Tự thú và Đầu thú “Tự thú” và “Đầu thú” là hai chế định có nhiều điểm tương đồng, thậm chí là đối với những sinh viên luật cùng thường hay nhầm lẫn trong việc xác định hai vấn đề này. so sánh tự thú và đầu thú Tự thú Đầu thú Giống nhau Đầu thú và tự thú là hành động của người có những hành vi phạm tội tự mình đến trình diện và khai báo tại cơ quan chức năng để được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. Mong muốn giải quyết vụ việc theo đúng pháp luật và chủ động chịu trách nhiệm về hành vi sai phạm của mình. Hành vi đầu thú và tự thú đều được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khác nhau Định nghĩa Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình. Đặc điểm Hành vi phạm tội chưa bị ai phát giác hoặc đã bị phát giác nhưng chưa xác định được ai là tội phạm. Đã xác định được ai là người phạm tội. Hành vi tội phạm đã bị phát hiện, nhiều người biết, bị tố cáo và đang bị các cơ quan chức năng điều tra làm rõ, cho dù nghi can có thể chưa chính thức bị khởi tố hình sự. Việc người phạm tội tự khai ra hành vi phạm tội của mình với nhà chức trách là biểu hiện của sự ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình nên đáng được khoan hồng. Hành vi đầu thú cho thấy người có hành vi phạm tội có tư tưởng ăn năng, đã nhìn nhận ra lỗi lầm của mình. Mức độ khoan hồng căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước; căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã xảy ra; thái độ khai báo; sự góp phần vào việc phát hiện và điều tra tội phạm của người tự thú. Có thể miễn trách nhiệm hình sự Bộ luật hình sự hoặc coi là tình tiết giảm nhẹ. Nếu có người biết hành vi phạm tội của người phạm tội được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện thì xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Điều kiện miễn trách nhiệm hình sự. Tội phạm mà người tự thú đã thực hiện chưa bị phát giác, tức là chưa ai biết có tội phạm xảy ra hoặc có biết nhưng chưa biết ai là thủ phạm. Người tự thú phải khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, tức là khai đầy đủ tất cả hành vi phạm tội của mình cũng như hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác, không giấu giếm bất cứ một tình tiết nào của vụ án, đồng thời giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm như: chỉ nơi ở của người đồng phạm khác hoặc dẫn cơ quan điều tra đi bắt người đồng phạm khác đang bỏ trốn, thu thập các dấu vết của tội phạm, thu hồi vật chứng, tài sản của vụ án... Nếu khai không rõ ràng hoặc khai báo không đầy đủ thì không được lấy đó làm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự. Cùng với việc tự thú người tự thú phải cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm như: Trả lại tài sản đã chiếm đoạt; thông báo kịp thời cho người bị hại biết những gì đang đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm danh dự hoặc tài sản để họ đề phòng; đòi lại hoặc thu lại những phương tiện, công cụ hoặc các nguồn nguy hiểm mà họ đã giao hoặc đã tạo ra cho người đồng phạm khác hoặc cho những lợi ích khác v.v... Không được miễn trách nhiệm hình sự. Quy định pháp luật Khoản 2 Điều 3; Khoản 2 Điều 25; Điểm o, khoản 1 Điều 46; BLHS 1999 (sửa đổi 2009); Chưa được quy định trong BLHS 1999 (sửa đổi 2009), bắt đầu được nhắc đến lần đầu trong BLTTHS 2003 và đã được hướng dẫn bởi Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. BLHS 2015 và BLTTHS 2015 đã sửa đổi và quy định chi tiết rõ ràng hơn. Trên đây là một vài điểm mình tổng hợp và so sánh để mọi nguời cùng thảo luận và nghiên cứu. Tuy nhiên, để phân biệt một cách rõ ràng “tự thú” và “đầu thú” và áp dụng trên thực tế vẫn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan. Ví dụ như trường hợp khi thực hiện hành vi phạm tội, nhiều trường hợp người phạm tội không thể nhận biết được việc mình phạm tội đã bị ai phát hiện chưa? Người phạm tội từ ý kiến chủ quan cho rằng chưa ai biết mình phạm tội nhưng thực tế đã có người biết hay đã có người thân thích trong gia đình biết thì xác định như thê nào? Sắp tới BLHS 2015 sắp có hiệu lực, hy vọng chúng ta sẽ có văn bản mới quy định hướng dẫn về 02 chế định này. Nguồn: Một số ý kiến về hướng dẫn tình tiết “Người phạm tội tự thú” trong Luật hình sự Việt Nam, THÔNG TIN KHOA HỌC, Website Trường đại Học kiểm sát Hà Nội; Một số vấn đề khi áp dụng tình tiết “tự thú” và “đầu thú” trong thực tiễn xét xử, Thạc sỹ: Đinh Văn Quế, Website Tòa án nhân dân tối cao.
Trang 1Phân biệt Tự thú và Đầu thú
“Tự thú” và “Đầu thú” là hai chế định có nhiều điểm tương đồng, thậm chí là đối với những sinh viên luật cùng thường hay nhầm lẫn trong việc xác định hai vấn đề này.
Giống
nhau
- Đầu thú và tự thú là hành động của người có những hành vi
phạm tội tự mình đến trình diện và khai báo tại cơ quan chức năng
để được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật
- Mong muốn giải quyết vụ việc theo đúng pháp luật và chủ động
chịu trách nhiệm về hành vi sai phạm của mình
- Hành vi đầu thú và tự thú đều được xem là tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự
Khác nhau
Trang 2Định nghĩa Tự thú là việc người phạm tội tự
nguyện khai báo với cơ quan, tổ
chức về hành vi phạm tội của
mình trước khi tội phạm hoặc
người phạm tội bị phát hiện
Đầu thú là việc người phạm tội
sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình
Đặc điểm - Hành vi phạm tội chưa bị ai phát
giác hoặc đã bị phát giác nhưng
chưa xác định được ai là tội
phạm
- Đã xác định được ai là người phạm tội Hành vi tội phạm đã
bị phát hiện, nhiều người biết,
bị tố cáo và đang bị các cơ quan chức năng điều tra làm
rõ, cho dù nghi can có thể chưa chính thức bị khởi tố hình sự
- Việc người phạm tội tự khai ra
hành vi phạm tội của mình với nhà
chức trách là biểu hiện của sự ăn
năn hối cải về việc làm sai trái của
mình nên đáng được khoan hồng
- Hành vi đầu thú cho thấy người có hành vi phạm tội có
tư tưởng ăn năng, đã nhìn nhận ra lỗi lầm của mình
- Mức độ khoan hồng căn cứ vào
chính sách hình sự của Nhà
nước; căn cứ vào tính chất mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội, hậu quả đã xảy ra; thái độ khai
báo; sự góp phần vào việc phát
hiện và điều tra tội phạm của
người tự thú Có thể miễn trách
nhiệm hình sự Bộ luật hình sự
hoặc coi là tình tiết giảm nhẹ
- Nếu có người biết hành vi phạm tội của người phạm tội được nên người phạm tội đến
cơ quan có thẩm quyền trình diện thì xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội
Điều kiện
miễn trách
nhiệm hình
sự
- Tội phạm mà người tự thú đã
thực hiện chưa bị phát giác, tức là
chưa ai biết có tội phạm xảy ra
hoặc có biết nhưng chưa biết ai là
thủ phạm
- Người tự thú phải khai rõ sự
việc, góp phần có hiệu quả vào
việc phát hiện và điều tra tội
phạm, tức là khai đầy đủ tất cả
hành vi phạm tội của mình cũng
như hành vi phạm tội của những
người đồng phạm khác, không
giấu giếm bất cứ một tình tiết nào
của vụ án, đồng thời giúp cơ quan
điều tra phát hiện tội phạm như:
Không được miễn trách nhiệm hình sự
Trang 3chỉ nơi ở của người đồng phạm
khác hoặc dẫn cơ quan điều tra đi
bắt người đồng phạm khác đang
bỏ trốn, thu thập các dấu vết của
tội phạm, thu hồi vật chứng, tài
sản của vụ án Nếu khai không
rõ ràng hoặc khai báo không đầy
đủ thì không được lấy đó làm căn
cứ miễn trách nhiệm hình sự
- Cùng với việc tự thú người tự
thú phải cố gắng hạn chế đến
mức thấp nhất hậu quả của tội
phạm như: Trả lại tài sản đã
chiếm đoạt; thông báo kịp thời cho
người bị hại biết những gì đang
đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ,
nhân phẩm danh dự hoặc tài sản
để họ đề phòng; đòi lại hoặc thu
lại những phương tiện, công cụ
hoặc các nguồn nguy hiểm mà họ
đã giao hoặc đã tạo ra cho người
đồng phạm khác hoặc cho những
lợi ích khác v.v
Quy định
pháp luật
- Khoản 2 Điều 3;
- Khoản 2 Điều 25;
- Điểm o, khoản 1 Điều 46;
BLHS 1999 (sửa đổi 2009);
Chưa được quy định trong BLHS 1999 (sửa đổi 2009), bắt đầu được nhắc đến lần đầu trong BLTTHS 2003 và đã được hướng dẫn bởi Hội đồng thẩm phán TAND tối cao
BLHS 2015 và BLTTHS
2015 đã sửa đổi và quy định chi tiết rõ ràng hơn
Trên đây là một vài điểm mình tổng hợp và so sánh để mọi nguời cùng thảo luận và nghiên cứu Tuy nhiên, để phân biệt một cách rõ ràng “tự thú” và “đầu thú” và áp dụng trên thực tế vẫn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan
Ví dụ như trường hợp khi thực hiện hành vi phạm tội, nhiều trường hợp người phạm tội không thể nhận biết được việc mình phạm tội đã bị ai phát hiện chưa? Người phạm tội từ ý kiến chủ quan cho rằng chưa ai biết mình phạm tội nhưng thực tế đã có người biết hay đã có người thân thích trong gia đình biết thì xác định như thê nào?
Sắp tới BLHS 2015 sắp có hiệu lực, hy vọng chúng ta sẽ có văn bản mới quy định hướng dẫn về 02 chế định này
Nguồn:
Trang 4- Một số ý kiến về hướng dẫn tình tiết “Người phạm tội tự thú” trong Luật hình sự Việt Nam, THÔNG TIN KHOA HỌC, Website Trường đại Học kiểm sát Hà Nội;
- Một số vấn đề khi áp dụng tình tiết “tự thú” và “đầu thú” trong thực tiễn xét xử, Thạc sỹ: Đinh Văn Quế, Website Tòa án nhân dân tối cao