1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Hướng dẫn soạn ngữ văn 11 ( học kì II)

39 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 345,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Tiếp sau đoạn thơ là tâm trạng tác giả, càng khiến người đọc ngậm ngùi trước cuộc sống cơ cực của một lớp nhà văn trong chế độ cũ... Cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền v

Trang 1

Hướng dẫn Soạn bài: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

Câu 1:

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh khá đặc biệt, đó là vào lúc tình hình chính trị trong nước hết sức rối ren Chủ quyền đất nước hoàn toànmất vào tay giặc Phong trào vũ trang chống Pháp theo con đường Cần Vương đã thất bại không có cơ hội cứu vãn, chế độ phong kiến đãcao chung, bao anh hùng, nghĩa sĩ cứu nước đã hi sinh, … Tình hình đó đặt ra trước mắt các nhà yêu nước một câu hỏi lớn, đầy day dứt:cứu nước bằng con đường nào?

Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài đang tràn vào Việt Nam ngày càng mạnh qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản vàtrực tiếp từ Pháp, từ các nước phương Tây Đang bế tắc, người ta có thể tìm thấy ở đó những gợi ý hấp dẫn về một con đường cứu nướcvới những viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai Vì thế, các nhà nho ưu tú của thời đại như Phan Bội Châu say sưa dấn bước, bất chấpnguy hiểm, gian lao mong tìm ra ánh bình minh cho Tổ Quốc

Câu 2:

- Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế tầm vóc của con người trong vũ trụ Đó là một quan niệm đến chí nam nhi, một quan niệm nhânsinh phổ biến dưới thời phong kiến Nam nhi phải làm nên chuyện lớn, phải lập nên kì tích lớn lao, dám mưu đồ việc lớn, quan niệm sốngtích cực, khích lệ biết bao, đấng nam nhi lập nên công tích, lưu danh muôn đời

- Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: dưới thời phong kiến người ta quan niệm tạo hóa sinh ra con người chi phối số phận vì vậythường nảy sinh tư tưởng phó thác số mệnh cho trời định đọat Điểm táo bạo, mới mẻ trong "chí làm trai" của Phan Bội Châu là chủ độngxoay chuyển thời thế

H á để c à n kh ô n t ự chuy ể n d ờ i

- Ngụ ý nói đến mục tiêu hoạt động của nam nhi là phải tìm con đường cách mạng mang tới độc lập cho dân tộc

- Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước vẫn tin điều xưa cũ

Trong kho ả ng tr ă m n ă m c ầ n c ó t ớ

Sau n à y mu ô n thu ở h á kh ô ng ai ?

Không phải nói tự cao tự đại thiếu khiêm tốn mà đó là cách tự khẳng định mình hết sức mới mẻ, đáng kính trọng Ta đã gặp một cái tôi

"ngất ngưởng" giữa cuộc đời của Nguyễn Công Trứ - ở đấy Phan Bội Châu thể hiện ra rõ cái tôi với tinh thần trách nhiệm gánh vác giangsơn

Non s ô ng đã ch ế t s ố ng th ê m nh ụ c

Hi ề n th á nh c ò n đâ u h ọ c c ũ ng ho à i

- Phan bội châu thể hiện sâu sắc nỗi đau mất nước, ý thức về nỗi đau mất nước của thân phận không cam chịu Sách thánh hiền răn dạyđạo đức lễ nghĩa nhất là đạo làm tôi phải trung với vua Phan Bội Châu là một trí thức nho học, cũng từng đọc sách thánh hiền nhưng ôngcũng nhận thức được đất nước nay đã thay đổi, vua tài tướng giỏi không còn, chỉ còn ông vua phản dân hại nước "Thánh hiền" đã vắng -trung quân một cách ngu muội chẳng có ích lợi gì Câu thơ thức tỉnh ý thức hành động thiết thực, yêu nước là phải cứu nước

- Khát vọng hành động và tư thế lên đường

Mu ố n v ượ t bi ể n Đô ng theo c á nh gi ó

Trang 2

Mu ô n tr ù ng s ó ng b ạ c ti ễ n ra kh ơ i

Hình ảnh kì vĩ lớn lao "biển Đông", "cánh gió" muôn trùng "sóng bạc" tương ứng với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của Phan BộiChâu

- Thể hiện khát vọng lên đường có một sức mạnh, khơi dậy nhiệt huyết của cả một thế hệ

Câu 3: So với nguyên tác, hai câu 6 và 8 dịch có đôi điều khác biệt:

- Câu 6: Nguyên tác: "Nguyện trục trường phong Đông hải khứ" - Mong muốn đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông Câu dịch thơ lại là:

"Muốn vượt bể Đông theo cánh gió" - đạp bằng gian khó để đạt được ước nguyện giải phóng dân tộc Nhưng câu thơ dịch chỉ chú ý đến

"vượt bể Đông" mà không chú trọng đến ý thơ thể hiện được nhà thơ ý thức được gian khó - ý thức được gian khó nhưng vẫn khao khátvượt qua "đuổi theo" Do đó làm mất đi đôi chút lớn lao, mạnh mẽ, can trường của nhân vật trữ tình

- Câu 8: Nguyên tác: "Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi" - ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên Câu thơ dịch là: "Muôn trùng sóng bạc tiễn ra

khơi" Câu thơ dịch làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng của hình ảnh "nhất tề phi" - "cùng bay lên" đầy lãng mạn, hùng tráng.

Câu 4: Những yếu tố tạo lên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ là:

- Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt của nhân vật trữ tình

- Tư thế con người kì vĩ, đầy lãng mạn, sánh ngang cùng vũ trụ

- Khí phách ngang tàn, dám đương đầu với mọi thử thách

- Giọng thơ tâm huyết, sâu lắng mà sục sôi, hào hùng

Aaaaaaaaaaaaaaaa

Hướng dẫn Soạn bài: Hầu trời (Tản Đà)

Bố cục: 3 phần

- Phần 1 (từ "đêm qua lạ lùng"): giới thiệu về câu truyện.

- Phần 2 ("chủ tiên chợ trời"): thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

- Phần 3 ("Trời lại phê cho sương tuyết"): thi nhân trò chuyện với trời.

Câu 1:

- Câu thơ tác giả đặt vấn đề có vẻ khách quan: Câu chuyện tôi sắp kể "chẳng biết có hay không" Chắc chắn người nghe thì cho là bịa đặtnhưng tác giả lại khẳng định mình ở trong trạng thái rất bình thường "Chẳng hoảng hốt, không mơ màng" và câu chuyện có vẻ là thật:

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Thật được lên tiên - sướng lạ lùng.

Điệp từ "Thật" kết hợp với hàng loạt dấu cảm khẳng định độ chân thật của câu chuyện của tác giả sắp kể

Cách vào đề gây được mối nghi vấn để gợi trí tò mò ở người đọc, tạo sự hấp dẫn, muốn được nghe câu chuyện

Trang 3

Câu 2:

* Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:

- Thi nhân đọc thơ một cách cao hứng và có phần tự đắc, kể tường tận từng chi tiết về các tác phẩm của mình

- Giọng đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa sảng khoái, cuốn hút người nghe

=> Tản Đà là một người rất "ngông" khi dám lên Trời để khẳng định tài năng thơ văn của mình Bởi lẽ, Tản Đà là một nhà thơ biết ý thức vềtài năng và thơ văn của mình, dám đường hoàng bộc lộ cái "TÔI" cá thể của mình Tản Đà trong văn chương thường biểu hiện thái độphản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, có tâm hồn không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, sự đơn điệu, nên thường tự đề cao,phóng đại cá tính của mình Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ

* Thái độ của người nghe thơ:

- Thái độ của Trời:

+ "Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay".

+ "Văn thật tuyệt! "

+ "Nhời văn chuốt đẹp như sao băng

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Êm như gió thoảng, tinh như sương"

=> Trời tỏ thái độ thật tâm đắc khi nghe thơ và cất lời khen rất nhiệt thành

- Thái độ của Chư Tiên:

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng

Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.

=> Chư Tiên nghe thơ của thi nhân một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ

Tóm lại, Thái độ của Trời và Chư Tiên khi nghe thơ đã tỏ ra rất thích thú và ngưỡng mộ tài năng thơ ca của thi nhân

Câu 3: Đoạn thơ thể hiện cảm hứng hiện thực:

"Bẩm trời cảnh con thực nghèo khó

Biết làm có được mà dám theo".

=> Kể cho trời nghe cảnh mình ở hạ giới: một cảnh sống nghèo khó, vất vả đủ điều của kiếp nhà văn

- Ý nghĩa đoạn thơ:

+ Đoạn thơ là bức tranh hiện thực về chính cuộc đời tác giả, cũng như bao nhà văn khác

+ Tiếp sau đoạn thơ là tâm trạng tác giả, càng khiến người đọc ngậm ngùi trước cuộc sống cơ cực của một lớp nhà văn trong chế độ cũ

Trang 4

Câu 4: Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ.

- Thể thơ: thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào

- Ngôn từ: hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc

- Cách biểu hiện cảm xúc: tự do, phóng túng

Dưới ngòi bút của tác giả, Trời và Chư tiên không có một chút gì đạo mạo, ngược lại các đấng siêu nhiên đó cũng có cách bộ lộ cảm xúc

rất ngộ nghĩnh, bình dân (lè lưỡi, chau mày, tranh nhau dặn, )

II Luyện tập

Aaaaaaaaaaaaaaaaa

Hướng dẫn Soạn bài: Vội vàng (Xuân Diệu)

Câu 1: Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn:

- Đoạn 1 (13 câu đầu): tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết

- Đoạn 2 (câu 14 - 29): băn khoăn trước giới hạn của cuộc đời

Đoạn 3 (đoạn còn lại): hối hả, cuồng nhiệt đến với cuộc sống

Câu 2: Cảm nhận về thời gian cùa Xuân Diệu được nói đến trong 11 câu thơ (câu 14 - 24) mang ý vị triết lí nhân sinh sâu sắc Cảm nhận

về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm, nên mang nét riêngcủa Xuân Diệu rất rõ

a) Thời gian và mùa xuân

Xu â n đươ ng t ớ i , ngh ĩ a l à xu â n đươ ng qua ,

Xu â n c ò n non , ngh ĩ a l à xu â n đã gi à,

Xuân Diệu viết bài thơ này khi mới ngoài hai mươi tuổi, nghĩa là còn rất trẻ Người trai trẻ ấy nghĩ về mùa xuân như vậy, mới biết sức tànphá của thời gian như thế nào, và thi nhân "sợ" thời gian trôi nhanh ra sao! Ở cái tuổi ấy, có lẽ ít người nghĩ thế, và nhất là viết như thế đểgiãi bày lòng mình trong thơ Hai câu trên là đối lập (đương tới / đương qua, còn non / sẽ già) để đi đến một kết luận khẳng định về sựđồng nhất giữa mùa xuân và tác giả (con người):

M à xu â n h ế t , ngh ĩ a l à t ô i c ũ ng m ấ t

Mùa xuân trôi đi thì cuộc đời con người cũng chấm hết Cảm thức về sự tàn phá của thời gian thật mạnh và sâu, được nâng lên như mộttriết lí nhân sinh của Xuân Diệu Một con người bình thường không thể nghĩ về thời gian, không gian "sợ" thời gian trôi nhanh đến mứcnhư thế Hẳn là trong ông có chứa chất bi kịch của nhà thơ lãng mạn trong thân phận một thi nhân mất nước lúc bấy giờ, hay chính vì ôngquá yêu cuộc sống nồng nhiệt và say đắm mà "sợ" thời gian cướp mất mùa xuân của mình

Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu ở đây, thực ra, suy cho cùng, cũng chính là hệ quả tất yếu phải có của lòng yêu đời, yêu cuộc sốngcủa ông

b) Thời gian và tuổi trẻ

Trang 5

Thời gian cướp đi mùa xuân cũng có nghĩa là cướp mất tuổi trẻ của nhà thơ Đây chính là nỗi xót đau và lo lắng nhất của Xuân Diệu Bởichính ông là con người trân trọng tuổi trẻ nhất và lo sợ thời gian trôi nhanh thì tuồi trẻ sẽ không còn nữa Điều đó được ông bộc lộ thậtchân thành, tha thiết:

Câu 3: Chính vì yêu tha thiết cuộc sống đời thường quanh mình, Xuân Diệu đã phát hiện ra trong cuộc sống đó những nét đẹp thật tinh

tế,đáng yêu, giàu chất thơ như đã phân tích trên đây

- Xuân Diệu yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ của mình bởi đây là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất, có nhiều hạnh phúc nhất củacuộc đời một con người (xem phân tích câu 2)

- Xuân Diệu quan niệm hạnh phúc không ở đâu xa (hoặc ở một cõi khác) mà đó chính là hạnh phúc ở quanh ta, là sự sống quen thuộc củatrần thế Hạnh phúc khi được cảm nhận một bức tranh thiên nhiên đẹp của hoa lá đồng nội, của ong bướm, chim chóc; được sống trong

một "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" Vì vậy, phải biết giữ lấy hạnh phúc, giữ lại những vẻ đẹp của cuộc sống cho mình bằng

những ý tưởng thật táo bạo:

T i mu ố n t ắ t n ắ ng di

Cho m à u đừ ng nh ạ t , m ấ t ;

T i mu ố n bu ộ c gi ó ạ i

Cho h ươ ng d ừ ng bay đ i

Và chính vì thế, nhà thơ đă có một cách sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc của tuổi trẻ, của mùa xuân như nhan đề bài thơ mà ông

Trang 6

Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng Hàng loạt hình ảnh tiếp tục làm nổi bật vẻ quyến rũ của sựsống đầy sắc hương nhưng không phải để tả mà chủ yếu để diễn đạt sự cuồng nhiệt, vội vàng tận hưởng của tác giả.

- Hàng loạt động từ tăng dần mức độ sự vồ vập, đắm say: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn

- Thủ pháp điệp được sử dụng đa dạng: điệp cú pháp; điệp từ, ngữ; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến ( Ta muốn ôm, Ta muốn riết Ta muốn

cắn), trạng thái tăng tiến (cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê ).

=> Nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn thơ đó là những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng theo chiều tăng tiến đã diễn tả rất thànhcông khao khát mãnh liệt của tác giả

Aaaaaaaaaaaaaa

Câu 1: Lời đề từ "bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài":

- Hai chữ bâng khuâng thể hiện được nỗi niềm của nhà thơ: cảm giác bâng khuâng trước Tràng Giang rộng lớn.

- Trời rộng được nhân hóa nhớ sông dài hay chính là ẩn dụ cho nỗi nhớ của nhà thơ.

Có thể nói Tràng Giang đã triển khai một cách tập trung cảm hứng nêu ở câu đề từ.

Câu 2:

Âm điệu chung của bài thơ là âm điệu buồn lặng lẽ, bâng khuâng, man mác da diết, sầu lặng Nổi bật trong suốt bài thơ là âm điệu buồn đều đều, dập dềnh như sông nước ở trên sông, vừa lai âm điệu trong lòng thi nhân khi đứng trước cảnh Tràng Giang lúc chiều xuống

Chủ yếu là nhịp thơ 3 4 tạo ra âm điệu đều đều Âm điệu tựa như dập dềnh trên sông và sóng biển

- Sự luân phiên BB/ TT/ BB - TT/ BB/ TT, nhưng lại có những biến thái với việc sử dụng nhiều từ láy nguyên với sự lặp lại đều đặn tạo âmhưởng trôi chảy triền miên cùng nỗi buồn vô tận trong cảnh vật và hồn người

- Bài thơ tạo dựng được một bức tranh thiên nhiên cổ kính, hoang sơ:

+ Không gian: mênh mông, bao la, rộng lớn (Trời rộng sông dài).

+ Cảnh vật hiu quạnh, hoang vắng, đơn lẻ, hiu hắt buồn

+ Hình ảnh ước lệ thường dùng trong thơ cổ: Tràng Giang; thuyền về, nước lại; nắng xuống, trời lên; sông dài, trời rộng; mây đùng núi

bạc; bóng chiều; vời con nước; khói hoàng hôn;

- Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi, nhưng Tràng Giang vẫn là một bài thơ rất Việt Nam, rất gần gũi và thân thuộc: dòng sông

sóng lượn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô, tiếng làng xa vãn chợ chiều, Hình ảnh, âm thanh giản dị, thanh đạm của cuộcsống, con người Việt Nam

- Sự hòa quyện của hai hệ thống hình ảnh vừa cổ điển, vừa gần gũi thân thuộc nêu trên tạo cho bài thơ một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ màtinh tế, cổ điển mà quen thuộc

Câu 4:

Trang 7

Trước Huy Cận đã có không ít các nghệ sĩ bày tỏ lòng yêu nước một cách xa xôi, bóng gió qua thơ văn như Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải, Thề noncủa Tản Đà, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Ở bài thơ này, nỗi buồn khi giang sơn bị mất chủ quyền đã hòa vào

nỗi bơ vơ trước tạo vật thiên nhiên hoang vằng và niềm thiết tha với thiên nhiên tạo vật ở đây cũng là niềm thiết tha với quê hương đấtnước

Và thực tế, xét ở một phương diện nào đó thì Tràng Giang đúng là một bài thơ "ca hát non sông đất nước; do đó dọn đường cho lòng yêu

giang sơn Tổ quốc" (Xuân Diệu).

Câu 5: Tràng Giang có nhiều nét đặc sắc nghệ thuật:

- Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính, với cách ngắt nhịp quen thuộc tạo nên sự cân đối, hài hòa Thủ pháp tương phản được sử dụng

triệt để:hữu hạn/ vô hạn; nhỏ bé/ lớn lao; không/ có;

- Sử dụng thành công các loại từ láy: láy âm (Tràng Giang, đìu hiu, chót vót, ), láy hoàn toàn (điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn, ).

Các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, so sánh,

Aaaaaaaaaaaaa

Câu 1: Tâm trạng tác giả trong khổ thơ đầu (qua hồi tưởng về Cảnh và người thôn Vĩ)

- Bao trùm khổ thơ là niềm thích thú, say sưa, lòng yêu mến, tán thưởng vẻ đẹp của cảnh và người thôn Vĩ Có lẽ tấm thiếp của ngườithôn Vĩ là một tìn hiệu tình cảm tác động mạnh tới vùng kỉ niệm đẹp trong tâm hồn Hàn Mặc Tử Vì vậy mà hàng loạt hình ảnh, về thôn Vĩhiện lên rất rõ và thực, tưởng như thi sĩ đang đứng trước cảnh sắc thôn Vĩ mà nhìn ngắm, nâng niu

+ Hình ảnh "nắng hàng cau nắng mới lên" ở thôn Vĩ mang một vẻ đẹp lấp lánh, tinh khiết Được nhìn nắng mới, trên những lá cau non là

khoảnh khắc khó quên

+ Cảnh vườn tược "mướt", "xanh như ngọc" cũng là một nét độc đáo của những khu biệt thự nhà vườn thôn Vĩ Cây cảnh nên được

chăm sóc kĩ càng, không chỉ xanh mà còn mỡ màng, óng ả Lại thêm một vẻ đẹp thanh khiết

Từ cảm thán "mướt quá" bộc lộ trực tiếp sự trầm trồ của thi sĩ Chứng tỏ Hàn Mặc Tử đang say sưa trong dòng hồi tưởng Vậy mới biết, xa

thôn Vĩ nhưng tình đối với thôn Vĩ vẫn tràn đầy Đại từ "ai" (vườn ai) phiếm chỉ nhưng vẫn mang ý nghĩa hướng về một "ai" đó xác địnhtrong tâm tưởng của nhà thơ

+ Người thôn Vĩ chỉ hiện lên chưa đầy nửa câu thơ, không trực diện, nguyên hình mà chi một nét thấp thoáng lá trúc Khuôn mặt chữđiền phúc hậu càng có ấn tượng trong sự kín đáo, duyên dáng

=> Cảnh và người thôn Vĩ thật đẹp nhưng cũng chỉ là hoài niệm

Câu 2: Khổ 2

- Hình ảnh thơ:

+ Gió, mây: đi ngược lại với quy luật của thiên nhiên: chia lìa, phân li

+ Dòng nước: buồn thiu Dòng sông lặng lờ như bất động, không muốn chảy như đánh mất đi sự sống của mình

+ Hoa bắp lay: sự lay động khẽ khàng

=> Không chỉ cái buồn của cảnh vật mà còn là cái buồn của con người

Trang 8

- Sông trăng, con thuyền: lung linh, kì ảo.

+ Bút pháp tượng trưng thể hiện sự khát khao hạnh phúc

+ Câu hỏi: thể hiện sự mong ngóng, hi vọng và cả nỗi đau thương, tuyệt vọng

=> Câu thơ đẹp, gợi cảm Gợi cảm giác bâng khuâng, xót xa

Câu 3: Tâm trạng của Hàn Mặc Tử ở khổ thơ thứ 3.

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

- Thiết tha hướng về người thôn Vĩ nhưng cảm thấy xa vời, khó tiếp cận

+ Điệp ngữ "khách đường xa" (Huế và Quy Nhơn không quá xa về không gian địa lí Đây là không gian tâm trạng Đối với Hàn Mặc Tử,

Huế và Quy Nhơn là hai thế giới cách biệt)

+ Các từ: Xa, trắng quá, sương khó, mờ, ảnh càng tăng cảm giác khó nắm bắt

- Chỉ còn biết mơ tưởng

- Lòng đầy hoài nghi (Làm sao biết "tình ai có đậm đà").

Câu 4:

- Tứ thơ là ý chính, ý lớn bao quát bài thơ, là điểm tựa cho sự vận động cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng toàn bài thơ Ở bài thơ này, tứ thơbắt đầu với cảnh đẹp thôn Vĩ bên dòng sông Hương, từ đó là khơi gợi liên tưởng thực - ảo và mở ra bao nhiêu nỗi niềm cảm xúc, suy tư

về cảnh và người xứ Huế với phấp phỏng những mặc cảm, uẩn khúc, niềm hi vọng, niềm tin yêu

- Bút pháp của nhà thơ sử dụng trong bài thơ này kết hợp hài hòa điệu tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình Cảnh đẹp xứ Huế đậmnét tả thực mà lại có tầm cao tượng trưng Sự mơ mộng làm tăng thêm sắc thái lãng mạn Nét chân thực của cảm xúc làm đậm thêm chấttrữ tình

Aaaaaaaaaaaaaa

Bố cục: 2 phần

- Phần 1 (hai câu đầu): bức tranh thiên nhiên chiều tối

- Phần 2 (còn lại): bức tranh sinh hoạt lao động

Câu 1: So sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa, tìm những chỗ chưa sát với nguyên tác.

- Câu thơ 1: dịch khá sát

- Câu thơ 2:

Trang 9

+ Bản dịch chưa dịch chữ "cô" trong "cô vân", dịch thơ là "chòm mây" thì chưa nói được sự lẻ loi, cô đơn.

+ "Mạn mạn" nghĩa là "trôi lững lờ" dịch thơ là "trôi nhẹ" chưa thể hiện được sự mệt mỏi, không muốn trôi, trôi một cách chậm chạp của

chòm mây

- Câu thơ 3:

+ Dịch thơ chưa phù hợp: "Thiếu nữ" dịch là "Cô em" không hợp với cách nói của Bác.

+ Dịch thơ dư từ "tối" làm mất đi sự hàm súc của câu thơ (không cần nói tối mà vẫn biết trời đã vào đêm - nhờ hình ảnh lò than rực

hồng)

- Câu thơ 4 dịch tương đối thoát ý

Câu 2: Bức tranh thiên nhiên trong hai câu đầu:

Cảnh núi rừng khi chiều tối và tâm trạng của nhà thơ:

- Cảnh:

+ "Chim mỏi" -> đây chính là cánh chim cổ điển, hình ảnh cánh chim trong thơ xưa đều xuất hiện vào khung cảnh buổi chiều.

+ Cánh chim nhỏ kia về rừng tìm chốn ngủ, đây là hoạt động kết thúc một ngày Trong thời gian ấy cánh chim kia đã được bay về nơi trúngụ của nó còn nhà thơ thì vẫn phải hành xác trên con đường đầy gian khổ để đến nhà lao mới

+ Ở câu hai phần dịch không sát với bản chính "cô vân" gợi sự lẻ loi một mình cô độc, còn phần dịch nghĩa lại là " chòm mây" không gợi

lên được sự cô độc, đồng điệu với nhà thơ cũng đang cảm thấy khi hành trình gian khổ chỉ có một mình

=> cảnh thiên nhiên hiện lên thật đẹp, đó là mộ buổi chiều với mây trôi bảng lảng, cánh chim trở buổi chiều về, những hành động đang đivào trạng thái tĩnh

- Tình

+ Qua bức tranh thiên nhiên ta thấy được tâm trạng của Bác, tình yêu thiên nhiên luôn tìm đến sự hòa hợp với thiên nhiên

+ Cảnh được nhìn bằng tâm trạng nên cũng nhuốm màu tâm trạng: chim thì về nghỉ còn bác thì vẫn phải đi, cô vân kia giống như mộtmình Bác trên đường chuyển lao cô đơn

+ Tâm hồn Bác luôn hướng về sự sống: cánh chim chỉ về ngủ để bắt đầu sáng mai lại hành trình kiếm ăn chứ không bay vào cõi vĩnh

hằng "Chim bầy vút bay hết - mây lẻ đi một mình".

+ Đó còn là một tâm hồn luôn hướng về đất nước, vì đất nước Bác cô gắng đi hết con đường chuyển lao chờ ngày tự do hoạt độngcách mạng Đó chính là tinh thần thép của Bác

Câu 3: Bức tranh đời sống trong hai câu cuối:

"Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng"

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng)

Trang 10

- Hình ảnh thiếu nữ xay ngô là trung tâm của bức tranh, thu hút sự chú ý của người tù Đó là một vẻ đẹp khỏe khoắc của người lao động.

Sự xuất hiện của "thiếu nữ xay ngô" khiến cho bài thơ có một bước phát triển mới:

+ Nếu như ở hai câu đầu, thiên nhiên đã đi vào sự nghỉ ngơi thì con người vẫn gợi lên nhịp sống dẻo dai

+ Cảnh ở hai câu đầu rất tĩnh thì đến đây nhờ hoạt động xay ngô của thiếu nữ mà trở nên sinh động hơn

+ Đặc biệt là lò than rực hồng được bàn tay thiếu nữ nhen nhóm lên Một chút sáng trong đêm tối cũng nhen nhóm được niềm vui, niềm

lạc quan Một chút ấm từ màu hồng của lò than, cũng xóa bớt cảm giác lạnh lẽo, cô đơn trong lòng người tù, xa xứ Chữ " hồng" cuối bài

thơ có thể gọi là thi nhân

-> Hai câu cuối miêu tả cảnh bằng tinh thần hiện đại:

 Hình tượng thơ có sự vận động tích cực

 Bài thơ kết thúc ở màu hồng

 Đằng sau cặp mắt quan sát cảnh là tâm hồn của một người chiến sĩ cộng sản luôn hướng tới cuộc sống để tìm niềm vui, tăngniềm lạc quan tin tưởng để bước tiếp trên con đường chuyển lao gian khổ

Câu 4:

Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của bài thơ:

- Nghệt thuật tả cảnh vừa có những nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu cũ) vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thựcsinh động với những hình ảnh dân dã, đời thường) Bài thơ chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, vì thế mà có thể cảm nhận đượctính chất hàm súc của thơ rất cao

- Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo Một số từ ngữ vừa gợi tả lại vừa gợi cảm ( quyện điểu, cô vân) Biện pháp láy âm vắt dòng ở câu 3 và câu 4 tạo nhịp thơ khỏe khoắn Ngoài ra bài thơ có những chữ rất quan trọng, có thể làm " sáng" lên cả bài thơ, ví như chữ "hồng" trong câu thơ cuối chẳng hạn.

Aaaaaaaaaaaaaaaaaa

Hướng dẫn Soạn bài: Từ ấy (Tố Hữu)

Câu 1: Tố Hữu đã dùng những hình ảnh nào để chỉ lí lưởng và biểu hiện niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng?

- Từ ấy được mở đầu câu thơ thể hiện sự đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời của nhà thơ.

- "nắng hạ" -> ánh nắng chói chang nhất, mạnh mẽ nhất -> lý tưởng cách mạng có sức mạnh soi sáng rất lớn đối với nhà thơ

Trang 11

-> Khổ thơ đầu nhà thơ thể hiện niềm vui sướng của mình khi được kết nạp vào Đảng Sự kiện ấy đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộcđời nhà thơ, đó là chặng đường của chiến sĩ cách mạng.

Câu 2: Khi có ánh sáng của lí tưởng Cách mạng soi rọi, nhà thơ đã có những nhận thức về lẽ sống như thế nào?

Suy nghĩ: Tôi buộc lòng tôi với mọi người biểu hiện cho sự tự nguyện gắn "cái tôi" cá nhân vào "cái ta" chung của mọi người.

- Để tình trang trải với trăm nơi biểu hiện cho một tâm hồn trải rộng với cộng đồng, tạo khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng

con người cụ thể

- Hồn tôi gắn với bao hồn khổ: tình hữu ái giai cấp, ông đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ.

- Hình ảnh: "Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời" mang tính ẩn dụ để chỉ đông đảo người cùng chung cảnh ngộ đoàn kết với nhau vì mục

tiêu chung

=> Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm củanhững trái tim Quan niệm về lẽ sống của ông là sự gắn bó hài hoà giữa "cái tôi" cá nhân và "cái ta" chung của mọi người

Câu 3: Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ được thể hiện như thế nào ở khổ cuối bài thơ?

- Nhà thơ tự dùng những từ thân mật như "anh, em, con" thể hiện sự thân thiết gần gũi như một gia đình

- Và quả thật không chỉ có gia đình nhỏ của mình nhà thơ còn nhận ra gia đình Việt Nam to lớn

- Nhà thơ đã là con của vạn nhà, là em của những kiếp phôi pha, những người anh đi trước đã hiến thân cho cách mang, và là anh củanhững em nhỏ không áo cơm cù bất cù bơ

-> Có thể nói nhà thơ thức tỉnh và thật sự đang hướng tới cái ta chung, niềm vui lớn, lý tưởng lớn, lẽ sống lớn

Câu 4: Một số nét nghệ thuật.

- Đây là một bài thơ giàu nhạc điệu (cách ngắt nhịp thay đổi liên tục theo cảm xúc, vẫn có sức ngân vang)

- Các biện pháp tu từ gợi cảm: ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ

- Hình ảnh tươi sáng, rực rỡ

Hướng dẫn Soạn bài: Lai tân (Hồ Chí Minh)

Bố cục: 2 phần

- Phần 1 (3 câu đầu): là 3 câu tự sự nói về hành vi thường thấy ở 3 viên quan ở Lai Tân

- Phần 2 (câu cuối): là một lời kết luận, một nhận xét, đánh giá của tác giả

Câu 1: Bộ máy quan lại ở Lai Tân đã được miêu tả trong ba câu thơ đầu:

"Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc

Giải người canh trưởng kiếm ăn quanh

Chong đèn, huyện trưởng làm công việc

Trang 12

Trời đất Lai Tân vẫn thái bình".

- Tác giả nhằm vào những người đứng đầu ở mỗi cương vị của bộ máy nhà nước:

+ Ban trưởng nhà lao thường xuyên đánh bạc (Đánh bạc làm phạm pháp – Người đánh bạc ở ngoài thì bị bắt vào nhà giam nhưngtrưởng ban nhà lao lại đánh bạc nhiều hơn ai hết)

+ Cảnh trưởng tham lam ăn tiền của phạm nhân bị giải

+ Huyện trưởng chong đèn làm công việc Nếu theo nghĩa huyện trưởng chăm chỉ làm việc thì cũng ngụ ý mỉa mai bởi lẽ không biết ônglàm việc gì mà cấp dưới ăn chơi, ăn chặn quan vẫn không biết Còn nếu hiểu theo nghĩa chong đèn hút thuốc phiện thì hợp logic phêphán, châm biếm từ câu 1 và câu 2

- Ở câu 1 và câu 2 tác giả nói thẳng sự việc, để sự việc tự lên tiếng Câu 3, thủ pháp châm biếm kín đáo, sâu sắc Ban trưởng, cảnhtrưởng, huyện trưởng, từ bé đến lớn đều không làm đúng Chức năng người đại diện cho pháp luật Từ đó cho thấy bộ máy cai trị củachính quyền Tưởng Giới Thạch từ trên xuống dưới đều hết sức thối nát, xấu xa Quan trên lo hưởng lạc, quan liêu, vô trách nhiệm Quandưới tham nhũng, ăn chơi

Câu 2:

- Tưởng rằng kết bài sẽ là một lời buộc tội gay gắt nhưng câu thơ cuối buông ra lại quá nhẹ nhàng, mát mẻ Đại loạn thế, thối nát thế mà

"Trời đất Lai Tân vẫn thái bình".

– "Thái bình" là nhãn tự, là trục hút châm biếm của cả bài thơ Hoá ra tình trạng ấy là chuyện bình thường, chuyện bản chất của guồngmáy cai trị nơi đây Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự "thái bình" dối trá nhưng thực sự là "đại loạn bên trong"

- Không "đao to búa lớn" mà theo như cách dân gian thường nói là "Mát nước thối cỏ", lối châm biếm nhẹ nhàng, mát mẻ của HCM đã cótác dụng lật tẩy bản chất của cả bộ máy nhà nước ở Lai Tân.Qủa là một đòn đã kích độc đáo và bất ngờ

Câu 3:

Bài thơ có một cách cấu tứ bất ngờ Như trên đã nói, ba câu thơ đầu chỉ thuần kể việc Điểm nút chính là câu thơ thứ tư Nó làm bật ratoàn bộ tư tưởng của bài Nó làm bung vỡ tất cả cái ý châm biếm mỉa mai hướng đến sự thối nát đến tận xương tủy của cái xã hội TưởngGiới Thạch

Bài thơ cũng in đậm cái bút pháp chấm phá của thơ Đường Lời thơ ngắn gọn, súc tích Không cầu kì câu chữ, nhưng có thể nói: chỉ vớibốn câu thơ ngắn, nhà thơ đã vẽ nên cái bản chất của cả chế độ xã hội mục nát đến vô cùng Sức chiến đấu, chất "thép" của bài thơ nhẹnhàng mà quyết liệt chính là ở đó

Hướng dẫn Soạn bài: Nhớ đồng (Tố Hữu)

Bố cục: 3 phần:

– Phần 1 (9 khổ thơ đầu): khát khao và nỗi nhớ của người tù cộng sản với cuộc sống tư do bên ngoài

– Phần 2 (2 khổ tiếp): nhớ những ngày còn ở ngoài tự do

Phần 3 (còn lại): thực tại phòng giam ngột ngạt

Câu 1:

Trang 13

- Tiếng hò vang lên lẻ loi, đơn độc giữa trưa yên tĩnh, sâu lắng, gợi cảm giác buồn, hiu quạnh, đồng điệu với cảnh ngộ và tâm trạng ngườitù.

- Tiếng hò gợi dậy tất cả những gì của thế giới bên ngoài Đó là âm thanh của cuộc sống bên ngoài đến được với nhà tù, âm thanh tiêubiểu của xứ Huế, gợi nỗi nhớ đồng quê, nhớ người dân quê da diết

Câu 2:

Trong bài thơ Tố Hữu dùng khá nhiều phép điệp, nhất là điệp khúc: Gì sâu bằng những trưa thương nhớ, Gì sâu bằng những trưa hiu

quạnh và điệp từ "đâu" Việc lặp lại như vậy tạo được hiểu quả nghệ thuật cao, tác dụng như một điệp khúc, nhấn mạnh tô đậm cảm xúc

của cả bài thơ:

- Nỗi hiu quạnh: Hiu quạnh trong âm thanh tiếng hò não nùng, hiu quạnh của trưa vắng, hòa điệu cùng nỗi hiu quạnh của người tù mộtmình đối diện với bốn bức tường giam hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài

- Nỗi thương nhớ: được khơi gợi từ tiếng hò, từ sự quạnh hiu Thương nhớ đồng quê (từ cảnh sắc đến người dân quê)

- Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời

Câu 3:

- Hình ảnh đồng quê được hình dung rõ ràng, cụ thể, không chỉ bằng đường nét, màu sắc mà còn có cả hương vị, hơi mát Tất cả đều

là những cảnh sắc đơn sơ, quen thuộc mà rất đỗi thân thương (màu sắc: ô mạ xanh; không khí yên bình; ruồng tre mát, thở yên vui;hương vị: gió cồn thơm, khoai ngọt sắn bùi; âm thanh: lúa xao xác, tiếng xe lùa nước hòa tiếng hò não nùng – những âm thanh buồnnhưng lại thể hiện được hồn quê)

- Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời

- Trước khi gặp lí tưởng cách mạng: băn khoăn, vẩn vơ, quanh quẩn, tâm hồn bế tắc, chán nản

- Sau khi gặp lí tưởng cách mạng: như cánh chim vui say, bay liệng trong không gian bao la, bát ngát Tâm hồn được giải phóng, rộng mở,hòa nhập với cuộc đời

- Từ hai hình ảnh đối lập, nhà thơ quay về với thực tại: cánh chim buồn nhớ gió mây Hình ảnh con chim tự do ngày nào giờ đây trongcảnh giam cầm, nhớ gió mây gợi niềm say mê lí tưởng, khao khát được hoạt động, được cùng đồng chí, đồng bào chiến đấu

Câu 5:

Nhận xét chung về tâm trạng tác giả thể hiện trong bài thơ:

Trang 14

Bài thơ không dùng lại nỗi thương nhớ đồng quê mà còn là thương nhớ cuộc sống, thương nhớ đồng bào, kháo khát tự do, bất bình vớithực tại tù đày.

Hướng dẫn Soạn bài: Tương tư (Nguyễn Bính)

Bố cục: 3 phần

- Phần 1 (4 câu thơ đầu): khởi nguồn cho tâm trạng tương tư

- Phần 2 (12 câu tiếp theo): giãi bày tâm sự tương tư

- Phần 3 (còn lại): ước mơ muôn đời của tình yêu đôi lứa

Câu 1: Nỗi nhớ mong và những lời kể lệ, trách móc, mơ tưởng, ước vọng xa xôi của chàng trai.

- Nhớ nhung da diết thành bệnh tương tư:Thành ngữ "chín nhớ mười mong" chỉ sợ nhớ nhung rất nhiều.

- Kể lệ, trách móc cũng chỉ là để bộc lộ nỗi tương tư của mình Những câu hỏi tu từ xoáy vào lòng người nghe: Cớ sao bên ấy chẳng sang

bên này? - Có xa xôi mấy mà tình xa xôi? Âm điệu câu hỏi biến thành lời than.

- Tâm trạng chờ đợi mòn mỏi, sốt ruột:

Ng à y qua ng à y l ạ i qua ng à

L xanh nhu ộ m đã th à nh c â y l á v à ng

+ Câu thơ "Ngày qua ngày lại qua ngày" ngắt nhịp 3/3, chữ "lại" trở thành điểm nhấn của ngữ điệu diễn tả nhịp thời gian cứ trôi mà sự

trông chờ càng vô vọng, chán ngán

+ Lấy sự chuyển đổi màu sắc cây lá "lá xanh" đã thành "lá vàng" để chỉ thời gian chờ đợi Ở câu trên còn tính từng ngày, câu dưới đã

thấy những mùa đi qua Thời gian chờ đợi dài theo nỗi tương tư nên héo mòn,vô vọng, vô vàng Cách diễn tả thật tinh tế và giàu ý nghĩanhưng vẫn dễ cảm nhận

- Mơ tưởng, ước vọng xa xôi:

Bao gi ờ b ế n m ớ i g ặ p đò?

Hoa khu ê c á , b ướ m giang h ồ g ặ p nhau ?

+ Trong ao ước đã có mầm vô vọng: hình ảnh bến, hoa (cố định) - đò, bướm (di chuyển) thật khó mà "gặp" được nhau.

+ Chàng trai quê sống trong nỗi tương tư nhưng vẫn gửi theo gió nỗi niềm ước vọng xa xôi:

Th ô n Đ o i th ì nh ớ th ô n Đô ng

Cau th ô n Đ o i nh ớ gi ầ u kh ô ng th ô n n à ?

Lẽ ra phải nói "cau thôn Đoài" nhớ "trầu thôn Đông" nhưng không dám chắc, đành nói lệch đi Nhưng nỗi lòng nhớ nhung thì từ đầu đến

cuối bài thơ đều không thay đổi

Nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình trải suốt bài thơ nhưng đến tận cuối bài thơ vẫn chưa được đền đáp Chính vì thế nó tạo nên cái cớcho dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách tha thiết và sâu sắc

Câu 2: Cách bày tỏ tình yêu, giọng điệu thơ, cách so sánh ví von ở bài thơ này có những điểm đáng lưu ý.

Trang 15

- Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, chân thành.

- Hình ảnh ví von, ẩn dụ, chất liệu ngôn từ chân quê đậm màu sắc dân gian: thôn Đoài, thôn Đông, bến, đò, hoa, bướm, trầu - cau

- Cách bày tỏ tình yêu tự nhiên kín đáo, ý nhị và có ý vị chân thành mộc mạc của tâm hồn chàng trai quê

Câu 3:

Trong thơ Nguyễn Bính "có hồn xưa đất nước" (Hoài Thanh) Điều đó được thể hiện ở cách biểu hiện cảm xúc, cách dùng ngôn ngữ, chất

liệu đậm màu sắc dân gian, giàu chất "chân quê"

Hướng dẫn Soạn bài: Chiều xuân (Anh Thơ)

Bố cục: 3 phần

- Phần 1 (khổ 1): cảnh xuân trên bến vắng

- Phần 2 (khổ 2): cảnh xuân trên đường đê

Phần 3 (khổ 3): cảnh xuân trong ruộng lúa

Câu 1:

Bài thơ là một bức tranh mùa xuân vào buổi chiều tà - tiêu biểu cho cảnh xuân nơi đồng quê miền Bắc nước ta Bài thơ mạnh ở lối tả.Không tả tỉ mỉ chi tiết mà quan sát rộng, mặc dù thế vẫn muốn thâu tóm từ linh hồn của cảnh Có thể nhận xét chung rằng bức tranh buổichiều xuân khá yên ả Thậm chí có phần hơi vằng lặng nữa

Buổi chiều xuân rất đặc trưng trước hết chính là ở cảnh mưa: mưa bụi, mưa xuân thưa thớt bay Mưa gọi những mầm non thức dậy Cảnhđầu tiên lọt vào tầm quan sát của tác giả là cảnh bến đò Nhưng như đã nói, bức tranh không được chụp vào lúc đông vui nhộn nhịp, nên

như hòa vào cái yên ả của buổi chiều xuân kia, con đò cũng " biếng lười nằm mặc nước sông trôi" Điểm xuyết liên tục thêm vào bức tranh

ấy là quán tranh vắng, là những chùm hoa xoan tím "rụng tơi bời"

Cảnh từ gần được mở rộng thêm, ca và xa hơn Nhưng vẫn là nét đặc trưng của mùa xuân đồng bằng Bắc Bộ: cỏ non tràn biếc cỏ, đànsáo đen, những cánh bướm rập rờn, … Khổ thứ hai có một hình ảnh thơ thật độc đáo và xuất sắc:

L ũ c ò con ch ố c ch ố c v ụ t bay ra ,

L m gi ậ t m ì nh m ộ t c ô n à ng y ế m th ắ m

C i cu ố c c à o c ỏ ru ộ ng s ắ p ra hoa

Trang 16

Câu thơ chụp vội đúng cái thời khắc lao động của người thiếu nữ Một cô thôn nữ chăm chỉ trong một buổi chiều quê tĩnh lặng Câu thơ tảđộng nhưng thực ra là để nói cái tĩnh Và nói cái tĩnh tất nhiên cũng lại để tiếp tục nhấn mạnh vào cái nhịp sống rất bình yên của một vùngquê mà dường như tất cả vẫn còn rất nguyên sơ.

Câu 3:

Trong bài thi sĩ đã dùng rất nhiều từ láy để dựng cảnh, hay nói đúng hơn là để gợi cái trạng thái tinh thần của cảnh: mưa thì êm êm, quán tranh đứngim lìm, hoa xoan rụng tơi bời, đàn sáo mổ vu vơ, mấy cánh bướm rập rờn, những trâu bò thong thả, Trong các từ láy đã nêu, trừ từ tơi bời, các từ láy còn lại đều là những từ láy có tính chất giảm nhẹ: êm êm, vu vơ, rập rờn, thong thả, và hoặc thì diễn tả trạng

thái thụ động hoặc thì diễn tả trạng thái đều đều của chủ thể Rõ ràng trong tổng thể bài thơ, chính sự kết hợp của những từ láy này đãgiúp thể hiện nổi bật vẻ dịu dàng, yên ả, thanh bình của cảnh chiều xuân cũng như của nhịp sống khoan thai nơi đồng quê của

Hướng dẫn Soạn bài: Tôi yêu em (Pu-Skin)

Bố cục: 3 phần

- Phần 1 (bốn câu đầu): những tâm trạng dằn xé trong tâm trạng của nhà thơ

- Phần 2 (hai câu tiếp): khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình

- Phần 3 (còn lại): sự cao thượng chân thành của nhân vật trữ tình

Câu 1:

Điệp khúc "tôi yêu em" làm nổi bật cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tám dòng thơ mà có đến ba lần điệp khúc tôi yêu em được láy đi láy lại ở dòng 1, 5, 7 và từng dòng thơ để nhấn mạnh ý Điệp khúc tôi yêu em là giọng điệu chủ đạo của bài thơ, nó vang lên như tiếng lòng say

đắm, mãnh liệt, vững bền của tình yêu thi sĩ đối với người yêu

Bài thơ dường như là lời từ giã cho một mối tình không thành Đúng là như vậy, Pu-skin đã yêu một thiếu nữ đẹp tên là A A Ô-lê-nhi-a, vàmùa hè năm 1828, nhà thơ ngỏ lời cầu hôn nhưng không được chấp nhận Và bài thơ tôi yêu em ra đời năm 1829 là lời từ giả cho mối tình

vô vọng ấy Đây là lời từ giã của cả lí trí và tình cảm của nhà thơ

Nếu bốn câu thơ đầu, cảm xúc bị ghìm nén do lí trí chi phối, thì ở bốn câu thơ sau,mạch cảm xúc lại tuôn trào, không tuân theo mệnh lệnhcủa lí trí để khẳng định mộttình yêu mãnh liệt không che giấu của nhà thơ Lời từ giã thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng vẫnđầy ắp một tình yêu nồng cháy, đằm thắm vang lên trong điệp khúc tôi yêu em tha thiết, vững bền Vậy là từ giã mà vẫn yêu, càng yêumãnh liệt, nhưng phải từ giã để không làm phiền muộn đến người mình yêu, và nhất là để cầu mong cho người yêu được hạnh phúc trongtình yêu Bởi thế tuy có buồn nhưng đây là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành mãnh liệt, nhân hậu, vị tha Tronglời từ giã này có cái điềm tĩnh, đúng đắn của lí trí và cả cái cao thượng, đẹp đẽ của tình cảm Một lời từ giã như vậy, không chỉ cao đẹpcho riêng nhà thơ, mà nó còn vươn tới những giá trị tinh thần cao cả của loài người

Câu 2:

Diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện tinh tế qua sự chuyển biến của giọng điệu trữ tình trong bài thơ:

- Từ hai câu 1-2 sang hai câu 3-4:

T i y ê u em : đế n nay ch ừ ng c ó th ể

Ng ọ n l ử a t ì nh ch ư a h ẳ n đã t à n phai ;

Nh ư ng , kh ô ng để em b ậ n l ò ng th ê m n ữ a ,

Trang 17

Hay h ồ n em ph ả i g ợ n b ó ng u ho à i

Chú ý sẽ thấy hai cặp thơ diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đây có sự "đấu tranh" giữa tình cảm và lí trí Hai câu 1-2, giọng thơ có

chút gì như cân nhắc, dè dặt (chừng có thể, chưa hẳn) nhưng vẫn là một sự khẳng định trong tình cảm của nhà thơ Mạch thơ chuyển đột

- Từ hai câu 5-6 sang hai câu 7-8:

có, cũng bị giày vò Câu thơ dịch khá đạt "khi hậm hực lòng ghen", nhưng ý thơ trong nguyên tác còn rõ hơn.

- Dù nó chỉ là mối tình đơn phương của nhà thơ - trong hai chữ: chân thành, đằm thắm Đó là một nét đẹp cần ghi nhận Nhưng còn đẹp

hơn nừa là lời cầu mong tha thiết, đầy vị tha của thi nhân đối với người mình yêu mà không được đền đáp:

T i y ê u em , y ê u ch â n th à nh , đằ m th ẳ m

C ầ u em đượ c ng ườ i t ì nh nh ư ô đã y ê u em

Cái đẹp nằm trong mối liên hệ của hai câu thơ: chính vì yêu em chân thành, đằm thắm nên mới cầu mong em có được một người yêu emcũng chân thành, đằm thắm như mình Mọi suy nghĩ của nhà thơ đều hướng về người yêu, mong người yêu được hạnh phúc Điều nàykhông dễ ai cũng có được như Pu-skin trong mối tình vô vọng đó

Câu 3:

Hai câu kết bất ngờ hàm chứa nhiều ý vị:

Bởi lẽ thông thường khi yêu người ta ích kỉ Yêu nhau càng thiết tha thì khi chia tay càng hậm hực, nhỏ nhen… hận thù: Pu-skin đã vượtđược thói ích kĩ tầm thường trong tình yêu bằng một sự ứng xử rất đẹp: yêu là trân trọng người mình yêu, mong muốn người yêu đượchạnh phúc

Câu 4: Tâm hồn Pu-skin qua bài thơ.

Bài thơ thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành, mãnh liệt, nhânhậu, vị tha

Trang 18

Hướng dẫn Soạn bài: Bài thơ số 28 (Ta-go)

Bố cục: 3 phần

- Phần 1 (từ đầu đến không biết gì tất cả về anh): khát vọng hòa hợp trong tình yêu.

- Phần 2 (tiếp đến em có biết gì về biên giới của nó đâu): khát vọng dâng hiến trong tình yêu.

- Phần 3 (còn lại đến hết): sự vô cùng của cuộc đời - trái tim - tình yêu

Cuối mỗi phần đều có câu chuyển ý Em chẳng thể biết tất cả về anh.)

Câu 1: Hình tượng so sánh trong câu thơ mở đầu:

Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng anh

Như trăng kia muốn vào sâu biển cả

Thể hiện niềm khát khao hòa hợp, hiểu biết nhau trong tình yêu (Đôi mắt như ánh sáng lung linh diệu huyền muốn rọi sáng tận đáy sâutrái tim người yêu Khát khao thấu hiểu người mình yêu là chính đáng nhưng vô vọng bởi chiều sâu tâm tưởng anh là vô cùng như chiềusâu biển cả)

Câu 2:

Lối cấu trúc đưa ra giả định rồi phủ định để đi đến kết luận, được sử dụng trùng điệp trong bài thơ nhằm thể hiện triết lí của Tago về tráitim, tình yêu

- Nếu đời anh là viên ngọc (quý giá), đóa hoa (đẹp đẽ) thì anh sẵn sàng dâng tặng tất cả cho em, để em xinh đẹp và đáng yêu hơn Nghĩa

là Ta-go muốn hiến dâng trọng vẹn cho người yêu nếu có thể được Nhưng nhà thơ đành phải thừa nhận " đời anh là trái tim, nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó" Nó là thế giới bí ẩn, thăm thẳm vô biên, làm sao dâng hiến trọn vẹn một lần.

- Nếu trái tim anh chỉ là một trái tim bình thường, đơn điệu ít lạc thú, ít khổ đau thì em sẽ cảm nhận rất dễ dàng nhưng " trái tim anh lại là tình yêu, nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên" nên "chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu" Tago muốn cho người yêu biết rằng trái tim

tình yêu không đơn giản Niềm khát khao lạc thú cũng như nỗi đau khổ, buồn bã trong tình yêu là vô biên, những người yêu nhau phải hiểuđiều đó để cùng chia sẽ, tận hưởng hoặc cùng chịu đựng, vượt qua

Câu 3: Cách nói nghịch lý:

Anh không giấu em một điều gì

Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh

Không chỉ xuất hiện ở đoạn đầu mà còn được sử dụng khá nhiều lần trong bài thơ Cách nói ấy thể hiện một điều kì diệu trong tình yêu, đó

là những cái bề ngoài thì dễ nắm bắt còn sự phong phú, phức tạp của trái tim thì không dễ dâu nắm bắt được Cái quý giá nhất của cuộcđời chàng trai là một trái tim - một thế giới tinh thần bí ẩn, vô biên, một vương quốc mà em là nữ hoàng, là người làm chủ nó mà cũngkhông thể biết được biên giới của nó xa gần, rộng hẹp đến đâu Đây chính là một khoảng cách không bao giờ phá nổi, một đỉnh cao khôngbao giờ bị chinh phục của tình yêu Niềm hòa hợp, đồng cảm dù đẹp đẽ đến đâu cũng không bao giờ trọn vẹn bởi đặc tính này của trái timcon người

Bài thơ được kết cấu theo tầng bậc Ý một: Anh xin dâng hiến trọn vẹn cuộc đời anh cho em Ý hai: nhưng không bao giờ em có thể chiếmlĩnh trọn vẹn trái tim anh Hai ý này ngày càng được bổ sung ở mức độ cao hơn trong những lập luận của toàn bài

Trang 19

Sự đối lập giữa khát vọng giãi bày, dâng hiến, chan hòa vào tâm hồn người yêu và cái bí ấn không gì khám phá nổi của trái tim là nhữngđối lập tồn tại mãi mãi trong tình yêu Sự hòa hợp trọn vẹn trong tình yêu là điều không thể đến, nhưng tình yêu luôn là niềm khao khát cáitrọn vẹn ấy.

Hướng dẫn Soạn bài: Người trong bao (Sê-khốp)

Câu 1: Hình tượng "Người trong bao" - nhân vật Bê-li-cốp.

a Chân dung Bê-li-cốp

- Cách ăn mặc: đi giày cao su, cầm ô khi trời đẹp, mặc áo bành tô, đeo kính râm, lỗ tai nhét bông

- Đặc điểm: Tất cả đều đề trong bao

=> kì quái, khác người, lập dị

b Tính cách Bê-li-cốp

- Có khát vọng kì dị, mãnh liệt: Thu mình vào một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao để ngăn cách

- Nhút nhát, ghê sợ hiện tại nhưng lại ca ngợi tôn sùng quá khứ: say mê và ca ngợi tiếng Hi lạp

- Máy móc, giáo điều, rập khuôn: phản ứng việc đi xe đạp của 2 chị em Va-ren-ca, thói quen trong quan hệ đồng nghiệp

- Cô độc, luôn lo lắng và sợ hãi

- Luôn luôn thoả mãn và hài lòng với lối sống cổ lỗ, hủ lậu, kì quái của mình

=> Hèn nhác, cô độc, máy móc, giáo điều, thu mình trong bao và cảm thấy an tâm sung sướng, mãn nguyện

- Lối sống ảnh hưởng dai dẳng, mạnh mẽ đến lối sống và tinh thần của mọi người

- Bê-li-cốp là điển hình cho một kiểu người, một hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong cuộc sống của một bộ phận tri thức Nga cuốithế kỉ XIX Hắn không phải là một cá nhân quái đản mà là con đẻ của chế độ phong kiến chuyên chế đang phát triển mạnh trên con đường

tư bản hóa ở nước Nga cuối thế kỉ XIX

Câu 2: Cái chết của Bê-li-cốp bất ngờ nhưng tất yếu, hợp với tính cách hắn.

Việc hắn bị Kô-va-len-cô đẩy ngã xuống cầu thang đã bị Va-ren-ca nhìn thấy (chẳng ra thể thống gì), Va-ren-ca còn "cười phá lên", "cười

âm vang, lảnh lót" Điều kinh khủng nhất đối với hắn là sẽ biến thành trò cười cho thiên hạ mà trước hết là tiếng cười của Va-ren-ca Hắnchết và hắn được nằm trong quan tài - "Cái bao" bền vững nhất, đó là khát vọng mãnh liệt - kì dị cả đời Bê-li-cốp

- Khi Bê-li-cốp còn sống mọi người sợ hãi, căm ghét, bị ám ảnh Khi hắn chết mọi người cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái Nhưng chưađược bao lâu cuộc sống lại diễn ra như cũ nặng nè, mệt nhọc, vô vị, tù túng

Từ đó nhà văn muốn nói đến tác động dai dẳng, nặng nề, của kiểu người Bê-li-cốp, đã ám ảnh đầu độc bầu không khí trong sạch, làm kìmhãm sự tiến bộ của xã hội nước Nga đương thời Nhà văn muốn thức tỉnh mọi người "không thể sống như thế mãi được"

Câu 3: Ý nghĩa tư tưởng - nghệ thuật của hình ảnh "cái bao".

- Nghĩa đen: Vật dùng để đựng có hình túi hoặc hình hộp, là vật dụng quen dùng của Bê-li-cốp

Ngày đăng: 03/01/2018, 18:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w