1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá hiện trạng và định hướng quản lí, sử dụng bền vững đất nông nghiệp tại xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

79 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã 2 hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông lâm nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Chi Khê là một xã miền núi huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, đời sống nhân dân trong xã chủ yếu phụ thuộc vào các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, bên cạnh những hộ gia đình có các mô hình canh tác nông – lâm nghiệp đạt hiệu quả cao vẫn còn tồn tại những hộ gia đình sản xuất theo tập quán canh tác cũ. Lâm nghiệp ở đây chủ yếu là rừng tự nhiên, rừng trồng phòng hộ môi trường, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Do đó, việc tạo ra các sản phẩm cây trồng nông lâm nghiệp đa dạng, năng suất cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường vàcải thiện đời sống cho người dân địa phương, không còn sự chệnh lệch về kinh tế trong các hộ gia đình đồng thời đảm bảo được vấn đề sử dụng đất bền vững thì việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp sử dụng đất bền vững cho xã Chi Khê là vô cùng cần thiết. Nhằm đánh giá đúng đắn những thay đổi trong công tác quản lý sử dụng đất nông nghiệp trong thời gian gần đây tại xã Chi Khê làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bànxã nhằm nâng cao đời sống cho người dân địa phương, đề tài “Đánh giá hiện trạng vàđịnh hướng quản lí, sử dụng bền vững đất nông nghiệp tại xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. “đã được đề xuất thực hiện.

Trang 1

Xin trân trọng cám ơn!

Hà nội, Ngày 15 tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Bùi Nhật Hùng

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, kéo theo những đòi hỏi ngày càngtăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã

Trang 2

hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những nhucầu ngày càng tăng đó Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp có hạn

về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và

sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Đó còn chưa kể đến sựsuy giảm về diện tích đất nông lâm nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ramạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Do vậy, việcđánh giá hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bềnvững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa họctrên thế giới quan tâm

Chi Khê là một xã miền núi huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, đời sốngnhân dân trong xã chủ yếu phụ thuộc vào các hoạt động sản xuất nông lâmnghiệp, bên cạnh những hộ gia đình có các mô hình canh tác nông – lâm - nghiệpđạt hiệu quả cao vẫn còn tồn tại những hộ gia đình sản xuất theo tập quán canhtác cũ Lâm nghiệp ở đây chủ yếu là rừng tự nhiên, rừng trồng phòng hộ môitrường, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Do đó, việc tạo ra cácsản phẩm cây trồng nông lâm nghiệp đa dạng, năng suất cao, đáp ứng được nhucầu của thị trường vàcải thiện đời sống cho người dân địa phương, không còn sựchệnh lệch về kinh tế trong các hộ gia đình đồng thời đảm bảo được vấn đề sửdụng đất bền vững thì việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp sử dụng đất bềnvững cho xã Chi Khê là vô cùng cần thiết

Nhằm đánh giá đúng đắn những thay đổi trong công tác quản lý sử dụngđất nông nghiệp trong thời gian gần đây tại xã Chi Khê làm cơ sở đề xuất cácgiải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bànxã nhằm

nâng cao đời sống cho người dân địa phương, đề tài “Đánh giá hiện trạng vàđịnh hướng quản lí, sử dụng bền vững đất nông nghiệp tại xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An “đã được đề xuất thực hiện.

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CANH TÁC 1.1.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất canh tác

Theo Các Mác, hiệu quả là việc “Tiết kiệm và phân phối một cách hợplý” Bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, biểu hiện

Trang 3

trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thờigian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sảnxuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết địnhđộng lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xãhội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại

Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel - Norhuas: “ Hiệu quả không cónghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệuquả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hóa này

mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hóa khác” [8]

Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đánh giá hiệu quả sử dụng đất cho cácvùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuấtmới, ổn định, bền vững và hợp lý Trong đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mộtnội dung hết sức quan trọng

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu câytrồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của hầu hếtcác nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học,các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mongmuốn của cả nhà nông - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuấtnông nghiệp Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vậtnuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiêncứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, làmột trong những điều tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hướng về xuấtkhẩu có tính ổn định và bền vững [15]

Ngày nay các nhà nghiên cứu cho rằng: việc xác định đúng khái niệm,bản chất của hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của CácMác và những lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xemxét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [15,16]

a Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tớinền sản xuất hàng hoá, tới tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Hiệuquả kinh tế là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằngquá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con

Trang 4

người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì vậy nângcao hiệu quả kinh tế là đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã hội Vì thếhiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề: (i) mọi hoạt động của con ngườiđều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian” (ii) hiệu quả kinh tế phải được xemxét trên quan điểm của lý luận hệ thống (iii) hiệu quả kinh tế là một phạm trùphản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường cácnguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người.

Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phảitrên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi xuất tiền chovay vốn ngân hàng Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong,ngoài nước, hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai, sâubệnh

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quảđạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạtđược là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phầngiá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánhtuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượngđó

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quảkinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trịđều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạtđược một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới có điềukiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc

sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi

đó mới đạt hiệu quả kinh tế

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sửdụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cảivật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động tiết kiệmnhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội

b Hiệu quả xã hội

Trang 5

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xãhội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệmật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất.

Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều laođộng, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực

và nguồn lực của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân

về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền vănhoá của địa phương thì việc sử dụng đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không đượcngười dân ủng hộ Theo Nguyễn Duy Tính hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đấtnông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diệntích đất nông nghiệp[17]

c Hiệu quả về môi trường

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo

vệ được độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trườngsinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đadạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [8]

Trong thực tế tác động của môi trường diễn ra rất phức tạp và theo chiềuhướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặctính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của cáchoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên nhữngảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường Vì vậy, hiệu quả môi trường đượcphân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quảvật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường

Trong sản xuất nông lâm nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánhgiá thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phânbón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởngtốt, cho năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất

Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữacây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụngđất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt đượcmục tiêu đặt ra

Trang 6

Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhấttài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất

để đạt sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào

1.1.2 Đặc điểm việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

Trong quá trình khai thác, sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mongmuốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấpnhất Điều đó khẳng định khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trướchết phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thểthường là một ha, tính trên một đồng chi phí, một lao động đầu tư Như vậy, mộttrong những đặc điểm để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hiệu quảkinh tế

Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc [4] Chính vìvậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến nhữngtác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội bao gồm giải quyếtviệc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Đây thực chất

là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Ngoài ra cũng theo tác giả thì phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợpđược khi con người biết cách làm cho môi trường phát triển, điều này đồng nghĩavới việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnhhưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh Vì vậy, để đánh giámột cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải đề cập tới cả hiệuquả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

1.1.3.Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâmnghiệp, đến môi trường sinh thái, đến môi trường sống của nông dân Vì vậy,đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướngvào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường (FAO,1994) Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

có thể xem xét trên các mặt sau:

* Bền vững về kinh tế

Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào theonguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định và các

Trang 7

yếu tố đầu vào khác Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấpnhận Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bìnhquân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩmchính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ bềnvững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranhđược trong cơ chế thị trường.

* Bền vững về mặt xã hội

Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xã hội Đáp ứngnhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi íchlâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn nhu cầu ăn,mặc, và nhu cầu sống khác hàng ngày của người nông dân Nội lực và nguồn lựcđịa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổchức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng

đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợpvới nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không đượccộng đồng ủng hộ

* Bền vững về môi trường

Sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất

và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đấtmất hàng năm dưới mức cho phép Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộcđối với quản lý sử dụng bền vững Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toànsinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bềnvững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )

1.1.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

Theo Phạm Vân Đình và cộng sự cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bao gồm: một là mục tiêu và phạm vinghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp; hai là nhu cầu của địaphương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp[3]

Về nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đấtnông nghiệp bao gồm: một là hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàndiện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phảiđảm bảo tính so sánh có thang bậc; hai là để đánh giá chính xác, toàn diện cần

Trang 8

phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chânthật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung đểhiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thểhơn; ba là các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nôngnghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại,nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu; và cuối cùng là hệthống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụngkích thích sản xuất phát triển[14,15,16,17] Vì vậy, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảđất canh tác cụ thể như sau:

* Các chỉ tiêu hiệu đánh giá hiệu quả kinh tế (tính trên 1 ha đất nông nghiệp):

- Thu nhập hỗn hợp = Tổng thu nhập - Tổng chi phí

- Hiệu quả 1 đồng chi phí = Thu nhập hỗn hợp/ Tổng chi phí

Trong đó: + Tổng thu nhập / 1ha = Sản lượng/1ha x giá bán

+ Tổng chi phí/ 1ha: Là toàn bộ chi phí vật chất quy ra tiền sử dụngtrực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụngcụ,…)

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằngtiền theo thời giá hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độcao, thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:

+ Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội, khoa học, kỹ thuật: kết quả

của quá trình sử dụng đất phải đưa lại những lợi ích như nâng cao trình độ dân trí

và những hiểu biết xã hội Kiến thức, kinh nghiệm của người nông dân có thểđược trau dồi thông qua các hoạt động như đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuậtmới vào sản xuất hay sự nhạy bén đối với thị trường khi sản xuất hàng hoá pháttriển Ngoài ra, khi đạt được hiệu quả kinh tế, người dân có điều kiện học tậphay đầu tư kiến thức cho bản thân và con em mình

+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân: sử

dụng đất đạt hiệu quả trước hết phải đảm bảo được những nhu cầu về lươngthực, thực phẩm cho người dân Đối với sản xuất nông nghiệp ở các nước đangphát triển, đảm bảo lương thực được đặt lên hàng đầu Điều này có ý nghĩa quan

Trang 9

trọng cả về mặt thoả mãn nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống cho sự tồn tại và cả

về mặt ổn định chính trị

+ Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng: mỗi

vùng có những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau, có vai trò khác nhau trong

sự nghiệp phát triển chung Nền kinh tế muốn phát triển thì các ngành, các vùngcần có những bước đi đúng đắn và phù hợp Sử dụng đất nói chung và đất nôngnghiệp nói riêng nên tuân thủ theo những định hướng mang tính chiến lược

+ Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân: hệ thống nông nghiệp thu hút nhiều lao động, mang lại lợi ích cho người

lao động sẽ giải quyết được vấn đề việc làm, giảm nạn thất nghiệp, giảm các tiêucực trong xã hội góp phần ổn định và phát triển đất nước

+ Góp phần định canh, định cư: thực tế cho thấy, hình thức du canh, du

cư không những làm cho cuộc sống thiếu ổn định mà còn gây nên tình trạng suythoái môi trường đất, nước Sử dụng đất có hiệu quả là phải góp phần giúpngười dân định canh, định cư, yên tâm đầu tư sản xuất

* Các chỉ tiêu hiệu quả môi trường:

Trong sử dụng đất luôn có xảy ra mâu thuẫn giữa những lợi ích vật chất,

cá nhân trước mắt với những lợi ích xã hội, lâu dài Việc người dân khai thác từđất nhiều hơn, cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các dạng phân hoáhọc, thuốc bảo vệ thực vật đều là những nguyên nhân làm tổn hại môi trường

Sử dụng đất thực sự đạt hiệu quả khi nó không có mâu thuẫn trên Vì vậy, một sốtiêu chí được đưa ra khi đánh giá đến hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là:

+ Tăng độ phì nhiêu của đất;

+ Cải tạo, bảo tồn thiên nhiên;

+ Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất

1.2 NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

Việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứngnhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiềunhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việcđánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loạiđất để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai tháctốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng

Trang 10

Các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới hàng năm cũngđưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới, các kỹ thuậtcanh tác mới Đặc biệt, Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) cũng đã đóng gópnhiều thành tựu về giống lúa và hệ thống canh tác trên đất trồng lúa Xu hướngchung trên thế giới là tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồngtrên những vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ thốngcanh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tíchtrong một năm [10]

Ở châu Âu đã đưa chế độ luân canh 4 năm, 4 khu vực với hệ thống câytrồng gồm: khoai tây, ngũ cốc mùa xuân, cây cỏ ba lá và ngũ cốc mùa đông vàothay thế chế độ luân canh 3 năm, 3 khu với hệ thống cây trồng chủ yếu là: ngũcốc, bỏ hóa làm cho năng suất ngũ cốc tăng gấp 2 lần và sản lượng lương thực,thực phẩm trên 1ha tăng gấp 4 lần [17]

Ở châu Á trong những năm đầu của thập kỷ 70 nhiều vùng đã đưa các câytrồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa làm tăng hiệu quả sử dụng đất [17].Nông dân Ấn Độ thực hiện sự chuyển dịch từ cây trồng truyền thống kém hiệuquả sang cây trồng có hiệu quả cao bằng cách trồng mía thay cho lúa gạo và lúa

mì, trồng đậu tương thay cho cao lương ở vùng đất đen, trồng cây lúa ở vùng cómạch nước ngầm cao thay cho cây lấy hạt có dầu, bông và đậu đỗ (Nguyễn VănLuật, 2005)

Tại Nhật Bản, tạp chí “Farming Japan” hàng tháng đều giới thiệu các côngtrình của các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là củaNhật Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụngđất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: đó là sự phối hợp giữacây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ laođộng, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sảnphẩm [17]

Các nước trong khu vực đều có những chính sách và nghiên cứu về sựphát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hàng hoá nói riêng TrungQuốc đã coi việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triểnkinh tế xã hội nông thôn Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chính sách quản lý và

sử dụng đất đai ổn định, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống tráchnhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Chính quyền các

Trang 11

địa phương của Trung Quốc thực hiện chủ trương “Ly nông bất ly hương” đãthúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế nông thôn mộtcách toàn diện Thái Lan có chính sách cho thuê đất dài hạn hay cấm trồng cácloại cây không thích hợp trên từng loại đất đã thúc đẩy việc quản lý và sử dụngđất có hiệu quả hơn.

Theo báo cáo của Tổ chức FAO, nhờ các phương pháp tạo giống hiện đạinhư đột biến thực nghiệm, công nghệ sinh học bao gồm nuôi cấy bao phấn cứuphôi, dung hợp tế bào trần, kỹ thuật gen… các nước trồng lúa trên thế giới đãtạo ra nhiều giống đột biến, trong đó có các nước như Trung Quốc, Nhật, Ấn

Độ, Mỹ là những quốc gia đi đầu Sử dụng kỹ thuật nuôi cấy bao phấn TrungQuốc đã tạo ra nhiều giống lúa thuần khác nhau, bằng kỹ thuật gen cũng đãchuyển được một số gen kháng bệnh virus, kháng đạo ôn bạc lá, sâu đục thân

Một số nước đã ứng dụng công nghệ thông tin xác định hàm lượng dinhdưỡng dựa trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ởIsrael, Philipin, Hà Lan, Mỹ, Nhật , kết hợp giữa bón phân vào đất, phun phânqua lá, phân vi lượng, chất kích thích, điều hoà sinh trưởng đã mang lại hiệu quảrất cao trong sản xuất như ở Mỹ, Israel, Trung Quốc, Đài Loan, Uc, Nhật Bản (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2006) Bên cạnh đó, vấn đề khai thácđất gò đồi đã đạt được những thành tựu đáng kể ở một số nước trên thế giới.Hướng khai thác chủ yếu trên đất gò đồi là đa dạng hóa cây trồng, kết hợp trồngcây hàng năm với cây lâu năm, trồng rừng với cây nông nghiệp trên cùng mộtvạt đất dốc [17]

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai làyếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủTrung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ

sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tínhchủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất (Đỗ Thị Tám, 2001)

Mặt khác, việc bảo quản nông sản sau thu hoạch đã được các nhà khoahọc trên thế giới nghiên cứu và đưa ra những tiến bộ kỹ thuật thiết thực nhằmgiảm thiểu hiện tượng “ mất mùa trong nhà” Những thiết bị sau thu hoạch baogồm: công nghệ sấy khô nông sản, công nghệ làm lạnh nông sản, cấu trúc khotàng, công nghệ hoá học Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo chất lượng sau thuhoạch (Food chemistry, chất lượng thực phẩm, vi sinh vật thực phẩm ), quản lýsau thu hoạch (quản lý trang trại, quản lý doanh nghiệp, kinh tế học), công nghệ

Trang 12

cứu và áp dụng thành công ở các nước Hà Lan, Pháp, Nhật, Trung Quốc, TháiLan [10].

Nhìn chung, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng đất luôn được các quốc gia

có nền nông nghiệp mạnh đầu tư phát triển Chính vì vậy đã thu hút được nhiềunhà khoa học quan tâm, nghiên cứu; các nhà khoa học các nước đã rất chú trọngđến việc nghiên cứu các cây con giống mới, nghiên cứu những công nghệ sảnxuất và chế biến, nghiên cứu về chính sách, định hướng nhằm phát triển nềnnông nghiệp sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao và bền vững

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT

Ở VIỆT NAM

Trong những năm qua, nhờ sự đổi mới về chính sách của Đảng, Nhà nước

và sự chú trọng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nôngnghiệp, đội ngũ khoa học của ngành đã nghiên cứu thành công trên nhiều lĩnhvực như: giống cây trồng, vật nuôi, thú y, lâm nghiệp, thuỷ lợi, canh tác, bảo vệthực vật, đất, phân bón Việc nghiên cứu và ứng dụng tập trung vào các vấn đềnhư: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồngvật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứngdụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Nhiều công trình nghiên cứu được hội đồngkhoa học đánh giá cao, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận

là những tiến bộ khoa học kỹ thuật và đã đưa vào áp dụng trong sản xuất, đưanăng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng trong những nămqua, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được người sản xuất đánh giá cao

Trong thập kỉ 90 của thế kỉ thứ 20, đã có nhiều nhà khoa học đi sâu vàonghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất Chương trình quy hoạch tổng thể đang đượctiến hành nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp, nội dungquan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đấtnông nghiệp Trong đó, công trình nghiên cứu hợp tác Việt – Pháp về mô phỏngchiến lược phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng đã đề cập việc pháttriển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện Việt Nam

Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước khác phải kể đến công trìnhnghiên cứu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam của Nguyễn Khang và PhạmDương Ưng [19] Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái vàphát triển lâu bền của Trần An Phong [14] Phân vùng sinh thái nông nghiệpvùng đồng bằng sông Hồng của các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị

Tú Ngà [8] Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát

Trang 13

triển lâu bền của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp [18] Vũ Năng Dũng,

Lê Hồng Sơn, Lê Hùng Tuấn [2] với nghiên cứu “ứng dụng kết quả đánh giá đấtvào đa dạng hóa cây trồng đồng bằng sông Hồng” đã xác định và đề xuất các hệthống cây trồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền cho 100.000 ha đấtbãi ven sông vùng đồng bằng sông Hồng

Nguyễn Minh Thanh, Trần Thị Nhâm (2015) đã đánh giá và lựachọn3loạihìnhsử dụngđấtchính với cáccâytrồng hàng năm, cây ăn quả và cây lâmnghiệp, phân tích đánh giá hiệu quả tổng hợp cho từng loại cây trồng, làm cơ sở

đề xuất giải pháp quản lí sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hóa: mở rộngdiện tích trồng các loại cây có giá trị kinh tế như Na dai,câyKeo tai tượng, xoan

ta tại xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn [11]

Qua nhiều năm nghiên cứu, Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm đã đưa ranhiều kết quả nghiên cứu về các quá trình thoái hoá đất và các biện pháp để phụchồi đất vùng đồi núi Việt Nam Nghiên cứu chỉ ra rằng đối với vùng cao, dân cưthưa, trình độ dân trí thấp, sản xuất còn ở mức thô sơ, cơ sở hạ tầng thấp, an toànlương thực là vấn đề cấp bách vì vậy các mô hình canh tác có triển vọng là trồngcây đặc sản, cây ăn quả, cây dược liệu phối hợp với bảo vệ rừng đầu nguồn, câytrồng dưới tán rừng lâu năm, hạn chế du canh, chuyển đổi du canh thành nươngđịnh canh với các loài cây họ đậu cải tạo đất[15]

Nguyễn Văn Chinh đã tiến hành điều tra phân tích một số hệ thống trồngtrọt cây công nghiệp lâu năm trên đất đồi vùng Tây Nguyên và đã đưa ra đượccác biện pháp để phát triển hệ thống cây công nghiệp lâu năm trên đất đồi, làm

cơ sở để khai thác hiệu quả đất trống đồi núi trọc, đó là việc áp dụng tổng hợpcác biện pháp: Biện pháp đầu tư, biện pháp sinh học, biện pháp kỹ thuật và cácbiện pháp về cơ chế chính sách

Nguyễn Minh Thanh (2016), đã nghiên cứu đánh giá và lựa chọn các môhình canh tác ở huyện Chư Pưh theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa: (i)Nhóm 1 gồm cây công nghiệp ngắn ngày và sắn, bắp, đậu đỗ, cỏ chăn nuôi, hoamàu và lúa nước; (ii) Nhóm 2 gồm cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày (cà phê,

hồ tiêu) và cây lương thực (cỏ chăn nuôi, đậu đỗ, hòa màu và lúa nước); (iii)Nhóm 3 gồm cây công nghiệp dài ngày (cao su, hồ tiêu, cà phê)[10]

Công trình nghiên cứu luận cứ phát triển kinh tế - xã hội vùng xung yếu hồthủy điện Hòa Bình của Vương Văn Quỳnh đã chỉ ra được các chính sách kinh tế

xã hội đã được triển khai tại khu vực và tác động của chính sách đó đến đời sống

Trang 14

tác đến các yếu tố chính của môi trường vật lý và kinh tế - xã hội cho thấy môhình canh tác ruộng nước, nông lâm kết hợp, rừng trồng có hiệu quả tác độngdương đến môi trường vật lý Mô hình nương rẫy có biểu hiện tiêu cực đến môitrường nhưng ở mức độ thấp Những phương thức canh tác vườn, canh tác màu,canh tác rừng trồng có hiệu quả tổng hợp chưa cao nên cần được cải tạo phát triểntheo hướng chuyển dần thành canh tác nông lâm kết hợp[16]

Trong một nghiên cứu khác, Võ Đại Hải và cộng sự cho thấy việc cải tiến các

hệ thống canh tác nương rẫy, theo hướng sử dụng đất bền vững chính là việc thiết lậpcác hệ thống nông lâm kết hợp và hiệu quả do nó mang lại là cơ cấu thu nhập củangười dân thay đổi, thời hạn sử dụng đất kéo dài, năng suất cây trồng ổn định[4]

Đặng Thịnh Triều và cộng sự nghiên cứu một số hệ thống canh tác ở miềnnúi và vùng cao tại Việt Nam cho thấy, hiện nay ở nước ta đang tồn tại các hệthống canh tác sau: nương rẫy du canh du cư, lúa nước, hoa màu định canh định

cư, cây lâu năm tập trung, chăn nuôi đại gia súc, nông lâm kết hợp[12]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất

đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm, thực hiện trên nhiều khía cạnhkhác nhau Chú trọng đến việc nghiên cứu các cây con giống mới, bố trí cơ cấucây trồng phù hợp cho từng vùng sinh thái, định hướng nhằm phát triển nền nôngnghiệp sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao và bền vững

Trang 15

PHẦN 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giáđược hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp làm cơ sở

đề xuất định hướng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp bền vững tại xã Chi Khê,huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, đất đai, các loại hình sử dụng đất của xã Chi Khê,huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Các điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường có liên quan đến việc sử dụngđất nông nghiệp của xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung đánh giá về hiện trạng sử dụng đất, hiệu quả một số môhình sử dụng đất phổ biến trên địa bàn xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh NghệAn

Số liệu thu thập từ 2011 - 2016, đơn giá vật tư, giá nông sản năm 2016

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đểgiải quyết được những mục tiêu đề ra, khóa luậnthực hiện một số nộidung chính như sau:

- Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất và lựa chọn mô hình phổ biến tạiđịa bàn nghiên cứu;

- Phân tích những điều kiện thuận lợi, khó khăn đối với công tác quản lý sửdụng đất trên địa bàn;

- Đánh giá, so sánh hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình đã lựa chọntrên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất một số định hướng phát triển các mô hình theo hướng hiệu quả vàbền vững trên địa bàn nghiên cứu

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Quan điểm phương pháp luận

Trong hệ thống sử dụng đất, con người dựa vào những đặc điểm của đất

Trang 16

coi là một bộ phận cơ bản của hệ thống, tất cả các tác động của con người đều đượcthực hiện trên nó.

Quan điểm phương pháp luận khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâmnghiệp dựa trên một số quan điểm như sau:

- Một số đặc trưng của hệ thống quản lý sử dụng đất bền vững;

- Những nguyên tắc cơ bản hệ thống quản lý sử dụng đất bền vững;

- Các biện pháp quản lý, sử dụng đất bền vững;

- Cách tiếp cận các hệ thống quản lý và sử dụng đất

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Ứng với từng nội dung nghiên cứu, nghiên cứu áp dụng một số phươngpháp cụ thể sau:

2.4.2.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và lựa chọn một số mô hình sử dụng đất phổ biến

*Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp

Điều tra trực tiếp thông qua kế thừa hệ thống số liệu, hồ sơ, tài liệu đãđược công bố:

- Thu thập dữ liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội

- Tài liệu, báo cáo, bản đồ liên quan: chính sách đất đai, tình hình sử dụngđất, hiện trạng cũng như biến động sử dụng đất từ 2014 - 2016

*Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp

- Thực hiện các phương pháp phỏng vấn nông hộ, các đối tượng liên quantheo bảng câu hỏi định trước

- Điều tra theo tuyến và xây dựng sơ đồ lát cắt Lựa chọn hướng đi qua tất

cả cả các mô hình sử dụng đất trên địa bàn xã

- Trên cơ sở lát cắt, xác định các mô hình sử dụng đất, kết cấu các mô hìnhtại địa phương

- Thảo luận theo nhóm cũng các hộ gia đình, các cán bộ quản lí ở địaphương để xác định các mô hình có tính phổ biến ở địa phương

2.4.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình sử dụng đất

* Phương pháp điều tra phỏng vấn nông hộ

Phương pháp này sử dụng bộ câu hỏi để điều tra nông hộ, phỏng vấn báncấu trúc với các câu hỏi mở Bộ câu hỏi điều tra bao gồm các thông tin về tình

Trang 17

hình cơ bản của hộ nông dân, qui mô, cơ cấu đất đai, thu nhập kinh tế, các hoạtđộng sản xuất nông lâm nghiệp, những khó khăn, kiến nghị….Các thông tin thểhiện bằng những câu hỏi ngắn gọn, dễ trả lời, phù hợp với trình độ chung củanông dân (chi tiết ở phân phụ lục) Số hộ phỏng vấn là 30 (10 hộ/thôn x 3thôn/xã) Các hộ phỏng vấnở cả 3 loại: giàu, trung bình, nghèo.

* Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất

(i) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất

+ Phương pháp tĩnh: Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập tương đối vàkhông chịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị đồngtiền Phương pháp này áp dụng tính toán cho các mô hình canh tác cây dưới 12tháng: P = TN - CP[2.1]

Trong đó: P: Lợi nhuận; TN: Thu nhập; CP: Chi phíĐối với phương pháp này, nếu giá trị tính toán P > 0 thì mô hình canh tác đó

có hiệu quả kinh tế và ngược lại

+ Phương pháp động: Xem xét chi phí và thu nhập trong mối quan hệ vớimục tiêu đầu tư, thời gian, giá trị đồng tiền Phương pháp này được áp dụng tínhtoán cho các mô hình canh tác cây trên 12 tháng Bao gồm các chỉ tiêu:

* Giá trị hiện tại lợi nhuận ròng NPV: Là hiệu số giữa giá trị thu nhập và

chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu

để quy về thời điểm hiện tại

r

C B

t

t [ 2 2 ] )

1 ( 0

=

Trong đó: NPV: Giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)

Bt : Giá trị thu nhập ở năm t (đồng); r : Tỉ lệ chiết khấu hay lãi suất(%).T: Là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)

NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay cácphương thức canh tác NPV > 0 : Sản xuất có lãi, NPV < 0 : Sản xuất bị lỗ, NPV

= 0 : Sản xuất hòa vốn NPV càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao

*Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR: Là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu

tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR chính là tỷ lệ chiếtkhấu, tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là khi:

C B

n

t

t 0 [ 2 3 ] 1

0

=

= +

Trang 18

IRR = 0 thì r = IRR Khi IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao, khả năng thuhồi vốn càng sớm IRR > r có lãi; IRR < r hòa vốn

* Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR: Là hệ số sinh lãi thực tế phản ánh

chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

CPV BPV r

C r

B BCR n

1 (

) 1

Trong đó: BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)

BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào đó BCR > 1 thì có hiệu quảkinh tế.BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao, ngược lại BCR < 1 thì kinhdoanh không có hiệu quả Theo thực tế, BCR ≤

1,5 thì phương án chắc chắn sẽ antoàn

(ii) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội được thảo luận cùng người dân và chođiểm dựa trên các tiêu chí và cho điểm: thang cho điểm cao nhất là 10 và thấpnhất là 0 điểm Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội được sử dụng như sau:

- Khả năng lan rộng và phát triển hàng hóa của mô hình;

- Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm.;

- Đảm bảo an ninh lương thực và an toàn thực phẩm;

- Mức độ đầu tư và yêu cầu về kỹ thuật canh tác;

- Mức độ thu nhập kinh tế, phù hợp với thị trường tiêu thụ

(iii) Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường

Đánh giá hiệu quả môi trường là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vinghiên cứu của đề tài, tiến hành chỉ đánh giá hiệu quả của môi trường với 1 sốcác tiêu chí:

- Khả năng bảo vệ đất chống xói mòn,

- Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật

- Sự ổn định của năng suất cây trồng qua các năm

Các tiêu chí đánh giá này được thảo luận cùng người dân và cho điểm

Trang 19

Nhận thức của người dânđượcđánh giá thông qua sử hiểu biết của họ có (1điểm) hay không (0 điểm); tăng (1 điểm) hay giảm (-1 điểm) hoặc không thayđổi (0 điểm).

(iv) Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các mô hình sử dụng đất

Hiệu quả tổng hợp của các phương tức canh tác có nghĩa là một phươngthức canh tác phải có hiệu quả kinh tế nhất, mức độ chấp nhận của xã hội caonhất (hiệu quả xã hội) và góp phần gìn giữ bảo vệ môi trường sinh thái (hiệu quảsinh thái) Áp dụng phương pháp tính chỉ số hiệu quả tổng hợp các phương thứccanh tác (Ect) của W Rola (1994):

] 5 2 [

1

* or

or min

max 1

min max

1

n f

f f

f f

f f

f Ect

F: Các đại lượng tham gia vào tính toán (NPV, CPV, IRR …)

N: Số đại lượng tham gia vào tính toán

Việc phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường và hiệu quảtổng hợp hệ thống sử dụng đất là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn, đề xuấtphương án sử dụng đất bền vững

2.4.2.3 Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông lâm nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững

- Trên cơ sở kết quả phát hiện các vấn đề trong các mô hình sử dụng đấtphổ biến, tiến hành tổng hợp các vấn đề nhỏ để xác định vấn đề chính còn tồn tạitrong thực tế sử dụng đất tại địa phương Phân tích vấn đề chính bằng cách triểnkhai một sơ đồ nhánh trình bày các vấn đề thông qua phân tích nguyên nhân vàhậu quả

- Từ kết quả phân tích hệ thống nguyên nhân của vấn đề, tiến hành xây dựng sơ

đồ cây mục tiêu để phân tích hệ thống các giải pháp cho vấn đề chính, các giải pháp hướng đến giải quyết vấn đề chính cho sử dụng đất ở địa phương

Trang 20

PHẦN 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ XÃ HỘI

3.1.1 Vị trí địa lý

Chi Khê là một xã miền núi thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, cáchtrung tâm huyện 5,5 km về phía Tây, cách thành phố Vinh 135 km theo quốc lộ7A Toạ độ địa lý:

- Từ 18°46’30’’ đến 19°19’42’’ vĩ độ Bắc

- Từ 104°31’57’’ đến 105°03’08’’ kinh độ Đông

Giới cận: + Phía Đông: giáp thị trấn Con Cuông

+ Phía Tây: giáp xã Châu Khê

+ Phía Nam: giáp xã Yên Khê, Châu Khê

+ Phía Bắc: giáp xã Cam Lâm, Đôn Phục

3.1.2 Điều kiện tự nhiên

3.1.2.1 Địa hình, địa mạo

Chi Khê là xã có địa hình tương đối phức tạp, phía hữu ngạn sông Lamđịa hình bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe suối và các hệ dông núi như khe Lội,khe Cồn cành, khe Chai, phía tả ngạn sông lam địa hình bị chia cắt nhiều bởi hệthống khe suối và các hệ dông núi như khe Căm, khe Ông Đàn, khe Thắng; Độcao bình quân 300m, độ dốc bình quân 18°, địa hình được phân lập rõ ở hai bên

tả ngạn và hữu ngạn sông Lam Có nhiều đồi núi dốc lớn, địa hình bị chia cắt bởi

hệ thống khe suối, địa hình cao dần về phía Tây Nam, thấp dần về phía ĐôngBắc, đây là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của xã

3.1.2.2 Khí hậu

Xã Chi Khê nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởngđặc điểm chung của khí hậu Bắc Trung Bộ và miền núi Tây Nam Nghệ An, khíhậu chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông lạnh

từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

- Chế độ nhiệt: Có hai mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9,thángnóng nhất là tháng 7 Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau:

+ Nhiệt độ bình quân năm: 23,3°C

+ Nhiệt độ bình quân cao nhất: 28°C, cao nhất tuyệt đối: 42,2°C

Trang 21

+ Nhiệt độ bình quân thấp nhất: 17°C, thấp nhất tuyệt đối +4°C

+ Số giờ nắng trung bình năm 1.637 giờ

- Chế độ mưa: Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, bình quân 1.760 ml.Bình quân cao nhất 2.287 ml, bình quân thấp nhất 1.190 ml Bình quân 1ha đất

tự nhiên hơn 1300m³/năm song phân bố không đều, trên 70% lượng mưa tậptrung vào các tháng 7-8-9 và tiết tiểu mãn tháng năm nên thường gây lũ lụt Cáctháng còn lại chỉ có 30% lượng mưa dễ gây nên hạn hán

+ Độ ẩm không khí: Bình quân hàng năm: 86%

+ Bình quân cao nhất: 90%; hấp nhất: 60%

+ Lượng bốc hơi nước bình quân: 700ml; thấp nhất: 332 ml; Cao nhất:1.110 ml

- Chế độ gió: có hai hướng gió chính

+ Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió thường đikèm theo giá rét nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống

+ Gió phơn Tây Nam (gió Lào) thổi từ tháng 4 đến tháng 9 thường gâynắng nóng, khô hạn

- Độ ẩm không khí bình quân năm 85%, cao nhất trong năm trên 90%,thấp nhất trong năm 70% Lượng bốc hơi bình quân năm 943mm, lượng bốc hơitrung bình của các tháng nóng là 140mm (từ tháng 5 đến tháng 9), của nhữngtháng mưa là 61 mm (từ tháng 9 đến tháng 11)

- Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm lớn, mùa mưa tập trung trùngvới mùa mưa bão, mùa nắng nóng có gió Phơn Tây Nam khô nóng, mùa lạnh cógió mùa Đông Bắc hanh giá mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa

Với đặc điểm khí hậu thời tiết nêu trên, cần bố trí tập đoàn cây trồng, cơ cấu thời

vụ thích hợp, né tránh các yếu tố bất thuận, tăng cường bảo vệ đất kết hợp với sửdụng nhiều biện pháp tổng hợp để nâng cao độ phì nhiêu cho đất

3.1.2.3 Thuỷ văn

Nguồn nước trong vùng đáp ứng thoả mãn nhu cầu sản xuất và sinh hoạtcủa nhân dân, nguồn nước mặt chủ yếu là sông Lam và một số khe suối lớn như:Khe Lội, Khe Căm, Khe Thắng có lượng nước lớn, thuận lợi cho việc vậnchuyển lâm sản ngoài ra địa bàn xã còn một số hồ đập được xây dựng từ nguồnvốn các dự án để phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu

Trang 22

Nhìn chung khí hậu thời tiết xã Chi Khê tương đối thuận lợi cho việctrồng trọt và chăn nuôi Do thời tiết biến động hàng năm theo chu kỳ, theo quyluật, theo mùa nên chúng ta có thể bố trí thời vụ gieo trồng phù hợp để né tránhđược những tác động khắc nghiệt về thời tiết (rét, hạn hán, lũ lụt) để đảm bảosản xuất cây trồng vật nuôi hiệu quả.

Ngoài nguồn tài nguyên nước ngầm, xã Nam Sơn còn có nguồn nước mặtcủa các hồ như hồ Hàm Lợn, hồ Kẻo Cà, hồ Hoa Sơn

3.1.2.4 Tài nguyên đất

* Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã: 7.384,69 ha Gồm các loại đất sau:Nhóm đất Feralit mùn trên núi cao (độ cao > 300 m): 1.875,4 ha (chiếm25,4%) đây là quỹ đất lâm nghiệp quy hoạch rừng đặc dụng và rừng phòng hộđầu nguồn

Nhóm đất Feralit màu vàng trên núi (độ cao t ừ 50- 300 m): 3.848,4 ha(chiếm 53,5%) là quỹ đất chủ yếu quy hoạch cho rừng sản xuất, phân bố đều trên

13 bản của xã Loại đất này có đặc điểm độ dày tầng đất sâu, tầng thảm mụctương đối dày, thành phần hoá học đất tốt, độ dốc tương đối lớn chỉ phù hợp vớiviệc trồng mét và phát triển rừng nguyên liệu giấy

Nhóm đất Feranit nâu vàng vùng thung chọ và chân đồi (độ cao từ 30 – 50m): 596,83 ha (chiếm 8,1%) Nhóm này có tầng đất dày khá, đất tốt Là quỹ đấtchủ yếu đang phát triển cây hàng năm và cây lâu năm

Nhóm đất dốc tụ: 608,07 ha, chiếm 8,30% đây là quỹ đất chủ yếu để trồngcây lương thực, cây hoa màu Là quỹ đất có độ phì tự nhiên khá, chất đất tốt rấtphù hợp với việc phát triển cây lúa nước và trồng rau màu hàng năm

Đất phù sa: 35,0 ha (chiếm 0,35%) chiếm tỷ lệ rất ít, chủ yếu phân bố ởcác bản ven sông, ven khe suối, có tầng đất dày, tương đối màu mỡ, có thể quyhoạch trồng các loại rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày

Đất phi nông nghiệp: 309,41 ha (chiếm 4,2%) chủ yếu quy hoạch cho đất

ở và đất xây dựng các công trình công cộng

* Tài nguyên rừng

- Diện tích rừng tự nhiên: 3.144,54 ha

- Diện tích rừng trồng tập trung: 675,0 ha

- Diện tích đất trồng chưa có rừng: 1.184,26 ha

Nhờ thực hiện tốt việc khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng cho nêndiện tích rừng ở xã Chi Khê đã tăng nhanh trong những năm gần đây; tính đến

Trang 23

31/12/2009 diện tích đất có rừng đạt 3.939,54 ha trên 5.823,8 ha đất lâm nghiệp;

độ che phủ bình quân trên toàn xã đạt 73%

* Tài nguyên nước

Với lợi thế xã ven sông Lam có chiều dài dọc sông chiếm 6,8 km đườngsông hơn nữa địa hình lại có nhiều khe suối; Mực nước ngần trung bình 5 – 7,nhìn chung khá phong phú Độ ẩm của đất lớn đảm bảo nhu cầu cho cây cối pháttriển.Chất lượng nước ngầm tốt đảm bảo cho sinh hoạt và khai thác để phục vụnguồn nước tưới, tiêu cho cây trồng vật nuôi quanh năm

3.2 Hiện trạng dân số, lao động

Tổng dân số toàn xã tính đến ngày 30 tháng 10 năm 2016 là: 1.412 hộ với6.254 nhân khẩu, 2.792 lao động được phân bổ thành 13 thôn bản, bản có số hộcao nhất là 178 hộ (Lam Khê), 162 hộ (Thuỷ Khê), bản có số hộ thấp nhất là 34

- Giao thông: Toàn xã hiện có 76,154 km đường giao thông các loại, trong

đó có 12,5 km đường liên xã và 5,5 km đường liên thôn và đường giao thông nộiđồng là đường đất, lầy lội và mùa mưa nên khó cho việc lưu thông đi lại và phục

vụ sản xuất nông nghiệp

- Thủy lợi: Nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp lấy từ hai nguồnchính ( Khe Chai và Khe Nằn), đây là nguồn tưới chính của xã.Hai khe này tướicho khoảng 2/3 diện tích lúa nước của xã Nhìn chung hệ thống tưới tiêu thuỷ lợitrên địa bàn xã tương đối ổn định, mạng lưới kênh mương được bố trí hợp lý,đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, riêng cây trồng cạn cầnđược bố trí một số trạm bơm ở các khu vực sản xuất rau màu như: Tiến Thành,Quyết Tiến, Bãi Văn……

Trang 24

- Điện: Xã có 5 trạm biến áp hạ thế từ mạng lưới điện Quốc gia, tổng côngsuất 820 KVA xây dựng từ năm 1991 đến nay nhiều trạm, tuyến đường dây đãxuống cấp cần phải cải tạo nâng cấp để đảm bảo an toàn và phục vụ tốt nhu cầusinh hoạt và phát triển kinh tế của nhân dân.

- Trường học: Đội ngũ giáo viên được quan tâm chuẩn hóa và nâng caotrình độ chuyên môn

- Y tế: trạm y tế được xây dựng tại khu vực trung tâm xã (Bản Thuỷ Khê)trên khuôn viên có diện tích 1.000m², nhà cấp IV, tuy nhiên do xây dựng đã lâunên hiện đã xuống cấp Trạm có 4 giường bệnh (đạt tỷ lệ 1,32 giường/1000 dân),

1 bác sỹ và 5 y sỹ phục vụ khám, cấp thuốc, có vườn thuốc nam diện tích 180m².Năm 2005 được công nhận là xã đạt tiêu chuẩn Quốc gia về y tế

3.3 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Thuận lợi:

- Chi Khê là một xã nông nghiệpvới vị trí địa lý thuận lợi cho việc giaolưu phát triển kinh tế , văn hóa, xã hội với các địa bàn trọng điểm trong huyện vàtỉnh, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, phát triển kinh tế xã hội

- Nằm trong vùng có điều kiện khi hậu phù hợp với sinh trưởng và pháttriển nhiều loại cây trồng

- Diện tích đất chưa sử dụng còn ít

- Nhân dân lao động cần cù có nhiều kinh nghiệm trồng trọt và chăn nuôi

- Cơ sở vật chất hạ tầng được từng bước củng cố và phát triển, tạo điềukiên thuận lợi cho lưu thông vận chuyển hàng hóa

Khó khăn:

- Tài nguyên khoáng sản của xã rất ít, kinh tế chủ yếu vẫn đang dựa vàonông nghiệp; hệ thống đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng còn quáyếu kém, hạn chế rất nhiều đến phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân;Lực lượng lao động của xã khá dồi dào, tuy nhiên phần lớn chưa được qua đàotạo, đã cản trở và ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật và công nghệ mới vào sản xuất

- Sản xuất hàng hoá chưa phát triển; Thu nhập trên đơn vị diện tích cònthấp Hạ tầng giao thông còn gặp nhiều khó khăn

- Tiểu thủ công nghiệp nghành nghề dịch vụ phát triển chậm, mô hìnhkinh tế Nông lâm kết hợp chưa được nhân rộng, nghê truyền thống chưa đượcphát huy và chưa khai thác hết lợi thế tiềm năng của địa phương.Người nông dânchưa chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp

Trang 25

- Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng khu dân cư nông thôn chưa đồng bộ,chất lượng còn thấp (về thủy lợi, thoát nước…) gây sức ép rất lớn trong việcgiành quỹ đất để mở rộng, nâng cấp, cải tạo các công trình trên

- Giá nông sản tăng cao trong khi diện tích đất có khả năng trồng cây côngnghiệp lâu năm tại xã là rất ít

- Để khắc phục các hạn chế và khai thác lợi thế trong quá trình sử dụngđất, cần tiến hành đánh giá thực trạng sử dụng đất, cũng như nghiên cứu sâu khixây dựng phương án quy hoạch, từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý, bảo đảm vừagiải quyết đươc nhu cầu đất đai, vừa bảo vệ được diện tích đất đang khai thác sửdụng đem lại hiệu quả cao, tránh tối đa việc chuyển mục đích không hợp lý gâylãng phí sử dụng không hiệu quả

Trang 26

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT NễNG LÂM NGHIỆP Ở KHU VỰC NGHIấN CỨU

4.1.1 Hiện trạng sử dụng đất xó Chi Khờ

Kết quả tổng hợp số liệu hiện trạng sử dụng đấtở KVNC được tổng hợpởbảng sau:

Bảng 4.1.Diện tớch, cơ cấu cỏc loại đất xó Chi Khờ(Tớnh đến 31/12/2016)

Diện tích theo mục đích sử dụng đất

Cơ cấu %

(Tổng hợp số liệu điều tra 2017)

Từ kết quả ở bảng trờn cho thấy:

- Đất nụng nghiệp là 6.951,55 ha, chiếm 94,1% tổng diện tớch đất tựnhiờn

- Đất phi nụng nghiệp với diện tớch 309,41 ha, chiếm 4,2% diện tớch đất tựnhiờn,

- Đất chưa sử dụng cũn 13,97 ha, chiếm 0,005% diện tớch đất tự nhiờn

* Đất sản xuất nụng nghiệp

Đất sản xuất nụng nghiệp diện tớch 1235,10 ha chiến 16,7% diện tớch tựnhiờn Được chia ra cụ thể như sau:

Trang 27

- Đất trồng cây hàng năm 901,27 ha chiếm 12,2% diện tích tự nhiên.Trong đó đất trồng lúa diện tích 159,0 ha chiếm 2,1% Đất trồng cây hàng nămkhác 742,27 ha chiếm 10,1%.

- Đất trồng cây lâu năm có diện tích 333,83 ha chiếm 4,5% diện tích đất tựnhiên

* Đất lâm nghiệp

Tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã 5.880,97 ha, chiếm 79,6% tổng diệntích đất tự nhiên Đất lâm nghiệp của xã 100% là đất rừng phòng hộ

4.1.2 Biến động sử dụng đất ở khu vực năm 2016so với 2014

Kết quả,tổng hợp diện tích đất năm 2016 so với diện tích đất kiểm kê năm2014

Bảng 4.2 Biến động diện tích các loại đất tại khu vực nghiên cứu

Diện tích năm

2016 (ha)

Diện tích năm 2014 (ha)

So sánh tăng(+) giảm(-)

1 Đất rừng sản xuất RSX 4.162,38 4.162,38 0,001.2

2 Đất rừng phòng hộ RPH 1.749,90 1.749,90 0,001.2

Trang 29

* Những thuận lợi, khó khăn đối với công tác quản lý, sử dụng đất tại xã Chi Khê

Công tác thống kê, kiểm kê đất đai trên địa bàn xã được thực hiện tốt, đấtđai được thống kê hàng năm và kiểm kê theo đúng luật định Hiện tại đã hoànthành công tác kiểm kê đến ngày 31/12/2016

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật vềđất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai đươc thực hiện thường xuyên

Người dân có kinh nghiệm sản xuất lâu đời, canh tác đa dạng các loại câytrồng, ý thức việc bảo vệ và giữ gìn nguồn tài nguyên đất

+ Tồn tại, khó khăn

Một số hộ dân khi thực hiện chuyển đổi, chuyển nhượng cho tặng quyền

sử dụng đất, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân, nên đã gây ra không

ít khó khăn cho công tác này.Bên cạnh đó, có những trường hợp người dânkhông kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, nên cũng không cấp giấy chứng nhậnhết cho những đối tượng này

Trình độ dân trí chưa cao, hiểu biết về luật đât đai còn hạn chế

Người dân địa phương thường canh tác và sử dụng đất canh tác theophong trào, sử dụng đất chưa thực sự tiết kiệm thiếu tính khoa học

Vấn đề bảo vệ cải tạo tăng độ màu mỡ cho đất chưa được quan tâm đúngmức Việc lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng chủ yếu

do người dân tự phát theo kinh nghiệm sản xuất, thiếu sự can thiệp của các cơquan liên quan như Hội nông dân, KNKL xã

Việc chuyển mục đích sử dụng đất còn tự phát, đặc biệt là diện tích đấttrông cây lâu năm, điều này gây khó khăn cho công tác quản lý

Trang 30

Trong công tác kiểm tra, theo dõi diễn biến tài nguyên đất, cập nhật nhữngthông tin về sử dụng đất chưa kịp thời và đầy đủ.

4.2 Các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

Kết quả điều tra theo tuyến trên địa bàn 03 thôn của xã cho thấy: Hệ thốngcây trồng của xã khá phong phú, bao gồm cây lương thực (lúa, ngô); cây lâmnghiệp (keo tai tượng, rừng tự nhiên); Cây dược liệu (Kim ngân, Thìa canh, Càgai leo); cây lương thực và rau màu (khoai lang,lạc, đậu tương, các loại đỗ, raumàu) Kết quả được tổng hợp ở bảng dưới đây:

Bảng 4.3 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất tại khu vực

Loại hình SDĐ Mô hình sử dụng đất chi tiết Kiểu sử dụng đất

3 Lúa mùa- đậu tương

5 Lúa mùa- bầu,bí

(Tổng hợp số liệu điều tra 2017)

Kết quả cho thấy ở khu vực nghiên cứu rất đa dạng về các loại cây trồng:

4.2.1 Mô hình chuyên Lúa (lúa 2 - 3 vụ)

Với 159,0 ha, chiếm 2,1% tổng diện tích đất trồng lúa, mô hình chuyên lúađược phân bố chủ yếu trên các chân đất thấp và trũng, dọc trên 2 cánh đồng thôn 1

và thôn 3 Lúa 2 vụ là phương thức canh tác truyền thống của người dân địaphương, được trồng trên loại đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nặng,năng suất đạt từ 52 - 59 tạ/ha Mô hình chuyên lúa tuy có mức thu nhập thấp hơn sovới các mô hình canh tác khác, nhưng có mức đầu tư thấp, thu nhập ổn định, nôngsản dễ thu hoạch và bảo quản, giải quyết được nhu cầu lương thực trước mắt của hộgia đình Cho nên mô hình chuyên lúa vẫn chiếm 1 tỷ lệ diện tích không lớn trongcác mô hình sử dụng đất của địa phương

Trang 31

+ Lúa đông xuân: Bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 - 5 năm sau Thời gian

từ lúc cấy tới thu hoạch dài hơn vụ mùa, từ 110 - 115 ngày Thường sử dụng cácgiống lúa thuần và lúa lai, năng suất cao nhưGiống nội (ĐB5, ĐB6); Nếp cácloại lúa lai; Lúa thuần với các giống như: T10 .Công việc bón phân được chialàm 3 đợt, năng suất lúa đạt 45 - 50 tạ/ha Vụ Đông xuân có nhiều lợi thế về thời

vụ, ánh sáng, độ ẩm, thời tiết, khả năng thâm canh, cho nên năng suất cao và ổnđịnh hơn

+ Lúa mùa: Bắt đầu từ giữa tháng 7 đến giữa tháng 10 Thường sử dụngcác giống ngắn ngày như: T10, Giống địa phương, Vụ này bắt đầu từ giữamùa nắng và đầu mùa mưa nên gieo cấy dễ gặp mưa, lúa dễ mắc sâu bệnh, tốncông làm cỏ Lúa vụ mùa trổ bông gié không đầy, hạt lép nên năng suất thấp hơn

vụ đông xuân Năng suất đạt từ 40 - 50 tạ/ha Lượng phân bón tương tự như vụđông xuân, nhưng giảm hàm lượng đạm và tăng hàm lượng kali để chống đổ ngãcho cây

Hình 4.1 Canh tác lúa truyền thống ở KVNC 4.2.2 Mô hình Lúa - màu

- Lúa đông xuân: Bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 - 5 năm sau Thời gian

từ lúc cấy tới thu hoạch dài hơn vụ mùa, từ 110 - 115 ngày Thường sử dụng cácgiống lúa thuần và lúa lai, năng suất cao nhưGiống nội (ĐB5, ĐB6); Nếp cácloại lúa lai; Lúa thuần với các giống như: T10 .Công việc bón phân được chialàm 3 đợt, năng suất lúa đạt 45 - 50 tạ/ha.Vụ Đông xuân có nhiều lợi thế về thời

vụ, ánh sáng, độ ẩm, thời tiết, khả năng thâm canh, cho nên năng suất cao và ổnđịnh hơn

Trang 32

- Đậu tương: Đây là loại cây trồng truyền thống của người dân địaphương.Năm 2016, diện tích trồng đậu tương khoảng 131,0 ha, năng suất đạt 3,3tạ/ha Đậu tương có thể được trồng quanh năm, nhưng chỉ cho năng suất cao nhấtnếu trồng đúng thời vụ Trên địa bàn xã, đậu tương được trồng đại trà vàokhoảng đầu mùa mưa tháng 3 - 4, thu hoạch vào tháng 8 - 9 dương lịch Mức đầu

tư phân bón cho 1 ha khoảng 10 m3 phân chuồng để bón lót, bón thúc khoảng 250

-300 kg phân hóa học, loại dễ tiêu, có hiệu quả nhanh như đạm, kali Sau khi thuhoạch đậu, có thể trồng luân canh các loại cây ngắn ngày khác như Lạc, Ngô

Hình 4.2 Mô hình trồng đậu tương tại

4.2.3 Mô hình chuyên màu ngô lai

Mô hình phân bố 1 phần ở vùng đất bằng, trong các vườn hộ, còn lại phầnlớn đất nằm ở triền đồi, bên dưới là ruộng lúa Ở đây nổi bật nhất là các mô hìnhtrồng ngô lai cho thu nhập ổn định

Trang 33

Hình 4.4 Mô hình canh tác ngô lai tại

KVNC Hình 4.5 Mô hình canh tác khoai lang tại KVNC

- Ngô lai: Năm 2016 toàn xã có khoảng 330,77 ha, năng suất đạt 60,5 tạ/ha,với giống năng suất cao như CP888, Bioseed 9698, C919, LVN10

Ngoài các giống cây trồng chính được nói trên, người dân còn trồng cácgiống rau màu có giá trị kinh tế cao, tăng thêm thu nhập: Khoai lang, Củ cải, dưaleo, các loại cà tím…

4.2.4 Mô hình trồng cây dược liệu

- Kim ngân: Là cây được người dân trồng nhiều trong những năm gần đây

vì nó cũng mang lại nguồn thu nhập tốt cho người dân Cây kim ngân trồng sau 8thángđã cho thu hoạch, từ năm thứ 2-3 trở đi cây cho thu hoạch ổn định, trungbình mỗi 1 ha cho thu hoạch 10 tấn Nếu canh tác theo đúng kỹ thuật sẽ cho năngsuất cao Thị trường tiêu thụ khá ổn định và có giá bán trung bình 150.000 –200.000 VNĐ/kg

- Cà gai leo: Là loài cây không kén đất, vì vậy cây dược liệu nàyđã chothu hoạch nhiều năm trở lại đây.Thị trường tiêu thụ khá ổn định và có giá bántrung bình 24.000 - 30.000 VNĐ/kg

- Thìa canh: Là cây được người dân trồng nhiều trong những năm gần đây

vì nó cũng mang lại nguồn thu nhập tốt cho người dân Cây kim ngân trồng sau 8thángđã cho thu hoạch, từ năm thứ 2-3 trở đi cây cho thu hoạch ổn định, trungbình mỗi 1 ha cho thu hoạch 15 tấn Nếu canh tác theo đúng kỹ thuật sẽ cho năngsuất cao Thị trường tiêu thụ khá ổn định và có giá bán trung bình 35.000 -50.000 VNĐ/kg

Trang 34

Hình 4.6 Mô hình trồng câyThìa canhở

KVNC Hình 4.7 Mô hình trồng câyKim ngânở KVNC 4.2.5 Mô hình trồng cây lâm nghiệp

Trong những năm gần đây, huyện Con Cuông đã được đầu tư trồng rừng,phủ xanh đất trống đồi trọc theo các dự án trồng rừng của Nhà nước Tổng diệntích rừng trồng ở khu vực đến năm 2016 với 4.005,57ha Rừng trồng ở khu vựchiện nay được quy hoạch với chức năng phòng hộ môi trường

Hình 4.8 Mô hình trồng cây Keo tai tượng ở KVNC 4.2.6 Đánh giá lựa chọn mô hình sử dụng đất phổ biến ở khu vực

Kết quả điều tra tình hình sử dụng đất nông nghiệp cho thấy, trên toàn xã có

5 mô hình sử dụng đất và 10 kiểu sử dụng đất chi tiết Tiến hành thảo luận cùngvới người dân để lựa chọn ra các mô hình sử dụng đất phổ biến nhất Các tiêu chíđưa ra để lựa chọn dựa trên ý kiến thảo luận và đóng góp của người dân Cáctiêu chí bao gồm:

Trang 35

- Cây trồng sinh trưởng phát triển nhanh, sâu bệnh hại ít hoặc có sâu bệnhhại nhưng người dân có thể phòng trừ được

- Cây trồng cho thu nhập kinh tế chủ yếu trong cơ cấu kinh tế hộ gia đình vàkhu vực

- Gắn bó lâu đời, phù hợp với phong tục tập quán của người dân

- Có thị trường tiêu thụ sản phẩmổn định

- Người dân dễ tiếp cận được với các dịch vụ cung ứng về giống cây trồng,phân bón, thuốc BVTV

- Có tác dụng bảo vệ môi trường đất, chống xói mòn

Từ kết quả điều tra cho thấy, cơ cấu cây trồng ở khu vực rất đa dạng Tuynhiên, diện tích trồng còn nhỏ lẻ, manh mún, nhiều loài cây trồng có sản lượngthấp, thị trường tiêu thụ bấp bênh dẫn đến giá trị kinh tế thấp, không ổn định Để

có cơ sở lựa chọn mô hình có hiệu quả, mở rộng sản xuất, đề tài tiến hành lựachọn đánh giá một số mô hình có sự tham gia của người dân địa phương.Kết quả

đã lựa chọn được 4 mô hình sử dụng đất phổ biến, gắn với 7 loài cây có khảnăng phát triển rộng rãi trên toàn xã Các mô hình này chiếm diện tích lớn, quyếtđịnh phần lớn tỷ trọng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của nhiều hộ gia đìnhcũng như ở địa phương:

- Mô hình chuyên Lúa nước (2 -3 vụ);

- Mô hình Lúa - Ngô lai;

- Mô hình chuyên trồng cây dược liệu;

- Mô hình trồng Keo tai tượng

4.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH LỰA CHỌN

4.3.1 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá chất lượng hoạt động của

1 doanh nghiệp, 1 địa phương hay là một hộ gia đình Khi tiến hành đánh giá hiệuquả kinh tế thì kết quả sản xuất và chi phí đều được tính đến, dựa trên cơ sở giá thịtrường tại thời điểm tính

Kết quả điều tra phỏng vấn 30 hộ sản xuất nông nghiệp ở 3 thôn có trồngcác loài cây trong các mô hình trên và được tính toán cụ thể như sau:

4.3.1.1 Hiệu quả kinh tế mô hình chuyên lúa, lúa xen màu và chuyên màu

- Mô hình trồng Lúa nước 2 vụ

Trang 36

- Mô hình trồngLúa -Ngô lai

Kết quả cân đối thu chi được tổng hợp ở bảng sau (chi tiết ở phần phụ lục):

Bảng 4.4 Hiệu quả kinh tế mô hình trồng lúa 2 vụ và Lúa - Ngô

(Tổng hợp số liệu điều tra 2017)

Kết quả ở bảng cho thấy lợi nhuận các mô hình đều lớn hơn 0, các môhình đều canh tác có hiệu quả kinh tế

- Mô hình canh tác Lúa nước 2 vụ:Năng suất bình quân 50 - 60 tạ khô/ha.Chi phí cho 1 ha đất trồng lúa năm 2016 trung bình là 40.460.000 đồng/năm.Chiphí này chủ yếu là đầu tư mua giống, làm đất, bón phân, thuốc bảo vệ thực vật

và công lao động Người dân tận dụng công lao động nhà, đến mùa thu hoạch thì

có thể thuê hoặc đổi công cho nhau Giá lúa biến động từ 5.500 - 6.000 đồng/kg,doanh thu bình quân trên 1 ha lúa là 55.250.000đồng/năm, lợi nhuận khoảng11.790.000đồng/ha/năm Sản lượng lúa chủ yếu phục vụ cho nhu cầu lương thựccủa hộ gia đình, chăn nuôi gia súc, gia cầm, ít trao đổi buôn bán hàng hóa

- Mô hình canh tác Lúa - Ngô lai: Do một phần diện tích thiếu nước đểtrồng lúa, bà con tận dụng để trồng Ngô lai, hoặc một số chân ruộng cao nên môhình Lúa - Ngô lai đươc hình thành Chi phí cho 1 ha đất trồng Lúa - Ngô là34.110.000 đồng/ha, doanh thu 54.750.000 đồng/ha và lợi nhuận trên 1 ha là20.820.000 đồng/ha Giá bán dao động từ4.500-5.000 đồng/kg, năng suất ngô đạt

6 tấn/ha Lợi nhuận mô hình này hơn hẳn mô chuyên lúa Ngoài cung cấp lươngthực, mô hình còn cung cấp thức ăn chăn nuôi nên hiệu quả càng cao hơn

4.3.1.2 Hiệu quả kinh tế mô hình cây lâm nghiệp

Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế mô hìnhtrồng cây Keo tai tượng

Đơn vị tính: Đồng

Trang 37

Chỉ tiêu kinh tế Giá trị

(Tổng hợp số liệu điều tra 2017)

Kết quả phân tích cho thấy:

- Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí BCR thể hiện tương quan giữa thu nhập

và chi phí đầu tư cho từng mô hình Có nghĩa là nó cho biết thu nhập trong 1 đơn

vị chi phí sản xuất, mô hình canh tác nào có BCR cao thì mô hình đó có hiệu quảkinh tế và ngược lại Theo tính toán, chênh lệch giữa thu nhập so với chi phí của

mô hình keo tai tượng là 2,19 lần, điều này có nghĩa là cứ bỏ ra 1 đồng vốn đầu

tư cho cây keo, sẽ thu về được 2,19 đồng lợi nhuận

Trang 38

- NPV là chỉ tiêu xác định lợi nhuận ròng của 1 mô hình canh tác có tínhảnh hưởng của các nhân tố thời gian thông qua tính chiết khấu NPV là hiệu quảgiữa giá thu nhập và chi phí của các hoạt động sản xuất, trong mô hình canh tácsau khi tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại NPV phản ánh kết quả kinh

tế ban đầu của việc đầu tư, giá trị NPV càng lớn thì càng có lãi Theo tính toánvới chu kỳ 10 năm, Keo tai tượng có giá trị hiện tại của thu nhập ròng là29.279.047 đồng, NPV bình quân năm đạt 2.439.921 đồng/năm

- Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của từng môhình, tỷ lệ càng cao thì quá trình đầu tư càng có hiệu quả IRR của Keo tai tượng

là 56 %.Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ của mô hình cao hơn tỉ lệ chiết khấu (r%) nênquá trình sản xuất có lãi

4.3.1.3 Hiệu quả kinh tế mô hình trồng cây dược liệu

Do không có số liệu chi tiết về các chi phí sản xuất hàng năm trong môhình trồng cây Kim ngân, Thìa canh và Cà gai leo tại khu vực nên đề tài chỉ đánhgiá thu nhập và chi phí trung bình năm 2016 của các hộ gia đình Đặc biệt, các

mô hình này đã hết giai đoạn xây dựng cơ bản 3 - 4 năm và đã cho thu nhập ổnđịnh nên đề tài cũng tính hiệu quả kinh tế theo phương pháp tĩnh Tổng chi phí là

sử dụng số liệu năm 2016 cộng với phần chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng trongnăm đầu chia cho số năm

Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế mô hình canh tác cây dược liệu

(Tổng hợp số liệu điều tra 2017)

- Mô hình canh tác cây Kim ngân: Đây là loài cây trồng mới ở địa phương

nhưng cho thu nhập cao nhất trong 5 mô hình cây ngắn ngày Với mức chi phí

đầu tư là 160.150.000 đồng/ha/năm, doanh thu 1.500.000.000đồng/ha/năm và lợi nhuận đạt 1.339.500.000đồng/ha/năm Là cây trồng mới, thời gian thu hoạch

nhanh từ 8 - 11 tháng, mức chi phí ban đầu khá cao chủ yếu là vật liệu làm giàn

Trang 39

leo,giống cây Quy trình sản xuất theo quy trình của doanh nghiệpvà doanhnghiệp tiêu thụ sản phẩm, nên thu nhập ổn định Tuy nhiên do vốn đầu tư cao,thiếu đất canh tác nên mô hình đang được áp dụng với quy mô nhỏ nhưngđang là loài cây được người dân ưu tiên lựa chọn canh tác trên các mô hình sửdụng đất cây hàng năm theo quy mô hộ hoặc nhóm hộ gia đình.

- Mô hình canh tác dây Thìa canh: Cũng là cây trồng mới, sinh trưởng

nhanh, thời gian thu hoạch sản phẩm từ 8 - 10 tháng Mật độ trồng khá cao

25.000 cây/ha, năng suất bình quân là 15 tấn/ha/năm, giá trung bình 35.000đ/kg, thu nhập 525.000.000 đồng, lợi nhuận là 351.850.000 đồng/năm.

Tuy nhiên, chi phí ban đầu về cây giống, vật liệu làm giàn, phân bón khá cao vàsản xuất theo quy trình kỹ thuật của doanh nghiệp nên quy mô canh tác đang ởmức nhỏ và nhóm hộ Tuy vậy, Thìa canh cũng đang là cây dược liệu thứ 2 đượcngười dân lựa chọn đầu tư sản xuất

- Mô hình canh tác cây Cà gai leo: Là cây dược liệu, mới được gây trồng

nhưng cũng có giá trị kinh tế cao, đứng thứ 3 trong 3 loài cây dược liệu và thứ 3trong 5 loài cây ngắn ngày đang được gây trồng ở khu vực Là cây mọc nhanh,

mật độ trồng 20.000 cây/ha, thời gian thu hoạch từ 8- 11 tháng Là cây có gai,

dây cứng nên chi phí công lao động cao hơn, giá bán thấp hơn 2 loài cây trên là

24.000 đ/kg, lợi nhuận hàng năm thấp hơn 2 loài Thìa canh và Kim ngân trung

bình là 210.700.000 đồng/ha/năm.

Ba loài cây dược liệu mới được gây trồng ở khu vực được 5 năm và đượcquy hoạch phát triển sản xuất hàng hóa trên địa bàn toàn huyện theo nghị quyếtcủa Đảng bộ huyện Con Cuông

4.3.2 Hiệu quả về xã hội

Hiệu quả xã hội dùng để đánh giá tình hình xã hội trong cộng đồng do ảnhhưởng của các mô hình canh tác trong khu vực, nó phản ánh mức độ chấp nhậncủa người dân đối với mô hình sản xuất đó Một mô hình sản xuất được ngườidân chấp nhận không những cho hiệu quả kinh tế cao và cho thu nhập thườngxuyên, mà còn phù hợp với phong tục tập quán của người dân, có hiệu quả giảiquyết công ăn việc làm và có khả năng phát triển sản xuất hàng hoá Trong phạm

vi nghiên cứu của đề tài dựa vào một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả xã hội củacác mô hình như mức thu hút lao động giải quyết việc làm cho nông dân của các

Ngày đăng: 17/05/2018, 09:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w