Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí MinhQuan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí MinhQuan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí MinhQuan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí MinhQuan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí MinhQuan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí MinhQuan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGUYỄN TƯỜNG OANH
QUAN NIỆM TRUYỀN SINH TRONG HÔN NHÂN CỦA CÔNG GIÁO VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG CÔNG GIÁO HIỆN NAY
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGUYỄN TƯỜNG OANH
QUAN NIỆM TRUYỀN SINH TRONG HÔN NHÂN
CỦA CÔNG GIÁO VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG CÔNG GIÁO HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam kết luận án tiến sĩ “Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh.” Do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện Các dữ liệu, số liệu và thông tin được sử dụng trong luận án hoàn toàn trung thực và chính xác Tất cả những sự giúp đỡ và phối hợp cho việc thực hiện luận án này đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
Trần Nguyễn Tường Oanh
Trang 4MỤC LỤC
Phần mở đầu 1
Chương Một: Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1 Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân Công giáo 8
1.2 Sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 19
Chương hai: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 28
2.1 Những khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án 28
2.2 Lý thuyết nghiên cứu 33
2.3 Cách tiếp cận nghiên cứu 43
2.4 Câu hỏi nghiên cứu 45
2.5 Giả thuyết nghiên cứu 46
2.6 Khung nghiên cứu 46
2.7 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 49
Chương ba: Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của giáo hội Công giáo và Thực trạng nhận thức về truyền sinh của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh 54
3.1 Quan niệm truyền sinh của giáo hội Công giáo 54
3.2 Thực trạng nhận thức về truyền sinh của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh 62
3.3 Thực trạng nhận thức về chương trình Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi khả sản tại thành phố Hồ Chí Minh 94
Chương bốn: Nhận thức, thái độ và hành vi sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh 101 4.1 Kiến thức kiểm soát sinh sản 101
4.2 Nhận thức kiểm soát sinh sản 103
4.3 Thái độ kiểm soát sinh sản 105
4.4 Hành vi sử dụng biện pháp tránh thai 106
4.5 Mong đợi của các cặp vợ chồng Công giáo đối với chương trình Kế hoạch hóa gia đình 145
Phần kết luận và kiến nghị 149
Phần phụ lục 172
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố phần trăm đặc điểm kinh tế - xã hội của dân số nghiên cứu 65 Bảng 3.2 Phân bố phần trăm lý do ưa thích hôn nhân hiện đại của giáo dân Công
Giáo TP.HCM 69 Bảng 3.3 Ý kiến về mục đích hôn nhân của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi
sinh sản phân theo mộ đạo 70 Bảng 3.4 Phân bố phần trăm tuổi kết hôn mong đợi của các thế hệ giáo dân Công
giáo TP.HCM 74 Bảng 3.5 Phân bố phần trăm ý kiến của giáo dân Công giáo TP.HCM về hôn nhân,
tình dục và sinh sản 76 Bảng 3.6 Phân bố phần trăm ý kiến về số con mong muốn phân theo nhận định lợi
ích và mất mát của con cái về mặt kinh tế của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 83 Bảng 3.7 Số con mong muốn của giáo dân Công giáo TP.HCM 84 Bảng 3.8 Phân bố phần trăm ý kiến có nghe cụm từ “Sinh sản có trách nhiệm” của
các thế hệ giáo dân Công giáo TP.HCM 86 Bảng 3.9 Nhận thức sinh sản có trách nhiệm của giáo dân Công giáo TP.HCM 88 Bảng 3.10 Nhận thức về giáo điều “Bắt buộc sử dụng BPTT tự nhiên” của giáo dân
Công giáo TP.HCM 91 Bảng 3.11 Thái độ về giáo điều “Bắt buộc sử dụng BPTT tự nhiên” của giáo dân
Công giáo TP.HCM (%) 92 Bảng 3.12 Phân bố phần trăm ý kiến của giáo dân Công giáo TP.HCM về tính cần
thiết của chương trình KHHGĐ 95 Bảng 3.13 Tương quan giữa đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, nhận thức cá nhân
và ý kiến về tính cần thiết của chương trình KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 97 Bảng 4.1 Kiến thức KHHGĐ và BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi
sinh sản 102 Bảng 4.2 Sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản phân
theo ý kiến về giáo điều và quan niệm truyền sinh truyền thống 113 Bảng 4.3 Sử dụng BPTT phân theo ý kiến giáo điều “Bắt buộc sử dụng BPTT tự
nhiên” nên thay đổi” 114
Trang 7Bảng 4.4 Lý do sử dụng các BPTT tự nhiên và nhân tạo của các cặp vợ chồng Công
giáo trong tuổi sinh sản (Chọn 3 ưu tiên) 114 Bảng 4.5 Phân bố phần trăm tỷ lệ sử dụng BPTT (CPR) trước đây và hiện nay của
các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 116 Bảng 4.6 Thuận lợi/khó khăn khi sử dụng các biện pháp tránh thai của các cặp vợ
chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 123 Bảng 4.7 Dự định sử dụng biện pháp tránh thai trong thời gian tới của nhóm thanh
niên Công giáo độc thân và các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 126 Bảng 4.8 Sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi
sinh sản phân theo nơi cư trú 129 Bảng 4.9 Sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi
sinh sản phân theo độ tuổi 130 Bảng 4.10 Phân bố phần trăm sử dụng BPTT (CPR) hiện nay của các cặp vợ chồng
Cônggiáo trong tuổi sinh sản phân theo cấp học cao nhất 130 Bảng 4.11 Số năm đi học trung bình của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi
sinh sản phân theo sử dụng BPTT 131 Bảng 4.12 Trung bình thu nhập tháng bình quân đầu người của các cặp vợ chồng
Công giáo trong tuổi sinh sản sử dụng BPTT 132 Bảng 4.13 Tỷ lệ phần trăm về quyền quyết định trong gia đình của các cặp vợ
chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 134 Bảng 4.14 Mô tả các biến số độc lập và biến số phụ thuộc của hành vi sử dụng
BPTT nhân tạo, sử dụng bao cao su và sử dụng vòng tránh thai 138 Bảng 4.15 Logistic regression dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cá nhân
sử dụngBPTT nhân tạo 141 Bảng 4.16 Logistic regression dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cá nhân
sử dụng bao cao su 142 Bảng 4.17 Logistic regression dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cá nhân
sử dụngvòng tránh thai 143
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ yêu thích loại hình hôn nhân hiện đại của giáo dân Công giáo
TP.HCM 68 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đồng ý nhận định mục đích hôn nhân “Có người chia sẻ trong
cuộc sống” của các thế hệ Công giáo TP.HCM 72 Biểu đồ 3.3 Tuổi kết hôn mong đợi trung bình của các cặp vợ chồng Công giáo
trong tuổi sinh sản và nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi 73 Biểu đồ 3.4 Đánh giá lợi ích và mất mát về kinh tế, tâm lý và bản thân do con cái
mang lại của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản (%) 78 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ các thế hệ giáo dân cho rằng con trai và con gái đóng vai trò quan
trọng như nhau trong các vấn đề trong cuộc sống gia đình 80 Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ đồng ý về các nhận định liên quan đến kiểm soát sinh sản của các
cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản và nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi 104 Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh
sản trước đây và hiện nay 108 Biểu đồ 4.3 Chuyển đổi về BPTT sử dụng từ trước đây sang hiện nay của các cặp
vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 116 Biểu đồ 4.4 Sử dụng BPTT của nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi và các cặp vợ
chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 118 Biểu đồ 4.5 Các loại BPTT sử dụng của nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi và các
cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 119 Biểu đồ 4.6 Các loại BPTT sử dụng hiện nay và trong tương lai của các cặp vợ
chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 124 Biểu đồ 4.7 Dự định sử dụng BPTT trong tương lai của nhóm thanh niên Công giáo
độc thân và các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 127
Trang 9DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Lý do “Sinh sản” không phải là ưu tiên nhất của các cặp vợ chồng Công
giáo trong tuổi sinh sản 71 Hộp 3.2 Lý do chấp nhận quan hệ tình dục ngoài hôn nhân của các cặp vợ chồng
Công giáo trong tuổi sinh sản 77 Hộp 4.1 Lý do sử dụng phương pháp tính theo vòng kinh của các cặp vợ chồng
Công giáo trong tuổi sinh sản 109 Hộp 4.2 Lý do sử dụng bao cao su của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh
sản 111 Hộp 4.3 Lý do không sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi
sinh sản 117
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Khung nghiên cứu 47
Trang 101
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một phạm trù đặc biệt thuộc lĩnh vực tâm linh, có sức bao trùm sâu rộng trong nếp nghĩ, nếp cảm và những sinh hoạt đời thường của từng cá nhân, từng cộng đồng và trở thành lương tâm, thành lẽ sống xuyên suốt những dấu mốc
“lễ nghi đời người” như quan, hôn, tang, tế Thậm chí ngay cả quan hệ nam nữ,
mang thai, sinh sản cũng có tác động của tôn giáo Sinh sản đã trở thành giá trị, chuẩn mực không thể thiếu đối với mỗi cá nhân trong mỗi tôn giáo nhất định
Quan niệm sinh sản của mỗi tôn giáo được hình thành từ những bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau và mang sắc thái riêng Chẳng hạn: Nho giáo quan niệm phải sinh cho bằng được con trai để nối dõi tông đường; Ấn giáo thì buộc phụ nữ phải sinh cho được con trai để đàn ông có thể “tái sinh” ở kiếp sau [41]; Hồi giáo có quan niệm đa thê là một điều cần thiết để gia tăng sinh sản khi số nam giới Hồi giáo bị hao mòn liên tục vì chiến trận liên miên(1); còn Công giáo quan niệm đời sống hôn nhân là truyền sinh(2)
Theo Công giáo, truyền sinh là hành vi sinh sản diễn ra trong hôn nhân - có nghĩa là nam, nữ sau khi kết hôn có nhiệm vụ sinh sản
và không được tác động ngăn chặn tiến trình sinh sản bằng mọi biện pháp nhân tạo
Quan niệm truyền sinh đã từng phù hợp với thời kỳ sơ khai khi dân số còn quá ít Trải qua nhiều biến cố của thời đại, đặc biệt là sức ép của bùng nổ dân số toàn cầu, Giáo hội Công giáo đã quan tâm đến kiểm soát dân số Do đó, chuẩn mực truyền sinh đã có nhiều thay đổi theo thời gian nhưng ít nhiều vẫn còn hướng về giá trị truyền thống với ý nghĩa truyền sinh theo bản tính tự nhiên Công đồng Vaticano
II cho phép các cặp vợ chồng Công giáo khi có lý do chính đáng được điều hòa sinh sản (nghĩa là kiểm soát sinh sản) bằng cách sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) tự nhiên [83]
Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nói riêng, quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) cùng với sự thay đổi hình thái kinh tế và quan hệ xã hội hay những thay đổi về chuẩn mực và đời sống văn hóa tạo nên những tiền đề làm biến đổi quan niệm truyền sinh của người Công giáo Những tiền đề đó là, thứ nhất, trong bối cảnh du nhập các giá trị mới từ văn hóa
Trang 112
phương Tây, những chuẩn mực, giá trị truyền sinh của giáo dân như sinh sản, số con mong đợi, tình dục và sử dụng BPTT có thể ít nhiều cũng thay đổi Thứ hai, Việt Nam là quốc gia dân số đông nên kiểm soát sinh sản là yêu cầu cần thiết đối với mỗi người dân, trong đó có cả người Công giáo Thứ ba, với sự tiến bộ y học, nhiều công cụ tránh thai với cách sử dụng đơn giản và mang lại hiệu quả cao lần lượt ra đời Đồng thời, sự ra đời của Chương trình Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX cũng như sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận với các BPTT Trước những tiền đề này, câu hỏi đặt ra là các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM hiện nay đã thay đổi trong nhận thức về quan niệm truyền sinh, đồng thời theo đó là những thay đổi về hành vi kiểm soát sinh sản và sử dụng BPTT của mình hay chưa
Trong 03 thập kỷ vừa qua, Việt Nam là quốc gia có mức gia tăng dân số cao
và nhiệm vụ cơ bản của chương trình dân số là kiểm soát và giảm được mức sinh Qua nhiều năm kiên trì thực hiện chương trình KHHGĐ, Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế (Tổng tỷ suất sinh - TFR bằng 2,1) vào năm 2004 Nghị quyết số 21-NQ/TW ban hành ngày 25/10/2017 về công tác dân số nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của chương trình dân số của Việt Nam thời kỳ mới là nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, Nghị quyết cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của kiểm soát mức sinh như duy trì vững chắc mức sinh thay thế (vì yếu tố này cũng ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng dân số), nguyên nhân do quy mô dân
số và lực lựợng sinh sản của Việt Nam vẫn còn lớn nên tiềm năng gia tăng mức sinh vẫn còn cao Để đạt được mục tiêu kiểm soát mức sinh, chương trình KHHGĐ cần
có các giải pháp giáo dục dân số và cung cấp các dịch vụ tránh thai thích hợp cho người dân, đặc biệt là các nhóm dân số đặc thù, như nhóm dân số Công giáo
Bên cạnh đó, tại Việt Nam, nghiên cứu các khía cạnh xã hội thuộc lĩnh vực tôn giáo vẫn còn ít, đặc biệt là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo với vấn đề sinh sản và KHHGĐ lại càng ít hơn Do đó, cần thiết có thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm về những vấn đề liên quan đến tôn giáo và sinh sản
Dựa vào những lập luận trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài “Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án tốt nghiệp, nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng quan niệm truyền sinh (cụ thể là những
Trang 12ra những kiến nghị hỗ trợ cho cơ quan chức năng đề ra các chính sách KHHGĐ phù hợp và hiệu quả cho cộng đồng Công giáo tại TP.HCM cũng như tại Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này bao gồm các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
1- Tìm hiểu và khái quát những thay đổi nhận thức về truyền sinh trong hôn nhân của giáo hội Công giáo
2- Khảo sát thực trạng nhận thức về truyền sinh trong hôn nhân và KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM
3- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về truyền sinh trong hôn nhân và KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM
4- Đưa ra các kiến nghị phù hợp để thực hiện có hiệu quả chính sách KHHGĐ đối với cộng đồng Công giáo tại TP.HCM cũng như tại Việt Nam
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan niệm truyền sinh trong hôn nhân
và KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong độ tuổi sinh sản tại TP.HCM hiện nay
3.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 134
Khách thể nghiên cứu là các cặp vợ chồng Công giáo tuổi sinh sản, đây là nhóm nghiên cứu chính của luận án Bên cạnh đó, các cặp vợ chồng Công giáo cao tuổi và nhóm thanh niên Công giáo độc thân được chọn làm nhóm phân tích so sánh với nhóm dân số chính Ngoài ra, để có kết luận bao quát và đầy đủ về vấn đề nghiên cứu, các linh mục quản xứ tại các giáo xứ cũng là một trong những khách thể nghiên cứu quan trọng trong việc cung cấp những thông tin liên quan đến đề tài
3.3 Phạm vi nghiên cứu
3.3.1 Phạm vi không gian
Nghiên cứu thực hiện tại TP.HCM Địa điểm khảo sát bao gồm: Quận Bình Thạnh là một trong những quận thuộc trung tâm TP.HCM - nơi đô thị hóa ổn định, quận Thủ Đức thuộc khu vực vùng ven trung tâm TP.HCM - nơi đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ và Huyện Nhà Bè ở khu vực ngoại ô TP.HCM - nơi đô thị hóa mới bắt đầu Sự lựa chọn các khu vực khảo sát này nhằm nhận dạng sự khác biệt trong nhận thức và hành vi giữa các nhóm giáo dân Công giáo cư trú tại những khu vực
đô thị hóa khác nhau Tại mỗi quận/huyện được chọn khảo sát, nghiên cứu này chọn một giáo xứ đại diện để khảo sát, bao gồm: Giáo xứ Thanh Đa thuộc quận Bình Thạnh, giáo xứ Fatima Bình Triệu thuộc quận Thủ Đức và giáo xứ Phú Xuân thuộc huyện Nhà Bè Các giáo xứ được khảo sát có đặc điểm là giáo xứ lớn nhất trong quận/huyện, có nhiều hoạt động sinh hoạt, truyền thông tôn giáo đa dạng thu hút giáo dân trong giáo xứ và các giáo xứ khác trong địa bàn quận/huyện đến tham gia
3.3.2 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu thực địa từ tháng 6 - 12/2012
Thời gian thực hiện luận án bắt đầu từ năm 2012-2017
Thời gian CNH-HĐH được phân tích trong nghiên cứu này giới hạn từ năm
1990 đến nay Lý do luận án chọn năm 1990 là thời điểm bắt đầu nghiên cứu là: Vào năm 1986, Nhà nước ban hành chính sách đổi mới với đặc trưng chuyển đổi nền kinh tế tập trung và kế hoạch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ năm 1990 trở đi, quá trình đổi mới diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực kinh tế-văn hóa-xã hội Ngoài ra, vào năm 1990, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết
Trang 145
24 về công tác tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân phù hợp với luật pháp cũng như đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo và đời
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận của khoa học chuyên ngành xã hội học, dựa trên cơ sở của lý thuyết chức năng, lý thuyết thế tục hóa, lý thuyết lựa chọn hợp
lý và lý thuyết quan niệm về sinh sản
Hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án là sự kết hợp liên ngành trong nghiên cứu (Xã hội học, Xã hội học tôn giáo, Dân số học và Tâm lý học) Cụ thể: Phân tích theo hướng tiếp cận hệ thống, tiếp cận văn hóa và tiếp cận theo quan điểm giới của
Xã hội học Tiếp cận phân tích niềm tin tôn giáo của Xã hội học tôn giáo Tiếp cận phân tích đồng hệ (Cohort) của Dân số học Đồng thời, luận án sử dụng cách tiếp cận phân tích dựa trên mô hình KAP của ngành Tâm lý học
Trang 15Luận án đủ ở file: Luận án full