác Cá nhân trong văn học hiện đại là cá nhân xã hội

Văn học trước 1945 có ba hiện tượng văn học lớn với những quan niệm nghệ thuật đáng chú ý

Trang 8

Thứ nhất, tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn thể hiện quan niệm con người mới làm nền tảng cho việc xây dựng cốt truyện và miêu tả nhân vật Đó là con người

cá nhân với những xung đột trong với gia đình truyền thống, khát vọng tình yêu,

thế giới nội tâm Chẳng hạn, tiểu thuyết Nửa chừng xuân, mối tình của Mai và

Lộc bị lễ giáo phong kiến ngăn chặn Đặc biệt tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn

đã mở đầu cách miêu tả thế giới nội tâm con người, trình bày cảm giác của con người đối với môi trường xung quanh Đặc trưng cơ bản là lối cảm thụ lãng mạn

Thứ hai, Thơ Mới là thơ phát hiện “cái tôi” cá nhân thành thực, thầm kín của mỗi người, hầu như cảm hứng chủ đạo là đi tìm “cái tôi”, cái cảm giác bên

trong với thế giới xung quanh Điều này làm cho thơ thay đổi điểm nhìn, nhìn từ bên trong cái tôi, qua lăng kính cảm giác Thơ Mới thể hiện điểm nhìn mới, nhãn

quan ngôn ngữ mới, chủ thể mới và hình ảnh mới Trong bài thơ Những sợi tơ lòng của Chế Lan Viên, xuất hiện “cái tôi” u uất, bi quan, chán nản, muốn thoát

li thực tại: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/

Để nơi đó tháng ngày tôi lãnh tránh/ Mọi ưu phiền, đau khổ với buồn lo” Hay trong bài thơ Buồn đêm mưa của Huy Cận, nhân vật xuất hiện thông qua mạch

cảm xúc, ngoại cảnh và hành động được biểu hiện trong ngôn từ nghệ thuật, với

cái nhìn mới về nỗi buồn: “Đêm mưa làm nhớ không gian/ Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la/ Tai nương nước giọt mái nhà/ Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn”.

Thứ ba, văn xuôi hiện thực nhìn xã hội trong mối quan hệ với số phận và ứng

xử cá nhân Văn học xem con người là sản phẩm của hoàn cảnh, mổ xẻ con người là khám phá tác động của hoàn cảnh lên con người Nguyễn Công Hoan miêu tả con người bị tha hóa, đánh mất bản chất thật, lên án xã hội giả dối, phi nhân tính Ngô Tất Tố miêu tả số phận con người bị áp bức, bóc lột nhưng có phẩm chất tốt đẹp Nam Cao miêu tả con người bị tha hóa nhưng vẫn thấy con người còn giữ được tính người, vừa đau đớn vừa mạnh mẽ

Văn học hậu, hiện đại miêu tả con người mới và con người trong tác phẩm không đồng nhất với con người trong xã hội Con người trong văn học hậu hiện đại được thể hiện qua các giai đoạn lịch sử

Con người trong văn học kháng chiến chống Pháp, đó là con người tập thể, sẵn sàng làm theo yêu cầu chung Con người này rất tuyệt vời, vô tư và trong

Trang 9

sáng, có tinh thần xả thân cứu nước Đó là con người chuyển hóa tức là chưa hoàn chỉnh trọn vẹn Họ là những người mới bước ra khỏi cuộc đời cũ, vừa đặt chân cuộc sống mới

Con người trong văn học trong giai đoạn hòa bình có sự chuyển biến mới là miêu tả con người với những số phận cá nhân nhưng vẫn là cá nhân của tập thể Bước sang thời kì kháng chiến chống Mỹ xuất hiện con người xả thân, rất rõ

về sứ mệnh lịch sử của mình đó là con người chủ yếu trong sản xuất và chiến đấu, con người vươn lên trong cuộc sống đạo đức

Sau giai đoạn 1975 bắt đầu có con người sinh hoạt, con người riêng tư tức là con người thế sự

Từ 1986, văn chương Việt Nam đã bước vào quỹ đạo của chủ nghĩ hậu hiện đại Con người trong giai đoạn này được khai phá sâu rộng trong đời sống tâm hồn, nhà văn quan tâm đến những chuyện vụn vặt, nhỏ bé, những nỗi đau và niềm vui của con người Họ biểu hiện và miêu tả cụ thể trong văn chương Con người đặt lên vị trí hàng đầu Tuy nhiên, cách biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người khác nhau tùy giai đoạn Ở văn học hậu hiện đại hướng đến cái bản

thể con người để nhìn nhận và đánh giá mà I am đàn bà của Y Ban là một minh

chứng thiết thực

3.3 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn I am đàn bà

“Văn học là nhân học” là câu nói nổi tiếng của Gorki khi bàn về đối tượng

của văn chương Văn học nghệ thuật hướng đến con người, lấy con người làm trung tâm của mọi sự phản ánh, sáng tạo Bản chất của con người muôn màu muôn vẻ, có khi đơn giản, gần gũi, có khi thần bí, mênh mông, khó nắm bắt Đọc

truyện ngắn I am đàn bà của Y Ban ta thấy được một con người rất “người” với

bản năng và bản chất vốn có Nhà văn phát hiện và trân trọng những tình cảm, cảm xúc, những khát khao bình thường hay tầm thường của con người

Tóm tắt, truyện ngắn I am đàn bà viết về “thị”, người phụ nữ nông dân

nghèo khó Một hôm thị đi kiếm mật ong trong rừng thì bắt gặp một đứa bé mới sinh còn nguyên dây rốn để trong cái giành lót rơm treo trên cành cây Thị tưởng đứa bé đã chết nên ôm đứa bé vào lòng, định đào hố chôn Nhưng khi thị đụng vào cái giống của đứa bé thì phát hiện đứa bé còn sống Thị cho đứa bé bú sữa

Trang 10

rồi đem về nhà nuôi Nhà vốn đã đông con lại nghèo khó nên thị quyết định đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan để có tiền chu cấp cho gia đình Công việc hằng ngày của chị là chăm sóc cho ông chủ sống đời thực vật Trong lúc làm việc, thị

đã làm tình với ông chủ và bị bà chủ phát hiện qua camera gắn trong phòng Thế

là thị bị bắt vào tù Thị không thể giải thích được gì ngoài từ tiếng Anh được học

là I am Thị sẽ minh oan cho mình bằng câu “I am đàn bà”

Quan niệm nghệ thuật về con người được Y Ban gửi gắm qua nhân vật người

đàn bà trong truyện ngắn I am đàn bà Nhân vật này không được nhà văn đặt cho một cái tên cụ thể mà chỉ gọi là “thị” Cách gọi này cho ta thấy Y Ban không chỉ

nói về một nhân vật trong một tác phẩm mà nhà văn mượn nhân vật không tên này để nói lên tiếng nói chung cho người phụ nữ Vấn đề con người được đặt ra trong tác phẩm là con người phải được sống trong tình yêu thương, sự quan tâm

và bản thân họ phải là con người của yêu thương Tình yêu thương đã làm cho

thị sợ hãi, đau đớn, làm thị khóc, “khóc vật vã Khóc kiệt cùng”, cho đến khi

nước mắt, thị khô kiệt khi bồng trên tay đứa bé xa lạ tưởng đâu đã chết Tình yêu thương ấy xuất phát từ bản năng làm mẹ, cho nên thị vui sướng nhận đứa bé xa

lạ ấy làm con, quan tâm, chăm sóc nó không khác con ruột của mình; tình yêu thương đã thôi thúc thị bỏ quê hương mà ra xứ người làm việc để có tiền nuôi con; tình yêu thương còn được thể hiện qua việc chăm sóc người đàn ông xa lạ tận tình, chu đáo Thị xoa bóp, tắm rửa hát ru và trò chuyện với ông chủ Lúc

đầu, thị gọi ông chủ là “anh”, xưng “tôi” Lúc sau, thị gọi ông chủ là “cu”, xưng “chị” Sự tiến triển trong cách xưng hô cũng là sự tiến triển của tình

thương, làm mối quan hệ giữa người và người trở nên gần gũi, thân thiết hơn Thị xem ông chủ như người em, người con, như người thân ruột thịt của mình nên mới dùng cách xưng hô như vậy Và tình yêu thương của thị đã làm cho

người đàn ông sống đời sống thực vật ấy hồi sinh trở lại Bằng chứng là “tay ông chủ đã nắm được tay thị”

Không chỉ nói về con người với tình yêu thương, Y Ban còn quan tâm đến

khát khao, ước mơ và những nỗi niềm riêng tư của con người Vậy khát khao ở đây là gì? Là khát khao được đổi đời của thị, là khát khao được trò chuyện, tâm

sự của thị, là khát khao được thỏa mãn sau sự tiếp xúc thân thể trong một thời

gian khá lâu: “Thời gian như kẻ đồng lõa với thị Nó hối thúc thị” Người ta

Ngày đăng: 09/01/2018, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w