PHẦN LÍ THUYẾT Số tiết Chương 1. CÁC NHÓM ĐẤT CHÍNH VÀ LƯỢC SỬ SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 6 1.1. Các nhóm đất chính 1.1.1. Đất cát biển 1.1.2. Đất mặn 1.1.3. Đất phèn 1.1.4. Đất glây 1.1.5. Đất than bùn 1.1.6. Đất đá bọt 1.1.7. Đất đen 1.1.8. Đất nâu vùng bán khô hạn 1.1.9. Đất tích vôi 1.1.10. Đất có tầng sét loang lổ 1.1.11. Đất pốt dôn 1.1.12. Đất xám 1.1.13. Đất đỏ 1.1.14. Đất mùn alit trên núi cao 1.1.15. Đất xói mòn trơ sỏi đá 1.2. Lược sử về sử dụng đất 1.2.1. Trên thế giới 1.2.2. Ở Việt Nam Chương 2. HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 6 2.1. Hệ thống 2.1.1. Khái niệm hệ thống 2.1.2. Những đặc điểm chủ yếu của hệ thống 2.1.3. Một số mô hình hệ thống 2.2. Hệ thống sử dụng đất đai 2.2.1. Khái niệm 2.2.2. Một số hệ thống sử dụng đất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA ĐỊA LÝ - QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
ĐÀO KHANG
BÀI GIẢNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT
VINH 2015
Trang 2MỘT SỐ THỎA THUẬN/QUY ĐỊNH GIỮA ĐÀO KHANG VÀ SV
1 Trách nhiệm của GV:
- Phát ĐC chi tiết: Phát cho SV ở tiết học đầu tiên, SV dựa vào đó để chuẩn bị trước bài học
ở nhà
- Thống nhất với SV về cách gọi tên: Gọi theo số thứ tự trong danh sách
- Thống nhất với SV về điểm chuyên cần, thái độ:
Mỗi SV được cho điểm nền là 7 Dựa vào kết quả học tập trong kỳ học để cộng thêm hay trừ bớt để có điểm chuyến cần, thái độ chính thức
* SV chưa chuẩn bị bài nếu báo trước sẽ bị 1 dấu trừ (-); nếu không báo mà sau đó bị
phát hiện sẽ bị 2 dấu trừ ( ) Nội dung nào đã được trình bày đầy đủ trong học liệu chính mà
SV vẫn hỏi, cũng bị 2 dấu -
* SV đã chuẩn bị bài, đăng ký câu hỏi yêu cầu giải đáp thì báo để GV ghi lên bảng (sốthứ tự và nội dung câu hỏi) Mỗi câu hỏi mà trong học liệu chính chưa giải đáp đầy đủ sẽđược 1 dấu +
Mỗi SV được hỏi nhiều câu nhưng tối đa chỉ được 2 dấu cộng/buổi học) SV khôngđăng ký mà có câu hỏi thì được giải đáp nhưng không được dấu + SV đăng ký nhưng không
đưa ra câu hỏi sẽ bị 1 dấu - (chưa chuẩn bị nhưng xí chỗ)
SV giải đáp được một câu hỏi ghi trên bảng sẽ được 1 dấu cộng
SV vắng 1 buổi bị 2-; chậm hoặc vắng có lý do (có xác nhận của bệnh viện hoặc củađịa phương) bị 1-
SV có hành vi quấy rối sẽ bị đánh dấu VKL và bị trừ 3 điểm vào điểm nền 7.0
GV chú ý ưu tiên/quan tâm đến những SV có nhiều dấu trừ để tăng cường kiểm tracác kỹ năng (Đây là các biện pháp đối với học sinh Tiểu học nhưng thực tế vẫn phải áp dụngđối với SV)
Mỗi dấu (-) sẽ bị trừ 0,5 điểm, mỗi dấu (+) sẽ được cộng 0,5 điểm Lấy điểm nền là
7.0 rồi cộng, trừ các các dấu +, - nói trên sẽ cho ra điểm chuyên cần-thái độ chính thức (hệ số
1)
- Thống nhất với SV về điểm giữa kỳ
GV yêu cầu SV chọn 1 đề tài theo chủ đề môn học để tập kỹ năng nghiên cứu
khoa học Gợi ý SV chọn đề tài mà SV sẽ tiếp tục nghiên cứu để trở thành đồ án tốt
nghiệp hoặc đề tài sinh viên NCKH.
2 Trách nhiệm của SV:
- Tự học: SV nghiên cứu bài học từ ở nhà, để đến lớp trao đổi, yêu cầu GV giải đáp những
vấn đề SV cần nắm vững, SV có trách nhiệm xây dựng bài học, tham gia giải đáp các câu hỏicủa người khác
- Tự rèn luyện kỹ năng tự học: SV biến kiến thức của người khác (trong tài liệu) thành kiến
thức của mình (được biên tập lại theo nhận thức của SV)
SV phải có vở tự học: Trang bên phải ghi phần Chuẩn bị bài ở nhà (Biên tập lại kiến thức theo cách hiểu của SV-Như vở Soạn văn ở phổ thông); trang bên trái gồm 2 nội dung: 1.Những vấn đề SV chưa hiểu để đến lớp yêu cầu giải đáp, 2 Kiến thức bổ sung ở lớp (lĩnh hội được ở lớp qua giải đáp của GV, giống như vở Chữa bài tập ở phổ thông)
Trang 3Chương trình đào tạo trình độ đại học Ngành đào tạo: KS Quản lý Tài nguyên - Môi trường
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC
1 Họ và tên giảng viên
Đào Khang;
- Chức danh, học hàm, học vị: Phó Giáo sư, Tiến sĩ.
- Hướng nghiên cứu chính: Đánh giá - Quy hoạch - Sử dụng đất đai đồi núi.
Dân tộc - Miền núi miền Tây Nghệ An.
Môi trường - Phát triển bền vững.
- Địa chỉ, điện thoại: Khoa Địa lý, Trường Đại học Vinh.
6 Giờ tín chỉ đối với các hoạt động:
+ Trên cơ sở kiến thức đã học, người học có khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá các vấn đề liên quan đến khoa học Quản lý nói chung, Quản lý đất đai nói riêng.
- Thái độ
Chương trình có nội dung kiến thức về đất đai - tài sản quốc gia, tư liệu sản xuất của các ngành kinh tế Nông, Lâm, Ngư nghiệp là những ngành đang chiếm tỉ trọng cao ở Việt Nam và Quản lý đất đai luôn là vấn đề nhạy cảm ở tất cả các quốc gia, các thời đại T ừ đó giáo dục người học
có trách nhiệm với công việc của bản thân.
8 Mô tả vắn tắt nội dung môn học
- Hệ thống và sử dụng đất như một hệ thống.
- Các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất.
- Các nhóm đất chủ yếu.
- Chính sách về sử dụng đất.
- Quy hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia.
9 Nội dung chi tiết môn học
Trang 41.1.14 Đất mùn alit trên núi cao
1.1.15 Đất xói mòn trơ sỏi đá
TÍN CHỈ 2 QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
(Lí thuyết: 12, Thảo luận: 3)
PHẦN LÍ THUYẾT
Chương 3 KỸ THUẬT SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG 4 3.1 Khái niệm về tính bền vững
3.2 Hệ thống sử dụng đất bền vững
3.3 Biện pháp sử dụng đất tổng hợp bền vững
3.4 Kỹ thuật sử dụng đất bền vững
3.5 Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững và kỹ thuật sử dụng đất
Chương 4 QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIAO ĐẤT CÓ SỰ THAM GIA 4 4.1 Khái niệm
4.2 Nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia
4.3 Phương pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia
4.3.1 Khái quát
4.3.2 Đặc điểm và tính chất quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô
4.3.3 Tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia
4.3.4 Giám sát và đánh giá quy hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia
Chương 5 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM 4 5.1 Lược sử quản lý đất đai ở Việt Nam
5.1.1 Thời phong kiến
5.1.2 Thời Pháp thuộc
5.1.3 Thời ký trước đổi mới
5.1.4 Thời kỳ đổi mới
Trang 55.3.2 Một số chính sách cơ bản trong quản lý đất đai
5.3.3 Cơ cấu tổ chức quản lý sử dụng đất đai
PHẦN THẢO LUẬN
Những khó khăn trong sử dụng đất đảm bảo tính bền vững ở địa phương bạn ?
10 Học liệu
1 Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1995) Phát triên hệ thống canh tác NXB Nông nghiệp
2 Cao Liêm, Trần Đức Viên (1990) Sinh thái học nông nghiệp và bảo vệ môi trường NXB ĐH
và THCN
3 Luật đất đai 1993
4 Nguyễn Xuân Quát (1994) Sử dụng đất bền vững NXB Nông nghiệp
5 Nghị định 61.1/CP ngày 27/9/1993; Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994; Nghị định 01/CP ngày 01.1/01/1995 của Chính phủ về giao đất Nông nghiệp, đất Lâm nghiệp và giao khoán đất.
6 Đào Thế Tuấn (1997) Kinh tế hộ nông dân NXB Chính trị Quốc gia.
1 So sánh đặc điểm đất cát biển với đất mặn và đất phèn.
1.1.11.1 Đất mùn alit trên núi cao
1.1.15 Đất xói mòn trơ sỏi đá
Đọc 1 (50-61.1) Câu hỏi:
Phân tích vai trò của độ cao, khí hậu đối với sự hình thành các loai đất.
Đất trên thế giới và ở Việt Nam đang bị suy giảm về số lượng và chất lượng như thế nào?
Tại sao khi nghiên cứu và sử dụng bất kỳ một hệ thống nào cũng cần quan tâm đến tất cả các hợp phần của hệ thống?
6 TL(3 Xây dựng mô hình sử dụng đất hợp lý và hiệu quả ở địa phương bạn 7,8
Trang 61 Vai trò của sử dụng đất bền vững?
2 Tại sao phải sử dụng đất theo hướng bền vững?
Phân tích ý nghĩa của kỹ thuật sử dụng đất bền vững.
Chương 4 QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ
GIAO ĐẤT CÓ SỰ THAM GIA
4.1 Khái niệm
4.2 Nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng
đất và giao đất có sự tham gia
4.3 Phương pháp thực hiện quy hoạch sử
dụng đất và giao đất có sự tham gia
4.3.1 Khái quát
Đọc 1 (100-108) Câu hỏi:
Tại sao nói: quy hoạch sử dụng đất
là vấn đề then chốt trong quy hoạch phát triển SX Nông Lâm nghiệp?
4.3.3 Tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng
đất và giao đất có sự tham gia
4.3.4 Giám sát và đánh giá quy hoạch sử
dụng đất và giao đất có sự tham gia
Đọc 1 (108-118) Câu hỏi:
Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất cấp xã?
DỤNG ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
5.1 Lược sử quản lý đất đai ở Việt Nam
5.1.1 Thời phong kiến
5.1.2 Thời Pháp thuộc
5.1.3 Thời ký trước đổi mới
5.1.4 Thời kỳ đổi mới
1 Nhận xét về tình hình quản lý đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ.
2 Luật đất đai năm 1993 có những hạn chế gì?
12 Quy định đối với môn học và yêu cầu của giảng viên
- Dự lớp: Tuân thủ theo quy chế 43 và các quy định đối với hình thức đào tạo theo tín chỉ, tối
thiểu có mặt ở lớp 36 tiết (80% số tiết có trong học phần) Số tiết vắng sẽ là một trong những căn cứ
để giáo viên cho điểm "Thái độ, chuyên cần".
- Thảo luận: Các buổi thảo luận, bài tập phải có bài chuẩn bị trước từ ở nhà, cuối buổi nộp lại
để giáo viên chấm Điểm của các bài thảo luận, bài tập là một trong những căn cứ để giảng viên cho điểm "Giữa kỳ".Nếu thiếu điểm giữa kỳ có thể được kiểm tra lại
Trang 7- Thi kết thúc học phần: Thi viết 90 phút
- Dụng cụ học tập: Theo yêu cầu cụ thể của giáo viên trong buổi học đầu tiên.
13 Phương thức kiểm tra đánh giá kết quả môn học:
- Theo Quy chế 43 và các quy định đối với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ:
Trang 8Chương 1 CÁC NHÓM ĐẤT CHÍNH VÀ LƯỢC SỬ SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 1.1 Các nhóm đất chính
Thuộc hệ đất phù sa
1.1.1 Đất cát biển (C ) - Arenosols (AR)
1.1.1.1 Cồn cát trắng vàng (Cc) - Luvic Arenosols (Arl) Diện tích: 222.043 ha
Đất cồn cát trắng vàng thường phân bố ở sát biển, có nơi vào sâu bên trong,
chạy dọc theo bờ biển và xen với các dải cát biển như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng
Nói chung cồn cát vàng ít chua, rời rạc, độ phì nhiêu thấp, giữ nước, giữ màu
kém, có nơi vẫn còn được tiếp tục bồi đắp Hiện tại phần lớn đất trồng phi lao, cỏ để cố
định cát, những cồn cát sâu trong đồng được sử dụng trồng màu, cây họ đậu Ở đồngbằng sông Cửu Long, cồn cát là nơi phát triển khu dân cư, rau màu, hoa quả, vườn cây.Hướng chính là phát triển các dải rừng ven biển: phi lao, keo lá tràm, kết hợp trồng cỏcho chăn nuôi, phát triển một phần rau màu, cây họ đậu Nguồn lợi chính là cỏ, gỗ, củi,kết hợp một phần cây lương thực
1.1.1.2 Đất cồn cát đỏ (Cđ ) - Rhodic Arenosols (ARr) Diện tích: 76.886 ha.
Đất cồn cất đỏ tập trung chủ yếu là ở tỉnh Bình Thuận Cồn cát đỏ thường cố định,tập trung thành dải cao có khi tới 200 m, không còn được tiếp tục bồi đắp Cồn cát đỏthường có tỉ lệ sét cao hơn cát trắng vàng (sét vật lý khoảng 10%) Đất thường nghèomùn, các chất dinh dưỡng, các cation kiềm trao đổi Đất chua, độ no bazơ thấp, mức
độ phân giải chất hữu cơ trong đất mạnh
Phần lớn đất cồn cát đỏ ở Việt Nam còn bỏ hoang, một số nơi đã khai phá trồnglạc, đậu đen, đậu xanh, vừng, dưa hấu, thầu dầu, đào lộn hột, mãng cầu, mít, bông Nhìn chung đất này nên sử dụng cho nông lâm nghiệp, trồng cây chắn gió, câylấy gỗ, bảo vệ diện tích đất nông nghiệp, nơi tưới nước được thì trồng lúa, nơi khôngtưới được thì trồng rau màu
1.1.1.3 Đất cát biển (C) - Haplic Arenosols (ARh) Diện tích: 234.505 ha.
Loại đất này phân bố ở địa hình bằng, được hình thành chủ yếu do quá trìnhbồi lắng của phù sa sông và biển trong quá trình lấn biển; tập trung chủ yếu từ ThanhHóa đến Bình Thuận, tạo thành các dải rộng hẹp khác nhau; màu trắng hoặc trắngxám; thường có hạt thô, phân lớp rõ Các đụn cát được hình thành do biển có cấp hạtnhỏ hơn và phân lớp không rõ Một số vùng như Quỳnh Lưu, Diễn Châu (Nghệ An)đất có nhiều vỏ sò, hến, phản ứng đất trung tính hoặc kiềm yếu
Phần lớn đất cát biển ở Việt Nam còn bỏ hoang
1.1.2 Đất mặn (M) Salic Fluvisols (Fls)
Đất mặn có thể xem là một đối tượng quan trọng của nông lâm nghiệp trongviệc phát triển rừng ngập mặn để chặn sóng biển, tạo ra các vùng đất ổn định ở vùngven biển, góp phần không nhỏ vào việc quai đê lấn biển, làm tăng diện tích đất nôngnghiệp cho vùng đồng bằng ven biển Điều này được thực hiện khá tốt ở một số tỉnhmiền Bắc như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa Một số nơigần như đã có quy trình diễn biến trong việc sử dụng đất đai một cách khá rõ ràng ỞNam Định, Ninh Bình, người ta trồng sú vẹt ở những nơi đất có thủy triều lên xuốngđều đặn, có độ sâu tầng đất và hàm lượng sét vừa phải Khi vẹt lên tốt, ổn định, nôngdân kết hợp rừng vẹt với kinh doanh tôm Việc làm các vuông tôm, rừng vẹt bị giảmsút chất lượng một cách nghiêm trọng Do vậy, người ta lại tiếp tục trồng vẹt lấn raphía ngoài biển, đồng thời quai đê bao chỗ đất đã ổn định lại để chuẩn bị trồng cói.Trồng cói được một thời gian, khi độ chua, mặn của đất và nước giảm đến mức có thểtrồng lúa được, thì bắt đầu trồng lúa Cứ như vậy, người dân ven biển có được diện
Trang 9Quỹ đất ngập mặn lớn nhất ở Việt Nam là Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt
là tỉnh Cà Mau Nơi đây, rừng đước có thể xem là cuộc sống của đồng bào ven biển.Rừng đước cung cấp hệ sinh thái, cung cấp gỗ củi, gỗ gia dụng, gỗ làm nhà v.v…
Ngày này, ngoài việc kinh doanh rừng đước, nông dân còn phải sản xuất kinhdoanh thủy hải sản và là một trong nguồn lợi lớn của người dân địa phương Nhưngvấn đề cần phải nghiên cứu là làm thế nào tạo ra một hệ sinh thái bền vững giữa kinhdoanh rừng đước và kinh doanh thủy hải sản một cách hiệu quả nhất
Đất mặn được chia làm 2 loại chính: đất mặn sú vẹt và đất mặn kiềm
Đất mặn sú vẹt được phân bố ở các cửa sông từ Bắc chí Nam Đất này thường có
độ pH từ 4,8 đến 7,7, khá giầu chất hữu cơ, thành phần cơ giới nặng, thường có glây
Đất mặn kiềm là loại đất khô và bán khô, độ pH xấp xỉ 9, sở dĩ như vậy vìtrong đất chứa nhiều Na2CO3 và NaHCO3
1.1.3 Đất phèn (S) Thionic Fluvisols (Flt)
1.3.1 Đất phèn tiềm tàng (Sp) - Proto - Thionic Glaysols (FLtp) Diện tích: 652.244 ha.
Đất phèn thường nghèo dinh dưỡng, chua, có các loại cỏ năn, lác mọc Một sốnơi cấy lúa nhưng năng suất không cao
1.1.3.2 Đất phèn hoạt động (Sj) - Orthi Thionic Fluvisols (Flto) Diện tích: 1.210.884 ha.
Nhìn chung đây là loại đất có độ phì nhiêu khá cao Hàm lượng chất hữu cơkhá, đạm tổng số khá Đất rất chua (pH khoảng 3,0 đến 3,5), vì trong đất có hàmlượng Al3+ và SO42- lưu động cao Cũng vì lí do đó nên mức độ phân giải của các hợpchất hữu cơ thấp (tỉ lệ C/N cao) Đất nghèo lân cả tổng số và dễ tiêu Thành phần cơgiới của đất nặng Phần lớn đất phèn đã được khai thác để trồng lúa, nhiều nơi trên đấtnày đã trồng cây lâm nghiệp
Miền Nam có diện tích đất phèn lớn hơn so với miền Bắc Vùng Đông Nam Bộrừng tràm rộng lớn được phát triển trên đất phèn Đây có thể xem là một vùng sinhthái đặc biệt có một không hai ở Việt Nam Rừng tràm không chỉ cho gỗ củi mà còn lànơi sinh sống của rất nhiều loài động thực vật khác nhau, tạo nên một quần thể rất tựnhiên vô cùng phong phú Chim, thú, tôm, cá, các loài bò sát ở nơi đây rất dồi dào
Ở miền Bắc, đất phèn được tìm thấy tại khu vực ven biển thuộc các tỉnh HảiPhòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa với diện tích không lớn
- Đất glây chua (GLc) - Dystric Gleysols (GLd)
- Đất lầy (GLu) - Unbric Gleysols (GLu)
1.1.4.1 Đất glây chua (GLc) Diện tích: 350.568 ha
Đất có phản ứng rất chua, pHKCL 3,2-4,0 ở tầng đất mặt Hàm lượng mùn trungbình (2,39 - 2,66%) Đạm tổng số trung bình (0,15%) Lân tổng số từ rất nghèo đếnhơi nghèo (0,02-0,09%) Ka li tổng số trung bình (0,78-1,18%) Các chất dễ tiêu đềunghèo: lân 0,6 - 4,8 me/100g đất, ka li 2,6 - 10 me/100g đất Tổng số cation kiềm traođổi (Ca++ + Mg++) trong đất thấp (< 6 me/100g đất) Khả năng trao đổi cation thấp (11
- 17 me/100g sét)
Đất này thường có thời gian ngập úng trên 6 tháng trong năm Thường chỉtrồng 1 vụ lúa, năng suất thấp và bấp bênh Để nâng cao năng suất, cần chuyển hướngtheo hướng đa canh (kết hợp cấy lúa với nuôi trồng thủy sản, nuôi vịt) Ở một số vùngchiêm trũng, hệ thống canh tác vừa đưa trên đã mang lại hiệu quả kinh tế cao màkhông đòi hỏi vốn đầu tư lớn để cải tạo đất
Trang 10Biện pháp cải tạo chủ yếu là tiêu nước và bón vôi, lân nung chảy, ka li, làm đất
ải, tơi xốp Nếu cải tạo khó khăn, cần chuyển sang đa canh: nuôi trồng thủy sản, nuôivịt kết hợp với cấy giống lúa chịu chua và ngập úng
Hiện nay một số nơi như Hải Phòng đã và đang sử dụng đất này khá hiệu quảbằng cách tạo ra một hệ thống canh tác gọi là “ruộng mô” Nội dung cơ bản của ruộng
mô là trong thửa ruộng trồng các cây rau màu hoặc lúa nước, nông dân đắp các mô đấtcao hẳn lên so với mặt ruộng Trên các mô đất này, tiến hành trồng các loại cây ăn quảthích hợp Nghĩa là đồng thời, và có thu hoạch từ các loại cây ngắn ngày (rau màuhoặc lúa nước), vừa có thu nhập từ các giống cây dài ngày, tuy nhiên nguồn thu từ cáccây dài ngày vẫn là chủ yếu Kiểu hệ canh tác này làm cho năng suất của từng loàiriêng biệt tăng hơn so với trồng đơn lẻ
1.1.5 Đất than bùn (T) Histosols (Hs) Diện tích: 24.941 ha
Đất than bùn tập trung ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Kiên Giang, CàMau, Bạc Liêu) Đất được hình thành ở địa hình thấp trũng, thực vật phát triển mạnh,sau khi chất, chúng tích lũy lại thành lớp dầy, có khi hàng mét
Đất chua, độ pH từ 3,0 đến 4,0; tỉ lệ C/N rất cao; độ no bazơ thấp, khả nănghấp thụ cation thấp
Hàm lượng các bon trong than bùn khá cao, phần lớn > 20%, hàm lượng đạmtổng số thay đổi tùy theo chất lượng đất than bùn, trung bình 0,2 - 0,8%, có khi > 1%,lân tổng số rất nghèo (0,05%)
Đất than bùn đang được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau Có nơi lênluống trồng rau, sắn, dứa Than bùn còn được khai thác làm chất đốt, làm phân bón.Than bùn dưới rừng tràm còn là nơi dự trữ nước ngọt phục vụ đời sống và sản xuất Nói chung đây là loại đất có độ phì tiềm tàng cao, nó sẽ có vai trò quan trọngsau khi đã được cải tạo, đặc biệt là về chế độ nước và độ chua Bởi vậy, thủy lợi vàthau chua là 2 vấn đề cốt yếu đối với đất đai vùng này
Thuộc hệ đất feralit
1.1.6 Đất đá bọt (RK) - Aldosols (AN) Diện tích: 171.402 ha
Đất đá bọt tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Đất có màu đen hoặc nâu thẫm trên đá bọt Bazan Tầng đất thường mỏng, nhiều
đá lộ, lượng mùn cao, CEC cao, V cao, nhiều đá lẫn Các cây trồng đều có thể sinhtrưởng tốt và cho năng suất cao trên loại đất này Hình thái phẫu diện phổ biến: A,C.Tổng Ca, Mg trao đổi cao, lân tổng số tầng mặt giàu, tuy nhiên lân dễ tiêu vẫn thiếu
1.1.7 Đất đen (R) - Luvisols (LV)
Diện tích: 112.939 ha
Đất được hình thành ở địa hình cao, thường là trên đá vôi và đá bazơ, siêubazơ Bởi vậy trong đất thường đồng thời có 2 quá trình xảy ra: quá trình tích lũy chấthữu cơ và quá trình tích lũy các chất kiềm Nhóm chất Luvisols có tầng B argic, độ nobazơ > 50% trong suốt tầng B argic cho đến 125cm
1.1.7.1 Đất đen cacbonat (Rv) - Calcic Luvisols (LVk)
Trang 11Đất được hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá vôi, phân bố chủ yếu ở cáctỉnh phía bắc như Cao Bằng , Hòa Bình, Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang Đây làmột loại đất tốt Tầng đất mặt có kết cấu viên hạt, độ xốp thuận lợi cho sự sinh trưởng vàphát triển của nhiều loại cây trồng Khả năng thoát nước của đất tốt, giữ nước khá.
1.1.7.2 Đất nâu thẩm trên Bazan (Ru) - Chromic Luvisols (LVx)
Đất có mặt giầu mùn, phản ứng chua hơn so với loại trên Tầng mặt tơi xốp, đất
có kết cấu viên hạt Độ dày tầng đất lớn hơn so với loại trên
1.1.8 Đất nâu vùng bán khô hạn (XK) - Lixisols (LX) Diện tích: 42.330
Nhóm đất nâu vùng bán khô hạn được hình thành trong điều kiện khí hậu khôhạn Nó tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, có lượng mưa 600-1200mm Số ngày mưa trung bình năm từ 50-70 ngày/năm Mùa khô kéo dài từ 6-9tháng Lượng bốc hơi trung bình năm là 1731 mm, cao hơn hẳn lượng mưa Do đặcđiểm khí hậu như vậy đã tạo nên một số đặc điểm của một số quá trình sau đây:
+ Quá trình rửa trôi xói mòn các chất ít xảy ra
+ Có quá trình tích lũy các cation Kiềm, Sắt, Nhôm trong đất được thấy rõ ràng
ở tầng tích tụ (B)
Do vậy đất có phản ứng trung tính ít chua, mức độ bão hòa Bazơ khá cao (>85%).Thảm thực vật tự nhiên rất đặc trưng cho vùng bán khô hạn, thường là rừngthưa, có nhiều cây họ Dầu, Cà Chắc, Chiêu Liêu, Ngành Ngạnh, nhiều loại cây thângai như Chim Chích, Mọt Chích…
1.1.8.1 Đất đỏ vùng bán khô hạn (XKđ) - Chromic Lixisols (LXx) Diện tích: 2.230 ha.
Đất đỏ vùng bán khô hạn phân bố chủ yếu ở vùng ven thị xã Phan Rang, ThápChàm tỉnh Ninh Thuận Loại đất này được hình thành trên đá macma trung tính.Những loại đá này chứa nhiều các cation Kiềm hóa trị 2, nên rất giàu kiềm Do ít mưa,
ít bị rửa trôi, nên đất có độ pH cao Màu đất đỏ, thành phần cơ giới sét pha cát, đấtthường cứng, chặt
Trên đất này có thể trồng một số cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như nho,thanh long, một số cây công nghiệp như Thuốc lá v.v…
Nước là vấn đề mấu chốt khi sử dụng loại đất này
1.1.8.2 Đất nâu vùng bán khô hạn (XK) - Haplic Lixisols (LXh) Diện tích: 40.100 ha.
Đất nâu vùng bán khô hạn phân bố ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận
Về điều kiện hình thành và tính chất tương tự loại trên, nhưng do chủ yếu đượchình thành trên đá mẹ giàu thạch anh, phù sa cổ, nên thành phần cơ giới thô hơn Do
điều kiện khô hạn, rất ít bị rửa trôi, nên đất có độ pH cao, giàu kiềm.
1.1.9 Đất tích vôi (V) - Calcisols (CL) Diện tích: 5.527 ha.
1.1.9.1 Đất vàng tích vôi (V ) - Haplic Calcisols (CLh)
Đất vàng tích vôi được hình thành ở thung lũng đá vôi, xung quanh núi đá vôi
khép kín, địa hình khó thoát nước, nguồn canxi luôn được cung cấp nên đất giàucanxi Tuỳ thuộc vào vị trí địa hình mà hàm lượng canxi rất khác nhau Ở những chỗthấp nhưng không đọng nước, thường hàm lượng Cation canxi rất cao Ngược lại, ởnhững chỗ cao, do bị rửa trôi mà hàm lượng canxi giảm nhiều Ở những chỗ trũng,thường phát hiện có glây, hoặc tầng đất loang lổ do có thời gian ngập nước và thờigian khô hạn xen kẽ Khí hậu thường có hai mùa rõ rệt (mưa và khô) Kết von vôithường có đường kính rất khác nhau (từ vài mm đến vài cm) Màu sắc chủ yếu là vàngnhạt hoặc xám vàng pHKCl thường từ trung tính đến kiềm yếu Tuy nhiên có nhữngnơi do bị rửa trôi quá mạnh, đất có phản ứng chua vừa
1.1.9.2 Đất nâu thẫm tích vôi (Vu ) - Luvic Calcisols (CLl)
Đất này thường được hình thành trên các loại đá mẹ không phải đá vôi Chúng
có thể là các loại đá như phiến thạch sét, sa thạch, biến chất hoặc macma Những vùng
Trang 12đất này thường xen kẽ với những vùng núi đá vôi và nằm ở những vị trí thấp hơn sovới núi đá vôi Các sản phẩm phong hoá của đá vôi thường xuyên trôi xuống các vùngthấp, làm cho các loại đất này “tích vôi” Màu thường nâu sẫm, nâu vàng có kết vonsắt, mangan Phân đạm thường ít có tác dụng với loại đất này, trừ sunphat đạm Nóichung đất này nên bón lân.
1.1.10 Đất có tầng sét loang lổ (L) - Plinthosols (PT)
Đất có tầng sét loang lổ phân bố ở những vùng mà quá trình Feralit khá rõ ràng, sựtích lũy sắt và nhôm khá phổ biến, mùa khô và mùa mưa tách biệt Mùa mưa, các hợpchất sắt, nhôm di chuyển xuống dưới sâu; mùa khô, chúng lại di chuyển từ dưới lên trêncùng với sự vận chuyển của nước Khi lên đến tầng đất mặt, nước bay hơi, để lại mộtlượng muối khoáng đáng kể, một trong số những muối khoáng này là sắt Khi còn ởdưới sâu, sắt ở dạng khử (Fe++) Lên đến các tầng đất mặt, Fe++ sẽ tiếp xúc với oxi vàbiến thành Fe+++ Fe+++ dần dần chuyển thành hydroxit và sau đó thành ôxit sắt cómàu đỏ Tuỳ thuộc vào sự dài ngắn tương đối giữa mùa khô và mùa mưa cùng với sựbốc hơi bề mặt nhanh hay chậm, mà Fe+++ được hình thành và tích lũy ở những lớp đấtsâu nông khác nhau, tạo ra các tầng đất loang lổ giữa màu đỏ và màu vàng khác nhau
Đất có tầng sét loang lổ thường phân bố ở những vùng đồi trọc, đất khôngcòn rừng, hoặc những nơi tiếp giáp giữa vùng đồi núi với đồng bằng
1.1.11 Đất Pốt dôn (O) - Podzoluvisols (PD)
Ở vùng nhiệt đới nói chung, Việt Nam nói riêng, quá trình Pốt dôn chỉ đượctìm thấy ở những vùng núi cao trên 1000m Bởi vậy, đất pốt dôn cũng chỉ được tìmthấy ở vùng này Đất này có tầng không dày Trong kết cấu phẫu diện có tầng A2 -một tầng phát sinh đặc biệt đặc trưng của đất pốt dôn Tầng này có màu sáng hơnhẳn so với các tầng xung quanh nó Đất rời rạc, không kết cấu, chua, chứa nhiềucát thứ sinh hạt rất mịn, nghèo dinh dưỡng, nghèo chất hữu cơ, độ ẩm đất cao
1.1.12 Đất xám (X) - Acrisols (AC) Diện tích: 19.970.642 ha
Đất xám phân bố rộng khắp các vùng trung du, miền núi và một phần ởđồng bằng, nơi tiếp giáp với vùng trung du hoặc vùng miền núi Có thể xem nhómđất này là kết quả của sự khai thác đất đai cạn kiệt quá mức, kết quả của sự sửdụng đất đai không hợp lý trong một thời gian quá lâu dài
Đây là nhóm đất có tầng B tích sét (argic) với khả năng trao đổi cation
<24me/100g sét và độ no Bazơ <50%, tối thiểu là ở một phần của tầng B của lớpđất 0 - 120cm
Nhóm đất này gồm 5 loại:
- Đất xám bạc màu (X) - Haplic Acrisols (ACh)
- Đất xám có tầng loang lổ (Xl) - Plinthic Acrisols (ACp)
- Đất xám glây (Xg) - Gleyic Acrisols (ACg)
- Đất xám Feralit (Xf) - Ferralic Acrisols (ACf)
- Đất xám mùn trên núi (Xh) - Humic Acrisols (ACu)
1.1.12.1 Đất xám bạc màu (X) - Haplic Acrisols (ACh) Diện tích: 1.791.021 ha.
Đất xám bạc màu phát triển chủ yếu trên phù sa cổ, đá macma axit và đá cát.
Phân bố chủ yếu ở Đông Nam bộ, Tây Nguyên, Trung du Bắc Bộ
Phản ứng từ chua vừa đến rất chua (pHKcl từ 3,0 đến 4,5), nghèo cation kiềmtrao đổi (Ca+Mg<2mg/100g đất) Độ no bazơ thấp (<50%) Hàm lượng mùn tầng mặt
từ nghèo đến rất nghèo (0,5 đến 1,5%) Mức độ phân giải chất hữu cơ mạnh(C/N<10) Các chất lỏng số và dễ tiêu đều nghèo
Trang 13Tầng B argic có ít nhất 8% sét Hàm lượng sét ở tầng argic phải lớn hơn tầngtrên từ 1,2 lần Đất chua, nghèo dinh dưỡng, thường khô, nhưng lại có giá trị trongnông nghiệp: phần lớn diện tích đất nằm ở địa hình bằng phẳng, thoải, thoáng khí,thoát nước, dễ canh tác và thích hợp với nhiều loại cây trồng cạn Ở các tỉnh ĐôngNam Bộ và Tây Nguyên như Sông Bé, Tây Ninh, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, đấtnày là nơi trung tâm sản xuất lương thực tập trung như ngô, khoai, sắn, lúa cạn.
Ngoài ra, nông dân đã trồng một số cây dài ngày như cao su, điều, phát triển khá tốt
Do rễ cây phát triển sâu, nên cũng đủ ấm cho cây sống và phát triển tốt Trong giai đoạnđầu, dân thường trồng xen các cây họ đậu vừa để tăng thu nhập, vừa để bồi dưỡng đất
1.1.12.2 Đất xám glây (Xg) - Gleyic Acrisols (ACg)
Diện tích: 101.471 ha
Phân bố tập trung ở Trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Đấtchua, pHKcl từ 3,4 - 4,4, nghèo chất hữu cơ, đạm, lân và kali Thành phần cơ giới tầngmặt nhẹ (8-10% cấp hạt sét), xuống tầng sâu hàm lượng sét tăng lên gấp gần 3 lần.Trên loại đất này, dân thường trồng 1 vụ lúa hoặc 1 vụ màu
Ở vùng Đắk Lắk, loại đất này thường có tầng B argic Đất chịu ảnh hưởng củanước mặt và nước ngầm nhiều tháng trong năm Đất có màu xanh xám, mùn khá
Đất chua, tổng số cation Ca và Mg: 4 - 6 me/100g đất
Độ bão hòa bazơ nhỏ hơn 50%
Dung tích hấp phụ < 24 meq/100g sét Đất được sử dụng trồng 2 vụ lúa nước,
là nơi cung cấp lương thực chính của tỉnh Ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như BìnhPhước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, đất thường ở địa hình thấp, giàu hàm lượngchất hữu cơ giàu và đạm nhưng nghèo lân, kali
1.1.12.3 Đất xám Feralit (Xf) - Feralic Acrisols (Acf) Diện tích: 14.789.505 ha.
Đất xám Feralit phân bố hầu khắp cả nước, trong đó:
- Đất xám Feralit phát triển trên phiến sét (Xfs) có diện tích lớn nhất: 6.876.1.130ha
- Đất xám Feralit phát triển trên Macma axit (Xfa): 4.646.476 ha
- Đất xám Feralit trên đá cát (Xfq): 2.651.337 ha
- Đất xám Feralit trên phù sa cổ (Xfp): 455.402 ha
Đất xám Feralit có sự phân hóa về tính chất và độ phì nhiêu theo mẫu chất, đá
mẹ, nhưng đều có đặc điểm chung:
- Chua
- Tầng mặt thường bị xói mòn, rửa trôi nên hàm lượng sét tầng mặt ít hơn tầngsâu và hình thành tầng B Feralit
- Độ no Bazơ thường nhỏ hơn 50%
- Dung tích hấp phụ nhỏ hơn 24 me/100g sét
- Đất hình thành trên đá mẹ thô có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng.Đất hình thành trên đá biến chất có tầng phong hóa sâu và có độ phì cao hơn
- Đất thường phân bố ở độ dốc 8 - 15%
Đất phần lớn đã được khai thác trồng hoa màu, lương thực nên hầu hết khôngcòn rừng; thực vật là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, rải rác Hầu hết diện tích đất được trồngcây lâu năm, nhiều nhất là chè Vùng Tuyên Quang, Yên Bái, trồng mỡ, bồ đề, cung cấp nguyên liệu giấy, cây phát triển tốt
Trên đất này, nhiều mô hình nông trại, vườn rừng phát triển, kết hợp trồng cây
ăn quả như cam ở Hàm Yên - Tuyên Quang, vải thiều, nhãn ở Lục Ngạn - Hà Bắc, Phú
Hộ, Thanh Sơn - Phú Thọ, mận Bắc Hà - Lào Cai, cho hiệu quả kinh tế cao, chấtlượng đất đai ngày càng được phục hồi Các mô hình cà phê, chè, được phát triểnmạnh ở nhiều nơi khác, nhất là từ Nghệ An trở vào Việc phát triển phương thức
Trang 14NLKH, vườn - đồi đã nâng cao hiệu quả sử dụng và cải tạo đất Đây là nhóm đất códiện tích lớn, nếu được quan tâm đầy đủ, sẽ là nguồn lợi lớn cho đất nước.
1.1.12.4 Đất xám mùn trên núi (Xh), HumicAcrisols (ACu) Diện tích: 3.139.285ha.
Đất xám mùn trên núi thường phân bố ở độ cao trên 700m Đất phát triển trênphiến thạch sét, sa thạch, macma axit,… Đặc điểm cơ bản của đất này là có hàm lượngchất hữu cơ và mùn cao: 4-10% CEC của sét ở tầng B đều < 21.1me/100g sét, V <50%
Trên đất này, trước đây chủ yều là rừng tự nhiên Về sau được khai phá thànhrẫy du canh, thảm cỏ Đất ở độ cao >300m khá ẩm, khả năng phục hồi rừng, tái sinhrừng khá nhanh nên hàm lượng chất hữu cơ tầng mặt khá giàu Đất có độ dốc lớn
>20° bị xói mòn mạnh, phần lớn tầng mùn bị rửa trôi Trên loại đất này ở các vùngĐông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên đã có nhiều mô hình NLKH hoặc LNKH; ngoài việcphát triển diện tích rừng, còn làm tăng diện tích cây ăn quả, cây công nghiệp
Việc phòng chống cháy rừng, làm ruộng bậc thang, nghề vườn, chăn nuôi cầnđược phát triển ở đây
1.1.12.5 Đất xám có tầng loang lổ (XL), Plinthic Acrisols (ACp) Diện tích:
22.1360ha
Đất xám có tầng loang lổ phân bố tập trung ở trung du Bắc Bộ.
Đất có thành phần cơ giới nhẹ trên mặt Xuống sâu, ở tầng B tỷ lệ sét tăng độtngột, chặt (dung trọng từ 1,3-1,58, độ xốp thấp 39-47%) Phản ứng đất chua (PHKCl3,5-4,5) Đất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng: mùn <1%, lân tổng số <0,04%, kalitổng số 0,1-0,9% Tổng cation kiềm trao đổi thấp, Ca++ + Mg++< 4me/100g đất Khảnăng trao đổi cation thấp Thường gặp tầng đá ong ở độ sâu nhất định của phẫu diện đất
Đất phân bố ở địa hình cao, khả năng cung cấp nước khó khăn, thành phần cơgiới lớp mặt trung bình; nông dân thường cấy 1 vụ lúa, 1 vụ màu, hoặc làm 2 vụ màu.Vùng đồng bằng sông Hồng có hệ thống tưới tiêu khá hoàn chỉnh, có đủ nước tưới, đãcấy 2 vụ lúa 1 vụ màu
1.1.13 Đất đỏ (F), Ferrasol (FR)
1.1.13.1 Đất nâu đỏ (Fd), Rhodic Ferrasols (FRr) Diện tích: 2.425.288ha
Đất nâu đỏ chiếm 7,7% đất tự nhiên cả nước; phân bố tập trung ở Tây Nguyên,Đông Nam Bộ, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La
Loại đất này được phát triển trên các loại đá mẹ bazơ và trung tính như Bazan,Diabazơ, Gabro, Đá vôi, Porphyrit… Đất có màu đỏ, thoát nước tốt Trong điều kiệnkhí hậu nhiệt đới ẩm, phong hóa mạnh, hàm lượng sét cao, chuyển lớp từ từ, tầng dày,tầng mặt giàu mùn, các tầng B tích lũy sắt, nhôm, và có mùn khá, tơi xốp suốt phẫudiện, CEC thấp (8,9 me/100g sét), BS thấp (<50%), đất chua (pHKCl 3-4,5), dung trọngthấp
Đất nâu đỏ là loại đất quý dùng để phát triển các loại cây có giá trị cao như càphê, cao su, ca cao,… Cần bảo vệ những đặc điểm tốt của đất như giàu mùn, tơi xốp,tầng dày,… khắc phục những nhược điểm như nghèo lân, kali dễ tiêu, khô tầng mặt Khi sử dụng cần chú ý:
- Chống xói mòn, chủ yếu là bằng các băng rừng
- Che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô
- Làm đất tối thiểu để bảo vệ cấu trúc đất
- Bổ sung nguồn phân cân đối, tăng cường phân xanh
Đất nâu đỏ hình thành trên đá vôi ở địa hình Karster phức tạp, chiều hướngphát triền tùy thuộc vào:
- Lượng can xi từ đá mẹ giải phóng ra đất
- Lượng can xi từ đá ở núi cao trôi xuống
Trang 15- Khả năng giữ can xi của địa hình trũng.
Đất nâu đỏ trên đá vôi là đất tốt vì có lượng mùn khá, cấu trúc tốt, đất có phảnứng chua vừa đến ít chua Thích hợp với nhiều loại cây như ngô, đậu tương (CaoBằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang ), gai (Hòa Bình) Khi sử dụng cần chú ýgiữ ẩm và chống xói mòn
1.1.13.2 Đất nâu vàng (Fx), Xanthic Ferralsols(Frx) Diện tích : 421.059 ha.
Loại này tập trung chủ yếu ở Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ
và Tây Nguyên Đất chủ yếu phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá mẹ macmabazơ, trung tính và đá vôi Đất hình thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm, mưa nhiềunên tầng đất thường mỏng, mùn trung bình đến khá, tầng đất hữu hiệu bị hạn chế vì cónhiều kết von (60-70%) ở độ sâu >30cm, hàm lượng sét tăng theo độ sâu khá rõ CECthấp (<16me/100g sét ) BS thấp (<50%) Phản ứng đất chua, nghèo mùn Đạm và ka
li tổng số hơi nghèo lân tổng số trung bình Trong phẫu diện thường có tầng đá ong,hoặc loang lổ đỏ vàng (ở độ sâu 2-3m) Điều này có liên quan đến mạch nước ngầmgần mặt đất Đất thích hợp với nhiều cây trồng cạn, cây ăn quả, cây công nghiệp.Đất nâu vàng trên đá vôi (những loại đá có tầng B feralit) có những đặc điểm sau :
- Tầng dày, trung bình 0,6-1,2 m
- Phân tầng rõ, có đủ A, B, C
- Đất kém tơi xốp hơn đất đỏ Bazan
- Nói chung đất rất chua (pHKCl 4,0-4,5)
Vì độ dày không lớn, độ phì không cao, nên cần coi trọng chống xói mòn, cảitạo đất để sử dụng đất có hiệu quả
1.1.13.3 Đất mùn vàng đỏ trên núi (Fh) - Humic Ferralsols (FRu)
Đất mùn vàng đỏ trên núi phân bố ở độ cao 700 hoặc 900 đến 2000m Khí hậu
lạnh và ẩm hơn vùng dưới, nhiệt độ trung bình năm 15-200C Thảm thực vật nhìnchung còn tốt hơn vùng đồi Địa hình cao, dốc, hiểm trở nên xói mòn mạnh
Đây là loại đất Feralit trên macma bazơ, trung tính và đá vôi, có tầng A xámđen, tơi xốp, giàu mùn (>5%), không có kết von hay đá ong
Đất có phản ứng chua vừa đến ít chua, lân nghèo đến trung bình, kali tổng số trungbình, CEC thấp (<16 me/100g sét), nghèo cation kiềm trao đổi, tỉ lệ limôn/sét < 0,2
1.1.14 Đất mùn Alit trên núi cao (A) Haplic Alisols hay Humic Alisols (ALh)
1.1.14.1 Đất mùn Alit trên núi cao (A) Haplic Alisols hay Humic Alisols (ALh)
Đất mùn Alit trên núi cao thường nằm trên các đỉnh núi cao như Hoàng LiênSơn, Ngọc Linh, Chư Yang Sin ở độ cao tuyệt đối >2.000m Nhiệt độ trung bình năm
<150C Một số ngọn núi phía Bắc mùa đông có tuyết Thực vật thường là đỗ quyên,trúc và một số cây lá kim ôn đới Đá phong hóa yếu, tầng đất mỏng, lẫn nhiều đá vụn.Trên cùng là tầng thảm mục, hoặc lớp mùn thô than bùn Ở đây hình thành mùn là quátrình chủ đạo
Lượng sét <10% và có xu hướng di chuyển xuống dưới
Đất có phản ứng chua (pHKCl 3,9 - 4,1), độ no bazơ thấp (28-43%), giàu mùn vàđạm tổng số (tương ứng 4,8-15% và 0,16-0,32%) Sự tích lũy cation kiềm có liênquan đến lượng mùn cao ở tầng mặt Thành phần mùn chủ yếu là axit Fulvic, càngxuống sâu càng tăng (AH/AF = 0,31-0,57)
Lượng ôxit sắt trong đất thấp, trái lại ôxit nhôm cao Tỉ lệ SiO2/Al2O3 tăng dần
từ 3,4 - 4,86 theo chiều sâu phẩu diện đất, chứng tỏ đất chứa nhiều ôxit nhôm tự do vàSiO2 bị rửa trôi
1.1.14.2 Đất mùn thô than bùn trên núi cao (AT) Histic Alisols (ALu)
Đặc điểm chung giống như loại trên đây
Trang 16Một số đặc điểm riêng: đất được hình thành ở những nơi ẩm độ cao, nhiệt độthấp, thực vật phát triển yếu, chủ yếu là thực vật ưa ẩm (kể cả thực vật ký sinh trênthân cây), khác với các đai nhiệt đới và nhiệt đới ẩm bên dưới Đất bị khống chế bởiquá trình phong hóa rất yếu của đá mẹ và luôn luôn ở môi trường yếm khí nên lên caochỉ thấy tầng hữu cơ than bùn nằm trên tầng đá mẹ phong hóa rất yếu Điển hình củaloại đất này được thấy ở đỉnh Fanxipang, nơi có độ cao 3.11.13m.
1.1.15 Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá (E) - Leptosols (LP) Diện tích: 495.727 ha
Nhóm đất này tập trung ở Tây Nguyên (172.702), Bắc Trung Bộ (184.198 ha),duyên hải Nam Trung Bộ (72.673 ha), trung du và miền núi Bắc Bộ (66.154 ha) Đây là loại đất có độ dày tầng đất bị hạn chế bởi độ sâu đến tầng đá cứng hoặckết von, đá ong liên tục, tầng vật liệu tích vôi cao hay lớp kết gắn chỉ khoảng 30 cm;đất mịn ở tầng 0-75 cm không có tầng B biến đổi
Đây là nhóm đất thường có lớp thực vật thưa thớt, sỏi đá nổi lên mặt, đang bịtác động mạnh của xói mòn, gây hậu quả xấu đối với vùng đất thấp bên dưới Cácchương trình trồng rừng mới giải quyết được một phần nhỏ Đây là đối tượng cần phủxanh sớm, nhưng cần đầu tư cao hơn so với các nhóm đất đồi núi khác
1.2 Lược sử về sử dụng đất
1.2.1 Trên thế giới
Quá trình phát triển nông nghiệp của loài người có thể được chia thành ba giaiđoạn (Cao Liêm, 1990):
- Giai đoạn 1: Nông nghiệp thủ công, cách đây khoảng 14 đến 15 nghìn năm (vào
giữa thời kì đồ đá) Đây là giai đoạn con người vừa mới chuyển từ hái lượm sang chănnuôi, trồng trọt, lao động giản đơn Công cụ sản xuất nông nghiệp nghèo nàn, thô sơ.Con người đầu tư vào sản xuất chủ yếu ở dạng lao động cơ bắp, thủ công, truyền chonhau kinh nghiệm thu được qua lao động
Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp còn chưa rộng rãi, chỉ tập trung ở một sốvùng được xem là “cái nôi” của sự phát triển loài người: vùng Trung Cận Đông, Ấn
Độ, Trung Quốc (M.V Markop, 1972)
Theo Gorman(1969) thì nền nông nghiệp cách đây khoảng 16 đến 18 nghìnnăm Có thể nông nghiệp xuất hiện ở Thái Lan vào khoảng 7000 đến 9000 năm trướccông nguyên
Vùng Tây Á là nơi đầu tiên trồng lúa mì, đại mạch và nuôi cừu, dê vào khoảng6.000 năm trước công nguyên
Vùng Đông Nam Á là nơi đầu tiên trồng lúa nước, nuôi lợn, gà vào khoảng3.000 năm trước công nguyên
Vùng Trung và Bắc Mỹ bắt đầu trồng ngô vào khoảng 6.000 năm trước côngnguyên, bí đỏ vào khoảng 3.000 năm trước công nguyên Cũng ở đây, lần đầu tiên conngười ở đây trồng lạc, sắn, khoai tây (Grigg 1974)
- Giai đoạn 2: Nông nghiêp với các vật tư, kĩ thuật cao, được gọi là giai đoạn cơ giới
hóa nông nghiệp Trong giai đoạn này, con người đầu tư nhiều vào công cụ, kĩ thuậtnhằm tạo ra năng suất cao Thực hiện 5 hóa: cơ khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa,điện khí hóa và sinh học hóa
Do sự tác động ồ ạt, con người đã làm thay đổi tự nhiên một cách đáng kể Phầnlớn người ta nghĩ tới tiềm năng khai thác của thiên nhiên, trong đó chủ yếu là động vật,thực vật, đất đai
Sử dụng nhiều máy móc, con người đã dùng quá nhiều chất đốt, làm ô nhiễm môitrường, đặc biệt là các nhiên liệu thuộc hóa thạch
Trang 17Thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân hóa học, thuốc kích thích đã được sử dụng mộtcách quá nhiều, làm ô nhiễm đến môi trường đất, nước, không khí, nói chung chính làmôi trường sống của chính con người.
Hàng loạt các cánh rừng tự nhiên vùng nhiệt đới vô cùng quý giá về nhiều mặt đã
bị phá hủy Biết bao nhiêu các hệ thống tự nhiên đã bị phá vỡ và cũng biết bao nhiêu
hệ thống mới xuất hiện
Vì những lí do trên, những thiên tai, hạn hán, bệnh dịch, những biến đổi thấtthường về thời tiết, lụt lội, động đất,… đã xuất hiện trong những năm qua Cũng rất tựnhiên, con người đã phá vỡ những cân bằng vốn có của trái đất, theo quy luật nhữngcân bằng khác sẽ được thiết lập Với sự xuất hiện những cân bằng mới, con người phảithích nghi dần nếu như họ còn có thể Tự nhiên vốn rất công bằng và thực hiện rấtđúng những quy luật của nó Ai không tôn trọng tự nhiên, sẽ phải nhận hậu quả
Những năm gần đây, nhiều phản ứng của tự nhiên đã cảnh tỉnh con người, buộc
họ phải có những phương sách, những chiến lược bảo vệ thiên nhiên Có thể xem từ đó
mà giai đoạn 3 ra đời
- Giai đoạn 3: Sản xuất nông lâm nghiệp hệ thống
Sau khi khai thác thiên nhiên một cách quá mức, chỉ cốt lợi nhuận về kinh tế, thiênnhiên đã trả lời, đã phản ứng và làm cho con người gần như thức tỉnh hơn Thế giới và
sự vật luôn luôn tồn tại như một hệ thống Tác động vào khâu này, khâu khác thay đổitheo, kiểu như “dứt dây động rừng” Chặt hết rừng, nước không thấm xuống đất kịp, lũlụt sẽ xảy ra, mặt đất sẽ nóng lên, lạnh đi thất thường, bão giông sẽ dẫn tới Sử dụng quánhiều các chất đốt hóa thạch, các chất hóa học sẽ dẫn tới tần ôzôn bị phá hủy, hiệu ứngnhà kính xuất hiện, Trái Đất nóng lên, băng ở hai cực tan ra, mực nước biển sẽ dâng caonhấn chìm những vùng đất ven biển,… Một chuỗi những ảnh hưởng dây chuyền mangđầy tính hệ thống xuất hiện dài vô tận, và hậu quả của nó sẽ khôn lường
Bởi vậy, những năm gần đây, con người đã biết sử dụng đất bền vững, hợp lý.Người ta đã biết đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai một cách toàn diện, thông qua hiệuquả tổng hợp Một mô hình sử dụng đất có lợi nhuận kinh tế cao, chưa hẳn đã đượcđánh giá cao, mà còn phải xem xét các mặt xã hội, môi trường sinh thái, tính đa dạng,bền vững của nó
Bản thân người sử dụng đất bắt đầu có nhận thức tốt về hệ thống Trong từngquốc gia có những tổ chức giúp sự sử dụng đất hợp lý Trong thế giới lại có những tổchức liên kết các quốc gia và các tổ chức của các quốc gia vào chương trình chung toàncầu Từ đó, sử dụng đất mang tính hệ thống được thiết lập không chỉ ở từng địa phương,
mà cả thế giới Các nước phát triển xây dựng kinh tế, sử dụng đất hợp lý, bền vững, bởimột lẽ tất cả chúng ta đều sống chung trong một ngôi nhà sinh thái “quả đất”
1.1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp nên từ lâu, ông cha ta đã coi đất đai lànguồn sống, là tài sản vô giá Từ thời phong kiến, hai vấn đề “đinh”và “điền” nghĩa làdân số và đất đai đã rất quan trọng Mỗi làng đều có 2 cuốn sổ quan trọng là sổ đinh và
số điền Những người có công, được hưởng chế độ “phong hầu kiến ấp”
Cũng từ xa xưa, dân ta đã có những câu ca dao tục ngữ liên quan tới việc sửdụng đất đai:
Về số lượng/diện tích tài nguyên của đất nước: Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền
Về chất lượng: đất tốt “bờ xôi ruộng mật”, đất xấu: “được mùa đất cát lấy bát màđong”
- Về hiệu quả kinh tế: Nhất trì, nhì viên, tam điền, tứ thổ
Về vai trò của nông nghiệp (liên quan đến sử dụng đất): Nhất sĩ nhì nông, Hếtgạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ
Trang 18Điều đó chứng tỏ nhân dân ta đã có truyền thống canh tác nông nghiệp từ lâuđời, đã có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này Tuy nhiên diện tích đất nước ta quá
bé, dân số quá đông, điều đó càng thúc đẩy chúng ta phải sử dụng đất cho khoa học,hợp lý
Diện tích tự nhiên của Việt Nam khoảng 33.095.700 ha Tính bình quân đầungười khoảng độ 0,38 ha (Niên giám thống kê Việt Nam năm 2011)
Diện tích đất nông nghiệp có 10.126.100 ha (Niên giám thống kê Việt Nam năm2011: Diện tích đất nông nghiệp: 10.126.100 ha, Dân số: 878.400.000 người), do đóbình quân đầu người có khoảng 0,011 ha Trong khi đó bình quân đầu ngươi về đấtnông nghiệp của thế giới khoảng 1,0 ha
Như vậy, quỹ đất nông nghiệp của chúng ta vào loại thấp nhất thế giới
Theo Niên giám thống kê Việt Nam năm 2011-NXB Thống kê 2012:
- Tổng diện tích tự nhiên: 33.095.700 ha
- Đất sản xuất nông nghiệp: 10.126.100 ha (chiếm 30,6%)
- Đất lâm nghiệp: 15.366.500 ha (chiếm 46,4%) Trong đó:
+ Diện tích có rừng:13.388.100 ha (Rừng tự nhiên: 10.304.800 ha; Rừngtrồng: 3.083.300 ha; Rừng trồng mới: 357.100)
Độ che phủ của rừng năm 1990 là 28,38%, năm 1993 là 29,18%, năm 2011 là39,5% ; dự kiến sau năm 2020 sẽ đạt trên 50%
Nhìn chung trong những năm qua, sử dụng đất ở Việt Nam có nhiều tiến bộ,góp phần quan trọng vào việc nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, đóng góp vào sựphát triển của đất nước
Tuy nhiên sức ép về dân số, đời sống còn chưa cao nen việc sử dụng đất cònnhiều vấn đề phải giải quyết Nói chung sự phân hạng đất đai cho toàn quốc còn phảphục vụ tốt cho sản xuất ở mọi góc độ Ở từng nơi, từng vùng người nông dân sử dụngđất chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm, thiếu quy hoạch lâu dài
Việc sử dụng đất bền vững, hệ thống mới chỉ là khởi đầu và phần lớn còn trong
sự suy nghĩ của những nhà khoa học, lãnh đạo, quản lý, chứ đi vào thực tế chưa đượcbao nhiêu Chiến lược sử dụng đất toàn quốc về lâu dài còn nhiều thay đổi
Việc sử dụng đất phải hướng tới tạo nhiều sản phẩm, nâng cao mức sống củangười dân, đa dạng hoá về chủng loại, tăng cường dự trữ, xuất khẩu Trên cơ sở đótăng cao thu nhập, ổn định và phát triển kinh tế, bảo vệ và cải thiện độ màu mỡ củađất, bảo vệ môi trường, xây dựng một nền sản xuất phát triển bền vững
Khai thác triệt để bãi bồi ven biển để trồng rừng ngập mặn và nuôi trồng thuỷsản Diện tích bãi bồi ven biển hiện có khoảng 80 nghìn ha
Bảo vệ và khoanh nuôi diện tích rừng hiện có
Tiếp tục tăng diện tích gieo trồng trong nông nghiệp và tăng cường áp dụng cácbiện pháp sinh học, tưới tiêu, cải tạo đất nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất Cố gắng đadạng hoá cây trồng, vật nuôi, gắn đất với cây con thị trường và môi trường
Trang 19Để đạt được điều đó, một loạt các chính sách, nghị định về sử dụng đất, về vayvốn, về khuyến nông, về khoa học kỹ thuật,… đã được ban hành.
Chương 2 HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
2.1 Hệ thống
2.1.1 Khái niệm hệ thống
Kiến thức về hệ thống là cơ sở để nghiên cứu hệ thống sử dụng đất nói chung,
hệ thống sử dụng đất Việt Nam và hệ thống sử dụng đất ở địa phương nói riêng
Để hiểu khái niệm về hệ thống, trước hết sẽ xét một số trường hợp/hiện tượng
cụ thể Những trường hợp này giúp chúng ta quan niệm về hệ thống một cách đơn lẻ
Từ những quan niệm đơn lẻ đó, có thể tự tập hợp thành khái niệm hệ thống
- Một nguyên tử là một hệ thống
Một nguyên tử gồm hai phần: Hạt nhân nguyên tử và các điện tử quay xungquanh hạt nhân Trong hạt nhân lại có các loại hạt cơ bản: anpha, gamma, beta,nơtron, prôton, chúng có các cách liên kết riêng biệt để tạo ra hạt nhân nguyên tử Cácđiện tử chuyển động xung quanh hạt nhân theo những cách nhất định, tùy thuộc vàobản chất của nguyên tử
Giữa hạt nhân và các điện tử có mối tương tác Nguyên tử vận động theo quyluật vận động của nguyên tử Vận động này chịu sự chi phối của bản chất hạt nhân,các nguyên tử và môi trường mà chúng tồn tại
- Một cái cây là một hệ thống
Cây gồm các bộ phận chính: rễ, thân, lá, hoa, quả
Các bộ phận trong cây có mối quan hệ với nhau và có mối quan hệ với môitrường bên ngoài: môi trường đất (rễ hút nước và chất dinh dưỡng, thải một số chấtvào đất), môi trường không khí (trao đổi CO2 và O2 trong các quá trình quang hợp và
hô hấp), môi trường nước (hút và thải vào môi trường nước trong đất, trong khíquyển),
Cây lấy thức ăn và nước trong đất bằng hệ thống rễ của mình Những chất nàyđược dẫn chuyền lên đến lá thông qua các mạch dẫn của thân cây Thân cây không chỉdẫn thức ăn và nước đi lên, nó còn là bộ phận nâng đỡ toàn bộ tán lá và làm nhiệm vụchuyển nhựa luyện từ lá xuống nuôi sống các bộ phận của rễ Bộ phận của tán lágiống như một hệ thống các nhà máy chế tạo ra các hợp chất hữu cơ cần thiết cho sựsống của thực vật Tại đây các phản ứng quang hợp, phản ứng hô hấp, phản ứng thoátnước, phản ứng tạo các chất vitamin, protein.v.v…được diễn ra một cách nhịp điệutrong sự phù hợp với môi trường xung quanh Hoa và quả là những bộ phận có chứcnăng duy trì nòi giống cho những thế hệ tiếp sau đó
Những cành khô, lá rụng của cây lại rơi xuống đất Tại bề mặt đất chúng lại bịphân giải, biến đổi, tạo nên các chất dinh dưỡng khoáng và những điều kiện vật lý đấtcần thiết cho thực vật
- Giao thông vận tải là một hệ thống
Trong xã hội loài người, có nhiều dạng vận động: vận động trí tuệ, vận động vậtchất, vận động năng lượng, vận động xã hội, vận động cơ học.v.v Giao thông vận tảinói chung cũng là sự vận động Nó tham gia chủ yếu vào sự chuyển dời vị trí từ nơinày đến nơi khác Hiện nay, giao thông vận tải bao gồm các loại: đường bộ, đườngthuỷ, đường không, đường sắt Mỗi loại giao thông có một đặc thù, chức năng riêng,được thực hiện trong một môi trường của chính nó Chúng có thể hỗ trợ cho nhau,nhưng cũng có những tính cách độc lập của riêng mình Trong chừng mực nào đó, nó
có thể thay đổi cho nhau Thí dụ chỉ đơn thuần vận chuyển từ điểm A đến điểm B
Trang 20chẳng hạn Nhưng có những trường hợp chúng không thể thay thế cho nhau Thí dụcần vận chuyển trong một khoảng thời gian ngắn nhất, cần vận chuyển một khối lượngrất lớn, cần ngắm phong cảnh đất nước chẳng hạn Trong một loại giao thông, thí dụđường bộ chẳng hạn lại có nhiều những bộ phận chức năng khác nhau Đường quốc lộ,tỉnh lộ, huyện lộ.v.v các bến xe, cầu phà.v.v…liên kết lại thành một hệ thống giaothông đường bộ Mỗi bộ phận như vậy đảm nhận những chức năng riêng biệt góp phầnlàm cho hệ thông giao thông đường bộ hoạt động
Nếu ngược lại, coi hệ thống giao thông đường bộ chỉ là một bộ phận của giaothông vận tải, thì lúc đó giao thông vận tải lại là một hệ thống bao trùm
Bao quát hơn nữa, giao thông vận tải lại chỉ là một bộ phận chức năng tronghoạt động xã hội
- Sản xuất nông nghiệp là một hệ thống
Thực tế sản xuất nông lâm nghiệp là sự điều khiển một hoặc nhiều hệ thốngsinh thái khác nhau trong cùng một thời gian Nếu coi sản xuất nông nghiệp là một hệthống, lúc đó sản xuất rau màu, sản xuất cây lương thực, chăn nuôi, thuỷ lợi, vậnchuyển, phân bón,… sẽ là những bộ phận chức năng Những bộ phận này đương nhiên
sẽ không thể thiếu được, và chúng có những mối liên hệ rất chặt chẽ Việc làm cho hệthống này hoạt động nhịp nhàng, cân đối, năng suất cao đòi hỏi rất nhiều kiến thứctrong rất nhiều các lĩnh vực và sự phối hợp các kiến thức đó trong từng lĩnh vực Từ đóngười ta đưa ra những quyết định, những tác động vào từng khâu, những mắt xích, ởnhững thời điểm thích hợp để nó tạo ra một kết quả mong muốn Đó là sự điều khiển
- Nông lâm kết hợp là một hệ thống
Nông lâm kết hợp (NLKH) có thể xem là sự sản xuất trong đó có sự phối hợpgiữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất lâm nghiệp, sự sản xuất phối hợp giữa cây ngắnngày và cây lâu năm Sự phối hợp này tạo ra sự đa dạng sản phẩm nói về mặt sản xuất,
đa dạng sinh học nói về mặt sinh thái Những sản phẩm nông nghiệp nói chung thuộcloại ngắn ngày (trừ cây ăn quả, cây đặc sản),, tạo điều kiện thu hoạch thường xuyên để
hỗ trợ cho cây lâu năm Trong khi đó, cây lâu năm đến lúc thu hoạch, sẽ quay lại đầu
tư, nâng cấp cho cây ngắn ngày
Trong NLKH có thể có cả chăn nuôi Chăn nuôi ngoài việc tạo thu nhập về sản phẩm chính, nó còn cung cấp phân bón cho các sản phẩm nông lâm nghiệp
Ngược lại, sản xuất nông lâm nghiệp cung cấp thức ăn, nguyên vật liệu làm chuồng trại, chất đốt cho chăn nuôi
Tất cả những sản xuất đó tồn tại, diễn ra trên một mảnh đất nhất định, chúngliên quan, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau về mọi mặt Có thể nói thay đổi một mặt này sẽdẫn đến mặt khác thay đổi theo Bởi vậy, trong thực tế có muôn vàn các hệ thống nônglâm kết hợp khác nhau, không thể có hai hệ thống nông lâm kết hợp giống nhau hoàntoàn
Nếu ta tách một bộ phận sản xuất nào đó ra khỏi hệ thống NLKH, thì bộ phận
đó cũng sẽ lại hoạt động như một hệ thống mới Giả dụ trong NLKH có ao nuôi cá.Riêng ao nuôi cá có thể xem là một hệ thống sinh thái
Hệ thống là một khái niệm mở Ở phạm vi này, nó là một hệ thống, ở phạm vi
Trang 21vô cùng cả về không gian và thời gian Tuy nhiên trong những môi trường cụ thể, để phục
vụ cho một mục đích nào đó, người ta có thể xác định giới hạn của những hệ thống
Như vậy, hệ thống là một cơ cấu hoàn chỉnh gồm nhiều hợp phần tạo nên mộtcách có tổ chức và trật tự, tồn tại và hoạt động theo những quy luật thống nhất, tạo nênmột chất lượng mới không giống tính chất của từng hợp phần cấu tạo nên hệ thống vàcũng không phải con số cộng của những hợp phần đó
Hệ thống gồm nhiều hợp phần, nhưng nhiều hợp phần chưa chắc đã phải là một
hệ thống khi chúng chỉ là một tập hợp mất trật tự, không có mối tương tác lẫn nhau
2.1.2 Những đặc điểm chủ yếu của hệ thống
- Một hệ thống bao gồm nhiều hợp phần
Hệ thống bao gồm nhiều hợp phần; một hợp phần lại là một hệ thống của cáchợp phần cấp thấp hơn Bản thân hệ thống lại lại là một hợp phần của một hệ thốngcấp cao hơn
Những ví dụ về hệ thống trên đây phần nào đã nói lên điều này Theo chiều mởrộng, mỗi cây lúa, mỗi thửa ruộng, mỗi cánh đồng, mỗi bản làng, mỗi khu vực, mỗivùng sinh thái, mỗi đai khí hậu, cả trái đất, đều là một hệ thống Theo chiều nhỏ đi,cây lúa bao gồm các bộ phận lá, thân, rễ, hoa quả cây lúa là những hệ thống Giới hạncủa hệ thống đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích sử dụng, vào người sử dụng
nó Ví dụ trong sản xuất nông lâm nghiệp các hệ thống có thể rất bé (nông hộ), và cũng
có thể rất lớn (quốc gia)
- Hệ thống có một ranh giới nhất định
Ranh giới của hệ thống được xác định về mặt không gian, thời gian và nhữngđặc thù riêng Ranh giới hệ thống có thể đóng hoặc mở Ranh giới đóng là ranh giới cóthể biểu diễn bằng đường nét rõ ràng và thực tế cũng rõ ràng xác định (ranh giới mộtnông trại, một làng bản) Ranh giới mở không phải lúc nào cũng xác định được thànhnét trên thực tế (ranh giới các vùng sinh thái, ranh giới về vùng phân bố của hệ thựcvật, động vật) Cũng có khi ranh giới của hệ thống chỉ tồn tại trong ý niệm (hệ thốngphi vật chất)
- Hệ thống mang tính chất trọn vẹn
Nhiều hợp phần cấu thành hệ thống, khi tách ra, mỗi hợp phần có thể trở thành một
hệ thống độc lập, nhưng với chất lượng, cách hoạt động khác với trong hệ thống cũ
Một hợp tác xã nông nghiệp có cách hoạt động riêng của nó Mỗi gia đình trong đó
có thể xem là một bộ phận trong hệ thống, nó hoạt động dưới sự điều khiển của hệ thống
Một cành cây là một bộ phận của cái cây Nếu cắt cành cây ra giâm xuống đất,cành cây của một số loài có thể thành một cái cây mới Lúc này cái cành đó đã có sựhoạt động khác với lúc nó còn là một bộ phận của cái cây
- Hệ thống có cấu trúc riêng
Cấu trúc của hệ thống thể hiện tính trật tự, tổ chức, mối liên hệ lẫn nhau Cấu
trúc quyết định chức năng của hệ thống Thay đổi cấu trúc thì chức năng sẽ thay đổi:Nguyên tử Cacbon do có cấu trúc khác nhau mà tạo thành 2 chất hoàn toàn khác nhau
là Graphits (than) và Kim cương Tương tự như thế là Al2O3 Đặc tính này không chỉ
đúng với hệ thống tự nhiên mà đúng cả với hệ thống xã hội (SV tìm minh chứng) Cấu
trúc của hệ thống mang tính chất cân bằng Tổ chức của hệ thống càng cao, tính cânbằng càng được mở rộng, nhưng đồng thời cũng chứa nhiều trạng thái mất cân bằngtrong đó Những cân bằng này phải được chuyển hoá một cách từ từ, nếu không hệthống sẽ bị phá vỡ để tự lập lên một hệ thống mới có mức độ cân bằng khác Điều này
có thể được quan sát thấy khá phổ biến trong tự nhiên và trong xã hội
Trong tự nhiên: Bản thân rừng tự nhiên có một cân bằng rất ổn định Sự tác độngcủa con người làm cân bằng đó dao động Nếu sự tác động quá lớn, cân bằng đó không
Trang 22thể điều chỉnh được nữa, rừng sẽ tự biến đổi sang trạng thái khác Bởi vậy trên thực tế,biết bao cánh rừng tự nhiên đã bị thay thế bằng các khu rừng nghèo kiệt, savan, trảng
Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng quá nhiều thuốc sâu, thuốc diệt cỏ, sử dụngkhông hợp lý phân vô cơ đã làm thay đổi hệ sinh thái một cách không có lợi rõ rệt
- Hệ thống có tính cân bằng về thời gian mang tính chất nhịp điệu
Các nhịp điệu trong một hệ thống luôn được phối hợp để tránh sự phá huỷ của
hệ thống Sự lệch pha đảm bảo tính bền vững cho hệ thống, ngược lại sự trùng phamang lại sự mất cân bằng cho nó Sự lệch pha sẽ tạo ra một mối quan hệ nhân quả: sảnphẩm của pha này là nguyên liệu của pha kia Một cây xanh sinh sống bình thường baogiờ cũng có cường độ quang hợp cực đại lệch với hô hấp cực đại
Trong sản xuất nông nghiệp, xen canh, gối vụ; trong nông lâm kết hợp, lấy ngắnnuôi dài, cây rừng kết hợp với cây nông nghiệp chính là sự thể hiện của sự kết hợp pha(phối hợp nhịp điệu)
Trong hệ thống, sự hoạt động nhịp điệu nằm trong mối quan hệ với hoàn cảnh.Những nhân tố hoàn cảnh có khi làm thay đổi nhịp điệu Lúc đó, cần phải có những tácđộng bổ sung để điều chỉnh nhịp điệu cho phù hợp với hoàn cảnh mới Hay nói cáchkhác, hệ thống cần phải được chuyển dịch để thích nghi
- Hệ thống hoạt động mang tính chất lan truyền
Các đơn vị bậc thấp có tính độc lập nhất định trong hoạt động Bởi vậy nó cóthể tự điều hòa, tự kiểm soát trong giới hạn nhất định Điều này giúp cho các đơn vịbậc cao hơn của hệ thống không phải thường xuyên can thiệp vào những hoạt động cục
bộ Tất nhiên, hệ thống hoạt động tốt nếu các đơn vị bậc thấp chịu tuân theo sự tự điềukhiển chung của các đơn vị bậc cao hơn Nói cách khác, tính tổ chức và độc lập tươngđối luôn được phối hợp hài hòa trong hệ thống để đảm bảo cho nó tồn tại và phát triển
Những điều đó làm cho hệ thống cũng luôn vận động và cân bằng chỉ là trạngthái tạm thời của hệ thống, mà vận động mới là thuộc tính phổ biến, quan trọng của nó
Đây là một tính chất quan trọng của hệ thống Nó giúp ta nhìn hệ thống dướiquan điểm động, chứ không phải quan điểm tĩnh Nghĩa là ta phải luôn điều chỉnh để
Trang 23Trong tự nhiên và xã hội, mọi sự vật và sự việc đều tồn tại dưới dạng một hệthống và luôn vận động.
Cắt một bộ phận ra khỏi hệ thống của nó để nghiên cứu là một cách làm đơngiản hóa vấn đề Nó có những mặt ưu việt, cũng có những mặt nhược điểm
Rõ ràng, khi cần nghiên cứu một vấn đề có tính cách chi tiết, cụ thể, thì việctách nó ra khỏi hệ thống, bắt nó phải tồn tại ở trạng thái “tĩnh” để nghiên cứu sẽ cónhiều thuận lợi Thuận lợi ở chỗ sự thu nhập số liệu sẽ đơn giản hơn, ít bị gây nhiễubởi những vận động khác của môi trường trong hệ thống Thí dụ, để nghiên cứu bảnchất của điện tử (điện tích, khối lượng), người ta tách nó ra khỏi hệ thống, khỏi sự ảnhhưởng của các yếu tố khác Bởi thế, việc đo khối lượng và điện tích của nó không còn
là vấn đề khó khăn, Nhưng khi trả nó về môi trường hệ thống của nó, trong sự vậnđộng của từng phần và của cả hệ thống, nó lại mang những đặc tính riêng biệt
Để nghiên cứu sự hô hấp, khả năng thoát nước của một cái lá cây chẳng hạn,người ta có thể cắt rời nó ra khỏi cây Việc thu thập số liệu như vậy rõ ràng đơn giản
và dễ dàng hơn, nhưng những số liệu đó sẽ bị sai lệch khi cái lá cây đó làm việc tronglúc nó còn là một bộ phận của cây
Ngay khi nghiên cứu sự hô hấp của một lá cây còn đang sống trên cây nhưngnếu đồng thời không để ý tới những hoạt động khác của nó trong hệ thống như làquang hợp, sự vận chuyển, những điều kiện môi trường, thì kết quả vẫn chỉ là biểukiến
Nghĩa là nếu nghiên cứu bộ phận, không chú ý tới tính hệ thống của nó, nguy hạihơn là tách ra khỏi hệ thống của nó thì chẳng khác nào “thấy cây mà không thấy rừng”
Giả dụ để nghiên cứu một cái cây, chúng ta cắt phần rễ, phần thân, phần lá riêng
ra, rồi nghiên cứu từng phần riêng rẽ Sau đó lại tổng hợp các số liệu đó lại để đưa ra
mô hình một cái cây được nghiên cứu Liệu cái cây đó có còn đúng là cái cây ban đầunữa không, hay nó đã hoàn toàn khác hẳn so với cái cây ban đầu
Tất nhiên khi nghiên cứu, không phải lúc nào ta cũng có thể đặt sự việc trong hệthống một cách hoàn hảo Tuy nhiên người làm công việc đó cần phải hiểu biết bảnchất của hệ thống, những đặc thù của nó để có thể thu được những kết quả gắn vớithực tế nhất
Trong thực tế, có những biện pháp kĩ thuật tưởng chừng rất hoàn hảo, nhưngkhi áp dụng vào sản xuất lại không hiệu quả, hoặc thất bại
Có những vấn đề đã làm thắng lợi ở nơi này nhưng lại không mang lại kết quả ởnơi khác
Có những công việc khi làm ở diện nhỏ thì thành công, khi nhân ra diện lớn lạikhông có kết quả
Cùng một vấn đề, ở nơi này và ở nơi khác lại có những kết quả nghiên cứu kháchẳn nhau, đôi khi còn trái ngược nhau
Tại sao lại diễn ra những vấn đề như vậy?
Rất nhiều trường hợp liên quan đến hệ thống
Một hệ thống luôn được xác định bở nhiều yếy tố: Không gian, thời gian, thànhphần, cấu trúc, mối liên hệ, môi trường xung quanh và sự vận động Một trong những
mặ đó khác đi, hệ thống sẽ bị thay đổi Sản xuất nông lâm nghiệp thực tế là việc xâydựng và điểu khiển các hệ thống
Hệ thống, bản thân nó bao gồm nhiều kiến thức trong nhiều lĩnh vực một cáchtổng hợp Điều đó gợi cho chúng ta một phương pháp luận tổng hợp, một cái nhìn tổngquát trong sự liên hệ và vận động
Trang 24Lý thuyết đặt sinh vật nói riêng và sự vật nói chung trong mối liên hệ, vận độngkhông ngừng, luôn đổi mới, tự điều hòa, nó giúp chúng ta hiểu sự vật đúng đắn hơn,điều khiển sự vật vận động theo thuộc tính vốn có của nó.
Trang 25Đây là một mô hình hệ thống trang trại khá phổ biến ở Việt Nam Một hộ nôngdân thuần nông thường có hai ngành sản xuất chính theo cổ truyền: chăn nuôi và trồngtrọt Trong mô hình hệ thống này nông hộ là trung tâm Đó là nơi nhận mọi thông tincủa môi trường phân tích mọi hành vi hoạt động của hệ thống và cuối cùng nó đưa ranhững quyết định để điều khiển hệ thống, đồng thời chính nông hộ lại là một bộ phậncủa hệ thống.
Chúng ta hoàn toàn có thể hình dung được hình dáng, cấu trúc của một nông hộthực sự của nó, ta chưa vẽ được
Toàn bộ hệ thống nông trại được tồn tại trong một môi trường, môi trường đógồm hai bộ phận: xã hội nhân văn và tự nhiên
Bộ phận xã hội nhân văn gồm có điều kiện văn hóa, điều kiện kinh tế-xã hội,điều kiện xã hội Trong lĩnh vực này, ta có thể hiểu ngắn gọn hệ thống phải chịu mọi
sự chi phối của chính sách nhà nước, chủ trương chỉ thị, phong tục tập quán, các thông
lệ làng bản, các tác động của cơ sở hạ tầng, trình độ văn hóa, tri thức, kinh tế,…
Môi trường này sẽ chi phối toàn bộ những vấn đề về kỹ thuật, vật tư, những cấu trúc,những hoạt động của hệ thống Sản phẩm của hệ thống cũng sẽ nằm trong sự phụthuộc rất lớn vào môi trường Đó là những vấn đề sản xuất cái gì, tiêu thụ ở đâu, nhưthế nào, chế biến ra sao…
Bộ phận thứ 2 của môi trường là điều kiện tự nhiên: đất trồng, khí hậu, thủy lợi,địa hình, động thực vật trong khu vực,… Đối với hệ thống nông nghiệp, đây là vấn đềrất quan trọng Người nông dân thường hay nói: vùng này đất đai “tốt”, vùng kia đấtđai “xấu” “Đất đai” ở đây là tất cả những gì thuộc về điều kiện tự nhiên Đó là đấttrồng/thổ nhưỡng, nước, dinh dưỡng, ánh sáng mặt trời, không khí, sinh vật, mưa,nắng, địa hình, Vấn đề này có tác dụng quyết định tới cơ cấu cây trồng vật nuôi,năng suất của chúng Trong sử dụng đất, phải sử dụng đất đai như một hệ thống Chọncây trồng vật nuôi thích hợp với điều kiện sinh thái là một khâu quan trọng trong sửdụng đất đai hợp lý và bền vững
Hệ thống nông trại nằm trong môi trường và nó phải trao đổi chất với môi trường.Mức độ trao đổi nhiều hay ít quyết định tính mở của nó Hệ thống càng trao đổi chất vớimôi trường, tính mở của nó càng lớn và ngược lại Trong sản xuất lâm nghiệp nói riêng vàtrong sản xuất nói chung, người ta cố gắng tạo điều kiện để tính “mở” phát triển Tính
“mở” càng phát triển, hệ thống càng có điều kiện phát triển hơn và ngược lại
Điều kiện sinh thái (môi trường tự nhiên) cung cấp chất đốt, vật liệu xây dựng (gỗ,tre nứa, lá) để làm nhà, chuồng trại,… Sông, suối có thể là nơi bơi lội Những bãi đất rộng
có thể là nơi sinh hoạt thể thao, hội hè của cả làng bản, trong đó có hộ gia đình
Các sản phẩm của sản xuất (ngành chăn nuôi và trồng trọt như trong mô hình)được nông hộ thu thập, ngược lại, nông hộ lại cung cấp lao động, giống, các điều kiện
kỹ thuật cho chăn nuôi và trồng trọt
Ngành trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, tạo ra lớp phủ thực vật, cảithiện điều kiện sinh thái
Ngành chăn nuôi lại cung cấp phân bón, sức kéo cho trồng trọt
Tất cả các bộ phận chức năng đó liên hệ với nhau, cái nọ hỗ trợ hay kìm hãm cáikia trong hệ thống (xem hình vẽ)
2.1.3.2 Mô hình hệ thống trao đổi đạm giữa nông thôn và thành thị tại HTX Vũ Thắng
1974 - 1978 (Đào Thế Tuấn)
Hệ thống này cho thấy một bức tranh tổng thể về quan hệ giữa nông thôn vàthành thị trong sự trao đổi ở các lĩnh vực
Trang 26Sự trao đổi vật chất giữa nông thôn và thành thị
Thực chất của mô hình hệ thống này được hình thành bởi hai thành phần cấu trúclớn là sản xuất nông nghiệp và thành thị Trong thành phần nông nghiệp, xuất hiện 3
bộ phận cấu trúc là đồng ruộng, dân cư và chăn nuôi Môi trường tồn tại của mô hình
hệ thống này được biểu thị bởi 2 mũi tên
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất đai, “đất đai” được nhìn nhận là mộtnhân tố sinh thái (FAO 1976) Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính
Phân
Thuốc năng lượng
Phân năng lượng
Trang 27sinh học và tự nhiên của bề mặt Trái Đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiệntrạng sử dụng đất Đất đai được hiểu là bao gồm thuộc tính của các hợp phần sau:
+ Những biến đổi của đất do các hoạt động của con người
Theo hai nhà đánh giá đất đai Brinkman và Smith (1973) đất đai là: “một vạtđất xác định về mặt địa lý, là một phần diện tích của bề mặt Trái đất với các thuộc tínhtương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinhquyển bên trên, bên trong và bên dưới của nó như là: không khí, đất (soil), điều kiệnđịa chất, điều kiện thủy văn, thực động vật cư trú, những hoạt động trước đây và hiệnnay của con người ở chừng mực mà thuộc tính này có ảnh hưởng, có ý nghĩa tới việc
sử dụng vạt đất của con người hiện tại và tương lai”
- Sử dụng đất đai (Land Use - LU)
Đất đai là nguồn tài nguyên cơ bản cho nhiều kiểu sử dụng:
+ Sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (cây trồng, đồng cỏ, gỗ rừng)
+ Sử dụng trên cơ sở sản xuất thứ yếu/gián tiếp (chăn nuôi)
+ Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng sinh học,bảo vệ các loài quý hiếm)
+ Sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt: đường sá, dân cư, công nghiệp, an dưỡng…Loại hình sử dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của mộtvùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội
và kỹ thuật được xác định
- Loại hình sử dụng đất đai (Land Utilization Type - LUT)
Trong sản xuất nông lâm nghiệp, LUT được khái quát là những hình thức sửdụng đất đai để sản xuất một hoặc một nhóm cây trồng, vật nuôi trong chu kì mộthoặc nhiều năm Trong sản xuất nông, lâm nghiệp, LUT được hiểu khái quát là nhữnghình thức sử dụng đất đai để sản xuất một hoặc một nhóm cây trồng, vật nuôi trongchu kỳ một hoặc nhiều năm
Các loại hình sử dụng đất đai có thể là: độc canh, đa canh, luân canh
- Hệ thống sử dụng đất đai
Hệ thống sử dụng đất đai (Land Use System - LUS gồm một hợp phần đất đai
và một LUT với các thuộc tính như đã trình bày ở trên
Sơ đồ 1: Cấu trúc hệ thống sử dụng đất đai (Beck 1978: Dent và Young, 1981) HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT(Land Use System)
Loại hình sử dụng đất Đơn vị bản đồ đất đai(Land Utilzation Type-LUT) (Land Mapping Unit-LMU)
Yêu cầu sử dụng đất Chất lượng đất đai (Land Use Requirements) (Land Qualities)
(Outputs)Đầu tư (Inputs
Trang 28Sơ đồ 2: Hệ thống sử dụng đất đai: đầu vào đầu ra về kinh tế và môi trường
Đầu vào về kinh tế
Đầu ra về môi trường (về sinh thái)
Trang 29Sơ đồ 3: Hệ thống sử dụng đất đai trong mối quan hệ với hệ thống vùng và hệ
thống nông nghiệp ( FAO 1992)
1/ Mô hình hệ thống sử dụng đất ở Hà Trung, Thanh Hoá
Tre và mây được bố trí ở chân đồi và xung quanh để bảo vệ khỏi sự phá hoạicủa gia súc Cao hơn là vườn rừng gồm các loại cây : sở, chè, cây lâm nghiệp, vãi,nhãn, táo, cây công nghiệp Tại đây các loại cây được phối hợp theo chiều cao.Thường chúng có 3 tầng sinh thái, tầng cao nhất thuộc về cây lâm nghiệp, tầng thứ nhì
là cây ăn quả loại cao, tầng thứ 3 là cá loại rau màu nông nghiệp Trên vùng đất caohơn là rừng keo xen với bạch đàn Băng rừng này có tác dụng bảo vệ cho băng dưới,tăng độ thấm của nước, bảo vệ độ ẩm đất, chống xói mòn tạo điều kiện tích luỹ chấthữu cơ cho đất, điều hoà nhiệt độ.v.v Trên phần cao nhất của khu đất (thường là đỉnh
Hệ thống sử dụng đất cho
cây trồng
Hệ thống nông hộ
Hệ thống
sử dụng đất cho chăn nuôi
Hệ thống môi trường (khí hậu, đất, địa hình, thực vật, động vật)
Hệ thống chăn nuôi
Hệ thống nông nghiệp
Thị trường, tín
dụng, khuyến nông, giao thông,
chế biến
Hệ thống phi nông nghiệp
Trang 30hoặc sườn trên) là rừng thông, tại đây đất xương xẩu, tẩng mỏng, thông lên tốt, tạo độ
ẩm, cải thiện môi trường cho những băng thấp
Khi nghiên cứu về phân hạng đất đai ở đồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn VănNhân đã xác định một số hệ thống sử dụng đất sau đây:
2/ Lúa đông xuân có tưới trên đất phèn trung bình và nhẹ
3/ Lúa hè thu, lúa mùa địa phương nhờ mưa trên đất phèn trung bình và nhẹ 4/ Rau màu đông xuân, rau màu xuân hè, lúa địa phương có tưới trên đất phù sa
và đất xám
Qua những thí dụ trên, ta thấy hệ thống sử dụng đất nó là một khái niệm rấtrộng về cấu trúc, về phạm vi, về quan niệm Hệ thống sử dụng đất thực ra nó khôngphải là một đơn vị phân loại trong sử dụng đất
Hệ thống sử dụng đất nó bao gồm các kiểu sử dụng đất hoặc các loại hình trong
sự phối hợp, tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau trên một mảnh đất nhất định.Bởi thế, về mặt quy mô nó có thể lớn nhỏ tuỳ ý Người sử dụng đất có thể sử dụng nêncác hệ thống riêng biệt tuỳ thuộc khả năng của mình Khả năng ở đây bao gồm nhiềulĩnh vực : tài chính, kỹ thuật, tiền vốn, nhân lực, môi trường tự nhiên, chính sách,
Tuy nhiên, cũng có những hệ thống sử dụng đất gần như đã có sẵn trong thực tế
do quá trình sản xuất tạo nên Chúng được hình thành do sự tích luỹ kinh nghiệm lâuđời của người dân địa phương Những người nghiên cứu chỉ việc phất hiện, nắm bắt và
mô tả chúng (thí dụ 2,3,4 trên đây thuộc loại này)
2.2.2 Những đặc điểm của hệ thống sử dụng đất đai
Hệ thống sử dụng đất đai trước hết là một hệ thống, vì vậy hệ thống sử dụng đấtđai mang đầy đủ những đặc điểm chung của hệ thống, ngoài ra còn có những đặc điểmriêng:
- Trong hệ thống sử dụng đất đai, con người dựa vào đặc điểm của đất đai đểkhai thác tiềm năng của đất đai phục vụ cho con người Vì vậy, đất đai được coi là một
bộ phận cơ bản của hệ thống, tất cả các hoạt động sản xuất, các tác động của con ngườiđều được thực hiện trên đất đai
- Bản thân hệ thống đã mang tính phức tạp, hệ thống sử dụng đất còn có mức độphức tạp cao hơn khái niệm hệ thống nói chung Điều đó được thể hiện ở nhiều mặt.Bản thân quy mô của hệ thống sử dụng đất đai không cố định, phụ thuộc vào thực tiễn,vào mục đích của người sử dụng Quy mô của hệ thống sử dụng đất đai còn phụ thuộcvào cả không gian và thời gian, khác nhau ở nơi này so với nơi khác, giữa thời kì này
so với thời kì khác
- Hệ thống sử dụng đất đai thực chất là một hệ thống sinh thái Người chủ củamột hệ thống sử dụng đất đai là người điều khiển hệ sinh thái đó Đã là hệ sinh thái thìbản thân nó mang tính phức tạp Quan hệ giữa cây với cây, giữa con với con, giữa câyvới con, với môi trường đất, nước, khí tượng là những quan hệ tồn tại trong hệ thống
sử dụng đất Hệ sinh thái tự nhiên thường phức tạp, phong phú hơn hệ sinh thái nhântạo Tuy nhiên trong hệ thống sử dụng đất đai, người ta cũng cố gắng đưa nó về cànggần gũi với hệ thống tự nhiên càng tốt
- Để điều khiển hệ thống sử dụng đất đai, con người buộc phải quan tâm đếnnhững mối quan hệ khác có thể xem là ngoài giới hạn của sinh thái, đó là quan hệ hàngxóm, xã hội, chính sách, thị trường,…nghĩa là cùng một lúc phải giải quyết rất nhiềuvấn đề khác nhau
- Bản thân hiện trạng đất đai đã rất phức tạp Trên một thửa ruộng góc này đã cóthể khác góc kia, chỗ này khác chỗ kia Đối với đất đai vùng đồi núi, sự khác nhau nàycòn rõ hơn nhiều Khi đào phẫu diện đất để nghiên cứu, có nhiều khi chỉ cần cách đó l
Trang 31của tất cả các tác động của thiên nhiên và con người Cho nên, trong tất cả các nghiêncứu, nghiên cứu đất đai thuộc loại phức tạp, khó khăn cao.
- Hệ thống sử dụng đất đai mang tính đa ngành Một hệ thống sử dụng đất đai,nhất là hệ thống bền vững, phải tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau Sự đa dạng về sảnphẩm giúp cho sự cân bằng bền vững của hệ thống, nhất là các sản phẩm này hoạtđộng lệch pha Muốn nhiều loại sản phẩm, nhất thiết phải đa ngành, nhiều người cùngtham gia, nhiều loại kiến thức được sử dụng Nghĩa là phải có nhiều chuyên gia cùngphân tích, tìm ra những giải pháp tốt nhất Hệ thống nông lâm kết hợp đã cho ta thấy
sự phố hợp giữa các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và sản xuất lâm nghiệp
- Hệ thống sử dụng đất đai luôn luôn cân bằng động, nó thay đổi theo thời gian,không gian, môi trường, mục đích của người sử dụng Thậm chí hệ thống sử dụng đấtđai có thể biến đổi đến mức biến thành một hệ thống sử dụng đất đai khác Đây là điềungười sử dụng đất cần ghi nhớ, suy nghĩ năng động Cần phải theo dõi sự biến đổi của
hệ thống hoặc sự biến đổi của môi trường, từ đó có những tác động cho phù hợp thực
tế Nếu không có những tác động này, hệ thống có thể bị phá vỡ do khả năng tự vậnđộng của nó Hệ thống thay đổi theo không gian, thời gian, vì vậy không thể bê nguyên
hệ thống ở nơi này, thời gian này áp dụng cho nơi khác, thời gian khác Những hệthống sử dụng đất đai được tổng kết, được mô hình hóa trên sách vở, cả trong thực tếđều chỉ là ý niệm, những gợi ý để áp dụng vào một mảnh đất thực tế nào đó
- Hệ thống sử dụng đất đai luôn mang tính chất truyền thống Có thể nói bất kỳmột hệ thống sử đất đai nào trong sản xuất nông lâm nghệp cùng phải tuân theo điềunày Không nhiều thì ít, một hệ thống sủ dụng đất phải mang những kiến thức, nhữngmàu sắc bản địa, bởi nó tồn tại ở một vùng nhất định Ở đó, tất cả các đặc điểm củamôi trườngđều tác động lên nó, và ngược lại nó lại tác động lên mọi mặt của môitrường Giả sử có hệ thống sử dụng đất đai ngoại nhập nào đó muốn tồn tại, trước hếthoặc nó phải phù hợp với bản địa hoặc sau đó nó phải thích nghi với bản địa
Càng khai thác được những kiến thức bản địa bao nhiêu khả năng thành côngcủa một hệ thống sử dụng đất đai càng lớn bấy nhiêu Trong thực tế khi bố trí cơ cấucây trồng mới cho một địa phương, sẽ gặp rất nhiều khó khăn Khó khăn lớn nhất làchúng có thể sống, phát triển và cho năng suất cao được ở nơi mới, trong điều kiệnmới hay không Để giải quyết được vấn đề đó, cần phải xét những yêu cầu về đặc điểmsinh học (sinh lí, sinh thái) của chúng, sau đó so sánh với những điều kiện ở địaphương Dù có sự nghiên cứu tỉ mỉ, chi tiết đến đâu thì cũng không dám chăc rằngkhông có thiếu sót Bởi vậy, sau đó thường có khâu thí nghiệm, nhằm mục đích kiểmnghiệm trước lúc đưa vào sản xuất Nói chung là rất phức tạp
Sự phức tạp đó gần như không còn nếu chúng ta sử dụng kiến thức bản địa kinhnghiệm truyền thống ở địa phương Ta hãy quan sát xem trong khu vực có loại cây mà
ta định bố trí hay không, tình hình sinh trưởng và phát triển của nó ra sao Nếu khôngthấy, ta hãy kiểm tra trong dân xem loài cây đó có từng ở đây hay chưa Cách làm đó
sẽ chắc chắn hơn, đỡ tốn kém hơn và quan trọng là khả năng thành công sẽ lớn hơn rấtnhiều
2.2.3 Đánh giá hệ thống sử dụng đất
Nhìn chung hiện nay tồn tại hai quan điểm đánh giá chủ yếu cho một hệ thống sửdụng đất
2.2.3.1 Đánh giá hệ thống thông qua hiệu quả kinh tế
Trong giai đoạn nền kinh tế thị trường, vấn đề năng suất, thu nhập được xem làchỉ tiêu đánh giá quan trọng Theo khuynh hướng này, người ta càng làm ra nhiều sảnphẩm có giá trị kinh tế cao trên một đơn vị diện tích đất càng tốt Nghĩa là tiềm năngcủa đất được khai thác một cách tối đa Tất nhiên theo quan điểm hệ thống, cách đánh
Trang 32giá này sẽ dẫn tới tính không bền cao của hệ thống sử dụng đất (HTSDĐ), và kết quảcủa nó là HTSDĐ cũ bị phá vỡ, HTSDĐ mới được xuất hiện Người theo quan điểmnày, sẵn sàng sử dụng nó.
2.3.2.2 Đánh giá hệ thống thông qua tính bền vững
Ngày nay con người đã tích lũy được nhiều bài học về sự khai thác tự nhiên
Về vấn đề này có thể lấy rất nhiều ví dụ thực tế:
- Công nghiệp hóa ào ạt, các nhà máy, động cơ phát triển mạnh mẽ, lượng khíthải chất thải công nghiệp quá lớn đã làm suy giảm tầng ozone (áo giáp của Trái Đất)
- Đất đai bị khai thác triệt để, không hợp lí, không tính đến việc trả lại độ phìnhiêu cho đất, dẫn tới hàng loạt các chất bị thoái hóa, sa mạc hóa ở các địa phươngkhác nhau
- Phần lớn diện tích rừng bị mất do sự khai thác, tàn phá của con người, đãn tới
lũ lụt, xói mòn đất, mất cân bằng sinh thái, một loạt các động thực vật quý hiếm mấttheo
Những năm gần đây, khí hậu Trái Đất trở nên thất thường, nhiệt độ tăng lên Lí
do của điều đó không ngoài sự tác động của con người đến môi trường, trong đó cómôi trường đất đai và sinh vật Bởi vậy, đánh giá HTSDĐ theo quan điểm bền vững làhết sức cần thiết, nó góp phần đảm bảo cuộc sống trên trái đất không chỉ cho hiện tại,
mà còn cho cả tương lai
Những vẫn đề cần đánh giá để đảm bảo tính bền vững của HTSDĐ
2.2.4 Phân loại hệ thống sử dụng đất
Để phân loại hệ thống sử dụng đất còn rất nhiều ý kiến khác nhau Sự phức tạp,
sự khác nhau về cách gọi cũng chứng tỏ sự phân loại hệ thống sưt dụng đất cũng chưathật chuẩn hóa Và điều đó cũng cho thấy rằng nghiên cứu về hệ thống sử dụng đất,hay nói cách khác là sử dụng đất như một hệ thống còn chưa được xem xét thích đáng
để chống xói mòn, để xây dựng cảnh quan,…
- Theo cách thức sản xuất: độc canh, luân canh, xen canh, nông lâm kết hợp
- Theo mức độ thâm canh: thâm canh, quảng canh, du canh
- Theo quy mô quản lý: nông hộ, trang trại, làng bản,…
2.2.5 Một số hệ thống sử dụng đất
2.2.5.1 Nương rẫy không quay vòng
Nương rẫy không quay vòng còn có thể gọi là du canh không quay vòng hay ducanh không luân canh
Nông dân chọn một mảnh đất, chặt, đốt, làm nương, khai thác đất để sinh sống.Đến khi đất bị khai thác cạn kiệt, không còn khả năng cung cấp sản phẩm một cáchkhả dĩ (sản phẩm thu vào quá nhỏ so với công sức bỏ ra) thì người ta bỏ đi nơi khác
và không ngĩ tới quay lại chỗ cũ (Nguyễn Xuân Quát 1996)
Hệ thống sử dụng đất kiểu này chủ yếu dựa vào bóc lột đất đai Tuy nhiên thờigian sử dụng dài hay ngắn phụ thuộc vào cách khai thác đất và bản chất của đất Thí
dụ nếu trống luân canh hay xen canh, thì độ màu mỡ của đất được đảm bảo, ngược lại
Trang 33Con người sống dựa vào 2 nguồn sản phẩm chính: từ nương rẫy và từ rừng.Nương rẫy cho các lọai ngũ cốc, một số loại rau quả Rừng cung cấp nhiên liệu, vậtliệu làm nhà, rau ăn, những thức ăn protit được thu nhập từ việc săn, bẫy ở rừng, suối.Toàn bộ nhu cầu ở, ăn, mặc, thuốc men chữa bệnh đều lấy từ rừng.
Ngoài ra còn có hoạt động chăn nuôi gia cầm, gia súc làm thực phẩm, tế lễ, vậntải (chưa có khái niệm chăn nuôi để sử dụng phân bón)
Theo cách canh tác này, rừng là một phần cuộc sống của họ, cho nên ngoài khuvực nương rẫy nơi họ sống rừng được bảo vệ tốt Tuy nhiên số dân càng ngày càngtăng lên, sự di chuyển nhiều sẽ phải dẫn tới phá hoại rừng nhiều
2.2.5.2 Nương rẫy quay vòng
Nương rẫy quay vòng còn được gọi là du canh quay vòng, du canh luânchuyển: sử dụng đất kiểu này cũng giống kiểu trên nhưng sau khi bỏ đi nơi khác, mộtthời gian nhất định nào đó, lại quay lại nơi cũ Đây được coi là kiểu du canh ít tổn hạiđến rừng nhất Thời kì bỏ hoang sẽ là thời kì trồng các loại cây lấy gỗ, lấy nguyên liệuxenlulô Thời kì này được coi là thời gian nghỉ để phục hồi độ phì nhiêu của đất, đồngthời chế độ thủy văn trong khu vực được cải thiện
Thời gian phục hồi dài hay ngắn phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất, quĩ đất vàđặc biệt là tập quán của dân tộc Sau này một số dân tộc cải biến đi một chút
Nhờ có trồng cây gỗ (trồng rừng), thời kì bỏ hoang của đất được rút ngắn, tốc
độ quay vòng nhanh hơn
Cây trồng thường được chọn là các loại cây sinh trưởng nhanh, cố định đạm đểrút ngắn thời kì bỏ hoang như các loại cây họ đậu, keo
Nhìn chung đây là một cách sử dụng đất khôn ngoan, thích hợp ở các vùng đấtdốc Tuy nhiên do sức ép của dân số, của vấn đề lương thực, cần phải rút ngắn thờigian bỏ hoang thông qua các kinh nghiệm cổ truyền và các nghiên cứu tổng kết
2.2.5.3 Nông lâm kết hợp
Theo giáo sư Lê Duy thước, NLKH là một hệ thổng sử dụng đất hợp lý theomột hệ thống canh tác trồng cây lâu năm (cây lâm nghiệp cho gỗ, củi còn cây côngnghiệp dài ngày cho nông sản) kết hợp với cây trồng hàng năm (cây lương thực, câycông nghiệp ngắn ngày, cây làm thức ăn gia súc,…) trên cùng một mảnh đất
Thực chất của nông lâm kết hợp là:
- Sự phối hợp giữa cây lâm nghiệp dài ngày với cây nông nghiệp ngắn ngày
- Tạo sự đa dạng sản phẩm, lấy ngắn nuôi dài
- Tạo sự đa dạng về sinh học
- Tạo nhiều tầng, nhiều tán để che phủ đất, bảo vệ môi trường
- Tạo công ăn việc làm cho xã hội
- Tăng độ an toàn lương thực, tăng tính bền vững của một hệ thống sử dụngđất
Môi trường áp dụng của nông lâm kết hợp là: thuận lợi ở vùng trung du miền núi,nơi đất dốc, mật độ dân số không lớn, diện tích đất còn khá rộng rãi
Một vài hệ thống nông lâm kết hợp:
+ Vườn hộ
Vườn hộ là hệ thống NLKH truyền thống được tìm thấy khắp Việt Nam, từvùng thấp đến vùng cao, trên những mảnh đất nhỏ quanh nhà (từ 0,5 dến 5,0 ha), đấtđược sử dụng hiệu quả để tạo ra các sản phẩm khác nhau Trái cây, rau, củ, cá, vậtnuôi, thức ăn gia súc, sợi, thuốc, củi và những sản phẩm khác được bố trí theo một cấutrúc nhiều tầng Trong vườn, một loại cây hoặc hoa màu chiếm ưu thế, và vườn hộđược đặt tên theo nó Thí dụ: vườn dứa, vườn cam
Trang 34Một mô hình phổ biến của vườn hộ được gọi là vườn, ao chuồng (VAC) Hoặcrừng, vườn, ao, chuồng (RVAC), đó là sự kết hợp giữa cây rừng.
+ Ruộng bậc thang với hàng rào xanh
Cây rừng được trồng ở đỉnh dốc (thường từ 15 đến 25), hoa màu như dứa, lúađược trồng ở nương theo đường đồng mức Chân đồi thường là cây rừng lấy gỗ kếthợp song, mây
Sau 2 năm, những băng cây xanh như cốt khí và dứa được trồng theo đườngbiên đã ổn định, ruộng bậc thang chính thức được hình thành Tùy thuộc vào điều kiện
về nguồn nước mà những loại cây trồng gì sẽ được chọn tiếp sau đó: Cây ăn quả, chè,
cà phê, cây lương thực
Có thể nói là vô cùng nhiều các hệ thống NLKH đã được tổng kết Trên đây chỉ
2 mô hình tương đối phổ biến ở Việt Nam được giới thiệu
2.2.6 Phương pháp/trình tự nghiên cứu hệ thống sử dụng đất đai
Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất đai cỏ thể tiến hành theo phương pháp/trình tự:
+ Điều tra đất đai và các nhân tố sinh thái có liên quan tới hệ thống sử dụng đất,
từ đó phân tích, xác định những nhân tố chủ đạo tác động đến sử dụng đất
+ Điều tra hệ thống sử dụng đất truyền thống
+ Xây dựng hệ thống sử dụng đất mới
+ Chuyển giao kĩ thuật cho nông dân
+ Theo dõi những hệ thống sử dụng đất mới và bổ sung
2.2.7 Tiếp cận hệ thống sử dụng đất đai
Một hệ thống sử dụng đất đai bao gồm một đơn vị đất đai và một loại hình sửdụng đất đai Khi tiếp cận để điều tra xác định các hệ thống sử dụng đất, phải luônquán triệt nguyên tắc xây dựng từ dưới lên và tôn trọng tất cả những truyền thống sửdụng đất đai của người dân địa phương, vì trên thực tế, không ai hiểu đất của ngườinông dân bằng chính bản thân của họ Thậm chí trong một mảnh vườn, người nôngdân có thể chỉ ra được chỗ nào cần làm gì, trồng gì, vào lúc nào Bởi thế, kiến thức bảnđịa có tầm quan trọng đặc biệt, là tinh hoa trong việc sử dụng đất hợp lí, lâu bền
Để thực hiện tiếp cận hệ thống cần kết hợp 4 nội dung sau đây:
1 Các hoạt động chẩn đoán ngoài thực địa dựa trên tiếp cận hệ thống
Để hiểu được các hệ thống sản xuất, cần phải tiến hành các chuẩn đoán thực tếcủa vùng Các nghiên cứu được tiến hành ở cấp làng, bản, xã sẽ làm sáng tỏ sự hoạtđộng của hệ thống nông nghiệp
Các loại hoạt động chuẩn đoán gồm các thành phần:
+ Phân vùng sinh thái nông nghiệp
+ Phỏng vấn về hệ thống nông nghiệp, phân loại nông hộ gắn liền với các hệthống
+ Phóng đoán sự biến đổi của hệ thống theo thời gian, những đặc điểm (ưu điểm và hạn chế) của hệ thống.
Các phóng đoán này có thể được hỗ trợ bằng các nghiên cứu điểm bổ sung
2 Sự tham gia tích cực của các thành viên tại địa phương
Chỉ có sự tham gia của những thành phần này thì các nghiên cứu ở thực địa mớisát thực tế, chuẩn xác
Để tiếp cận sự tham gia này, cần 2 thành phần:
- Chẩn đoán nội tại dựa trên quan điểm của các thành viên địa phương Thànhphần này giúp hiểu rất rõ những thuận lợi, khó khăn của các hệ thống đang, đã tồn tại,thông qua các lý lẽ của họ
Trang 35- Theo dõi các sự hoạt động của các dự án khác có liên quan tới các hệ thống sửdụng đất, đánh giá chúng thông qua sự tham gia của các thành viên.
3 Khai thác các dữ liệu tại các cơ quan có liên quan, các ban ngành của địa phương như địa chính, kỹ thuật, kế hoạch.
4 Kết hợp các xu hướng thông qua thảo luận
Đánhgiá khảnăngthíchhợp
6Xác định hiện trạng kinh tế, xã hôi, môi trường
7Xác định loại hình
sử dụng đất thích hợp nhất
8Quy hoạch
sử dụng đất
9
Áp dụng kết quả đánh giá 4
Xác định loại hình sử dụng đất
Cụ thể tiến hành các bước như sau:
Xác định mục tiêu đánh giá đất đai sẽ quyết định nội dung công tác đánh giá vànhững sản phẩm cuối cùng của công tác đánh giá đất đai
(2) Thu thập tài liệu
Các tư liệu, dữ liệu, bản đồ của khu vực về: địa chất, địa hình, địa mạo, khíhậu, đất trồng, thủy văn, hiện trạng sử dụng đất, hệ thống thủy lợi, hệ thống giaothông vận tải, đặc điểm dân cư, truyền thống, kinh nghiệm sản xuất; các thông tin từảnh máy bay, ảnh vũ trụ, Tài liệu thu thập thường rộng hơn những đặc tính đất đai,tính chất đất đai sau khi đã xác định đơn vị đất đai ở bước tiếp theo Điều này sẽ rấthữu ích khi ở bước tiếp theo là xác định đơn vị đất đai nhưng các đơn vị đất đai lạithiếu đi một vài thông tin phục vụ công tác đánh giá
(3) Xác định đơn vị đất đai
Xác định/lựa chọn địa bàn nghiên cứu đánh giá và thống kê những đặc tính đấtđai và tính chất đất đai trong địa bàn nghiên cứu đánh giá Trong trường hợp thiếumột vài thông tin, có thể dùng các biện pháp nội suy, ngoại suy từ các thông tin ởbước “Thu thập thông tin”
Việc cân nhắc lựa chọn những đặc tính đất đai và tính chất đất đai trong địa bànnghiên cứu đánh giá nào trong hàng loạt các đặc điểm đất đai cần phải dựa vào nhữngnội dung sau :
- Kinh nghiệm của địa phương về các yếu tố có thể ảnh hưởng nhất đến việc sửdụng đất tại địa phương
- Đặc điểm của các loại hình/kiểu sử dụng đất đai tại địa phương
- Những đặc điểm mang tính chất quyết định đến việc sử dụng đất đai của khuvực
(4) Xác định loại hình/kiểu sử dụng đất đai và các yêu cầu của chúng
Các yêu cầu của các loại hình sử dụng đất đai là các thuộc tính về sinh thái củacác loại cây trồng, vật nuôi sẽ đem ra để đánh giá mức độ thích hợp của đất đai đốivới các loại cây trồng vật nuôi này Bởi vậy, các yêu cầu của các loại hình sử dụng đấtđai càng gần với những đặc điểm về đất đai bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Trong thực
Trang 36tế đánh giá thích hợp đất đai, các yêu cầu sử dụng đất đai phải phù hợp với các đặcđiểm đất đai thì công tác đánh giá đất đai mới thuận lợi, hiệu quả.
5 Đánh giá khả năng thích hợp
So sánh yêu cầu của các loại hình/kiểu sử dụng đất đai với những đặc điểm vềđất đai để xác định mức độ thích hợp của đất đai đối với cây trồng, vật nuôi đánh giá.Cần lưu ý: đánh giá đất đai là so sánh các thuộc tính của các loại hình sử dụng đất đai(các đặc điểm sinh lý hay yêu cầu về sinh thái của cây trồng, vật nuôi) với các tínhchất của đất đai mà không so đánh giá mức độ thích nghi của loại hình sử dụng đất đaivới các đặc tính đất đai Các đặc tình của đất đai là những đặc điểm về khí hậu, địahình, đất trồng, thủy văn, Các đặc tính đó gồm nhiều tính chất như: nhiệt độ, độ ẩm,lượng mưa, bức xạ, (của đặc tính khí hậu); độ cao, độ dốc (của đặc tính địa hình);loại đất/thành phần hạt, độ dày, pH, dinh dưỡng, (của đặc tính đất trồng), Vì vậytrong bước “Thu thập tài liệu”, người đánh giá cũng phải thu thập thông tin về các yêucầu của các loại hình sử dụng đất đai tương ứng với các tính chất đất đai đó Cần lưu ý
là các loại hình sử dụng đất đai có thể là đã có tại địa phương hoặc chưa có nhưng địaphương hoặc người đánh giá có ý định sẽ đưa vào địa bàn nghiên cứu nhằm đề xuấtnhững hệ thống sử dụng đất mới
6 Xác định hiện trạng kinh tế, xã hội, môi trường
Không phải tất cả các loại hình sử dụng đất đai được đánh giá là thích nghi vớicác đơn vị đất đai đều được lựa chọn đưa vào sản xuất tại địa bàn nghiên cứu mà cònphụ thuộc vào nhiều điều kiện khác Về kinh tế: năng lực tài chính đảm bảo giống,thức ăn, chuồng trại; đảm bảo đầu ra Về kỹ thuật: năng lực kiểm soát dịch bệnh Về
xã hội: truyền thống/kinh nghiệm, tín ngưỡng, Về môi trường: có làm suy thoái đất,gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái không,
7 Xác định loại hình sử dụng đất đai thích hợp nhất
Một đơn vị đất đai có thể thích hợp với nhiều loại hình sử dụng đất đai Người đánh giá cần chọn ra loại hình thích hợp nhất, đảm bảo tính bền vững cao nhất: hiệu quả kinh tế cao, hiệu quả môi trường bền vững và được xã hội đồng thuận cao Việc lựa chọn loại hình sử dụng đất đai thích hợp nhất cần tham khảo với hiện trạng sử dụng đất trong khu vực để chỉnh lí cho phù hợp
8 Quy hoạch sử dụng đất
Kết quả đánh giá đất đai là cơ sở để quy hoạch sử dụng đất, phân vùng sản xuấtchuyên canh quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với nền kinh tế thịtrường Thời hạn của một lần quy hoạch đất đai thường 10 - 20 năm hoặc nhiều hơnnên cả 2 công đoạn này phải tiến hành hết sức thận trọng Đối với loại hình sử dụngđất đai cây lâu năm, thời gian từ khi gieo trồng đến khai thác dài nên nếu kết quả đánhgiá và quy hoạch không tốt sẽ đem lại sự tốn kém rất lớn
9 Áp dụng kết quả đánh giá
Sử dụng đất đai dựa trên cơ sở đánh giá và quy hoạch đất đai có khả năng đemlại hiệu quả sử dụng đất tối ưu
Trang 37Chương 3 KỸ THUẬT SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG
Các hệ thống sử dụng đất nông lâm nghiệp ở Việt Nam xưa nay chủ yếu vẫntheo phương thức cổ truyền lạc hậu, năng suất không cao Người dân chủ yếu dựa vàokhai thác, tận dụng, bóc lột tài nguyên nên đời sống gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩnnhiều rủi ro, môi trường bị đe dọa mất cân bằng sinh thái Các hệ thống sử dụng đấtđai này đã tồn tại trong thời gian rất dài dẫn đến hiện tượng rừng và đất rừng biếnthành đất trống đồi núi trọc, tỉ lệ rừng che phủ từ 43% năm 1943, giảm xuống còn29,18% năm 1993 là năm 2011 là 39,5% ; dự kiến sau năm 2020 sẽ đạt trên 50% naygiảm xuống còn 29,18%, năm 2011 là 39,5% ; dự kiến sau năm 2020 sẽ đạt trên 50% Những năm gần đây khi đã triển khai chính sách giao đất giao rừng cùng vớiviệc quy hoạch và sử dụng đất, các nơi đã sử dụng một số phương pháp mới như: nônglâm kết hợp, VAC, SALT trên cơ sở chính sách giao đất giao rừng để phát triển kinh tế
hộ gia đình hoặc kinh tế hộ ở các vùng nông thôn, nhất là trung du, miền núi Bướcđầu đã thu được những kết quả tốt đẹp Từ đó đã mở ra những triển vọng to lớn trongviệc áp dụng các hệ thống và kĩ thuật sử dụng đất trong tương lai Những hệ thống này
đã góp phần đảm bảo tính bền vững và có hiệu quả thiết thực đối với người dân trung
- Duy trì sự cân bằng dinh dưỡng trong đất
- Áp dụng các hệ thống nông lâm kết hợp, đa dạng hóa sản xuất và sản phẩm
- Sử dụng các tập đoàn cây đa mục đích và cây các cố định đạm
- Xây dựng các mô hình tổng hợp về các hệ thống và kĩ thuật canh tác đất dốc trên cơ sở có người dân và cộng đồng tham gia
Phát triển bền vững là hoạt động kinh tế đáp ứng các nhu cầu hiện tại khônglàm hại đến khả năng của các thế hệ mai sau, nhằm đảm bảo các nhu cầu riêng của mỗingười dân Lâm nghiệp bền vững là một bộ phận quan trọng trong phát triển bền vững
ở những vùng trung du và miền núi
Từ đó, tính bền vững trong sử dụng tài nguyên thể hiện ngắn gọn: Khai thác tàinguyên để nó phục vụ một cách chấp nhận được trong hiện tại và ở mức độ nó có thểtái tạo được
3.2 Hệ thống sử dụng đất bền vững
Hệ thống sử dụng đất bền vững chủ yếu được xây dựng trên cơ sở những hệthống sử dụng đất nông lâm nghiệp, canh tác định canh lâu bền bằng sử dụng đất,rừng, nước, khí hậu, phù hợp để phát triển cây trồng vật nuôi hàng năm và lâu năm,phục vụ cho con người một cách ổn định liên tục và lâu dài
Trang 38Phát triển nông lâm nghiệp bền vững đặc biệt coi trọng mối liên hệ trong tươngquan giữa các vật sống như: cây con, thực vật, động vật và con người với môi trườngxung quanh Nhằm đạt hiệu quả cao, đảm bảo tính đa dạng, làm phong phú và bềnvững hơn cuộc sống, song không gây hại và suy thoái môi trường thiên nhiên và xã hộicon người.
Cuộc sống của người dân vùng trung du và miền núi gắn với các nguồn tàinguyên thiên nhiên như: nước, không khí, rừng và đặc biệt là đất đai Con người phảicanh tác trên đất đai thông qua các hệ thống sản xuất nông lâm nghiệp tạo ra lúa gạo,thịt sữa, gỗ, củi và các vật dụng khác để nuôi sống mình và phục vụ cho các nhu cầukhác như: lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi và vui chơi…
Tuy nhiên các hệ thống sử dụng đất bền vưẽng chủ yếu dựa trên cơ sở sử dụngđất đai phải duy trì được tính đa dạng và khả năng sinh lợi của các nguồn tài nguyên,phải đáp ứng được những nhu cầu đời sống hôm nay song không làm tổn hại đến khảnăng đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng lên
Sử dụng đất phải đảm bảo khai thác được tiềm năng của nó, nhưng không làm
nó xấu đi, không làm tổn hại đến những nguồn tài nguyên khác mà phải cải thiện được
nó, không làm thoái hóa môi trường, không gây khó khăn cho thế hệ mai sau Đó cóthể xem là một hệ thống sử dụng đất bền vững
Cũng bởi thế, có thể nói kiến thức bản địa là một “tài nguyên” có giá trị Nó chỉ
có thể bằng hoặc hơn cách làm mới được giới thiệu bởi các chuyên gia từ ngoài địaphương
Sử dụng kiến thức bản địa giúp ta rất yên tâm, bởi bì nó đã được kiểm nghiệmtại địa phương của nó qua hàng trăm thế hệ, thích hợp với văn hóa xã hội, không gây
lo ngại cho các cộng đồng, chuyển giao một cách dễ dàng, mọi người dân đều có thểtham gia trong tiến trình gia tăng năng lực
Tuy nhiên để khai thác được kiến thức bản địa, ta phải định hình được nó, cóbiện pháp đúng để tiếp cận
Một số các loại kiến thức bản địa mà một số chuyên gia nghiên cứu về nônglâm kết hợp ở Đông Nam châu Á đã thống nhất đó là: các thông tin (ví dụ: loài cây vàthực vật nào sống chung với nhau tốt, đất ở đâu trồng loại gì tốt), thực hành và kĩ thuật(các biện pháp bảo quản hạt giống, cách làm đất cho từng cánh đồng), các tin tưởng(thí dụ: rừng thiêng, suối thiêng, đất thiêng), dụng cụ (cày loại gì, chuyên chở bằng gì),tài nguyên con người (chữa bệnh, rèn dụng cụ), các yếu tố sinh học (giống gia súc, cây
và hoa màu địa phương), nguyên vật liệu (đá làm bờ chống xói mòn, cây cỏ để bẫyđất)
Khi có các kiến thức bản địa sẽ tiến hành phân tích các kiến thức đó Kiến thứcbản địa không phải có ích lợi như nhau Thậm chí, có những kiến thức bản địa đã
Trang 39kiện của quá khứ, lúc đó dân số còn ít Bởi vậy, cần phải đánh giá đúng mức kiến thứcbản địa Dưới đây là sơ đồ sàng lọc, sử dụng kiến thức bản địa.
Sơ đồ về kết hợp kiến thức bản địa trong phát triển (Evelin Mathia)
Coi các hệ thống thiên nhiên làm mẫu, từ đó tác động vào thiên nhiên để xâydựng các mô hình canh tác bền vững thông qua kinh nghiệm tích lũy được trong thực
tế sản xuất
Tạo lập các mô hình canh tác bền vững bằng việc xây dựng phù hợp với điềukiện sinh thái từng nơi
3.2.2 Nguyên tắc cơ bản của các hệ thống sử dụng đất bền vững
+ Đa ngành: đa dạng hóa các loại hình sản xuất, các chế độ canh tác, các chủngloại sản phẩm và các hình thái sinh thái
+ Liên ngành: kết hợp liê,n thông nhiều ngành nghề nông nghiệp, lâm nghiệp,chăn nuôi thủy sản và thông tin, tiếp thị
+ Ngăn ngừa được những rủi ro, nạn ô nhiễm, suy thoái và tai biến môi trường+ Sử dụng được các động vật hoang dã, các loài cây bản địa, các loài cây quíhiếm đa tác dụng
+ Tận dụng được các tài nguyên đất, nước, năng lượng, sinh học làm cho nóđược bảo toàn, tự điều chỉnh tự tái sinh
Xác định các vấn đề khó
khăn
Các kĩ thuật tại địa phương
có thể cải tạo được không
Thử nghiệm các kĩ thuật bên ngoài phù hợp
Khuyến khích kĩ thuật tại địa phương
Thử nghiệm các kĩ thuật bên
Cải thiện các kĩ thuật tại chỗ
hay liên kết chúng với các kĩ
tuật được giới thiệu từ bên
ngoài
Trang 40+ Sử dụng được đất theo qui mô nhỏ, thâm canh có hiểu quả, quản lý, chăm sóc,bảo vệ và phục hồi đất.
3.3 Biện pháp sử dụng đất tổng hợp bền vững
Biện pháp sử dụng đất tổng hợp bền vững bao gồm các cách thức và giải pháptác động hay qui trình công nghệ sử dụng đất, các chính sách và các hoạt động có liênquan đối với đất đai nhằm hội nhập được những lợi ích kinh tế xã hội và mối quan hệ
về môi trường sao cho cái này không gây hại đến cái kia
3.3.1 Mục tiêu sử dụng đất tổng hợp bền vững: sản xuất phải ổn định lâu dài và phát triển
+ Sản xuất: duy trì và nâng cao được khả năng sản xuất và khả năng phục hồicủa đất đai
+ Ổn định: có thê đứng bền vững được về mặt kinh tế, đời sống và được xã hộichấp nhận
+ Lâu dài: giảm được mức độ nguy cơ cho sản xuất và môi trường
+ Phát triển: sinh lợi và bảo vệ được tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên
3.3.3 Các kĩ thuật canh tác tổng hợp
+ Chọn các cây, non và giống cây tốt thích hợp cho từng chân đất, từng vùng+ Thâm canh bằng các biện pháp sinh học, nông nghiệp và lâm học để cân bằngchất dinh dưỡng và duy trì độ phì nhiêu cho đất
+ Ứng dụng triệt để các kĩ thuật canh tác cho đất dốc để giữ màu, giữ nước chođất
Áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp một cách hài hòa sẽ xây dựng được các môhình sử dụng đất tổng hợp bền vững, đất đai được bảo vệ duy trì tốt để sản xuất được
ổn định và lâu dài
3.4 Kĩ thuật sử dụng đất bền vững
Sử dụng đất bền vững là một vấn đề không chỉ là của Việt Nam, mà có tính chấttoàn cầu Tại mỗi nơi, kĩ thuật sử dụng đất dốc không giống nhau Tuy nhiên, có thể cóđiểm chung là tại những vùng đất dốc, vấn đề cần ưu tiên hơn cả: ở những vùng nàyđất đai dẽ bị thoái hóa bởi những tác động bất lợi của thiên nhiên và xã hội
Ở Việt Nam, vùng đồng bằng trải qua bao đời nay người nông dân vẫn sốngtrên mảnh ruộng đó càng ngày càng cao Nói như thế không nghĩa là không có vấn đềtrong sử dụng đất bền vững Việc bón quá nhiều phân hóa học vô cơ đã làm cho đất trởnên chua, chai cứng, thay đổi kết cấu
Vùng trung du và miền núi Việt Nam là nơi có độ dốc lớn, trình độ dân trí thấpkém, điều kiện sống khó khăn, cuộc sống nghèo nàn lạc hậu Những lý do đó đã làmcho đất đai vùng trung du thoái hóa, độ che phủ của thực vật giảm sút nhanh chóng,dẫn tới nhiều thảm họa to lớn
Các nghiên cứu về sử dụng đất bền vững, hiệu quả trong những năm gần đâytập trung chủ yếu ở vùng đất dốc, tại những vùng đất canh tác (ngoài ra còn các loạiđất đặc dụng, đất thổ cư, đất khác) Vùng đất dốc, nông lâm kết hợp có thể được xem