Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Luận án tiến sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LÊ THU HIỀN
QUAN NIỆM CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRẺ
VỀ Ý NGHĨA CỦA TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LÊ THU HIỀN
QUAN NIỆM CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRẺ
VỀ Ý NGHĨA CỦA TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN
Ngành, chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu của người nào khác
Tác giả luận án
Lê Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của GS.TS Nguyễn Hữu Minh, thầy
đã cho tôi những gợi ý ban đầu trong quá trình hình thành các ý tưởng nghiên cứu liên quan đến luận án Thầy sẵn sàng trợ giúp tôi bất cứ khi nào tôi gặp vướng mắc
về kiến thức chuyên môn Có những thời điểm dù rất bận rộn nhưng thầy vẫn băn khoăn về vấn đề nghiên cứu của tôi, đây là tình cảm tôi vô cùng trân trọng Tôi nghĩ mình rất may mắn khi là học viên của thầy và được thầy hướng dẫn khoa học từ bậc học thạc sỹ cho tới nghiên cứu sinh Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy
Tôi nhận được sự góp ý về chuyên môn, học thuật về nội dung nghiên cứu của luận án từ các thầy cô trong Hội đồng các chuyên đề, Hội đồng cấp cơ sở và hỗ trợ đầy trách nhiệm của cán bộ thuộc Khoa Xã hội học - Học viện Khoa học Xã hội Nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình của họ, tôi khó có thể hoàn thiện luận án Nhân đây, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến với tất cả các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài Khoa Xã hội học - Học viện Khoa học xã hội
Có được thuận lợi trong quá trình làm luận án này, tôi không thể quên sự ủng hộ của Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp ở khoa Công tác xã hội và các bạn bè, đồng nghiệp ở Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam - những người đã tạo điều kiện
và luôn động viên, giúp đỡ tôi về chuyên môn Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy,
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Lê Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN NIỆM VỀ Ý NGHĨA CỦA TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 16
1.1 Về phương pháp nghiên cứu 16
1.2 Các nội dung nghiên cứu về tình d c trong hôn nhân 19
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU QUAN NIỆM VỀ Ý NGHĨA CỦA TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 45
2.1 Một số lý thuyết 45
2.2 Một số khái niệm liên quan tới luận án 52
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM QUAN NIỆM VỀ Ý NGHĨA CỦA TÌNH DỤC TR ON G HÔN C ỦA CÁC CẶ P VỢ C HỒN G TRẺ 62
3.1 Ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân 62
3.2 Mối quan hệ giữa quan niệm về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân và thực trạng đời sống tình d c của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay 75
Chương 4: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUAN NIỆM CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRẺ VỀ Ý NGHĨA CỦA TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 99
4.1 Những yếu tố thuộc về cặp đôi 99
4.2 Những yếu tố thuộc về cá nhân vợ/chồng 113
KẾT LUẬN 140
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC 154
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Mô tả khách thể nghiên cứu tổng thể (N=360) 7
Bảng 2: Mô tả khách thể nghiên cứu theo cặp đôi (N=180) 8
Bảng 3.1: Ma trận tương quan của các item với yếu tố (phép xoay Varimax) 63Bảng 3.2: Mức độ đồng tình với ba nhóm quan niệm về ý nghĩa tình d c trong hôn nhân (Tỉ lệ %) 66Bảng 3.3: Điểm trung bình theo từng nhận định trong quan niệm 1 - Tình d c mang ý nghĩa gắn kết tình cảm vợ chồng và thể hiện hình ảnh bản thân 68Bảng 3.4: Điểm trung bình theo từng nhận định trong quan niệm 2 - Tình d c mang ý nghĩa duy trì nòi giống 70Bảng 3.5: Điểm trung bình theo từng nhận định trong quan niệm 3 - Tình d c mang ý nghĩa đạt được khoái cảm cá nhân 72Bảng 3.6: So sánh giá trị trung bình về tần suất QHTD theo ý kiến của vợ và chồng 76Bảng 3.7: Tương quan giữa tỉ lệ thỏa mãn trên tổng số lần QHTD vợ chồng và số năm kết hôn 80Bảng 3.8: Tỉ lệ thỏa mãn trên tổng số lần QHTD vợ chồng theo giới tính * 81Bảng 3.9: Mức độ chia sẻ trong các lĩnh vực liên quan tới TD của người trả lời theo giới 82Bảng 3.10: ĐTB về mức độ chia sẻ của người trả lời khi gặp tr c trặc liên quan tới TD vợ chồng 84Bảng 3.11: ĐTB về mức độ chia sẻ của người trả lời khi gặp tr c trặc liên quan tới
TD vợ chồng theo giới tính 84Bảng 3.12: Tương quan giữa mức độ chia sẻ của vợ - chồng về TD với mức độ thỏa mãn về đời sống TD** (Tỉ lệ %) 85
Trang 8Bảng 3.13: ĐTB mức độ người trả lời chủ động có các cử chỉ TD đối với bạn đời 87
Bảng 3.14: Mức độ phản ứng của người trả lời khi vợ/chồng thể hiện mong
muốn có QHTD theo giới tính (Tỉ lệ %) 90Bảng 3.15: ĐTB về mức độ đồng tình với các lý do từ chối QHTD với vợ/chồng theo giới 92Bảng 3.16: So sánh ĐTB về mức độ thỏa mãn/hài lòng về đời sống TD và đời sống hôn nhân giữa vợ và chồng (Tỉ lệ %) 94Bảng 3.17: Khác biệt giữa vợ và chồng theo từng nhóm quan niệm về ý nghĩa của
TD trong hôn nhân (Tỉ lệ %) 94Bảng 3.18: So sánh mức độ thỏa mãn về đời sống TD của vợ và chồng khi có sự tương đồng/khác biệt trong quan niệm về ý nghĩa của TD trong hôn nhân 95 Bảng 4.1: So sánh giá trị trung bình của các quan niệm về ý nghĩa TD trong hôn nhân theo khu vực sinh sống (N=360) 99Bảng 4.2: So sánh giá trị trung bình về quan niệm về ý nghĩa của TD trong hôn nhân theo điều kiện kinh tế gia đình (Oneway Anova) 101Bảng 4.3: Người đóng góp kinh tế chủ yếu cho cuộc sống gia đình 102Bảng 4.4: So sánh giá trị trung bình về mức độ đồng tình trong quan niệm về
ý nghĩa của TD trong hôn nhân theo số con (So sánh Oneway-Anova) 104Bảng 4.5: Hệ số tương quan r-Pearson về số con và các nhóm quan niệm về ý nghĩa của TD trong hôn nhân 105Bảng 4.6: Tương quan giữa chênh lệch tuổi vợ - chồng và sự khác biệt trong quan điểm về ý nghĩa của TD trong hôn nhân (Kiểm định Chi-square) (Tỉ lệ %) 108Bảng 4.7: So sánh giá trị trung bình giữa với các nhận định của nhóm quan niệm 2 - TD có ý nghĩa duy trì nòi giống theo giới trong nhóm người trả lời
có chồng hơn vợ trên 5 tuổi (Kiểm định Independent Samples t-test) 109
Trang 9Bảng 4.8: So sánh giữa chênh lệch tuổi vợ - chồng và ĐTB mức độ đồng tình của người trả lời với các nhóm ý nghĩa của TD trong hôn nhân 110Bảng 4.9: So sánh giá trị trung bình về quan niệm về ý nghĩa TD trong hôn nhân với tình trạng QHTD với vợ/chồng trước khi kết hôn 111Bảng 4.10: So sánh giá trị trung bình về quan niệm về ý nghĩa TD trong hôn nhân giữa các nhóm tuổi của người trả lời (Kiểm định Independent t-test) 113Bảng 4.11: So sánh giá trị trung bình giữa các nhóm tuổi về quan niệm 2- TD mang ý nghĩa duy trì nòi giống theo số con 114Bảng 4.12: So sánh giá trị trung bình về quan niệm TD trong hôn nhân giữa các nhóm trình độ học vấn (So sánh Oneway-ANOVA) 115Bảng 4.13: So sánh điểm trung bình giữa các nhóm nghề nghiệp theo từng nhóm quan niệm về ý nghĩa của TD trong hôn nhân (N=360) 116Bảng 4.14: So sánh ĐTB của các nhận định thuộc nhóm quan niệm 1 theo 3 nhóm nghề (công chức, viên chức; kinh doanh và lao động giản đơn) 118Bảng 4.15: So sánh ĐTB của các nhận định thuộc nhóm quan niệm 3 theo 3 nhóm nghề (công chức, viên chức; kinh doanh và lao động giản đơn) 119Bảng 4.16: Ma trận tương quan của các item với yếu tố (phép xoay Varimax) 123Bảng 4.17: Tương quan giữa giới tính mức độ đồng tình với quan niệm 3 -
TD mang ý nghĩa đạt được khoái cảm* (Tỉ lệ %) 128Bảng 4.18: So sánh giá trị trung bình giữa vợ và chồng trong quan niệm về ý nghĩa TD trong hôn nhân (Kiểm định Independent Samples t-test) 129Bảng 4.19: Quan niệm của người trả lời về những yếu tố duy trì một cuộc hôn nhân hạnh phúc (N=360) 130Bảng 4.20: So sánh giá trị trung bình của 3 nhóm kì vọng trong hôn nhân về quan niệm TD trong hôn nhân 131Bảng 4.21: Ma trận phép xoay nhân tố varimax về những yếu tố ảnh hưởng tới sự thỏa mãn đời sống TD 133
Trang 10Bảng 4.22: ĐTB cho các nhận định thuộc nhóm nhân tố 1 ảnh hưởng tới thỏa mãn đời sống TD 135Bảng 4.23: ĐTB cho các nhận định thuộc nhóm nhân tố 2 ảnh hưởng tới thỏa mãn đời sống TD 136Bảng 4.24: ĐTB cho các nhận định thuộc nhóm nhân tố 3 ảnh hưởng tới thỏa mãn đời sống TD 136
Trang 11Biểu đồ 4.1: So sánh giá trị trung bình của quan niệm TD trong hôn nhân với
số năm kết hôn (Kiểm định Independent t-test) 106
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình d c trong mối quan hệ hôn nhân là một trong những khía cạnh được chú trọng nghiên cứu Theo các nhà nghiên cứu tầm quan trọng của mối quan hệ lâu dài giữa tình d c và cuộc sống vợ chồng cần được xem x t một cách kĩ càng ởi lẽ thiếu đi hoạt động tình d c được cho là sẽ hủy hoại sự ổn định của việc xây dựng mối quan hệ này [43] Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi mối quan hệ vợ chồng đòi hỏi sự tham gia liên t c và bền vững của
cả hai ph a chứ không đơn thuần là một thỏa thuận ch nh thống ràng uộc thì tình d c được coi như iểu hiện tốt nhất về sự tồn tại và động lực của một cặp đôi và là một trong những yếu tố dự đoán mối quan hệ này trong tương lai [40] Bởi lẽ đó ý niệm coi tình d c như là yếu tố cơ ản đối với sự ền vững trong hôn nhân không còn là mới nhưng những đánh giá thực nghiệm về nó thì chưa được khám phá [49]
Tuy nhiên rõ ràng việc từng cá nhân suy nghĩ như thế nào về tình d c trong một mối quan hệ có ảnh hưởng tới đời sống của họ trong thực tế Laumann và cộng sự (1994) đã tìm ra những điểm tương đồng trong thái độ
về tình d c và nhóm thành ba nhóm cơ ản căn cứ theo m c đ ch của tình d c bao gồm: nhóm có m c đ ch mang t nh chất truyền thống hay nhằm duy trì
nòi giống (tradional or procreational) là những người coi m c đ ch cơ ản
của hoạt động tình d c là để sinh sản Nhóm thứ hai coi tình d c như là iểu
hiện của một mối quan hệ (relational), và những người thuộc nhóm có xu
hướng coi hoạt động tình d c là một phần tự nhiên của một mối quan hệ sâu
sắc, thân thiết (intimate) và quan hệ yêu đương Vì vậy nhóm này thường có
xu hướng chấp nhận tình d c trong điều kiện có tình yêu và sự ràng buộc, cam kết trong một mối quan hệ giống như là kết hôn hoặc họ có thái độ rất
Trang 132
tiêu cực đối với hành vi tình d c ngoài hôn nhân hoặc “lừa dối” (cheating) với
đối tác của mình Và nhóm thứ a được gọi là nhóm có thái độ giải trí
(recreational) Những người thuộc nhóm này coi m c đ ch đầu tiên của tình
d c là để giải trí [67]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan tới tình d c bắt đầu từ những năm cuối của thế kỉ XX với những ý tưởng xuất phát từ hệ quả tiêu cực của tình d c tới sức khỏe của con người như HIV/AIDS nạo thai, quan hệ tình
d c trước hôn nhân…[15] Vai trò của tình d c trong việc duy trì một mối quan hệ bền vững giữa vợ chồng thái độ và hành vi của các nam, nữ sau khi kết hôn đối với tình d c trong hôn nhân, sự khác biệt trong quan điểm của nam và nữ về hiện tượng này là những vấn đề bắt đầu được đề cập thường xuyên hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong một số cuộc điều tra khoảng 10 năm trở lại đây Tuy nhiên tình d c cũng lại được nhắc đến như là một trong những nguyên nhân dẫn tới ly hôn khi các nhà nghiên cứu đề cập tới nó trong bối cảnh ngoài hôn nhân [43] hay sự không hòa hợp trong đời sống tình d c vợ chồng Kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy khoảng 10% coi sự không hoà hợp về sinh lý và vợ/chồng không chung thuỷ là
lý do chủ yếu dẫn tới mức độ hài lòng trong hôn nhân thấp (sau hai nguyên nhân
là bất hoà về ứng xử và khó khăn về kinh tế) [6]
Theo số liệu Báo cáo Điều tra Quốc gia về thanh niên Việt Nam (gọi tắt
là SAVY 2), tuổi quan hệ tình d c lần đầu của thanh niên Việt Nam tham gia vào nghiên cứu là 18,1 tuổi (18,2 tuổi với nam giới và 18 tuổi với nữ giới) [4]
- giảm so với Điều tra về Thanh niên và Vị thành niên Việt Nam 2003 (gọi tắt là SAVY 1): 19,6 cho nam và 19,4 cho nữ [5] Trong khi đó tuổi kết hôn trung bình lần đầu năm 2009 là 22 8 với nữ và 26,2 với nam [32] Như vậy,
độ tuổi quan hệ tình d c lần đầu sớm hơn độ tuổi kết hôn muộn hơn cho thấy thanh niên có một khoảng thời gian vẫn duy trì hoạt động tình d c nhưng lại không gắn với hôn nhân Mặt khác sau khi đã kết hôn, việc thực hiện chính
Trang 143
sách kế hoạch hóa gia đình hạn chế số con, cùng với mô hình sinh của Việt Nam đang tiếp t c chuyển từ “sinh sớm” sang sinh muộn (tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi cao nhất đã chuyển từ nhóm tuổi 20-24 sang nhóm tuổi 25-
29 [4] khiến cho quan niệm tình d c gắn với sinh đẻ chuyển sang tình d c gắn với khoái cảm [17]
Mặc dù tình d c vẫn được đề cập tới trong các nghiên cứu với cách tiếp cận tiêu cực chúng ta cũng cần phải khẳng định rằng quan điểm về tình d c trong hôn nhân của xã hội nói chung ngày nay đã ắt đầu có sự thay đổi thể hiện ở quan niệm về ý nghĩa của tình d c Nếu như trước đây tình d c trong hôn nhân tập trung nhiều về ý nghĩa hướng tới tương lai với m c đ ch để duy trì nòi giống hay để ph c v cho lợi ích của gia đình dòng họ và đối với cá nhân, nó chỉ mang ý nghĩa duy trì sự cân bằng sinh học của cơ thể, hay là nghĩa v của người vợ với người chồng ([12], [16], [19], [23]) thì hiện nay, người ta đã tập trung nhiều hơn vào hiện tại, tức là coi đó như một nhu cầu hưởng th của cá nhân, và củng cố mối quan hệ vợ chồng Đồng thời, một
số yếu tố như giới, con cái, giao tiếp giữa các cặp vợ chồng liên quan tới vấn đề tình d c cũng bắt đầu được đề cập riêng lẻ trong một vài nghiên cứu khác nhau
Tuy nhiên, tình d c cũng mới chủ yếu được nhắc đến như một trong những nguyên nhân dẫn tới ly hôn khi các nhà nghiên cứu đề cập tới nó trong bối cảnh ngoài hôn nhân hay sự không hòa hợp trong đời sống tình
d c vợ chồng Khoảng trống cơ ản của các nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam chưa nhận diện một cách sâu sắc Quan niệm của các cặp vợ chồng về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân đối với từng cá nhân cũng như đối với tổng thể mối quan hệ vợ chồng vốn thường được nhìn nhận một cách đồng nhất nhưng trong thực tế có thể khác nhau đối với hai người trong cuộc Sử d ng cách tiếp cận cặp đôi (dyadic) luận án “Quan niệm của
Trang 154
các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân” góp phần khắc ph c sự thiếu h t trên bằng việc tập trung giải đáp các vấn đề liên quan đến quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân, đời sống tình d c của họ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mô tả một số khía cạnh trong đời sống tình d c của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được m c đ ch trên luận án tập trung thực hiện những nhiệm v
cơ ản sau đây:
- Làm rõ một số khái niệm then chốt bao gồm: “tình d c”; “hôn nhân”
“ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân” “vợ chồng trẻ”;
- Nhận diện quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân hiện nay;
- Áp d ng các cách tiếp cận lý thuyết để giải thích quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân hiện nay;
- Mô tả đời sống tình d c của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay như là cách thức thể hiện của quan niệm về ý nghĩa của tình d c trên các khía cạnh: tần suất quan hệ tình d c, các hành vi liên quan đến đời sống tình d c của các cặp
Trang 165
vợ chồng trẻ hiện nay, mức độ thỏa mãn về đời sống tình d c và mối liên hệ giữa nó với sự thỏa mãn về đời sống hôn nhân nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân
Hà Đông Hai Bà Trưng Long Biên Gia Lâm Tây Hồ Đống Đa Hoàn Kiếm, Hoàng Mai; khu vực ngoại thành bao gồm: Thị xã Sơn Tây huyện Chương Mỹ, Thạch Thất, Quốc Oai Thanh Trì và Hoài Đức
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
- Luận án vận d ng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử khi nghiên cứu về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân Theo quan điểm này, khi xem xét về tình d c, cần nhìn nhận tình d c như là một thực tiễn xã hội, là một phần của thế giới vật chất, biểu hiện của các mội quan hệ tích cực giữa các thành viên trong nhóm các tương tác của con người Những tương tác này tồn tại trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử c thể, vì vậy nó tạo ra những ý nghĩa khác nhau thay đổi theo thời gian Vận d ng vào
Trang 176
luận án ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân cần phải được nhìn nhận như là biểu hiện về mối quan hệ vợ chồng và đặt nó trong bối cảnh điều kiện c thể khi nhận định về các ý nghĩa của tình d c theo quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ với những đặc trưng khác nhau về tuổi, số năm kết hôn, số con, v.v
- Luận án ứng d ng lý thuyết xã hội học bao gồm lý thuyết trao đổi xã hội, lý thuyết kiến tạo xã hội, và lý thuyết tương tác iểu trưng khi nghiên cứu
về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân C thể:
+ Lý thuyết kiến tạo xã hội: vận d ng lý thuyết kiến tạo xã hội để tìm hiểu mối tương quan giữa yếu tố về giao tiếp giữa cặp vợ chồng và số con với quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân
+ Lý thuyết trao đổi xã hội: vận d ng lý thuyết trao đổi xã hội để xem xét các nội hàm c thể trong phân tích quan niệm về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân
+ Lý thuyết tương tác iểu trưng: vận d ng lý thuyết tương tác iểu trưng để xem xét, phân tích sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân có mối liên hệ như thế nào tới sự tương tác nhóm hai người trong đời sống tình d c vợ chồng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu: Do tính nhạy cảm của vấn đề nghiên cứu, luận án sử d ng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có nghĩa là điều tra viên sẽ phỏng vấn những người quen bất kì trong mối quan hệ của họ mà những người này đáp ứng được các tiêu chí phù hợp với nghiên cứu và nếu như một trong hai vợ chồng từ chối tham gia vào nghiên cứu thì sẽ chuyển sang cặp vợ chồng khác cho tới khi đủ mẫu
- Phương pháp phân t ch tài liệu: được sử d ng để thu thập, các bài báo, nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan tới tình d c trong hôn nhân, những yếu tố
Trang 187
ảnh hưởng và các quan niệm về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân được đề cập tới trong các nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Luận án tiến hành thu thập thông tin với 180 cặp vợ chồng trẻ ở nội thành và ngoại thành Hà Nội đối với quan niệm của họ về ý nghĩa của tình
d c trong hôn nhân
Cặp vợ chồng trẻ chủ yếu được xem xét theo tiêu chí số năm kết hôn
Số năm kết hôn từ 10 năm trở xuống được coi là hôn nhân trẻ Ngoài ra yếu tố
độ tuổi cũng được xem xét C thể, tiêu chí lựa chọn các cặp vợ chồng tham gia vào nghiên cứu bao gồm: cả vợ và chồng cần phải đồng ý bằng lời vào việc tham gia nghiên cứu này; hai vợ chồng ở trong độ tuổi 20-40 và thời gian kết hôn với người bạn đời đang chung sống là dưới 10 năm
Một số thông tin cơ ản về khách thể nghiên cứu bao gồm:
Bảng 1: Mô tả khách thể nghiên cứu tổng thể (N=360)
Trình độ học vấn
của người trả lời
Chưa học hết THCS Học hết THPT Học hết CĐ/ĐH sau ĐH
33
85
242
9,2 23,6 67,2
Số lần kết hôn (tính
tới thời điểm tham
gia vào nghiên cứu)
Lần đầu Lần thứ 2
358
2
99,4 0,6
Trang 19Số năm kết hôn <=5 năm
>5 năm
113
47
62,8 37,2 Điều kiện kinh tế gia
đình
Khá giả/giàu có Trung bình Nghèo
12
152
16
6,7 84,4 8,9 Chênh lệch tuổi giữa
vợ và chồng
Chồng ít tuổi hơn vợ/Hai vợ chồng bằng tuổi
Chồng hơn vợ 1-2 tuổi Chồng hơn vợ 3-5 tuổi Chồng hơn vợ trên 5 tuổi
Cách thức tiến hành thu thập thông tin: Chúng tôi tiến hành thu thập thông tin bằng bảng hỏi với các cặp vợ chồng thông qua nhóm điều tra viên bao gồm 12 người Các điều tra viên được tập huấn kĩ về nội dung bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp người trả lời hoặc hướng dẫn người trả lời tự điền vào bảng hỏi nếu họ cảm thấy những nội dung trong bảng hỏi nhạy cảm Các cặp
vợ chồng tham gia vào nghiên cứu đều có sự đồng ý bằng lời trước khi tham gia vào nghiên cứu này và có thể dừng cung cấp thông tin nếu trong quá trình thu thập thông tin họ cảm thấy không thoải mái Việc phỏng vấn vợ và chồng diễn ra tách biệt (điều tra viên có thể đi theo cặp, phỏng vấn song song vợ và chồng cùng một thời điểm, hoặc hẹn chổng riêng, vợ riêng để đảm bảo tính khách quan, vợ/chồng không được biết hay trao đổi với người còn lại về quan điểm của mình)
Trang 209
Trong thực tế, khi thu thập thông tin các điều tra viên gặp phải một số khó khăn như: chỉ có vợ hoặc chồng đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc một trong hai người an đầu đồng ý trả lời nhưng khi trả lời được một số câu hỏi lại từ chối vì cảm thấy nhạy cảm, khó nói Những phiếu hỏi chỉ có vợ hoặc chồng trả lời đã bị loại khỏi nghiên cứu Điều tra viên tìm cặp vợ chồng khác
để bổ sung cho tới khi mẫu nghiên cứu đủ 180 cặp vợ chồng Đối với một số người trả lời ở khu vực ngoại thành, họ yêu cầu tự điền vào bảng hỏi dưới sự giúp đỡ của điều tra viên vì ngại trả lời trực tiếp nếu điều tra viên hỏi
Bảng hỏi được thiết kế với nội dung cơ ản như sau:
Phần 1: Thông tin nhân khẩu học (gồm 5 câu hỏi)
Phần 2: Phần hỏi về quan niệm tình d c trong hôn nhân (gồm 5 câu hỏi) Phần 3: Những yếu tố ảnh hưởng tới quan niệm của các cặp vợ chồng
về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân (gồm 30 câu hỏi)
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Luận án tiến hành phỏng vấn sâu với 8 cặp vợ chồng theo các tiêu chí số năm kết hôn, nghề nghiệp, số con để có sự
so sánh ở mức độ nào đó về sự khác biệt trong quan niệm của các cặp vợ chồng về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân Phỏng vấn sâu được tiến hành riêng biệt giữa vợ và chồng để đảm bảo tính khách quan trong câu trả lời và người vợ hay chồng không bị ảnh hưởng bởi câu trả lời của người kia
+ Phỏng vấn sâu 1 - Cặp số 1: Chồng 40 tuổi - lái xe, vợ 30 tuổi - kinh doanh, kết hôn được 10 năm 02 con (1 trai 1 gái)
+ Phỏng vấn sâu 2 - Cặp số 2: Chồng 26 tuổi - giáo viên, Vợ 26 tuổi - giáo viên cặp vợ chồng kết hôn được 3 năm 01 con gái
+ Phỏng vấn sâu 3 - Cặp số 3: Chồng 33 tuổi - giảng viên, vợ 28 tuổi - Nhân viên ngân hàng, kết hôn được 5 năm 1 con gái
+ Phỏng vấn sâu 4 - Cặp số 4: Chồng 35 tuổi - kinh doanh tự do, vợ 33 tuổi - kinh doanh tự do, kết hôn được 8 năm 02 con (1 trai 1 gái)
Trang 21- Độ lệch chuẩn (Standardizied Deviation): dùng để mô tả sự phân tán hay mức độ tập trung của các câu trả lời trong toàn mẫu, bao gồm các câu: b1, b2, b3, c1, c5, c10, c11, c12, c21, c22, c23
- Tần suất, phần trăm được dùng để thống kê các phương án trả lời theo từng nhóm khách thể
Phân tích thống kê suy luận: Các chỉ số được dùng trong phân tích thống
kê mô tả gồm:
- Phân tích so sánh: Chủ yếu sử d ng phép so sánh giá trị trung bình
(Compare mean) Các giá trị trung ình được xem là khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê khi p< 0,05
Phép kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau của hai trung bình tổng thể dựa trên hai mẫu độc lập rút ra từ tổng thể được áp d ng để so sánh hai giá trị trung
Trang 2211
bình của hai nhóm tổng thể riêng biệt (Indepentent Samples t-test) Trước đó kiểm định Levene test được tiến hành để kiểm định sự bằng nhau của phương sai của 2 tổng thể Nếu giá trị Sig trong kiểm định Levene (kiểm định F) < 0,05 thì phương sai của 2 tổng thể khác nhau Nếu Sig ≥ 0 05 thì phương sai của 2 tổng thể không khác nhau Nếu Sig của kiểm định t<0,05 thì có sự khác biệt có
ý nghĩa về trung bình giữa hai tổng thể Nếu Sig của kiểm định t>=0,05 thì không
có sự khác biệt có ý nghĩa về trung bình giữa hai tổng thể
So sánh giá trị trung bình của 3 nhóm trở lên được thực hiện bởi phép phân
t ch phương sai một yếu tố (One way Anova)
- Phân tích nhân tố: được sử d ng để nhận diện các nhóm quan niệm cơ
bản về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân và những yếu tố ảnh hưởng tới sự thỏa mãn trong đời sống tình d c vợ chồng Một vài tham số thống kê trong phân tích nhân tố bao gồm:
Bartlett test of sphericity: Điều kiện cần để áp d ng phân tích nhân tố là các biến phải có tương quan với nhau Do đó nếu kiểm định Bartlett cho thấy không
có ý nghĩa thống kê thì không áp d ng phân tích nhân tố
Factor Loading (hệ số tải nhân tố): là những hệ số tương quan đơn giữa các biến và các nhân tố
Kaisser-Meyer-Olkin (KMO): là chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số của KMO lớn (giữa 0 5 và 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp Nếu như trị số này nhỏ hơn 0 5 thì phân t ch nhân tố có khả năng không th ch hợp với các dữ liệu
Các câu hỏi được sử d ng chiến lược phân tích nhân tố gồm câu hỏi về quan niệm về tình d c - b1, câu hỏi về yếu tố giới ảnh hưởng tới quan niệm về tình d c -c1 và câu hỏi về những yếu tố ảnh hưởng tới sự thỏa mãn về tình d c trong hôn nhân - c23
Trang 2312
Phân tích tương quan: Trong nghiên cứu này, phép phân tích so sánh,
tương quan được sử d ng để xác định mối liên quan giữa các nhóm yếu tố về quan niệm đối với ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân So sánh tương quan Pearson (r) để tìm hiểu mức độ (hay độ mạnh) liên kết giữa 2 biến định lượng cũng được áp d ng vào phân tích Hệ số tương quan (r) có giá trị từ (-1) đến (+1) Giá trị này cho biết độ mạnh và hướng của mối liên hệ: nếu giá trị (+) tức (r > 0)
có nghĩa là giữa 2 biến này có mối liên quan thuận nghĩa là khi giá trị của một biến tăng lên thì giá trị của biến kia cũng tăng và ngược lại, khi giá trị của một biến giảm, thì giá trị của biến kia cũng giảm; trái lại, nếu giá trị (-), tức (r < 0) là thể hiện mối liện quan nghịch nghĩa là khi giá trị của một biến tăng lên thì giá trị của biến kia giảm đi và ngược lại, khi giá trị của một biến giảm đi thì giá trị của biến kia tăng lên; giá trị của r càng tiến đến 1, thì mức độ tương quan càng lớn; nếu (r = 0) thì 2 biến này không có mối liên quan với nhau
4.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân như thế nào? Có sự khác biệt nào giữa vợ và chồng về quan niệm của họ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân không?
- Đời sống tình d c của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay như thế nào? Có mối liên hệ nào giữa đời sống tình d c và quan niệm của họ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân hay không?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ
về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân?
4.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, luận án đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:
Trang 2413
- Các cặp vợ chồng trẻ hiện nay cho rằng tình d c trong hôn nhân có ý nghĩa: gắn kết tình cảm, mối quan hệ vợ chồng và duy trì hình ảnh bản thân;
để sinh con đẻ cái duy trì nòi giống và để đạt được khoái cảm cá nhân Giữa
vợ và chồng có sự khác biệt trong các quan niệm này
- Nhìn chung các cặp vợ chồng trẻ hài lòng về đời sống tình d c của họ Những người có mức độ đồng tình về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân là
để gắn kết tình cảm vợ chồng thì tích cực duy trì hành vi, cử chỉ tình d c của
họ với bạn đời của mình trong thực tế
- Những yếu tố như: nơi sinh sống, số con, số năm kết hôn độ tuổi, giao tiếp liên quan tới tình d c, quan niệm về giới điều kiện kinh tế gia đình
và người đóng góp kinh tế chính có mối liên hệ với quan niệm của các cặp vợ chồng về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp vào hệ thống lý luận về tình
d c nói dung và tình d c trong hôn nhân nói riêng Sự đóng góp về mặt lý luận của luận án được biểu hiện ở các nội dung: Luận án nêu lên được các ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân thể hiện trong các nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam như: Tình d c có ý nghĩa duy trì mối quan hệ, sự bền vững trong hôn nhân, duy trì nói giống và đạt được khoái cảm Từ đó các nhà nghiên cứu sau này có thể có cơ sở để nghiên cứu thêm các ý nghĩa khác về tình d c vợ chồng nói chung như quan niệm về mối liên hệ giữa tình d c và sức khỏe và các khía cạnh khác trong mối quan hệ vợ chồng
Dựa trên các cách tiếp cận của các lý thuyết của xã hội học, c thể là thuyết kiến tạo xã hội trao đổi xã hội và tương tác iểu trưng, luận án đưa ra những luận điểm về lý thuyết để chỉ ra các ý nghĩa của tình d c trong hôn
Trang 2514
nhân và chỉ ra những sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực tiễn xác định được các nhóm ý nghĩa của tình
d c trong hôn nhân theo quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ Đồng thời, luận
án góp phần mô tả bức tranh về đời sống tình d c của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay trên khía cạnh: tần suất quan hệ tình d cvợ chồng, các hành vi, cử chỉ liên quan tới tình d c thường có ở các cặp vợ chồng và mối liên hệ giữa
sự thỏa mãn về đời sống tình d c và đời sống hôn nhân
Luận án góp phần làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những yếu tố ảnh hưởng tới các quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân
Qua đó luận án cũng cung cấp thêm những dữ liệu thực tiễn về một khía cạnh khi nghiên cứu về tình d c trong hôn nhân đó là ý nghĩa của TD và những yếu tố ảnh hưởng tới nó
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân từ quan điểm của các cặp vợ chồng hiện nay góp phần vào giúp cho các nhà nghiên cứu cũng như
Trang 2615
các cặp vợ chồng nhận thức một cách đúng đắn, khoa học về vấn đề tình d c trong việc duy trì tính bền vững của quan hệ vợ chồng nói riêng và từ đó duy trì sự tồn tại của thiết chế gia đình nói chung Qua đó có thể thấy được sự thay đổi trong quan niệm về tình d c trong hôn nhân trong bối cảnh xã hội ở Việt Nam hiện nay
7 Cơ cấu của luận án
Luận án gồm những phần sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu quan niệm về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân
Chương 2: Cơ sở lý luận của nghiên cứu quan niệm về ý nghĩa của tình
d c trong hôn nhân
Chương 3: Đặc điểm quan niệm về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân của các cặp vợ chồng trẻ
Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình d c trong hôn nhân
Danh m c công trình đã công ố của tác giả
Danh m c tài liệu tham khảo
Ph l c
Trang 2716
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUAN NIỆM VỀ
Ý NGHĨA CỦA TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN
Dựa trên các kết quả nghiên cứu đã có trong và ngoài nước về tình d c (TD) trong hôn nhân và ý nghĩa của TD trong hôn nhân chương 1 tập trung làm rõ về các phương pháp thường được dùng trong nghiên cứu về TD nói chung, TD trong hôn nhân, các quan niệm về ý nghĩa của TD trong hôn nhân
và một số yếu tố ảnh hưởng tới TD trong hôn nhân và quan niệm về ý nghĩa của TD Qua đó chương 1 sẽ chỉ ra các vấn đề cần quan tâm và làm sáng tỏ trong luận án
1.1 Về phương pháp nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu l ch đại (longitu inal r s arch): Từ những nghiên cứu
được tiến hành từ những năm 1980 các nhà nghiên cứu đã tiếp t c theo dấu các cặp đôi trong một vài năm và theo nhiều giai đoạn khác nhau điều này cho ph p
họ có thể kiểm chứng những đặc trưng về TD thay đổi theo thời gian và sức khỏe TD trong một mối quan hệ tại một thời điểm ảnh hưởng như thế nào đến kết quả trong tương lai của mối quan hệ đó [51], hay phát hiện ra những ối cảnh dẫn tới sự thay đổi trong tần suất quan hệ tình d c (QHTD) mong muốn và sự hài lòng trong một mối quan hệ nói chung và về TD nói riêng [77]
Tuy nhiên, cho tới nay, các nghiên cứu đã được công bố sử d ng cách tiếp cận này đều sử d ng bộ số liệu của các cuộc điều tra lớn trong đó TD là một khía cạnh và các nhà nghiên cứu chọn lọc mẫu từ các cuộc điều tra đó để phân tích những vấn đề liên quan tới TD mà họ quan tâm ([53], [58], [79], [84]) Rất ít các nghiên cứu lịch đại tập trung toàn bộ vào khía cạnh TD, có thể bởi tính nhạy cảm của vấn đề này, nếu có chỉ trong thời gian tương đối ngắn như 6 tháng [63] hay 18 tháng [47] Để chọn được số lượng lớn người
Trang 28Nghiên cứu đồng đại (cross-sectional research):
Do hầu hết các nghiên cứu trước đây đều là các nghiên cứu theo lát cắt ngang (hay là đồng đại - cross sectional) và không có nhiều hơn hai giai đoạn
dữ liệu để kết nối các yếu tố liên quan đến TD mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố đều dựa trên quyết định của các nhà nghiên cứu chứ không phải những ằng chứng thực nghiệm ([51], [78])
Các nghiên cứu đồng đại về TD tập trung chủ yếu vào tìm ra mối quan
hệ giữa các yếu tố như sự thỏa mãn TD, sự thỏa mãn hôn nhân với việc sử
d ng các bộ thang đo có sẵn như thang đo ENRICH của Fournier, Olson, và Druckman (1983), bộ thang chỉ số về sự thỏa mãn tình d c ISS (Index of Sexual Satisfaction) của Hudson, Harrison và Crosscup (1981) và thang đo của Hendrick (1988) về sự thỏa mãn trong hôn nhân [46]; Hay bảng hỏi Mô hình trao đổi liên cá nhân về sự thỏa mãn TD (Interpersonal Exchange Model
of Sexual Satisfaction - IEMSS) của Lawrance và Byer (1998); Thang đo toàn cầu về sự thỏa mãn trong mối quan hệ (Global Measure of Relationship Satisfaction - GMREL của Lawrance và Byer 1998) để đánh giá sự thỏa mãn
về tổng thể mối quan hệ; Thang đo toàn cầu về sự thỏa mãn TD (Global Measure of Sexual Satisfaction - GMSEX: Lawrance và Byer 1998 [47]; hoặc
sử d ng bảng hỏi để thấy được mối quan hệ của một số yếu tố liên quan tới
TD với chất lượng của mối quan hệ với các cặp đôi [45]
Trang 29Tuy nhiên đến đầu thế kỉ XXI, các nhà nghiên cứu đã ắt đầu quan tâm tới TD với những điểm tích cực của nó hướng tới sự phát triển toàn diện của con người đặt TD là một trong các chủ đề nghiên cứu về sự thay đổi quan niệm về giá trị của nam giới và nữ giới liên quan đến hôn nhân và gia đình [39] hay nhấn mạnh đến quyền TD của các cá nhân [11], mặc dù mới bắt đầu
ở việc đề cập tới sự đồng thuận về TD [29] Theo đó các thể hiện tích cực của
TD bao gồm: mối quan hệ đồng thuận, tôn trọng lẫn nhau được bảo vệ và TD giúp cải thiện sự toàn vẹn của sức khỏe và chất lượng cuộc sống [2]
Tình d c vẫn còn là một vấn đề “nhạy cảm” “tế nhị” ở một xã hội chịu ảnh hưởng nhiều ởi Nho giáo như Việt Nam, nơi chuẩn mực đạo đức thường khoan dung nam giới nhưng khắt khe với ph nữ do vậy việc thu thập thông tin đáng tin cậy về TD càng khó khăn [36] Các nghiên cứu khi tiến hành thu thập thông tin về lĩnh vực này vẫn thường sử d ng phương pháp cứu định
Trang 3019
t nh và thông tin được phân tích theo cách kể chuyện (narrative analysis) ([9], [12], [17], [38], [63]) Và mẫu được chọn theo phương pháp “snow all” (trái tuyết lăn) ([38], [61]) Rất ít các nghiên cứu định lượng được tiến hành một cách độc lập khi nói về chuyện TD của các cặp vợ chồng [71] Đồng thời, các
lý thuyết về tình d c còn t được áp d ng Đây là một khoảng trống cho các nhà nghiên cứu sau này khi nghiên cứu về lĩnh vực TD
1.2 Các nội ung nghiên cứu về t nh ục trong hôn nh n
1.2.1 Quan niệm về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân
Tình dục có ý nghĩa duy trì quan hệ vợ chồng, hướng tới sự bền vững trong hôn nhân
Trong nền văn hóa phương Tây tình cảm lãng mạn và sự hấp dẫn TD là những yếu tố nền tảng cho hôn nhân với hi vọng rằng những điều đó sẽ tiếp t c được duy trì trong ất kì giai đoạn nào của hôn nhân ([55], [78]) Điều này được khẳng định trong các nghiên cứu của các học giả khác nhau Theo đó TD được coi là công c quan trọng để đo chất lượng của cuộc hôn nhân ([51], [78]) hay sự thỏa mãn về TD có mối liên hệ rất gần với sự thỏa mãn về mối quan hệ hôn nhân [44] và nó thực sự giữ một vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu rằng cặp
vợ chồng có nên tiếp t c chung sống với nhau hay không [53]
Đối với những quốc gia Châu Á nơi mà TD là điều gì đó “tế nhị” và thường t được nhắc đến một cách công khai thì kết quả một số nghiên cứu đều chỉ ra rằng ph nữ và nam giới Châu Á đều đồng ý rằng TD là một phần quan trọng trong cuộc sống của họ và trong mối quan hệ của họ đối với bạn tình của mình [81]
Tuy nhiên kết quả của một số nghiên cứu khác lại cho rằng đối với các cặp đôi đã kết hôn có rất nhiều hoạt động khác xung quanh đời sống hôn nhân của họ như duy trì nòi giống nuôi con chia sẻ về tài ch nh và những
Trang 31về TD cao hơn làm gia tăng chất lượng hôn nhân và giảm sự ất ổn trong hôn nhân theo thời gian [87]
Kết quả những nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ thỏa mãn cao hơn
về TD liên quan tới sự ổn định và chất lượng của mối quan hệ Một số tác giả cho rằng một số cặp đôi có thể thỏa mãn với tổng thể mối quan hệ của họ nhưng họ lại không thỏa mãn với kh a cạnh TD của mình và ngược lại Do vậy mối quan hệ giữa sự thỏa mãn trong hôn nhân và sự thỏa mãn về TD có thể mạnh mẽ hơn đối với một số người này chứ không phải người khác V d kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Birn aum Reis Mikulincer Gillath và Orpaz (2006) gợi ra rằng những cá nhân có kiểu lo âu có xu hướng sử d ng những trải nghiệm TD như là công c đo chất lượng mối quan hệ của họ trong khi đó những người theo kiểu n tránh lại không như vậy (dẫn theo [46])
Al recht và Kunz (1980) Janus và Janus (1993) đưa ra những ằng chứng định t nh rằng sự không thỏa mãn về TD không đồng thuận hoặc tần suất QHTD thấp đều có thể ảnh hưởng tới khả năng ly dị (dẫn theo [52]) Oggins và đồng nghiệp (1993) sử d ng dữ liệu của Dự án về những năm đầu hôn nhân (The Early Years of Marriage Project) đã cho thấy rằng sự không thỏa mãn về TD trong năm thứ nhất sẽ dự áo cho sự tan vỡ của cuộc hôn nhân vào năm thứ tư Edwards và Booth (1994) thấy rằng sự s t giảm về thỏa mãn TD theo thời gian có mối liên hệ với khả năng tăng lên của việc ly dị (dẫn theo [51])
Trang 3221
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác lại chứng minh điều ngược lại Nghiên cứu của Dzara (2010) sử d ng số liệu của Cuộc điều tra hồi cố Panel về những vấn đề trong hôn nhân của các cặp vợ chồng mới cưới (trong 5 năm đầu hôn nhân) trong giai đoạn 1998-2004 (The Marriage Matters Panel Survey of Newlywed Couples 1998-2004) nhằm đánh giá một cách toàn diện về TD trong giai đoạn đầu hôn nhân có ảnh hưởng tới sự đổ vỡ trong hôn nhân như thế nào với 3 chỉ áo: tần suất sự thỏa mãn và đồng thuận về TD để trả lời cho câu hỏi liệu rằng tần suất sự thỏa mãn hay đồng thuận trong QHTD ở giai đoạn đầu hôn nhân có giúp duy trì cuộc hôn nhân hay không Kết quả cho thấy dường như tần suất một cặp đôi QHTD và họ đồng thuận như thế nào về những trải nghiệm tình cảm trong mối quan hệ của họ không có tác động tới việc các cặp đôi có tiếp t c chung sống với nhau hay không [53]
Tình dục có ý nghĩa duy trì nòi giống, tái sinh sản
Các nhà nghiên cứu cho rằng TD là công c quan trọng mà qua đó những người ạn đời ảnh hưởng tới nhau về cả thể xác và cảm xúc[42], [55] hay mang ý nghĩa về duy trì nòi giống sinh con đẻ cái ([34], [48])
Theo các nhà nghiên cứu ngay cả trong xã hội phương Tây hiện đại trong những năm cuối thế kỉ thứ XX ở nơi mà người ta đánh giá các hành vi
TD theo một hệ thống các thứ ậc các giá trị về TD thì những người dị t nh sống trong hôn nhân sinh con đẻ cái là những người duy nhất trên đỉnh của tháp hình chóp về TD đó là những điểm cốt lõi của khái niệm TD “tốt” [34]
Nghiên cứu của nhóm tác giả C.Geary Virgil và Craven (2004) được tiến hành với 10.000 nam giới và ph nữ ở 37 quốc gia trong vòng 6 năm cho thấy đối với nam giới một trong những lý do của sự lựa chọn người ạn đời
có mối quan hệ lâu dài là để nhằm tăng khả năng tái sinh sản có được những đứa con chất lượng hơn Theo cách hiểu như vậy TD trong hôn nhân mang ý nghĩa đáp ứng nhu cầu đó [48]
Trang 3322
Điều này được khẳng định khi các nhà nghiên cứu lý giải m c đ ch của
TD trong hôn nhân trên kh a cạnh về tôn giáo văn hóa và khẳng định nó iến đổi theo thời gian Trong văn hoá Phương Tây tình yêu lãng mạn và sự hấp dẫn về TD đã trở thành nền tảng của hôn nhân với kỳ vọng rằng họ sẽ tiếp t c những giai đoạn tiếp sau của cuộc hôn nhân đó Tuy nhiên điều này lại không đúng lắm với những nền văn hoá hoặc trong những giai đoạn lịch sử khác nhau khi mà hôn nhân là một ước ngoặt quan trọng tới mức không có chỗ cho những đam mê và để cho một cá nhân tự quyết định Ở một số nền văn hoá hôn nhân được cha mẹ sắp đặt dựa trên cơ sở địa vị xã hội và tuổi tác Những cặp vợ chồng này được kỳ vọng sẽ xây dựng mối quan hệ của họ và học cách làm thế nào để yêu thương và chăm sóc nhau sau khi đã kết hôn [55]
Giáo lý đạo Cơ đốc trong những ngày đầu coi TD như là một hoạt động
để sinh sản và ủng hộ cho sự kìm hãm hoạt động TD diễn ra chỉ vì m c đ ch thỏa mãn ham muốn [85] Tuy nhiên cũng có luận điểm tranh luận cho rằng ản chất của TD là để tái sản xuất con người là một sự xúc phạm với tác phẩm của Chúa MacQueen (2006) củng cố điều này khi nói rằng hình ảnh những cuộc hôn nhân của người theo đạo Cơ đốc như là một phương tiện mang t nh nghĩa v của việc sinh đẻ là sai lầm và đã đến lúc nhìn nhận TD là sự hưởng th trong ối cảnh của hôn nhân (dẫn theo [44]) Hay khi phân t ch TD cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa chi phối tới nhận thức suy nghĩ của cá nhân tới hành vi TD Các tài liệu chỉ ra rằng mong muốn mang t nh truyền thống in sâu vào trong suy nghĩ của những người đàn ông da màu ở Nam Phi là chứng minh sự khỏe mạnh của mình ằng cách sẽ làm ố của những đứa trẻ và những cô gái thì ị áp lực về việc phải thể hiện tình yêu và sự mắn đẻ của mình [54]
Tình dục mang ý nghĩa đạt được khoái cảm cá nhân
Một m c đ ch khác của TD là để đạt được khoái cảm (sexual pleasure) [4] V d như ở Trung Quốc trong hơn 30 năm trở lại đây ch nh sách một
Trang 3423
con của Ch nh phủ đã dẫn tới một sự thay đổi trong quan niệm TD là nhằm
m c đ ch sinh đẻ trở thành TD là vì m c đ ch khoái cảm (dẫn theo [70]) Tuy nhiên m c đ ch này đứng ở thứ tự ưu tiên nào trong tổng thể mối quan hệ lại chịu ảnh hưởng ởi yếu tố môi trường văn hóa rõ n t
Theo Baorong Guo Jin Huang (2005) những cặp đôi đã kết hôn ắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của cuộc hôn nhân từ kh a cạnh về mối quan hệ giữa những người ạn đời chứ không phải là từ kh a cạnh tổng thể của một gia đình Tuy nhiên cũng rất t nghiên cứu tập trung vào sự thỏa mãn trong hôn nhân trong các gia đình Trung Quốc đơn giản ởi vì hôn nhân được coi là vấn đề riêng tư giữa người vợ và người chồng chứ không phải là vấn đề
có thể thoải mái đưa ra thảo luận cởi mở được [58]
Nghiên cứu định t nh của Ho (2008) với 48 ph nữ đã kết hôn ở Hồng Kông nhằm tìm hiểu rằng đối với họ cho rằng thế nào là “tốt” và “t nh d c” (theo nghĩa thỏa mãn về kh a cạnh TD) khi họ không được ph p chống lại chuẩn mực xã hội và kiểm soát các mối quan hệ của họ trong một xã hội mà những mối quan hệ TD ngoài hôn nhân không được chấp nhận Khi được hỏi
về những trải nghiệm về khoái cảm TD 80% những ph nữ được phỏng vấn cho rằng họ đạt được khoái cảm lần đầu lúc 40 tuổi sau khi họ kết hôn được
10 năm Và khi được hỏi làm sao họ iết được mình đã đạt được cực khoái thì
họ trả lời rằng điều đó đến một cách vô tình và rằng đó cũng không phải là điều gì đáng nhớ hay một phát hiện to lớn Họ đơn thuần chấp nhận nó theo nghĩa khi nào nó đến thì sẽ đến chứ không coi đó như một m c tiêu Và do
họ không mong đợi rằng mình sẽ lên đỉnh ở ất kì lần QHTD nào nên có vẻ như họ không cảm thấy thất vọng nếu như không đạt được cực khoái Với họ cuộc sống hạnh phúc là một cuộc sống có người chồng tốt gia đình hòa thuận ngôi nhà đẹp những đứa con ngoan đảm ảo về tài ch nh có mối quan
hệ xã hội của mình Những thành công ngoài gia đình và cực khoái trong
ph p t nh đó chỉ là một yếu tố tạo nên cuộc sống hạnh phúc Khi được hỏi
Trang 3524
rằng TD có quan trọng không họ cho rằng TD rất quan trọng để duy trì cuộc hôn nhân sự hạnh phúc của con trẻ hòa thuận gia đình tái sinh sản lòng tự tôn Kết quả phỏng vấn sâu gợi ra rằng có vẻ như đời sống TD của người ph
nữ là để đạt được m c đ ch của riêng họ đó là sự an toàn cho ch nh họ đảm
ảo sự ràng uộc cảm thấy hình ảnh ản thân mình hấp dẫn về TD sự hòa thuận trong gia đình Và rõ ràng “good sex” (TD tốt) có nghĩa là đạt được những m c đ ch về tâm lý và xã hội mà người ph nữ cho là quan trọng với cuộc sống của họ Đối với những người ph nữ đã ly dị vì lý do liên quan đến
TD họ cho rằng ản thân họ cảm thấy vỡ mộng ởi vì họ không cảm thấy rằng họ hấp dẫn hay đáng ao ước trong mắt ạn đời của mình [60]
Việt Nam là đất nước chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo và Phật giáo Theo đó Phật giáo khuyên con người kiềm chế d c vọng và Nho giáo đòi hỏi "nam nữ th th bất thân” Tuy nhiên những ằng chứng về sự cởi
mở đối với TD trong văn hóa dân gian Việt Nam có thể được tìm thấy trong các t n ngưỡng phồn thực thể hiện sự nhượng bộ của đạo đức Nho giáo với những phong t c cổ [15] Trong khi thực hành các t n ngưỡng phồn thực, QHTD trước và ngoài hôn nhân cũng được khuyến kh ch vì cho rằng chúng
sẽ giúp cho mùa màng ội thu súc vật sinh sôi…và những hoạt động TD đó chỉ được ph p nếu chúng ph c v cho m c đ ch thiêng liêng - tái sinh sản - vì
sự ấm no thịnh vượng của cộng đồng và chỉ được xảy ra trong một thời gian ngắn và trong một thời điểm nhất định trong năm theo đó lợi ch tập thể là điều thiêng liêng được đặt lên hàng đầu và ất kì sự diễn giải nào mang m c
đ ch cá nhân thường không được khuyến kh ch [16] Như vậy, cần phải khẳng định rằng, kết quả các nghiên cứu khi nhắc đến TD đều cho rằng sinh sản là một m c đ ch trong hoạt động TD của các cặp vợ chồng ([16], [61])
Nghiên cứu của Harriet M.Phinney (2004), khác với xu hướng chung trên thế giới nơi mà “m c tiêu hôn nhân nghiêm túc” là sự đồng hành của vợ chồng và “sự thỏa mãn và hài lòng của cá nhân chứ không phải là (hoặc cộng
Trang 3625
với) m c tiêu tái sản sinh cho xã hội” (Wardlow và Hirch 2006), những người tham gia vào nghiên cứu mô tả cuộc hôn nhân của họ trên cơ sở ổn định về kinh tế và tái sản sinh cho xã hội (sinh con đẻ cái), chứ không phải là sự thỏa mãn cá nhân hay vợ chồng Như vậy, kết quả này cho thấy TD trong hôn nhân vẫn mang ý nghĩa duy trì nòi giống sinh con đẻ cái hơn là m c đ ch tự thân đối với mối quan hệ vợ chồng hay với riêng người chồng/vợ [25]
Theo nghiên cứu của Khuất Thu Hồng và cộng sự (2009) sinh sản duy trì sự cân ằng sinh học của cơ thể là hai m c đ ch hiển nhiên và quan trọng nhất của TD đối với người Việt Nam Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến những m c đ ch khác của TD là để cân ằng âm dương (như một cách để cải thiện sức khỏe và phát triển lành mạnh vì tình yêu và khoái cảm [16]
Một số nghiên cứu khác lại đề cập tới ý nghĩa của TD đối với nhóm lao động di cư ([63], [83]) Nghiên cứu của Tạ Văn Tuấn (2010) được tiến hành với 104 người công nhân mỏ ở Quảng Ninh về ý nghĩa của TD và bối cảnh gắn với các hành vi TD có nguy cơ cho thấy rằng đối với họ TD là để giải tỏa căng thẳng, áp lực và sự cô đơn khẳng định sự nam tính của mình và với bối cảnh làm ăn xa nhà quan niệm về TD như vậy sẽ khiến cho họ tham gia nhiều hơn và những hành vi TD có nguy cơ cao với gái mại dâm Đối với những người lao động di cư ra thành phố, sống chung với vợ/chồng, tần suất quan hệ
TD thậm chí còn bị giảm đi do áp lực công việc và họ đặt ưu tiên hàng đầu là
về công việc; trong khi đó những người lao động di cư là nam giới thỉnh thoảng
về thăm nhà lại có tần suất quan hệ TD một cách liên t c với vợ mình khi về thăm nhà Họ quan niệm đó là sự đền bù cho khoảng thời gian bị “ ỏ đói” và đó
là cách thức để họ củng cố về tinh thần cho bạn đời về mối QHVC [83]
Nghiên cứu của Lỗ Việt Phương (2014) cho thấy sự hòa hợp về TD được coi là một chỉ áo để đánh giá về mức độ ền chặt trong QHVC với 96,5% người trả lời cho rằng việc hai vợ chồng hòa hợp về TD là tốt Kết quả
Trang 371.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân
Do vấn đề nghiên cứu là quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của TD trong hôn nhân là một vấn đề hẹp không có nghiên cứu riêng iệt do
đó những yếu tố ảnh hưởng tới nó cũng chưa được đề cập tới Do vậy tôi mở rộng phạm vi tổng quan đó là các yếu tố ảnh hưởng tới TD trong hôn nhân trên cơ sở đó tìm ra và kế thừa cho phân t ch trong luận án
Yếu tố giới: Đây là yếu tố được coi trọng đối với các nhà nghiên cứu
Các tác giả khi nghiên cứu về TD đều tiến hành phân tích riêng biệt đối với
vợ và chồng bởi vì họ cho rằng TD có ý nghĩa khác nhau với nam giới và nữ giới trong mối quan hệ của họ [87] và sự khác iệt về giới thể hiện ở việc nam
và nữ trải nghiệm hôn nhân và TD khác nhau ởi vì những mong đợi mang
ản sắc giới ở cả kh a cạnh cá nhân và xã hội đối với những vai trò mà họ đảm nhận: là người chồng hay người vợ [52]
Lịch sử nghiên cứu chỉ ra rằng nam giới giữ vai trò là người “chủ động trong tình d c” và ph nữ là người “thuần khiết hơn” về TD Theo kh a cạnh
Trang 3827
lịch sử TD của nữ giới vẫn ị kiềm chế ởi vì quan niệm của nam giới cho rằng điều quan trọng là họ có những đứa con hợp pháp [42] Đối với nữ giới,
sự gắn bó và thỏa mãn về cảm xúc trong mối quan hệ về TD quan trọng hơn
là khoái cảm về mặt sinh lý (Buss, 1994; Masters et al., 1992) (dẫn theo [69])
Nghiên cứu của Blumstein và Schwartz (1983) cho thấy giới có vai trò rất lớn trong vấn đề TD của các cặp đôi Nữ giới đề cao giá trị về mặt cảm xúc của mối quan hệ về TD trong khi nam giới lại tập trung nhiều hơn vào tương tác trong vấn đề TD Các nhà nghiên cứu này tiếp t c cho rằng đối với nam giới giao hợp là một phần thực sự cần thiết để cảm thấy hạnh phúc với vấn đề TD [42] Một số nghiên cứu những năm 1990 gợi ra sự khác iệt về giới này ảnh hưởng tới suy nghĩ của vợ/chồng khi người kia có quan hệ ngoài hôn nhân: nam giới trở nên thất vọng hơn nếu như vợ mình không chung thủy
về kh a cạnh TD nhưng nữ giới lại thất vọng hơn khi chồng không chung thủy
về mặt cảm xúc (dẫn theo [51]) sự s t giảm về cảm xúc theo thời gian được các nhà nghiên cứu quan sát thấy (được đo ởi tỉ lệ người trả lời cho rằng họ cảm thấy rất yêu người ạn đời của mình) diễn ra từ từ đối với nam giới và đột ngột với nữ giới [43]
Cupach & Mett (1991), Hynie, Lydon, Côté, và Wiener (1998), Lawrence
& Byers (1995) chỉ ra rằng khi các cặp đôi đã ở trong giai đoạn ổn định thì có sự đối lập trong quan điểm của từng giới khi luận giải về TD: đối với nam giới hứng thú về TD liên quan tới sự nhân dạng ản thân (self-identity) và khẳng định
ản thân (self-assertation) và thể hiện mối quan hệ vợ chồng trong khi phổ iến
ở nữ giới là quan điểm rằng TD ph thuộc vào việc giao tiếp giữa vợ chồng và
đó là sự ưu tiên để duy trì mối quan hệ của họ (dẫn theo [43])
Michael và cộng sự (1994) Brigman và Knox (1992) cho rằng nam giới và ph nữ khác nhau ở động cơ (motivations) của họ với quan hệ TD có giao hợp Nam giới cho rằng họ mong muốn đạt được khoái cảm sự chiếm
Trang 3928
lĩnh và giải tỏa căng thẳng trong HĐTD trong khi đó nữ giới lại nhấn mạnh tới sự gần gũi về cảm xúc và sự ảnh hưởng lẫn nhau trong mối quan hệ của họ (dẫn theo [65])
Nghiên cứu lịch đại của K.McNulty và D.Fisher (2008) với 72 cặp vợ chồng mới kết hôn nhằm kiểm định sự khác biệt về giới trong kì vọng của các cặp vợ chồng đối với sự thỏa mãn TD của họ và những sự thay đổi trong tần suất quan hệ TD liên quan tới thay đổi về sự thỏa mãn TD trong khoảng thời gian là 6 tháng Kết quả cho thấy khi t nh đến những yếu tố như sự hài lòng
về hôn nhân độ dài của cuộc hôn nhân và tuổi tác, những kì vọng về sự thỏa mãn TD của người vợ có mối liên hệ chặt chẽ với những thay đổi của họ về
sự thỏa mãn TD trong khi đó sự thay đổi về tần suất QHTD lại có mối liên
hệ chặt chẽ với việc liệu rằng người chồng có cho rằng anh ta thỏa mãn về TD hay không [64]
Nghiên cứu của Guo và Huang (2005) phân t ch thông tin có được từ 1.745 người trả lời của Điều tra Nhà ở của Trung Quốc được thực hiện năm
1993 nhằm kiểm định mối quan hệ giữa sự thỏa mãn về TD và sự thỏa mãn về hôn nhân trong các gia đình Trung Quốc chỉ ra rằng: ảnh hưởng của sự thỏa mãn về TD tới sự hài lòng về hôn nhân ị chi phối ởi yếu tố giới và trình độ học vấn đạt được Khi giữ nguyên các điều kiện về tuổi giới t nh trình độ học vấn thu nhập hộ gia đình thành phố nơi cư trú số năm kết hôn số con việc có con trai và tình trạng sức khỏe thì sự thỏa mãn về TD tăng lên sẽ khiến cho sự thỏa mãn về hôn nhân tăng lên đối với nữ giới hơn là nam giới Điều này chỉ ra rằng cải thiện sự thỏa mãn về TD có thể có hiệu quả trong việc tăng hiệu quả của
sự hài lòng về hôn nhân đối với nữ giới hơn là so với nam giới [58]
Sự khác iệt về giới trong việc nhìn nhận ý nghĩa của TD là khoái cảm
cá nhân hay để duy trì mối QHVC hoặc hình ảnh ản thân từng cá nhân vợ/chồng chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa truyền thống niềm tin V d
Trang 4029
như nội dung cơ ản của hệ tư tưởng “machista” của văn hóa Tây Ban Nha cho ph p nam giới cởi mở và chủ động về TD và được xã hội tán thưởng về điều này và thể hiện quyền lực và chiếm ưu thế trong mối quan hệ với ph
nữ Trong khi đó thì chức năng tự nhiên là sinh đẻ được xem như là m c đ ch
ch nh của TD đối với nữ giới và kh a cạnh về sự hưởng th khoái cảm được nhìn nhận như là động lực để hoàn thành m c tiêu đó Còn những hành vi TD khác thì được coi là không đáng mong muốn [85]
Bên cạnh các nghiên cứu quan tâm tới sự khác iệt giới trong quan niệm về ý nghĩa của hành vi TD một số nghiên cứu cũng mô tả kĩ hơn sự khác iệt giới được thể hiện ằng hành vi trong đời sống TD vợ chồng tập trung vào việc tìm hiểu xem ai là người ắt đầu và ai là người từ chối trong hoạt động tình d c (HĐTD)
Theo Bozon (2001) sự cân ằng giữa vợ chồng có vẻ đạt được trong thời kì đầu của mối quan hệ hơn là so với những giai đoạn sau đó Và theo thời gian việc nam giới là người ắt đầu trước trở nên chiếm ưu thế hơn [43]
Mô tả của Gagnon và Simon (1973) về TD trong hôn nhân kể từ khi mới
ắt đầu cuộc sống ph nữ và nam giới đều có những kịch ản tình d c tương đối
đa dạng mà họ có được từ những trải nghiệm tình d c từ thời thanh thiếu niên
Nữ giới ắt đầu trước trong QTHD cũng trở nên phổ iến hơn và nam giới trông đợi điều này tuy nhiên họ cảm thấy hài lòng và thỏa mãn hơn nếu như chỉ có mình nam giới ắt đầu Nhưng sự đa dạng này trong hành vi của các cặp đôi ngay từ những ngày đầu lại có xu hướng giảm dần theo thời gian chung sống ngay cả sự tham gia của nữ giới cũng có xu hướng như vậy (dẫn theo [43])
Nghiên cứu của Kontula & Haavio Mannila (1995) ở Phần Lan cho iết sau 10 năm chung sống 54% nam giới muốn có tần suất QHTD nhiều hơn trong khi chỉ có 14% nữ giới có mong muốn như vậy Ở cả Phần Lan và Pháp nam giới là người ắt đầu trước và vui vẻ với việc QHTD tăng dần lên