1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập ngữ văn 11 học kì II

36 353 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 468 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và “Lưu biệt khixuất dương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất trong kho tàng thơ văn đồ sộ ấy của nhà thơ.. - Vội vàng là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu số

Trang 1

LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG A.Tác giả - tác phẩm.

1 Tác giả Phan Bội Châu

- Phan Bội Châu (1867- 1940) là nhà yêu nước và cách mạng lớn, “vị anh hùng, vị thiên sứ, đáng xả thân viđộc lập dân tộc” Không những là nhà yêu nước và cách mạng, ông còn là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc, làcây bút xuất sắc nhất của văn thơ cách mạng trong những năm đầu thế kỉ XX

-Phan Bội Châu đã để lại một kho tàng thơ văn đồ sộ gồm cả thơ và văn xuôi như VN vong quốc sử (1905), sgk Những sáng tác của ông thể hiện sâu sắc lòng yêu nước thương dân, khát vọng độc lập và ý chí chiến đấuchống giặc ngoại xâm, có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào cách mạng đương thời Và “Lưu biệt khixuất dương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất trong kho tàng thơ văn đồ sộ ấy của nhà thơ

2.Tác phẩm “Lưu biệt khi xuất dương”.

-Bối cảnh lịch sử khi tác phẩm ra đời

Tinh hinh chính trị trong nước đen tối, các phong trào yêu nước liên tiếp bị thất bại Một bầu không khí u ámbao trùm khắp đất nước, nhiều nhà yêu nước đã thực sự chán nản và có tâm lí buông xuôi, an phận, cam chịu

cảnh “cá chậu chim lồng” Nhưng rồi một chân trời mới đã bắt đầu hé rạng Qua cuốn Tân thư (cuốn sách

truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản) được bí mật đưa vào nước ta từ những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ

XX, nhiều nhà yêu nước thời bấy giờ đã tim thấy được những tư tưởng khác hẳn sách vở thánh hiền thuởtrước, họ say sưa với những thành tích duy tân của nước Nhật Bản, trước cuộc vận động cách mạng sôi nổicủa nước Trung Hoa cổ kính đang chuyển minh Một phong trào cứu nước mới lại được nhen nhóm, tiếngkèn xung trận lại vang lên Để đạt được mục đích, ngoài việc vận động cách mạng trong nước, Duy Tân hội(tổ chức cách mạng theo đường lối dân chủ tư sản đầu tiên ở nước ta được PBC cùng một số nhà yêu nướckhác sáng lập năm 1904) chủ trương đưa những thanh niên ưu tú sang Nhật Bản, vừa để học tập những tri thứckhoa học mới, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho cách mạng, vừa nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của một nước

“đồng văn, đồng chủng” cho sự nghiệp cứu nước Vào thời điểm đó, hướng về NB cũng có nghĩa hướng vềmột chân trời mới đầy hi vọng, ước mơ Phan Bội Chân chính là người được giao trách nhiệm tổ chức và lãnhđạo phong trào Đông du đó

-Hoàn cảnh sáng tác: bài thơ được PBC sáng tác năm 1905 để từ giã bạn bè, đồng chí trước lúc lên đường sangNhật Bản theo chủ trương của Hội Duy Tân để tim con đường cứu nước mới cho sự nghiệp cách mạng củadân tộc

-Nội dung: Bằng giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp lãng mạn, hào

hùng của người chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỷ XX với lý tưởng cứu nước cao cả, tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sục sôi, tư thế đẹp đẽ và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước

B Cảm thụ tác phẩm

1,Quan niệm về chí làm trai và quan niệm về chí làm trai của PBC (Hai câu đề)

*Chí làm trai là quan niệm nhân sinh thời phong kiến, mang tinh thần lí tưởng tích cực của Nho giáo Đó là

lập công danh (Lập công: để lại SN, lập danh để lại tiếng thơm) Đây là một quan niệm tiến bộ, giúp conngười từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn cứu đời, cứu nước, cứu dân

-Như vậy, không phải tới Phan Bội Châu quan niệm về chí làm trai mới xuất hiện và cũng không phải nó làquan niệm của riêng ông mà nó là quan niệm chung của các nhà nho thuở trước:

+ Trong thơ Phạm Ngũ Lão: Chí làm trai được thể hiện trong khao khát cứu nước giúp đời

“Nam nhi Vũ Hầu”

+ Đến thơ văn Nguyễn Công Trứ thi quan niệm về chí làm trai ấy được vang lên mãnh liệt

“Đã mang tiếng ở trong trời đất - Phải có danh gi với núi sông” (Đi thi tự vịnh); “Chí làm trai nam, bắc, tây,đông, - Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” (Chí khí anh hùng)

*Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu:

“Sinh vi nam tử yếu hi ki - Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”

-PBC quan niệm: đã sinh ra làm thân nam nhi đứng trong trời đất thi phải là người “khác thường” (người anh

hùng, phi thường) Người anh hùng ấy:

+ Phải làm những việc “yếu hi ki”: những việc lớn lao, ki lạ, phi thường, hiển hách (Lưu ý: chữ “lạ” trong bảndịch thơ đã không lột tả hết được ý nghĩa lớn lao của cụm từ “yếu hi ki” trong nguyên tác)

+ Phải chủ động sẵn sàng xoay chuyển càn khôn, thay đổi thời thế để khẳng định minh không được sốngbuông xuôi, thụ động phó mặc cho “con tạo xoay vần”

Trang 2

→Về cơ bản quan niệm về chí làm trai của PBC vẫn nằm trong ý thức hệ Nho giáo, có phần gần giũi với lýtưởng nhân sinh (chí làm trai) của các nhà Nho thưở trước nhưng đã có những nét mới mẻ tích cực chỉ cótrong tư tưởng của riêng ông

-Nét mới mẻ trong quan niệm về chí làm trai của PBC:

+Quan niệm về chí làm trai của ý thức hệ Nho giáo, chí làm trai: gắn liền với tư tưởng trung quân và lí tưởng

lập công danh, sự nghiệp Còn quan niệm về chí làm trai của PBC mang hơi thở của thời đại, vượt lên trên cáimộng công danh tầm thường gắn với hai chữ hiếu trung để vươn tới những lí tưởng sống cao cả, lớn lao hơn: lítưởng nhân quần, xã hội rộng lớn

+Trong tư tưởng xưa, do ảnh hưởng của quan niệm “thiên mệnh” (số mệnh của vạn vật đều được định sẵn tạitrời) nên con người thời phong kiến đều sống một cách thụ động, phó mặc thời cuộc, phó mặc đất trời, để mặccho “con tạo xoay vần” Nhưng tới PBC quan niệm đó đã hoàn toàn đổ vỡ Đứng trước thời cuộc, vũ trụ, đấttrời, “vị anh hùng, vị thiên sứ, đáng xả thân vi độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tônsùng” khẳng định: con người sinh ra trong trời đất sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước số phận, trước hoàncảnh và cũng không sống thụ động để “con tạo xoay vần” mà chủ động đứng lên đối diện với càn khôn, vũ trụ,tự tin xoay chuyển đất trời, làm chủ thời cuộc bằng tài năng và sức mạnh của minh gắn với quan niệm “anhhùng tạo thời thế” chứ không còn là “thời thế tạo anh hùng” như trong quan niệm về chí làm trai thời phongkiến

→So với quan niệm về chí làm trai theo ý thức hệ Nho giáo, rõ ràng quan niệm về chí làm trai của PBC khôngchỉ mới mẻ mà còn táo bạo và quyết liệt hơn Đây là điều mới tích cực trong nhân sinh quan của người thanhniên cách mạng đầu thế kỷ XX

2 Ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc của nhà thơ (Hai câu thực)

-Câu 3: Nhà thơ khẳng định: trong khoảng cuộc thế trăm năm này không thể thiếu vắng được sự có mặt của

minh nhưng không phải để hưởng lạc thú mà là để cống hiến cho đời, đáng mặt đấng nam nhi, lưu danh thiêncổ Câu thơ vừa thể hiện ý thức trách nhiệm của kẻ làm trai trước vận mệnh non sông của đất nước, vừa là mộtlời khẳng định dứt khoát, trắc nịch về vai trò của cá nhân minh trước thời cuộc, dựa trên một niềm tự tin sắt đávào tài trí của bản thân Đó chính là ý thức về cái “tôi” nhưng không phải là một “cái tôi” cá nhân riêng tư,nhỏ bé mà là một “cái tôi” công dân đầy tinh thần trách nhiệm trước cuộc đời của nhà thơ

-Câu 4: sử dụng câu hỏi tu từ, tác giả đã thể hiện niềm tin tưởng của minh vào thế hệ tương lai sẽ như minh,

tiếp bước cha anh, luôn có ý thức trách nhiệm trước vận mệnh của non sông, luôn khát vọng sống hiển hách,phi thường, phát huy tài năng, trí tuệ vi non sông, đất nước để làm nên sự nghiệp, để tên tuổi được lưu truyềnmãi ngàn năm

→Tin vào bản thân, vào thế hệ tương lai, vào sức đóng góp của cá nhân trong tiến trinh lịch sử, tuy có phầnnào quá đề cao vai trò cá nhân trong lịch sử nhưng về cơ bản vẫn là tư tưởng tiến bộ tích cực khi khẳng địnhvai trò, tác động của con người đối với lịch sử Đặt trong hoàn cảnh nước mất, những phong trào vũ trangchống Pháp liên tục thất bại, những người VN yêu nước đang bị một nỗi thất vọng, bi quan đè nặng tâm hồn,tâm lí buông xuôi, an phận, cam chịu cảnh “cá chậu ,chim lồng”, “cái vạ chết lòng” (PBC) có nguy cơ pháttriển, hai câu thơ trên là hồi chuông thức tỉnh có ý nghĩa rất lớn

3 Thái độ trước tình cảnh của đất nước và trước những tín điều xưa cũ của nhân vật trữ tình (Hai câu luận)

-Câu 5: Thái độ trước tình cảnh đất nước.

+ Tinh cảnh đất nước: “non sông đã chết”: đất nước bị mất chủ quyền, chim đắm trong vòng nô lệ

+ Thái độ: nếu cam chịu sống an phận khi đất nước đang trong cảnh lầm than thi chỉ là sống nhục mà thôi

→Như vậy, sự vinh, nhục của mỗi con người, trong quan niệm của PBC, luôn gắn với liền với sự tồn vong củađất nước Câu thơ không chỉ cho ta thấy nỗi đau đớn, nhức nhối, xót xa trước nỗi nhục mất nước mà còn thểhiện thái độ quyết liệt, dứt khoát khẳng định ý chí gang thép của những con người không cam chịu sống cuộcđời nô lệ, nhục nhã Thái độ ấy của nhà thơ đã làm rạng ngời chân lí muôn đời về lẽ sống chết của dân tộc ta.Trong suốt chiều dài 4000 năm lịch sự, không biết bao nhiêu lần dân tộc ta đã phải đối mặt với những cuộcchiến tranh xâm lược Trong hoàn cảnh ấy, chân lí “chết vinh còn hơn sống nhục” luôn được đề cao và đối vớimỗi người con của đất nước, chân lí ấy đã trở thành lẽ sống Bắt đầu từ thời bà Trưng, bà Triệu, thời Lí, thờiTrần, rồi bây giờ là thời đại Hồ Chí Minh, tấm lòng yêu nước của mỗi con người đều gắn liền với lẽ vinh- lẽ

nhục Nếu như, Trần Binh Trọng thời Trần khẳng khái: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”, Nguyễn Đinh Chiểu trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” nhắc nhở mọi người “Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu ngọt, gặm bánh

mì, nghe càng thêm hổ Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; Còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”, thi PBC cũng không dưới một lần nêu cao ngọn cờ chính nghĩa ấy Với nhà thơ

Trang 3

“Bôi mặt thờ kẻ thù sẽ là một vật bẩn thỉu trong vũ trụ”, “Sao bằng ngẩng đầu lên làm một người lỗi lạc củaTQ”

-Câu 6: thái độ trước những tín điều xưa cũ.

+Những tín điều xưa cũ: là sách vở thánh hiền, là “kim chỉ nam” là “khuôn vàng thước ngọc”, chỉ đạo mọi

cung cách hành xử của con người thời xưa Với mỗi con người thời ấy, tư tưởng cứu nước phải luôn gắn liềnvới hai chữ “trung quân” Ngay cả NĐC, một nhà nho có nhiều tiến bộ khi lần đầu tiên ngợi ca những ngườinông dân yêu nước, lần đầu tiên tạc vào lịch sử một bức tượng đài bất tử bằng thơ về người nghĩa sĩ – nôngdân thi vẫn ít nhiều còn vấn vương cái tư tưởng trung quân ấy

+Nhưng đến PBC thi đã khác Trong hoàn cảnh thời đại mới, Ông đã dám đối mặt với cả nền học vấn cũ đểnhận thức một chân lí: kinh điển của thánh hiền đã lỗi thời, lạc hậu, đã không thể trợ giúp cho con người giảiquyết những vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, đã chẳng giúp ích được gi trong buổi nước mất nhà tan Vivậy, nếu cứ khư khư ôm giữ chỉ là “ngu” mà thôi Điều đó có nghĩa chủ nghĩa yêu nước theo ý thức hệ phongkiến đã lỗi thời và cần được thay thế bằng một ý thức hệ mới tiến bộ hơn Đây là tư tưởng duy tân, tiến

bộ, mang ý nghĩa cách mạng của một thời đại mới Đồng thời, cho ta thấy dũng khí và nhận thức sáng suốt củaPBC

+So sánh với bản dịch thơ: ý thơ trong nguyên tác “tụng diệc si” (có đọc sách cũng ngu thôi) bản dịch thơ dịch

là “học cũng hoài” mới chỉ nêu được ý phủ nhận mà chưa thể hiện được sự phủ nhận quyết liệt, táo bạo, dứtkhoát của nhà thơ trước những tin điều xưa cũ ấy

4 Khát vọng hành động và tư thế của nhân vật trữ tình trong buổi xuất dương (Hai câu kết)

-Nghệ thuật: bút pháp sử thi lãng mạn với giọng điệu hào hùng, với những hinh ảnh lớn lao, ki vĩ: bể đông,cánh gió, muôn trùng sóng bạc →Tạo nên một bức tranh hoành tráng, hài hòa với trung tâm là hinh tượngnhân vật trữ tinh, người chí sĩ cách mạng đang mang trong minh bao niềm tin, kháo khao, hoài bão cao đẹp,lớn lao Nhà thơ khao khát vượt bể đông để tim đường cứu nước Với khát khao ấy, người chí sĩ cánh mạng đãhiện lên trong buổi xuất dương với tư thế thật đẹp, ki vĩ, hào hùng

-So sánh với bản dịch thơ: hinh ảnh “muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” chưa lột tả hết được vẻ đẹp của thiênnhiên và con người trong nguyên tác Trong nguyên tác, hai câu thơ 7 và 8 tạo thành một tứ thơ đẹp Conngười dường như được chắp đôi cánh thiên thần, bay bổng vượt lên trên thực tại khắc nghiệt, tối tăm, vươnngang tầm với vũ trụ bao la, vút bay cao cùng ngọn gió, lồng lộng giữa biển trời mênh mông Và bên dưới đôicánh đại bàng ấy là muôn ngàn con sóng cùng lúc dâng cao, tung bọt trắng xóa, tiếp sức cho con người baythẳng tới chân trời mơ ước Hinh ảnh thơ thật đẹp, giàu chất sử thi đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho mộtthời đại mới, một thế kỉ mới

-Trong thực tế, cuộc xuất dương sang Nhật Bản của PBC chỉ là một cuộc ra đi bí mật, tiễn đưa chỉ có vài bađồng chí thân cận nhất, phía trước mới chỉ le lói những tia sáng của khát vọng, ước mơ, vậy mà, người ra đitim đường cứu nước vẫn hăm hở, tự tin và đầy quyết tâm, hi vọng Chính tinh thần, thái độ ấy của nhân vật trữ

tinh đã để lại một bài học quý báu lối sống, cách sống cho thế hệ trẻ hiện nay (Liên hệ thêm)

Tóm lại: Biểu hiện quan niệm nhân sinh tiến bộ kể từ khi ra đời, đến nay Lưu biệt khi xuất dương vẫn còn

nguyên giá trị Nó luôn là lời kêu gọi lên đường; kêu gọi hành động hết minh vi tổ quốc Bài thơ là lời nhắcnhở cho tất cả mọi người mỗi khi nghĩ về lẽ sống, vi “cái tôi” và tư thế của con người trước vũ trụ, đất trời, vềquan niệm sống vinh, sống nhục, về chí làm trai

Bài tập:

1,Phân tích quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu và biểu hiện của nó trong bài thơ.

Gợi ý:

1,Quan niệm về chí làm trai và quan niệm về chí làm trai của PBC (Hai câu đề)

2, Biểu hiện về chí làm trai theo quan niệm của PBC trong tác phẩm:

a, Chí làm trai gắn với ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc (Hai câu thực)

b Chí làm trai được gắn với thái độ của cá nhân trước tinh cảnh của đất nước và trước những tín điều xưa cũ.(Hai câu luận)

c Chí làm trai được gắn thể hiện qua khát vọng hành động và tư thế của nhân vật trữ tinh trong buổi xuấtdương (Hai câu kết)

2, Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Trang 4

*Với quan niệm về chí làm trai ấy, nhân vật trữ tinh- người anh hùng yêu nước- trong hai câu thơ hiện lên thậtđẹp biết bao Đó là hinh ảnh khát quát về một bậc hào kiệt với một tư thế mới, khỏe khoắn, ngang tàng, ngạonghễ, chủ động, phi thường, mang tầm vóc vũ trụ

b.Hai câu thực: Vẻ đẹp của nhân vật trữ tinh thể hiện ở: ý thức trách nhiệm trước thời cuộc.(xem trong phần 01)

c Hai câu luận: Vẻ đẹp của nhân vật trữ tinh thể hiện ở: Thái độ trước tinh cảnh của đất nước và trước những

tín điều xưa cũ.(xem trong phần 01)

d.Hai câu kết: Vẻ đẹp của nhân vật trữ tinh được hiện lên qua khát vọng hành động và tư thế trong buổi lên

đường (xem trong phần 01)

VỘI VÀNG I.Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng.

1.Xuân Diệu.

-Là một trong những nhà thơ lớn nhất của nền văn học VN Trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của minh, ông

đã để lại một sự nghiệp văn học lớn gồm cả thơ, văn xuôi, Nhưng thành tựu xuất sắc nhất là thơ

Trong làng thơ VN hiện đại, ông được mệnh danh là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, là “ông hoàngcủa thơ tinh” Với những cách tân nghệ thuật táo bạo ,những tác phẩm của ông đã đem đến cho thơ ca đươngthời một nguồn cảm xúc mới, cùng một quan niệm sống mới mang đậm tính nhân văn Và “Vội vàng” là mộtbài thơ “mới nhất” trong những bài thơ ấy

2.Bài thơ “Vội vàng”.

a.- Vội vàng ra đời năm 1938 được in trong tập “Thơ thơ”, là một trong những bài thơi tiêu biểu nhất củaXuân Diệu trước cách mạng tháng 8/1945

- Vội vàng là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt và đằng sau những tinh cảm ấy làmột quan niệm nhân sinh mới chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống

II.Tìm hiểu tác phẩm.

1, Mười ba câu thơ đầu: Tình yêu cuộc sống tới tha thiết, say mê của thi nhân.

a Khổ thơ đầu: Bài thơ được mở đầu bằng một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện khát vọng của thi nhân.

-Khát vọng:

+Muốn tắt nắng cho màu đừng nhạt mất.

+Muốn buộc gio cho hương đừng bay đi

Thật là một ước muốn ki lạ tới ngông cuồng nhưng cũng hết sức nên thơ và lãng mạn của thi nhân Nhà thơmuốn đoạt quyền tạo hóa, muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để níu giữ lại tất cả hương vị và hương sắc của cuộcđời

-Khát vọng đó càng được thể hiện táo bạo, mãnh liệt hơn khi nhà thơ lặp lại tới hai lần cụm từ “tôi muốn”trong bốn câu thơ ngắn gọn được điệp lại cấu trúc Và mặc dù khao khát đó mãi mãi chỉ là ảo vọng, không baogiờ có thể trở thành hiện thực bởi tắt nắng, buộc gió là những điều con người không thể làm được nhưng nó đãcho ta thấy tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ

b.Vẻ đẹp của thiên nhiên, sự sống (Chín câu tiếp).

* Cuộc sống mà Xuân Diệu muốn níu giữ là một “thiên đường trên mặt đất”, là thế giới của mùa xuân và tinhyêu, là một bữa tiệc lớn của trần gian Và nếu Thế Lữ còn nuôi giấc mộng lên tiên thi Xuân Diệu đã “đốt cảnhbồng lai mà xua ai nấy về hạ giới”

- Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một tâm hồn yêu đầy ham muốn, cái thiên đường đầy hương sắcđó hiện ra vừa là một khu vườn xuân tràn đầy xuân sắc, trong đó vạn vật đều đang say đắm xuân tinh, có đôicó lứa, quấn quýt giao hòa, đắm say, ngây ngất, tràn trề hạnh phúc, vừa như một mâm tiệc với một thực đơnquyến rũ, lại vừa như một nhân tinh đầy khêu gợi

- Bằng các bút pháp nghệ thuật đặc sắc, Xuân Diệu đã đưa ta đến với một khu vườn tinh ái đẹp như mơ, lunglinh và đầy hấp dẫn Ở đó có thiên nhiên và sự sống tươi đẹp vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, đầy tinhtứ

+Ong bướm thi đang sống trong tuần tháng mật;

+Hoa là hoa của đồng nội xanh ri

+Lá là lá của cảnh tơ, chồi biết

+Yến anh như đang ca những khúc tinh si

+Ánh sáng của binh minh như được phát ra từ đôi mắt xinh tươi của người thiếu nữ sau mỗi lần nàng chớphàng mi

Trang 5

+Tháng giêng ngon như làn môi của người thiếu nữ đang buổi xuân thi.

Vạn vật tràn đầy sức sống, giao hoà vui sướng, như chờ đợi, chào mời, sẵn sàng dâng hiến trao tặng tất cả chocon người

-Tâm trạng thi nhân: sung sướng, rạo rực, ngất ngây trước vẻ đẹp của thiên nhiên và sự sống Điệp khúc

“này đây”, nhịp thơ nhanh, dồn dập và phép liệt kê tăng tiến cùng một số cụm từ “tuần tháng mật”, “khúc tinhsi” và cách ngắt đôi câu thơ “tôi nửa” nhấn mạnh vào sự mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tâm trạng, đãkhẳng định và nhấn mạnh những cung bậc tâm trạng ấy của thi nhân Đứng trước cái thiên đường đầy mậtngọt mà tạo hóa ban cho, nhà thơ không chỉ rạo rực, đắm say mà như còn muốn nhanh chóng tận hưởnghương vị, hương sắc của cuộc đời Nếu không có định tinh yêu cuộc sống tha thiết, say mê thi làm sao thi nhâncó thể cảm nhận được một bức tranh cuộc sống ngồn ngộn sức sống và đáng yêu như thế!

* Khi thơ Xuân Diệu mới ra đời, người ta thấy nó “Tây” quá! Điều đó cũng đúng thôi, bởi Xuân Diệu là

“nhà mới” mà Hầu như tất cả những nhà thơ mới đều chịu ảnh hưởng của trường phái thơ tượng trưng lãngmạng Pháp nhưng trong thơ Xuân Diệu là thể hiện rõ nhất

“Và này cửa”

Đọc thơ ông, nhiều người đã thực sự ngỡ ngàng với những câu thơ như thế Nhưng gây ấn tượng nhất, mới mẻnhất chính là câu: “tháng gần” Ở đây nhà thơ đã có sự so sánh mới lạ, táo bạo, độc đáo vừa gợi hinh thể,vừa gợi tính chất (thơm ngon và ngọt ngào) đầy hấp dẫn Dưới con mắt xanh non biếc rờn của thi nhân, thánggiêng, tháng đầu tiên và cũng là tháng đẹp nhất của mùa xuân và cả năm thật hấp dẫn biết bao Nó tựa như lànmôi trinh khiết, ngọt ngào của người thiếu nữ đang độ xuân thi khiến người ta không thể thờ ơ với nó Với câuthơ này, Xuân Diệu đã mang lại một quan niệm mĩ học mới mẻ trong thơ: lấy vẻ đẹp của con người làm chuẩnmực cho vẻ đẹp của thiên nhiên, một chuẩn mực chưa bao giờ có trong thơ xưa

+Thơ xưa, thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp con người Vẻ kiều diễm của nàng Kiều được

Nguyễn Du ví với thiên nhiên: Đôi mắt trong như làn nước mùa thu, nét mày thanh như sắc núi mùa thu; khiếncho “hoa xanh” Còn cái đẹp phúc hậu của Thuý Vân thi được ví như “khuôn trăng nhường màu da”

+Thì nay, với quan niệm chuẩn mực của cái đẹp là con người, Xuân Diệu đã sáng tạo nhiều câu thơ khỏe

khoắn, mới lạ, đầy sức sống, mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc, mà trước đó có lẽ ta chưa bao giờ thấy Đókhông chỉ là “ánh sáng chớp hàng mi”, là “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” mà còn là “Lá liễu dài nhưmột nét mi”, “Hơi gió thở như ngực người yêu mến”, “Mây đa tinh như thi sĩ đời xưa”

Tóm lại: Ở phần đầu bài thơ, qua cặp mắt “xon non, biếc rờn” của minh, Xuân Diệu đã phát hiện ra cuộc đời

trần thế thật đẹp đẽ và hấp dẫn biết bao Nhưng không ao có thể sống mãi để hưởng mọi lạc thú ở đời, thờigian trôi qua sẽ ăn dần cuộc sống Vi vậy, sang đoạn thơ thứ hai (16 câu tiếp), nhà thơ đã thể hiện nỗi bănkhoăn, day dứt của minh trước sự trôi đi quá nhanh chóng của thời gian

2,Nỗi băn khoăn của thi nhân về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi qua nhanh chóng của thời

gian (16 câu tiếp).

a.Quan niệm về thời gian.

*Thời gian tự nhiên, khách quan thi muôn đời vẫn thế, nhưng quan niệm và sự cảm nhận về thời gian thi mỗithời đại, mỗi cá nhân lại có sự khác nhau

- Từ xa xưa, nhiều thi nhân đã từng than thở về sự ngắn ngủi của kiếp người Người ta gọi đó là áng phù vân,

là bong câu qua cửa sổ, Nhưng do mỗi cá nhân còn chưa tách khỏi cộng đồng và gắn liền với vũ trụ, lại xuất

phát từ cái nhin tĩnh và có phần siêu hinh, lấy sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo thời gian nên nhiều nhà thơ

trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu, với cái vòng chu ki 4 mùa, cũng như cái chu ki 3 vạnsáu nghin ngày của một kiếp người Hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu, sẽ quay trởlại Cho nên đứng trước bước đi của thời gian, họ hoàn toàn yên tâm, binh thản, họ đinh ninh người chết chưahẳn là hư vô, vẫn có thể cùng với cộng đồng và trời đất tuần hoàn

- Ở Xuân Diệu (và cũng là của thế hệ của các nhà thơ mới), do sự thức tỉnh của ý thức cá nhân nên quan niệmtrên về thời gian hoàn toàn đổ vỡ Sự cảm nhận về thời gian của XD khác với quan niệm thời gian tuần hoàncủa người xưa Với nhà thơ, thời gian là tuyến tính, thời gian như một dòng chảy vô thuỷ, vô chung, mỗi mộtkhoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn

-Quan niệm trên về thời gian của nhà thơ xuất phát từ:

+ Cái nhin động và rất biện chứng về vũ trụ và thời gian: “Xuân đương già”.

+Không chỉ có vậy, rất nhạy cảm trước sự chảy trôi nhanh chóng của thời gian, nhà thơ “mới nhất trong cácnhà thơ mới” đã lấy mùa xuân, cái mùa đẹp nhất trong năm, lấy cái quỹ thời gian hữu hạn của đời người, thậm

chí là khoảng thời gian quý giá nhất, đáng sống nhất của mỗi cá nhân là tuổi tre để làm thước đo thời gian.

Nhà thơ khẳng định: vũ trụ có thể là vĩnh viễn, thời gian có thể là tuần hoàn nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần

Trang 6

thắm lại”, trời đất vô cùng nhưng kiếp người hữu hạn “còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi” Sự tồn tại củamỗi con người trên cõi thế chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi mà thôi

-Một loạt những cụm từ đối lập như đương tới/đương qua; còn non/ sẽ già; rộng/ chật; xuân tuần hoàn/ tuổi tre chẳng hai lần thắm lại, còn trời đất/ chẳng còn tôi mãi; cụm từ phủ định không cho dài tổi tre của nhân gian được tác giả sử dụng đã khẳng định tính chân lí của quy luật trên.

b.Hình ảnh thiên nhiên và sự sống trong cảm nhận của XD trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian.

- Hình ảnh thiên nhiên và sự sống: Trước sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian, thiên nhiên và sự sống

ngập tràn những tàn phai, héo úa, mất mát, chia lia (Phân tích các hinh ảnh: cơn gio xinh, chim, tháng năm, sông núi) Những biện pháp nghệ thuật như nhân hóa, liệt kê, câu hỏi tu từ,… đã góp phần quan trọng diễn tả

sinh động, hấp dẫn sự “tàn phá” ghê gớm ấy của thời gian

- Như vậy, đến đây, ta thấy rằng thi sĩ đã ý thức rất rõ không gi có thể ngăn cản được bước đi âm thầm nhưngvội vã của mùa xuân, của cuộc đời Nhà thơ ham sống cũng đành bất lực, phải tuân theo quy luật khắc nghiệtcủa đất trời Do đó, chỉ còn một cách duy nhất là phải “Mau đi thôi chiều hôm” Câu thơ là một lời thúcgiục, giục giã bản thân và mọi người phải sống vội vàng, cuống quýt, tận dụng cao độ thời gian để tận hưởngnhững giây phút tuổi xuân của minh, tận hưởng những gi mà cuộc đời đã ban tặng khi mùa chưa ngả chiềuhôm (tức mùa xuân chưa phai tàn, tuổi trẻ chưa đi qua, tinh yêu vẫn còn rạo rực)

3.Đoạn thơ cuối: Tình yêu cuộc sống, niềm ham sống tới cuồng nhiệt của thi nhân.

a.Đọc đoạn thơ, người đọc như có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu Sửdụng một loạt những biện pháp nghệ thuật với tần số dày đặc như: điệp từ (của, cho, và); điệp ngữ (ta muốn);sử dụng động từ mạnh và tăng tiến dần (ôm, riết, thâu, say, cắn); liệt kê với những hinh ảnh: tươi mới và đầysức sống (sự sống mới bắt đầu mơn mởn, cánh bướm với tinh yêu, ); nhịp thơ: dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồngnhiệt, cách cấu trúc câu thơ độc đáo,… nhà thơ đã khẳng định tinh yêu cuộc sống, niềm ham sống tới cuồngnhiệt ấy của minh

Biết không thể nào có thể níu giữ được thời gian nên nhà thơ đã say sưa, hối hả, vội vàng, cuống quýt, vồ vậplao vào ôm ghi lấy sự sống, một sự sống “mơn mởn”, tươi non, đầy quyến rũ để uống lấy nó cho “chếnhchoáng thời tươi”, cho thỏa lòng minh với một cấp độ ngày càng tăng lên theo từng từ “ta muốn” “Muốnôm” là siết lại gần, “muốn riết” là đã ghi chặt hơn, nhưng chưa đủ, mà còn “muốn say” – tim tới sự ngất ngây,nhưng vẫn chưa thỏa lòng mà còn muốn “thâu” nghĩa là muốn thu hết tất cả để có sự hòa nhập làm một để rồilên đến đỉnh điểm bằng một khát khao chưa từng có trong thơ “Hỡi ” Đó là niềm khát vọng muốn tận hưởnghương vị, hương sắc của c/s đến mức cuồng nhiệt, cuồng si của thi sĩ

b.Đoạn thơ đã thể hiện triết lí sống “vội vàng” của nhà thơ Trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian, nhà

thơ đã thúc giục mọi nguời sống với cường độ nhanh hơn, gấp hơn, phải sống vội vàng, hối hả để có thể tậnhưởng nhiều nhất hạnh phúc thời tuổi trẻ, chống lại quy luật nghiệt ngã của thời gian, kéo dài tuổi xuân Triếtlí sống đó tuy có phần đề cao sự tận hưởng hơn tận hiến nhưng đây vẫn là một lối sống tích cực giúp conngười biết quý trọng khoảng thời gian hữu hạn của đời người, nhất là thời tuổi trẻ để sống sao cho có ích

4,Quan niệm mới của XD về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc qua vội vàng.

-Trong đời mỗi con người, tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất, quý giá nhất và đáng sống nhất cũng như mùaxuân là quãng thời gian đẹp nhất trong một năm Hạnh phúc của mỗi con người không phải ở đâu xa mà chính

là ở quanh ta, ở sự sống quen thuộc nơi trần thế Trong đó, hạnh phúc lớn nhất mà tạo hóa đã ban cho mỗichúng ta là tuổi trẻ với tinh yêu

- Thời gian đã trôi đi là không bao giờ quay trở lại Cuộc sống con người chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi

mà thôi

Vi vậy, mỗi người cần phải biết quý trọng thời gian, nhất là những tháng năm tuổi trẻ, phải biết sống hết minh

để có thể được đắm chim trong hạnh phúc, vừa để TẬN HIẾN và TẬN HƯỞNG tất cả hương vị, hương sắccủa cuộc đời

Đây là một quan niệm nhân sinh tích cực, mới mẻ, đậm tính nhân văn, chưa từng thấy trong thơ ca truyềnthống

Tóm lại: được sáng tạo trong sự kết hợp hài hòa giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch triết luận sâu sắc, bài

thơ là lời giục giã sống mãnh liệt, hết minh của một hồn thơ yêu đời ham sống tới cuồng nhiệt Bài thơ cũngđã thể hiện quan niệm thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh mới mẻ của nhà thơ

TRÀNG GIANG I.Tác giả - tác phẩm.

1 Tác giả Huy Cận

Trang 7

-Huy Cận (1919 – 2005) là một trong những tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới và là một trong nhữnggương mặt tiêu biểu của thơ ca VN hiện đại

-Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ có thể chia làm hai giai đoạn: Nếu như giai đoạn từ sau cách mạng thángTám, các sáng tác của nhà thơ tập trung vào miêu tả cuộc sống chiến đấu và lao động sx của nhân dân vớiniềm tin tưởng, lạc quan, yêu đời thi ở giai đoạn đầu, giai đoạn trước cách mạng tháng Tám, những sáng táccủa ông lại luôn thấm đẫm một nỗi buồn, một nỗi buồn có sắc thái riêng, mà theo Hoài Thanh thi đấy là “Cáibuồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết tới ngoại cảnh” Nhà thơ đã “lượm lặt những chút buồn rảirác để sáng tạo nên những vần thơ ảo não” (Hoài Thanh) Và Tràng giang là bài thơ tiêu biểu, ấn tượng nhấttrong những vần thơ ảo não ấy, thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà thơ

2.Bài thơ Tràng giang.

- Tràng giang được viết vào một buổi chiều thu năm 1939, in trong tập “Lửa thiêng”, tập thơ đầu tay của HC(xb năm 1940, tập hợp những sáng tác của nhà thơ đã được đăng báo giai đoạn 1936- 1940)

-Bài thơ được gợi cảm hứng khi nhà thơ đứng ở bờ nam bến Chèm (Hà Nội) nhin cảnh sông Hồng mênh mangsóng nước, bốn bề bao la vắng lặng, nghĩ về kiếp người nổi trôi

-Nội dung và nghệ thuật:

+Nội dung: vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên; nỗi sầu của “cái tôi” cô đơn trước vũ trụ rộng lớn; niềm khaokhát hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương đất nước thầm kín nhưng tha thiết của tác giả

+Nghệ thuật: sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại

II Cảm thụ tác phẩm.

1 Câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

-Lời đề từ là phần nằm ngoài văn bản của tác phẩm nhưng thường tập trung thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồnghệ thuật của tác giả Câu thơ đề từ của bài Tràng giang là một trong số những lời đề từ như thế

-Tuy chỉ được cấu tạo bởi một câu thơ bảy chữ, nhưng lời đề từ này đã đã thể hiện được một phần quan trọnghồn cốt của toàn bộ tác phẩm, mang cảm hứng chủ đạo của cả bài thơ

-Trong câu thơ, cảnh và t×nh hßa quyện gợi nên một nỗi buồn mênh mang, da diết, lan tỏa khắp không gian,hòa cùng cảnh sông dài, trời rộng Nỗi buồn mênh mang ấy theo cảm xúc của nhà thơ đã thấm sâu vào bứctranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng trong từng khổ thơ, báo trước cảm xúc nổi trội của thi nhân xuyênsuốt trong tác phẩm Thật đúng như Lê Dy đã nhận xét: “Là tràng giang, câu thơ nào cũng dập dềnh sóng nước

- Là tâm trạng, khổ thơ nào cũng lặng lẽ, u buồn”

2.Khổ thơ thứ nhất.

a.Cảnh vật thiên nhiên.

Bài thơ được mở đầu bằng một cảnh tràng giang mênh mông sóng nước, là hinh ảnh một dòng sông mênhmông tới vô tận

-Ở câu thơ thứ nhất, tác giả dùng một từ nhắc lại nhan đề của tác phẩm để miêu tả dòng sông +Tràng giang! Phải, tràng giang chứ không phải trường giang bởi nếu trường giang chỉ là một con sông dài thi tràng giang

(nhờ sự lặp lại của vần “ang” - một vần rộng mở) không chỉ gợi được chiều dài mà còn gợi được cả chiều rộngcủa con sông Tràng giang không chỉ là trường giang mà còn là đại giang nữa Không những thế, cái vần

“ang” ấy còn góp phần tạo nên âm hưởng cổ kính và dư âm vang xa, trầm buồn của câu thơ, tạo nên âm hưởngchung cho giọng điệu của cả bài

+ Từ điểm nhin bao quát, tác giả phóng dần tầm mắt ra xa theo muôn ngàn con sóng nhỏ nhấp nhô, từng làn,từng làn gối lên nhau, loang ra tới tận chân trời

+Và bất chợt, ở phía xa, trên dòng tràng giang ấy, thi nhân bắt gặp hinh ảnh một con thuyền hững hờ, buôngtrôi, xuôi mái và đắm minh vào hinh ảnh một “cành củi khô” đang lạc lõng, bơ vơ, bị xô đẩy buông trôi vềmiền vô định Cảnh thật đẹp nhưng cũng thật buồn Cảnh vật không còn là cảnh thuần tuý nữa mà nó đãnhuốm tâm trạng buồn ảo não của thi nhân

b.Tâm trạng thi nhân.

Nguyễn Du đã từng nói “cảnh giờ” Câu nói đó thật đúng với Huy Cận khi thi sĩ đứng trước dòng trànggiang sóng nước mênh mông Vốn mang sẵn tâm trạng “mang mang thiên cổ sầu”, nhin vào đâu, Huy Cậncũng thấy cảnh buồn ảo não, tan tác, chia lia

+ Những con sóng nhỏ bé, thấp thoáng, nhấp nhô trên dòng tràng giang mênh mông sóng nước gợi cho thinhân một nỗi buồn da diết, triền miên, buồn “điệp điệp” Sóng lòng của nhà thơ đã mênh mang hòa cùng sóngnước

+Hinh ảnh con thuyền uể oải hững hờ, buông trôi phó mặc cho dòng nước gợi cảm giác buồn, cô đơn, xavắng Nhưng đâu chỉ có vậy, dưới cái nhin của tác giả Lửa thiêng, con thuyền ấy còn chia lia cùng dòng nước

“Thuyền về - nước lại” Sử dụng nghệ thuật đối lập quen thuộc trong thơ xưa, nhà thơ đã khắc họa sâu sắc sự

Trang 8

chia lia của nước và thuyền, những vật luôn gắn bó với nhau (thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vàothuyền), gợn nỗi buồn về sự chia lia, làm cho dòng sông và lòng người vốn đã buồn giờ càng thêm sầu não

“sầu trăm ngả”

+Nhưng có lẽ độc đáo nhất, gây buồn nhất là hinh ảnh cành củi khô - một hinh ảnh nhỏ nhoi, tầm thường, vônghĩa, lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Cành củi khô ấy thật khác hẳn với những thi liệu thanh cao thườngđược sử dụng trong thơ xưa như “tùng, cúc, trúc, mai” Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ và phát huy cao độ nghệ

thuật đối lập thơ đường (một cành củi khô/ mấy dòng nước), Huy Cận đã tạo nên một hinh ảnh giàu sức gợi:

Giữa cảnh tràng giang mênh mông sóng nước, một cành củi khô (không còn sức sống) bơ vơ, lạc lõng, trôidạt, buông xuôi bị xô đẩy, không biết đi đâu, về đâu, bao giờ mới là bến tấp Hinh ảnh ấy gợi cho ta cảm nhậnvề thân phận của những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời

Như vậy, bao trùm lên khổ thơ là ấn tượng về một nỗi buồn triền miên, kéo dài theo không gian “tràng

giang” và theo thời gian “điệp điệp”.

3.Khổ hai và khổ ba: nỗi buồn càng thấm sâu vào cảnh vật.

lơ thơ trong tràng giang lại hoàn toàn là cảnh thực

- Bước sang câu thơ thứ 2, giữa cái không gian hoang vắng, lạnh lẽo đến rùng minh ấy, bỗng xuất hiện đâuđây âm thanh của sự sống Đó là âm thanh của tiếng chợ chiều đã vãn từ làng xa

-Từ khi ra đời cho đến nay, câu thơ vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau, xuất phát từ cách hiểu từ “đâu”:+ Phủ định: “đâu” = không có →không có tiếng vang lên từ phiên chợ chiều như những chiều nào

+Khẳng định: “đâu” = đâu đó →từ làng xa vẳng lại âm thanh của tiếng chợ chiều đã vãn

+Khao khát: “Đâu” = “đâu rồi”: nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âmthanh sự sống của con người

Dẫu hiểu theo cách nào thi hinh ảnh chợ chiều đã vãn trong câu thơ cũng gợi thêm một nét buồn bởi câu thơnói đến âm thanh mà lại làm nổi bật cái vắng lặng, làm cảnh vật càng buồn hơn, không gian càng vắng lặng,

cô tịch hơn

Như vậy: Bao trùm lên 2 câu thơ là một không gian vắng lặng, cảnh vật nhuốm vẻ điu hiu, tàn tạ, thể hiện sâu

sắc cõi lòng của nhân vật trữ tinh: buồn sầu, cô đơn, khao khát được nghe những tiếng vọng thân thiết củacuộc đời

*Hai câu tiếp: không gian được mở rộng và đẩy cao thêm.

-Câu 3:

+Tác giả Sử dụng nghệ thuật đối lập với những động từ miêu tả sự chuyển động ngược hướng “lên” - “xuống”đã đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt: nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó, gợi sự chuyển động, mởrộng về không gian, và gợi cả sự chia lia: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau

+ “Sâu chót vót”: là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận với cách kết hợp từ độc đáo “Chót vót”vốn là từ láy độc quyền chỉ chiều cao nay được dùng để chỉ chiều sâu của bầu trời, vũ trụ Nó cho ta thấy ánhmắt của thi nhân không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tinh để nhận biết chiều cao mà nó như xuyên vàođáy của vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu, một chiều sâu “chót vót”

-Câu 4: Nếu như câu thơ trên là sự vô biên được mở về chiều cao thi ở câu thơ này là sự cảm nhận về sự mởrộng của không gian về cả chiều dài và chiều rộng Hinh ảnh: “Sông dài, trời rộng” gợi ra một không gian títtắp, mênh mông Hinh ảnh “Bến cô liêu” gợi một không gian hoang vu, vắng lặng không bóng dáng của conngười

Như vậy: Đến hai câu thơ này, không gian được mở ra theo nhiều chiều với cả chiều cao, chiều rộng và chiều

dài và theo sự mở rộng đó, nỗi “cô liêu” của nhân vật trữ tình cũng lan tỏa vào trời rộng, sông dài, vào

không gian vô tận.

b,Khổ ba: tiếp tục mạch cảm xúc được gợi ra từ hai khổ thơ đầu, nỗi buồn càng được khắc sâu hơn và thấm

sâu vào cảnh vật

*Trước tiên, nỗi buồn ấy được khắc họa qua hinh ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh trên mặt nước

Trang 9

-Hinh ảnh “cánh bèo” trôi bồng bềnh trên sông là hinh ảnh quen thuộc trong văn học dân gian và thơ ca cổđiển tượng trưng cho những kiếp người trôi nổi, không thể tự quyết định số phận của minh giữa dòng đời+ “Nghĩ minh mặt nước, cánh bèo - Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân” –Truyện Kiều.

+ Thân em như thể bèo trôi - Sóng dập gió dồi biết tựa vào đâu (Ca dao)

+ “Thân em như thể cánh bèo - Ngược xuôi xuôi ngược theo chiều nước trôi” (Ca dao)

- Xuất hiện trong câu thơ, nó không chỉ là một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng" nối tiếp nhau trôi dạttrên sông Đó là hinh ảnh thực của thiên nhiên và cũng là hinh ảnh tượng trưng gợi bao suy nghĩ về số phậncủa những kiếp người, những thân phận nhỏ bé đang trôi dạt, mất phương hướng, lênh đênh, lạc lõng, cô đơngiữa dòng đời Phải chăng đó chính là cảnh ngộ của thi nhân và những nhà thơ lãng mạn khi họ chưa tim đượchướng đi giữa dòng đời?

* Bên cạnh hàng nối hàng những cánh bèo nối tiếp nhau trên dòng tràng giang mênh mông sóng nước thi haibên bờ cũng chỉ có "bờ xanh” và “bãi vàng" nối tiếp, nối tiếp nhau, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên xa mờ, títtắp làm cho không gian vốn đã hoang vắng lại càng xa vắng, hoang vu

-Đứng trước không gian mênh mông, hoang vu, xa vắng ấy, nhà thơ càng cảm thấy minh nhỏ nhoi, cô độc,ông mong mỏi tim một sự giao cảm, gắn bó với cuộc đời nhưng trước mắt chỉ là không gian mênh mông, vô

tận Những cụm từ phủ định Không một chuyến đò; Không một cây cầu được thi nhân sử dụng trong khổ thơ đã hô ứng với câu thơ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều ở khổ thơ trước đó nhấn mạnh vào sự vắng bóng của

con người Giữa không gian vắng lặng, mênh mông bốn bề chỉ có “bờ xanh”, “bãi vàng” và sóng nước, nhàthơ đã không thể tim được “một chuyến đò” hay “một cây cầu” kết nối, gợi chút niềm thân mật, gần gũi, giao

cảm, gắn bó giữa con người với con người Và như thế, nỗi buồn của thi nhân trong bài thơ đâu phải chỉ là

nỗi buồn mênh mông trước cảnh sông dài, trời rộng, trước vũ trụ bao là mà còn là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời.

4.Khổ cuối: Nỗi lòng của thi nhân được dồn nén, tích tụ từ những khổ thơ trước bỗng dâng trào, được mở lên

chiều cao, lan tỏa vào không gian trước cảnh hoàng hôn sông nước

a.Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên ki vĩ, tráng lệ chứa chất nỗi cô đơn

*Câu 1: hinh ảnh những đám mây.

-Sử dụng bút pháp chấm phá trong thơ Đường với những hinh ảnh giàu sức gợi, HC đã vẽ lên một bức tranhthiên nhiên ki vĩ, tráng lệ với hinh ảnh những đám mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bôngtrắng mở ra trên trời cao hợp thành những núi mây khổng lồ được ánh chiều phản chiếu trông như những hònnúi bạc

-Câu thơ đã tiếp tục chứng minh tài năng sử dụng từ láy độc đáo của tác giả nhưng ấn tượng nhất là cách tácgiả sử dụng động từ “đùn” Được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ (theo nhà thơ: Ông học đượcchữ “đùn” từ hai câu thơ dịch “Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm – Mặt đất mây đùn cửa ải xa” (Giang gian

ba lãng kiêm thiên dũng – Tái thượng phong vân tiếp địa âm) trong bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ), Huy Cậnđã vận dụng rất tài tinh động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp, từng lớpcứ đùn ra mãi Chữ “đùn” ấy đã tạo nên một nét thơ đầy chất hiện đại khi dụng từ thơ ca cổ điển quen thuộc

*Câu 2: hinh ảnh cánh chim chiều.

-“Cánh chim” nhỏ bé, bơ vơ trước buổi hoàng hôn là thi liệu quen thuộc của thơ ca cổ điển cũng như thơ hiệnđại, vừa gợi thời gian, vừa gợi không gian, vừa gợi lên một cái gi cô đơn, tội nghiệp, gợi cái buồn vắng, trốngtrải trong tâm hồn con người

+ “Chim hôm thoi thót về rừng” (Truyện Kiều); + “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện ThanhQuan); + “Chim mỏi về rừng tim chốn ngủ” (HCM),

-Trong câu thơ: hinh ảnh cánh chim ấy tiếp nối hinh ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng”, hinh ảnh nhữngđám bèo hàng nối hàng trôi dạt trên sông được miêu tả ở những câu thơ, khổ thơ trước để tiếp tục làm nổi bậtnỗi buồn cô đơn của nhà thơ “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” là hinh ảnh của một cánh chim nhỏnhoi, cô đơn, lẻ loi, nghiêng xuống giữa không gian bao la để bóng chiều sa xuống Cái hữu hinh của cánhchim nhỏ nghiêng xuống đã làm hiện lên cái vô hinh của bóng chiều trĩu nặng, gợi nỗi buồn da diết của cảnhvật cũng như trong lòng người

- Xuất hiện giữa không gian bao la, hinh ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ” cứ xa mờ dần và đối lập với hinh ảnh

“núi bạc” hùng vĩ trong trời nước bao la Sự tương phản ấy khiến cảnh “tràng giang” vốn đã mênh mông, xavắng lại càng thêm xa vắng, mênh mông, buổi chiều đã buồn lại càng buồn hơn và sự tương phản ấy còn gợilên hinh ảnh một “cái tôi” cô đơn, rợn ngợp trước vũ trụ, trước cuộc đời

Chúng ta hãy cùng nghe nhà thơ tâm sự khi sáng tạo hinh ảnh độc đóa này: “Cánh chim bay liệng tuy gợi lênmột chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng nhỏ bé, mông lung quá Và nỗi buồn đến đây càng thêm da diết trong

Trang 10

thương nhớ Nó không đóng khung trong cảnh sông nước ở trước mắt mà mở ra đến những chân trời của miềnquê xa”

b.Hai câu cuối: Nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ.

-Với việc sử dụng từ láy Dợn dợn (sự sáng tạo riêng của HC) kết hợp với cụm từ “vời con nước” : tấm “tinhquê” ấy mỗi lúc một trào dâng trong lòng nhà thơ hòa cùng con nước mênh mông giữa dòng tràng giang vờivợi trong khoảnh khắc hoàng hôn

-Được gợi lên từ tứ thơ của Thôi Hiệu: “Quê hương lòng ai” (Hoàng Hạc lâu – Tản Đà dịch”, hai câu thơ thểhiện tấm tinh quê của HC cũng mang đậm chất Đường thi Nhưng nếu như xưa kia, đứng trên lầu Hoàng Hạc,

Thôi Hiệu nhin thấy khói sóng phủ mờ trên sông thi tinh quê mới thổn thức thi nay HC không khoi hoàng hôn cũng nhớ nhà, tức không cần có sự tác động của ngoại cảnh thi tinh quê vẫn trào dâng Rõ ràng, so với người

xưa, tâm tinh của HC sâu lắng hơn, mãnh liệt hơn, nó luôn thường trực trong tâm hồn thi sĩ

+ Nỗi nhớ của HC trong bài thơ không chỉ là nỗi nhớ nơi chôn nhau, cắt rốn mà còn là nỗi niềm nhớ quêhương đất nước khi đang đứng giữa quê hương đất nước minh, khi đất nước bị mất chủ quyền, nhân dân phảisống cơ cực, lầm than Nỗi nhớ ấy đã cho ta thấy được tinh yêu đất nước thầm kín nhưng không kém phần sâusắc của thi nhân Tứ thơ đã khép lại, nhưng tinh yêu quê hương đất nước của thi nhân vẫn vang vọng, kéo dàihòa cùng đất trời, vũ trụ bao la, hòa cùng dòng tràng giang dập dềnh, mênh mang sóng nước

Với sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa hai nét cổ điển và hiện đại, có thể nói, đây là khổ thơ đặc sắc nhấtcủa bài thơ Cảm hứng chủ đạo được khơi nguồn từ câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đượcdàn trải trong ba khổ thơ đầu đã hội tụ và kết tinh trong khổ thơ cuối này, khổ thơ bộc lộ rõ nhất tinh yêu quêhương đất nước của nhà thơ

Bài tập:

1,Phân tích khổ thơ thứ hai hoặc khổ thơ cuối của bài thơ

2,Sự hòa quyện giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại trong Tràng Giang

Gợi ý:

1,Câu 1:

*Phân tích khổ 2:

- Bài thơ được mở đầu bằng một câu thơ đề từ mang cảm hứng chủ đạo của nhà thơ Đó là một nỗi buồn mênhmang, da diết, lan tỏa khắp không gian, hòa cùng cảnh sông dài, trời rộng Nỗi buồn mênh mang ấy theo cảmxúc của nhà thơ đã thấm sâu vào bức tranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng trong từng khổ thơ, báo trướccảm xúc nổi trội của thi nhân xuyên suốt trong tác phẩm

+Ở khổ thơ thứ nhất, nỗi buồn của thi nhân hòa cùng dòng tràng giang, hòa cùng con thuyền hững hờ, buôngtrôi giữa dòng nước lớn, hòa cùng cành củi khô dập dềnh trên mấy dòng nước mênh mông, kéo dài theo cảkhông gian và thời gian

+Ở khổ thơ thứ ba, nỗi buồn ấy lại hòa cùng những cánh bèo, hàng từng hàng, nối tiếp nhau nổi trôi theo dòngnước, hòa cùng cảnh “bờ xanh” nối tiếp “bãi vàng”

+Ở khổ thơ cuối, nỗi buồn của nhà thơ hòa cùng nỗi nhớ quê hương da diết trong khoảnh khắc hoàn hôn, trướcvũ trụ bao la và dòng tràng giang bất tận

+Nhưng khổ thơ thể hiện sâu sắc nhất, ấn tượng nhất nỗi buồn, nỗi sầu nhân thế, nỗi cô đơn của nhà thơ chính

là khổ thơ thứ hai Cũng như các khổ thơ khác trong bài thơ, khổ thơ được cấu tạo bằng thể thơ thất ngônĐường luật với sự kết hợp hài hòa, nhuần nhị giữa màu sắc cổ điển và màu sắc hiện đại ( )

*Phân tích khổ 3:

Nếu như ở khổ thơ thứ nhất, tâm trạng buồn - “nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tim được lối ra như kéo dàitriền miên” của thi nhân hòa cùng dòng tràng giang, hòa cùng con thuyền hững hờ, buông trôi giữa dòng nướclớn và hinh ảnh một cành củi khô dập dềnh trên mấy dòng nước mênh mông; ở khổ thơ thứ hai, hòa cùng mộtkhông gian bao la, quạnh quẽ và hòa cùng những cánh bèo, hàng từng hàng, nối tiếp nhau nổi trôi theo dòngnước mênh mông ở khổ thứ ba thi bước sang khổ thơ cuối, nỗi buồn ấy càng được thể hiện da diết hơn Trongkhoảng khắc hoàng hôn, thi nhân đã để cõi lòng minh mở lên chiềm cao, mở theo chiều xa, hòa cùng cảnh trờinước mênh mang với bao nỗi niềm khắc khoải Được cấu tạo bằng thể thơ bảy chữ, cũng như các khổ thơ kháctrong bài thơ, khổ thơ là một áng tuyệt bút với sự kết hợp hài hòa, nhuần nhị giữa màu sắc cổ điển và màu sắchiện đại ( )

2,Đọc kĩ phần định hướng ở trên và tài liệu sau; tham khảo thêm các TL khác

Tràng Giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại Anh/chị hãy phân tích bài thơ Tràng Giang để làm sáng tỏ nhận xét trên.

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của minh trong phongtrào thơ mới 1930-1945 Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005 Trước

Trang 11

Cách mạng tháng tám, thơ ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật vớicác tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự" Nhưng sau Cách mạng tháng tám, hồnthơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dânlao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời" Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhânthế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang" Đây là một bàithơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng tám Bài thơ được trích từ tập "Lửathiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhin cảnh mênh mông sóng nước,lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định Mang nỗi u buồn hoài nhưthế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho ngườiđọc.

Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài

Song gợi tràng giang buồn điệp điệp…Không khoi hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ "Tràng giang" là một cách nóichệch đầy sáng tạo của Huy Cận Hai âm "ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông,không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trangnhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng,dòng sông của tâm tưởng

Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước,không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của minh Nhưng nếu các thi nhân xưa tim đến thiên nhiênđể mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tim về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người côđơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiệnđại

Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bângkhuâng trời rộng nhớ sống dài" Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiênnhiên, lòng con người dấy lên tinh cảm "bâng khuâng" và nhớ Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắcđịa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tinh, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng Và con "sông dài", nghemiên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rungđộng trái tim người đọc

Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:

Song gợn tràng giang buồn điệp điệp,… mấy dòng.

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này Hai từ láy nguyên "điệp điệp",

"song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nócòn đầy sức gợi hinh, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thi cứcuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một

"con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ,mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào

Dòng sông thi bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả- Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền Thế mà Huy Cận lại thấythuyền và nước đang chia lia, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa Chính lẽ vi thế mà gợi nêntrong lòng người nỗi "sầu trăm ngả" Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơnỗi buồn vô hạn

Tâm hồn của chủ thể trữ tinh được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng".Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũtrụ bao la "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu

vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông Cành củi khô đó trôi dạc

đi nơi nào, hinh ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơncôi

Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tinh" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như consóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạngthường gặp ở các nhà thơ mới Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhin ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ.Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mởtâm trạng của nhân vật trữ tinh, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng

Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hinh ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

Lơ thơ cồn nhỏ gio đìu hiu - Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Trang 12

Hai từ láy "lơ thơ" và "điu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnhvắng lặng "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "điu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thi

"điu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâutiếng làng xa vãn chợ chiều" Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh xa xôi,không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạtđộng, âm thanh sự sống của con người Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanhđây chẳng hề có chút gi sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên

Đôi mắt nhân vật trữ tinh nhin theo nắng, theo dòng trôi của sông:

"Nắng xuống, trời lên sâu chot vot,-Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."

"Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lia: bởi nắng và trời màlại tách bạch khỏi nhau "sâu ***t vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹphiện đại Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cảkhông gian bao la, vô tận Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gi thuộcvề con người thi lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu"

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộcsông cón người thi buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lia

Nhà thơ lại nhin về dòng sông, nhin cảnh xung quanh mong mỏi có chút gi quen thuộc mang lại hơi ấm chotâm hồn đang chim vào giá lạnh, về cô đơn Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hinhảnh càng quạnh quẽ, điu hiu:

BÈo dạt về đâu, hàng nối hàng,- bãi vàng.

Hinh ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hinh ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gibấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay haicánh bèo, mà là "hàng nối hàng" Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từđó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra mộtkhông gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chútsinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:

Mênh mông không một chuyến đò ngang- thân mật.

Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định " không không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người.Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gi gợi niềm thân mật để kéo minh ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm,vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết củacon người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chim, trôi đi nơi nào

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,- chiều sa.

Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núimây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc Hinh ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tinh và lại càng thi vịhơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Huy Cận đã vận dụng rất tài tinh động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớptừng lớp mây cứ đùn ra mãi Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổđiển quen thuộc

Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tinh trong câu thơ sau Dấu hai chấm này gợi mốiquan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang,hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi Câu thơ tả không gian nhưng gợiđược thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hinh tượng thẩm mỹ để tả hoànghôn trong thơ ca cổ điển

Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,- nhớ nhà.

"Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó Từ láy này hô ứng cùng cụmtừ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của "lòng quê" Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớquê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn Đây là nét tâm trạng chung củanhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước

Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điển được gợi từ hai câu thơ dịch bài thơ Hoàng Hạc lâu của ThôiHiệu: "Quê hương khuất bóng hoàng hôn - Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai Xưa Thôi Hiệu cần vịn vàosóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thi buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đã sâu sắc lắmrồi Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay Cả bài thơ vừa

Trang 13

mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậmphong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây,sông, cánh chim Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầmmặc của thơ Đường.

Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chót vót", dấu hai chấm thầntinh Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâmtrạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức minh cho đất nước mà đành bất lực, không làm gi được.Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận", với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâulắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương

(Sưu tầm trên mạng, chưa sửa chữa)

ĐÂY THÔN VĨ DA I.Tác giả - tác phẩm.

1 Tác giả Hàn Mặc Tử

- HMT là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất phong trào Thơ Mới, là “ngôi sao chổi trênbầu trời thơ VN” (Chế Lan Viên)

- Các sáng tác tiêu biểu: Gái quê (1936), Thơ điên,Xuân như ý (1938), Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, duyên kì ngộ (Kịch thơ – 1939) Quần tiên hội (Kịch thơ), Chơi giữa mùa trăng (Thơ văn xuôi – 1940)

- Là nhà thơ đa phong cách, thế giới nghệ thuật của HMT được tạo bởi hai mảng thơ:

+Một là những vần thơ điên loạn, ma quái, rùng rợn với hai hinh tượng chính là hồn và trăng

+Hai là những vần thơ tuyệt mĩ, hồn nhiên, trong trẻo với những hinh ảnh sáng đẹp

Đây thôn Vĩ Dạ là vần thơ đẹp nhất trong mảng thơ thứ hai của HMT

2 Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Bài thơ là một kiệt tác của HMT và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc nhất của thơ ca VN hiện đại

- Xuất xứ: sáng tác năm 1938, khi nhà thơ đã biết minh mắc bệnh hiểm nghèo, được in trong tập Thơ Điên(sau đổi thành Đau thương), lúc đầu có tên “Ở đây thôn VD”

- Hoàn cảnh sáng tác: Được gợi cảm hứng từ mối tinh đơn phương của thi nhân với HTKC, một cô gái vốn

quê ở VD

-Bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là bức tranh tâm cảnh, vừa thể hiện vẻ đẹp của thôn Vĩ, của xứ Huếmộng mơ, vừa thể hiện nỗi buồn cô đơn, cảnh ngộ bất hạnh của một con người yêu đời, yêu thiên nhiên, yêusự sống tha thiết, mãnh liệt

-Bài thơ cũng cho ta thấy phong cách thơ HMT với bút pháp tài hoa, độc đáo, trí tưởng tượng phong phú và sựhòa quyện giữa những hinh ảnh thực và ảo

II Cảm thụ tác phẩm.

Bài thơ có cấu trúc gồm 3 khổ thơ dựa trên âm điệu chủ đạo của ba câu hỏi được buông ra, không có lời đáp.Những câu hỏi ấy chỉ là hinh thức bày tỏ, ngữ điệu hỏi càng về sau càng khắc khoải, càng u hoài hơn Chínhnhờ vào ngữ điệu nhất quán ấy mà ba khổ thơ hiện ra vốn có vẻ “nhảy cóc” đứt đoạn được xâu chuỗi lại khăngkhít, liền mạch, tự nhiên

1.Khổ thơ thứ nhất (sau phần tài liệu tham khảo)

Tài liệu tham khảo:

Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:

Gió theo lối gió mây đường mây

Có chở trăng về kịp tối nay?

Cảm nhận thơ trữ tinh xét cho cùng là cảm nhận "cái tinh" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tinh trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tinh cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, tađắm say cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam) Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó Chính "chất điên" ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khólường trước được Nét phong cách đặc sắc ấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhàthơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử Chất điên cuồng ấy thể hiên cụ thể và rõ nét trong khổ thơ:

"Gió theo lối gió mây đường mây Có chở trăng về kịp tối nay?"

Trang 14

Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm minh dưới ánh “nắng mới lên” trong lành Chưa hết, rất xa là hinh ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc” “Mướt quá” gợi cả cây non tràn trề sức sống xanh tốt Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại như huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai” Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang” Câu thơ đẹp vi sự hài hòa giữa cảnh vật

và con người “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ tinh ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ

Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều

tà Tâm trạng của nhân vật trữ tinh cũng có sự biến đổi lớn Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lốigió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của minh và mây cũng thế Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất

là hinh ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây” Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thi mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây” Thế nhưng trong văn chươngchấp nhận cách nói phi lí ấy Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tinh vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy? Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởi mối tinh đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh

và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ tinh lại bị nhà thơ miêu tả vô tinh, xa lạ đến như vậy Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui gi hơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng Thếnhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tinh lại thay đổi:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tinh, lãng mạn Hinh ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?” Liệu “thuyền ai”đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào Tinh cảm ấy quả thật là tinh cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ)

Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vật trữ tinh trong buổi chiều Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngóng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Ai biết tinh ai có đậm đà?”

Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” - người thôn Vĩ đến với minh, tâm trạng nhân vậttrữ tinh lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tinh ai có đậm đà?” “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tinh với minh không? Và chẳng biết chính minh còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong tinh yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau Nhân vật trữ tinh rơi vào tinh trạng ấy và đã bộc bạch lòng minh để mọi người hiểu

và thông cảm Cái mới của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó

Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió -… kịp tối nay” để lạitrong lòng người đọc những tinh cảm đẹp Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời Lời thơ vi thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư

Trang 15

Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tinh cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của minh trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳng định Tinh cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tinh cảm thực, do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Binh đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam

ĐÂY THÔN VĨ DA I.Tác giả - tác phẩm.

1 Tác giả Hàn Mặc Tử

2 Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

II Cảm thụ tác phẩm.

1 Khổ thơ thứ nhất: cảnh vườn thôn Vĩ trong buổi binh minh với những vẻ đẹp đầy thơ mộng qua dòng hồi

tưởng của nhà thơ

a Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ đa sắc thái: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

+Câu thơ vừa như là câu hỏi, vừa như là lời nhắc nhở, vừa như lời trách móc nhẹ nhàng pha chút dỗi hờn, lạivừa là lời mời mọc ân cần, tha thiết

+Vậy nó là lời của ai? Lời của HC, lời của một cô gái nào đó? Hay lời của chính thi nhân tự phân thân ra đểbộc lộ nỗi lòng minh? Câu hỏi đó không phải là lời của HC đâu bởi trong tấm thiếp phong cảnh Hoàng Cúcgửi cho Tử, HC chỉ viết một lời hỏi thăm sức khỏe của thi sĩ mà thôi Vi vậy, nếu hiểu đây là lời của HC thi vôlí, không đúng sự thực Câu hỏi đó cũng không thể là lời của một cô gái nào đó ở thôn Vĩ bởi nhà thơ viết thiphẩm này là để viết để tạ lòng Hoàng Cúc không lẽ lại nghĩ đến cô khác ư? Câu thơ chính là lời của thi sĩ tựphân thân ra để tự vấn lòng minh sao lâu quá rồi chưa một lần về thăm lại mảnh đất thôn Vĩ thân quen “Nơi cónửa quả trái tim minh – Có người yêu ở đó” (Viễn Phương) để thăm lại cảnh cũ, người xưa? Câu hỏi ấy đã thểhiện sâu sắc tâm trạng thi nhân: nuối tiếc, nhớ mong vời vợi và khao khát được trở về thôn Vĩ trong tinh cảnhốm đau không biết khi nào có thể quay trở lại Sử dụng 6/7 thanh bằng câu thơ làm cho nỗi niềm nhớ mong,khao khát ấy càng thêm da diết Cảm xúc dâng trào khơi dậy trong nhà thơ bao kỉ niệm sâu sắc, bao hinh ảnhđẹp đẽ, đáng yêu về xứ Huế mộng mơ

b.Ba câu tiếp: cảnh vườn thôn Vĩ buổi bình minh.

Trong sự tưởng tượng và nỗi nhớ của thi nhân, Vĩ Dạ hiện lên thật đẹp, mỗi câu thơ là một chi tiết vườn, hòahợp với nhau tạo nên vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết

Cảnh vườn đó được vẽ bằng hai nét vẽ thật tài hoa:

*Nét vẽ trên cao: vẻ đẹp thanh tú của nắng sớm và hàng cau.

-Không xuất hiện nhiều như hồn và trăng, nhưng nắng cũng là một hinh tượng nghệ thuật quen thuộc trong thơHMT Nắng trong thơ của thi nhân thường lạ lùng, đầy ấn tượng với những nắng tươi, nắng ửng, nắng loạn,nắng chang chang:

“Trong làn nắng ửng, khói mơ tan - Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.” (Mùa xuân chín)

“Chị ấy năm nay còn gánh thóc – Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang” (Mùa xuân chín)

Trong câu thơ, thi nhân chỉ viết “nắng mới lên” sao mà gợi thế “Nắng mới lên” là ánh nắng đầu tiên của mộtngày mới Hinh ảnh “nắng mới lên” ấy kết hợp với điệp từ “nắng” đã gợi lên hinh ảnh cả một vùng quê ngậptràn ánh nắng, ánh nắng “mới lên” rực rỡ mà dịu nhẹ, tinh khôi, thanh khiết Ánh nắng ấy lan rộng, lan tỏakhắp đất trời, lấp lánh trên những hàng cau còn đẫm sương đêm

-Cau vốn là loài cây thanh nhã, xinh xắn với thân hinh thẳng tắp, tán lá xanh tươi và cũng là loài cây rất thânthuộc với làng quê VN, nơi có phong tục ăn trầu từ ngàn đời nay Có lẽ vi thế mà cả trong văn học dân gian vàvăn học trung đại, hiện đại, cau đã trở thành một thi liệu, văn liệu quen thuộc của nhiều văn nhân, thi sĩ

+Nếu trong văn học dân gian, cau hiện lên là một hinh ảnh đẹp gắn liền với câu truyện dân gian “Sự tích trầucau” mang ý nghĩa biểu trưng của sự gắn bó thủy chung sâu sắc thi trong văn học trung đại và văn học hiện đạicũng có rất nhiều tác giả viết hay về hinh tượng ấy như Hồ Xuân Hương với bài thơ Mời trầu, Nguyễn Bínhvới “Tương tư”, Trần Đăng Khoa với “Hoa Lư”

+Còn trong thơ HMT, cái hinh tượng nghệ thuật quen thuộc ấy là hinh ảnh những “hàng cau” trong buổi binhminh dưới một không gian ngập tràn ánh nắng Vốn là một loài cây cao (và ở trong khu vườn thôn Vĩ có lẽ làloài cây cao nhất) nên nó là loài cây đầu tiên nhận được những tia nắng đầu tiên của một ngày Bởi thế mà tinhkhôi Trong đêm, lá cau được tắm gội trên cao, sắc xanh như mới được hồi sinh trong bóng tối, dưới nắng mailại rời rợi thanh tân Nắng trên lá cau thành nắng ướt, nắng long lanh, nắng thiếu nữ Bởi thế mà thanh khiết.Sự kết hợp hài hòa giữa nắng sớm và hàng cau đã làm đẹp hơn vẻ đẹp của cảnh vườn thôn Vĩ, một vẻ đẹp lunglinh ánh sáng, rực rỡ sắc màu và rất gợi cảm Vẻ đẹp ấy gợi cho ta nhớ tới câu thơ rời rợi nắng xuân, nắng mơ

Trang 16

trong thơ Tố Hữu: “Nắng xuân tưới trên thân dừa xanh dịu - Tàu cau non lấp loáng muôn ánh gươm - Ánhnhởn nhơ đùa quả non trắng phếu - Và chảy tan qua kẽ lá vườn chanh”.

*Nét vẽ dưới thấp: vẻ đẹp khái quát của khu vườn thôn Vĩ.

-Vườn của Vĩ Dạ với những cây cảnh, cây ăn trái được chăm sóc bởi bàn tay cần cù, khéo léo, lại được tắm

nắng gội mưa thường xuyên nên bóng nhẵn, tươi tốt, xum xuê Miêu tả vẻ đẹp ấy, tác giả chỉ dùng một từ

“mướt” mà giàu sức gợi biết bao Phải, “mướt” chứ không phải là “mượt” Bởi “mướt” ngoài ý chỉ sự nhẵnbóng như “mượt”, còn có ý nghĩa tươi non, gợi vẻ mỡ màng, trong trẻo, ánh lên như loang loáng nước, tươi tốt

và đầy sức sống của khu vườn thôn Vĩ dưới ánh mặt trời trong buổi binh minh Không chỉ có vậy, miêu tảcảnh vườn thôn Vĩ nhà thơ còn sử dụng hinh ảnh so sánh độc đáo “xanh như ngọc” Bằng lối so sánh độc đáoấy, vườn thôn Vĩ hiện lên như một viên ngọc bích lớn vừa có màu, vừa có ánh, vừa rời rợi sắc xanh và viênngọc bích lớn ấy “không chỉ óng ánh sắc xanh mà còn đang tỏa vào không gian một màu xanh long lanh ánhsáng” (Chu Văn Sơn) Như vậy, dưới nắng mới tinh khôi, khu vườn thôn Vĩ hiện lên thật đẹp, một vẻ đẹp đơn

sơ mà lộng lẫy, thanh tú và cao sang Vẻ đẹp đó khiến ngay cả thi nhân, một người không xa lạ gi với xứ Huế,

cũng phải ngỡ ngàng (vườn ai mướt quá) khi bất chợt nhận ra vẻ đẹp diệu ki của cảnh vật mà có lẽ trước và

sau khoảnh khắc ấy đều không có

-Khổ thơ kết thúc bằng một câu thơ đầy ấn tượng với sự xuất hiện của “cành trúc che ngang mặt chữ điền”trong khu vườn thôn Vĩ Giữa bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ mộng và thơ, bóng dáng con người xuất hiện đãlàm cho cảnh Vĩ Dạ vốn đã đẹp lại càng đẹp hơn nữa trong sự kết hợp hài hòa giữa cảnh và người

+Từ khi ra đời cho đến nay, câu thơ đã gây nhiều tranh luận với câu hỏi hinh ảnh “mặt chữ điền” là gương mặtcủa ai? Của đàn ông hay đàn bà? Là khuôn mặt của người thôn Vĩ hay người trở về thôn Vĩ? Và lối tạo hinhcủa nó là cách điệu hay tả thực? Những ý kiến đó đến nay vẫn chưa ngã ngũ Có người vẫn khăng khăngkhẳng định đây là khuôn mặt của đàn ông, cụ thể là khuôn mặt của thi nhân, người trở về thôn Vĩ; người kháclại dứt khoát đấy là khuôn mặt của người phụ nữ chứ không phải đàn ông Có người khẳng định hinh ảnhtrong câu thơ là hinh ảnh tả thực chứ không phải cách điệu vi cho rằng “không thể có một chi tiết cách điệu lạcvào giữa một bức tranh trực quan thuần tả thực như thế” (Chu Văn Sơn); nhưng cũng có không ít ý kiến lại

cho rằng câu thơ được viết theo lối cách điệu Hãy nêu ý kiến của riêng em?

+Nếu khẳng định câu thơ được viết theo bút pháp tả thực thi cần chứng minh khuôn mặt chữ điền kia là đànông hay phụ nữ, là người thôn Vĩ hay người trở về thăm thôn Vĩ? (Xem thêm “Phân tích binh giảng tác phẩmvăn học nâng cao 11” – Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) – NXB GD)

+Nếu khẳng định câu thơ được viết theo bút pháp cách điệu hóa:

Câu thơ viết theo lối cách điệu hoá Cách điệu từ đường nét "lá trúc che ngang" đến hinh ảnh "mặt chữ điền" Mặt chữ điền từng xuất hiện trong những câu ca dao xứ Huế :

Mặt em vuông tựa chữ điền,

Da em thi trắng, áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời,

Có câu nhân nghĩa, có lời thuỷ chung.

Như vậy, khuôn “mặt chữ điền” là khuôn mặt biểu trưng cho những con người hiền lành, phúc hậu, thủychung, giàu tinh nghĩa, và cái hinh ảnh “lá trúc che ngang mặt chữ điền” kia đã tạo nên sự e ấp, kín đáo,duyên dáng, dịu dàng của con người xứ Huế và gợi rõ hơn cái thần thái của thôn Vĩ: cảnh xinh xắn, ngườiphúc hậu, thiên nhiên và con người hài hòa với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng

Tóm lại: Cảnh thôn Vĩ trong khoảnh khắc hừng đông được miêu tả thật tươi đẹp, ấn tượng, giàu sức sống và

hữu tinh Đằng sau bức tranh phong cảnh đó là một tâm hồn nhạy cảm, yêu đời, yêu thiên nhiên, con người thathiết, khao khát sống mãnh liệt cùng niềm băn khoăn, day dứt của một con người đa cảm, đang phải sống cáchbiệt với thế gới loài người trong nỗi niềm tuyệt vọng Đoạn thơ nói riêng và cả bài thơ nói chung đã khơi dậytrong tâm hồn người đọc biết bao nỗi niềm quê hương, làng mạc VN thân yêu muôn đời

2 Khổ thơ thứ hai: Cảnh trời mây, sông nước Vĩ Dạ lúc hoàng hôn và khi màn đêm buông xuống.

a Hai câu đầu:

-Nếu như ở trong khổ thơ đầu tiên của tác phẩm, cảnh thôn Vĩ hiện lên với vẻ đẹp của một khu vườn trần gianđẹp lộng lẫy, lung linh, đầy sức sống thi sang khổ thơ thứ hai, nỗi nhớ của thi nhân lại hướng về một hinh ảnhquen thuộc, gắn liền, không thể tách rời với Vĩ Dạ: đó là dòng sông Hương thơ mộng, trữ tinh với bao nỗiniềm cảm xúc, suy tư

-Không có được niềm vui, niềm hạnh phúc như khổ thơ đầu khi thi nhân được thỏa lòng khao khát được quay

trở lại thăm thôn Vĩ, thăm lại cảnh cũ, người xưa dù đó chỉ là hinh ảnh của nỗi nhớ mong, trong tưởng tượng

Trang 17

Ở đây, cảnh vật được thi nhân cảm nhận qua lăng kính của mặc cảm chia lia, của tinh yêu tuyệt vọng, của nỗiniềm u uẩn, cô đơn nên thấm đẫm một nỗi buồn và nhuốm màu chia li, xa cách

-Từ cái nhin gần, cái nhin ở tầm thấp khi cảm nhận vẻ đẹp của cảnh vườn thôn Vĩ trong buổi binh minh ở khổthơ thứ nhất, mở đầu khổ thơ thứ hai cặp mắt của thi nhân hướng lên bầu trời cao cảm nhận hinh ảnh của gió

và mây Và ở đó, thi nhân nhận thấy: “Gió theo lối gió, mây đường mây” Gió đi theo đường riêng của gió và

mây cũng đi theo đường mây Cảnh hiện lên thật buồn và gợi sự chia lia, xa cách Láy lại hai lần từ mây, gio,

và kết cấu câu thơ theo nhịp 4/3, thi nhân đã tách câu thơ thành hai vế có cấu trúc khép kín và đối lập với nhau

nhấn mạnh và làm nổi bật sự chia lia, xa cách ấy Vế thứ nhất mở đầu là hinh ảnh gio và khép lại cũng bằng gio; vế thứ hai mở đầu bằng hinh ảnh mây và khép lại cũng là mây Từ đó, ta thấy “mây” và “gió” như những

kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ mây không thể tự chuyển động, giócó thổi thi mây mới bay nhưng ở đây lại chia lia mỗi đằng một ngả Cảnh vật thiên nhiên hiện lên buồn nhưthế, thấm đẫm sự xa cách, chia li như thế bởi gió và mây đâu còn phải là cảnh vật thuần túy nữa mà nó đangmang trong minh nỗi buồn chia li, xa cách trong tâm trạng con người

Câu thơ gợi cho ta nhớ tới hai câu thơ trong bài thơ “Giây phút chạnh lòng” của Thế Lữ:

“Anh đi đường anh, tôi đường tôi,

Tinh nghĩa đôi ta có thế thôi.”

Hai nhà thơ, hai tâm hồn và cùng tâm trạng nhưng nếu Thế Lữ nói bằng cách phát ngôn trực tiếp lời của nhânvật trữ tinh, thi ở đây HMT lại nói qua bức tranh phong cảnh, nói bằng hinh ảnh Mạch thơ đã vận động từngoại cảnh vào tâm cảnh Phải chăng mang nặng mặc cảm của một con người tha thiết gắn bó với cuộc đời màcó nguy cơ phải chia lia cõi đời và một mối tinh đơn phương chưa có những giây phút gặp gỡ ngọt ngào đãsớm rơi vào cảnh ngộ cay đắng, chia lia nên cảnh như hòa vào lòng người mà hờn tủi, chia li? Và cũng bởiđang mang trong minh nỗi niềm tâm trạng ấy nên trong sự cảm nhận của thi nhân đâu chỉ có bầu trời buồn màmặt đất cũng mang một nỗi buồn hiu hắt:

“Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thi ca nhạc họa vậy mà được miêu tả trong câu thơsao mà buồn đến thế Nó lững lờ trôi chầm chậm và cũng mang nét “buồn thiu” như tâm trạng con người Mặtnước buồn, lòng sông buồn, cảnh vật ở hai bên sông lại càng sầu hơn nữa Những hoa bắp khẽ lay trong làngió nhẹ mà sao thật buồn Phải chăng nỗi buồn từ trong tận sâu thẳm đáy lòng của thi nhân đã trào dâng, lantỏa vào khắp không gian, hòa vào gió, vào mây, vào dòng nước mênh mang và làm “lay” những cây hoa bắpvốn vô tri, vô giác ấy? (Có thể đi sâu vào phân tích vẻ đẹp của động từ “lay” được sử dụng trong câu thơ.Tham khảo ở “Phân tích binh giảng tác phẩm văn học nâng cao 11” – Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) – NXBGD)

Như vậy, được dệt nên qua nỗi nhớ của thi nhân trong nỗi niềm xa cách, bức tranh phong cảnh sông nước VĩDạ lúc hoàng hôn hiện lên thật đẹp nhưng cũng thật lạnh lẽo, thưa vắng và phảng phất đằng sau đó là tâmtrạng u buồn, cô đơn của nhà thơ trước sự thở ơ, xa cách của cuộc đời đối với minh

b Hai câu sau:

-Thi nhân tiếp tục miêu tả cảnh sắc của dòng Hương Giang nhưng thời gian không còn là buổi hoàng hôn mà

là khi màn đêm buông xuống Và trong khoảnh khắc đó, “dòng nước buồn thiu” đã biến hóa diệu ki thành

“sông trăng” thơ mộng Cả không gian tràn ngập ánh trăng với một dòng sông trăng, một bến sông trăng vàmột con thuyền trở đầy trăng Trăng đã tạo nên cả một không gian thơ mộng, huyền ảo và lung linh Cảnh hiệnlên thật đẹp nhưng nhạt nhòa giữa hai bờ hư thực Dòng sông không còn là dòng sông của sóng nước mà làdòng sông ánh sáng, lấp lánh ánh trăng vàng Dòng nước đang hóa minh thành dòng trăng hay ánh trăng đangtan minh thành nước? Và Con thuyền vốn có thực trên dòng sông cũng đã trở thành hinh ảnh của mộng tưởng,nó đậu trên bến sông trăng (một hinh ảnh hư - thực nữa) để trở trăng về một nơi nào đó trong mơ

-Vốn là một hinh tượng quen thuộc trong thế giới nghệ thuật của thi nhân (Thơ HMT ngày là cõi nắng, đêm làcõi trăng – Chu Văn Sơn), trăng vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu trưng, nó vừa là hinh ảnhbiểu tượng cho cái đẹp của thiên nhiên, cuộc đời, vừa là biểu tượng cho sự thanh binh, niềm vui, tinh yêu vàhạnh phúc, vừa như người tri âm, tri kỉ của thi nhân Vi thế, đến câu thơ cuối, con thuyền, dòng sông, ánhtrăng trong sự hồi tưởng quá khứ ấy được gắn với cảm nghĩ của nhà thơ trong hiện thực Sống trong nỗi niềm

u buồn, đau đớn trước mặc cảm chia li, xa cách, thi nhân mong muốn con thuyền sẽ chở trăng về “kịp tối nay” Ngôn ngữ trong câu thơ bảy chữ này thật binh dị mà sao chứa nhiều tâm trạng thế? Nhà thơ mong muốn con thuyền chở trăng về “kịp tối nay” mà không phải là một buổi tối nào khác bởi phải chăng cái buổi tối nay

đó là một buổi tối mà thi nhân thấy lòng minh thật buồn và cô đơn nhưng không có người cùng chia sẻ nênmuốn con thuyền chở trăng về kịp để chia sẻ với lòng minh cho vợi bớt nỗi cô đơn? Hay phải chăng đó chínhniềm mong chờ, khao khát cháy bỏng trong nỗi niềm lo âu khắc khoải của nhà thơ được sống trong tinh yêu,

Trang 18

hạnh phúc? Có lẽ là cả hai! Cho nên lời thơ của thi nhân mới cất lên như một câu hỏi đau đáu, một nỗi niềmday dứt với một chữ “kịp” đầy phấp phỏng: “Có chở trăng về kịp tối nay?”.

*Đặc sắc nghệ thuật

- Hinh ảnh thơ độc đáo, tài hoa, đầy ám ảnh: vừa dân dã vừa thi vị (dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay), vừa gợitả vừa giàu sức biểu hiện (mây, gió); nét thực, nét ảo cứ chập chờn chuyển hoá (sông trăng, thuyền chở trăng)

- Nhịp điệu khi khoan, khi nhặt hoà hợp với giọng điệu khi trầm lắng, khi khẩn cầu biểu lộ cảm xúc u hoài màtha thiết (thể hiện thành sự chuyển hoá âm điệu từ hai câu đầu đến hai câu sau)

- Nhiều thủ pháp nghệ thuật như phép đối (câu một), nhân hoá (ở hầu hết các hinh ảnh thiên nhiên), đại từ

phiếm chỉ và câu hỏi tu từ (Thuyền ai đậu bến sông trăng đo tối nay?) làm cho ngôn ngữ thơ giàu hinh ảnh,

tài hoa, biểu lộ được nhiều trạng thái cảm xúc tinh tế

Khổ thơ đã khép lại với một bức tranh phong cảnh thiên nhiên đẹp và đượm buồn nhưng tấm tâm tinh của nhàthơ vẫn như đang hòa cùng dòng Hương Giang, hòa cùng đất trời bao la Khổ thơ thứ hai nói riêng và bài thơĐTVD nói chung đã giúp ta hiểu hơn và trân trọng hơn một con người, một tâm hồn yêu người, yêu đời thathiết

3 Khổ thơ thứ ba:

-Nếu như khổ thơ thứ nhất và khổ thơ thứ hai của bài thơ là bức tranh thôn Vĩ buổi ban mai, lúc chiều tà vàkhi màn đêm buông xuống với vẻ đẹp thơ mộng và trữ tinh thi bước sang khổ thơ thứ ba cảnh sắc xứ Huế càngđẹp hơn với sự xuất hiện của hinh ảnh giai nhân với màu áo trắng chim lẫn trong làn sương hư ảo

+Khổ thơ được mở đầu bằng hinh ảnh “khách đường xa” gắn với những ý kiến trái ngược với nhau đến nayvẫn còn chưa ngã ngũ Không ít người cho rằng hinh ảnh “khách đường xa” trong câu thơ chính là HMT, làngười mà cô gái (Hoàng Cúc?) luôn nhớ mong, mơ tưởng tới Như chúng ta đã biết, mối tinh của thi nhân với

HC là nhân tố chính dẫn tới sự ra đời của thi phẩm đặc sắc này nhưng mối tinh đó lại chỉ là một mối tinh đơnphương, xuất phát từ phía HMT Vi thế, hiểu hinh ảnh “khách đường xa” trong câu thơ là thi nhân thi có phầnkhông hợp lí Hinh ảnh “khách đường xa” ấy chính là hinh ảnh của người thôn Vĩ, là người trong mộng của thinhân Tiếp tục với giấc mơ trở về Vĩ Dạ, nhà thơ khao khát được gặp lại hinh bóng của người xưa nhưng sao

mà xót xa quá! Cụm từ “khách đường xa” được điệp lại hai lần với nhịp thơ thiết tha, sâu lắng đã cho ta thấynhững cung bậc tâm trạng ấy Nhà thơ hướng về một con người cụ thể nhưng là đối tượng xa cách, là “kháchđường xa”, chỉ là người trong mộng ước

+Sự xa cách ấy càng hiện lên rõ hơn khi hinh ảnh người con gái xứ Huế xuất hiện trực diện bằng tiếng “em”gần gũi nhưng lại quá đỗi xa vời vi thấy “áo” nhưng lại “nhin không ra” vi áo trắng lẫn vào sương khói

+Cũng giống như câu thơ đầu, câu thơ thứ hai này cũng xuất hiện hai luồng ý kiến trái ngược với nhau Luồngý kiến thứ nhất cho rằng hinh ảnh “áo em trắng quá nhin không ra” là hinh ảnh tả thực Xứ Huế vốn nắng lắm,mưa nhiều nên cũng nhiều “sương khói” Sương khói trắng và áo em cũng trắng nên “nhin không ra” Vớinhững người theo luồng ý kiến thứ hai thi cái hinh ảnh “áo em trắng quá nhin không ra” chỉ là một cách catụng sắc trắng đến lạ thường của thi nhân Cái sắc trắng ấy vừa thể hiện vẻ thánh thiện, kín đáo và huyền ảocủa người thiếu nữ Huế, vừa gợi sự nhạt nhòa, xa cách vi giữa thi nhân và “em” là khoảng cách của cả thờigian, không gian và mạn “sương khói” của một mối tinh chưa có lời hẹn ước

-Bước sang câu thơ thứ ba, thi nhân không tiếp tục cảm xúc trong giấc mơ trở về thôn Vĩ nữa mà trở lại vớinơi tồn tại của chính minh, về với lãnh cung của sự chia lia, bất hạnh, nơi “không có niềm trăng và ý nhạc”.Khác hẳn với NGOÀI KIA là một thế giới vui tươi đầy sức sống, TRONG NÀY là một thế giới đầy tuyệtvọng, đau thương bởi “sương khói mờ nhân ảnh” (Màu sương khói làm mờ bóng người) Cái màu “sươngkhói” trong câu thơ phải chăng là tinh cảnh ốm đau, bệnh tật, là bức tường ngăn cách hai thế giới TRONGNÀY (nơi Hàn bị cách li khỏi cuộc sống, cô đơn, lạnh lẽo) và NGOÀI KIA (là cuộc đời vui tươi đầy sức sống

mà thiên nhiên, con người Thôn Vĩ, xứ Huế là hinh ảnh đại diện) làm mờ đi tinh người, hinh bóng của conngười trong cảm nghĩ của thi nhân?

-Khổ thơ kết thúc bằng một câu hỏi tu từ thể hiện trực tiếp tâm sự của nhà thơ với người xứ Huế: “Ai biết tinh ai có đậm đà?” Câu hỏi tu từ thứ ba được tác giả sử dụng trong thi phẩm vang lên khắc khoải đã thể hiện một mối băn khoăn, hoài nghi của thi nhân Đại từ phiếm chỉ “ai” được láy lại tài tinh đã mở ra hai ý nghĩa cho câu thơ: Nhà thơ làm sao mà biết được tinh người xứ Huế có đậm đà không, hay cũng mờ ảo, dễ có chóng tan như sương khói kia Và người xứ Huế có biết chăng tinh cảm của nhà thơ với cảnh và người Huế hết sức thắm thiết, đậm đà? Cả hai cách hiểu trên đều có thể chấp nhận vi dù hiểu theo nghĩa nào thi câu thơ cũng thể hiện tinh cảm tha thiết của thi nhân với cảnh và người xứ Huế, cũng chỉ làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời Câu thơ chính là câu trả lời cho câu hỏi được đặt ra từ đầu bài thơ “ai biết tinh ai có đậm đà” mà về chơi thôn Vĩ.

Tóm lại, được sáng tạo từ một hồn thơ yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, yêu con người tha thiết, được thể hiện bằng một hinh thức nghệ thuật độc đáo với trí tưởng tượng phong phú, với những hinh ảnh sáng tạo, sự hòa quyện giữa hai yếu tố thực và ảo, Đây thôn VD không chỉ thể hiện cái tinh của nhà thơ với cảnh và người VD nói riêng và xứ Huế nói chung mà còn thể hiện sâu sắc lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt của thi nhân Đọc thi phẩm, ta càng cảm phục hơn một con người đầy tài năng và nghị lực đã vượt lên

Ngày đăng: 12/09/2015, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w