2 Sự nghiệp và phong cách thơ ca:- Sáng tác của Tú Xương còn khoảng trên 100 bài, chủ yếu là thơ Nôm - Hai mảng thơ Tú Xương: Trữ tình và trào phúng - Tú Xương là bậc thầy trong dòng th
Trang 1- Trần Tế Xương-Thực hiện: Vũ Minh Thanh
Lê Minh Trang
Trang 2I/ Tác giả:
1) Con người:
- Trần Tế Xương ( 1870 – 1907) tên thật là
Trần Duy Uyên, tự là Mặc Trai, hiệu là
Mộng Tích , thường gọi là Tú Xương
- Quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh
Nam Định
- Là người có tài, có cá tính sắc sảo, nhưng
lận đận về đường khoa cử
Trang 3Tú Xương
( Tranh của Trần Quang Trân)
Trang 4Nhà của Tú Xương tại số 280 phố Hàng Nâu
Trang 5Mộ của Tú Xương
Trang 62) Sự nghiệp và phong cách thơ ca:
- Sáng tác của Tú Xương còn khoảng trên 100 bài, chủ yếu là thơ Nôm
- Hai mảng thơ Tú Xương: Trữ tình và trào
phúng
- Tú Xương là bậc thầy trong dòng thơ ca theo khuynh hướng hiện thực trào phúng
Trang 7LẾ XƯỚNG DANH KHOA ĐINH DẬU
Nhà nước ba năm mỏ một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm oẹ quan trường miệng thét loa.
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến.
Váy lê quét đất mụ đầm ra.
Nhân tài đất Bắc nào ai đó.
Nghoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.
Trang 8Vịnh khoa thi Hương
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường hà.
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm oẹ quan trương miệng thét loa Longk cắm rơp trời quan sứ đến,
Váy lê quết đất mụ đầm ra
Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.
Trang 9- Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng
( Chúc tết)
- Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không !
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
(Giễu người thi đỗ )
Trang 10Ai ơi có nhớ ai không
Trời mưa một mảnh áo bông che đầu Nào ai có tiếc ai đâu
Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô
(Áo bông che bạn)
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ giồng ngô khoai Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
(Sông lấp)
Trang 11II/ Tìm hiểu chung về tác phẩm
- Trong sáng tác của Tú Xương có hẳn một đề tài về bà Tú
- Bà Tú tên thật là Phạm Thị Mẫn, quê ở Hải Dương
- “ Thương vợ” là một trong những bài thơ hay
và cảm động nhất của Tú Xương viết về vợ.
Trang 12III/ Phân tích:
1) 2 câu đề:
Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng.
- Câu 1, 2 giới thiệu bà Tú là một người đàn
bà giỏi buôn bán, tần tảo, vất vả, buôn bán kiếm sống nuôi cả gia đình:
+ “quanh năm”: hết năm này sang năm
khác, không lúc nào ngừng nghỉ
+“mom sông”: nơi chênh vênh, nguy hiểm +Cách đếm “năm con”, “một chồng” rất
đáng chú ý
Thể hiện sự yêu thương, lòng biết ơn của
Tú Xương với vợ
Trang 13Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
- Hai câu thực gợi lên cảnh làm ăn vất vả tội nghiệp hàng ngày của bà Tú
+ Liên hệ “lặn lội thân cò” với ca dao, kết hợp với từ “quãng vắng” để thấy sự lẻ loi
cô độc và dáng điệu “ Cui cút làm ăn toan
lo nghèo khó” của bà Tú
+ Hình ảnh “thân cò” rất sáng tạo, vần thơ trở nên dân dã, bình dị và càng xoáy sâu
vào sự cực khổ
Trang 14+ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”: cho
thấy sự bươn chải, thậm chí phải chịu cả
tiếng bấc tiếng chì của bà Tú khi kiếm sống + Hai cặp từ láy: “lặn lội” và “eo sèo” hô
ứng, gợi tả một cuộc đời nhiều mồ hôi và
nước mắt.
Ta như thấy tiếng nghẹn uất của một
người chồng nhìn thấy nỗi cơ cực của vợ mà không thể đỡ đần, san sẻ.
Trang 153, Hai câu luận
“Một duyên hai nợ / âu đành phận, Năm nắng mười mưa/ dám quản công”
-Một…hai
Năm…mười => Cách nói theo cấp số nhân => nhấn mạnh sự
vất vả của bà Tú
- Vận dụng sáng tạo thành ngữ “Năm nắng mười mưa”=> làm nổi bật đức tính hết lòng vì chồng vì con của bà Tú
- … âu đành phận
…dám quản công => Bà Tú chấp nhận duyên phận, không
kêu ca phàn nàn, chịu thương chịu khó,thể hiện bản lĩnh của bàTú
Trang 16 Bà Tú là kết tinh của đức hi sinh cao cả, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó, là hình tượng tiêu biểu của người phụ
nữ Việt Nam truyền thống.
Hai câu luận đã hoàn thành việc khắc hoạ chân dung bà
Tú - một người vợ tần tảo và giàu đức hi sinh Qua đó
cũng cho ta thấy sự bày tỏ sâu sắc lòng kính yêu vợ của ông Tú
Trang 174, Hai câu kết
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
C ó chồng hờ hững cũng như không”
Tác giả đã sử dụng khẩu ngữ “Cha mẹ thói đời” Đây là một tiếng chửi Ông chửi “thói đời’ bạc bẽo bởi nó chính là nguyên
nh ân sâu xa khiến vợ ông phải khổ => thể hiện sự xót xa,
ngậm ngùi của ông Tú đối với vợ cũng như sự phẫn uất của ông Tú với cái xã hội phong kiến lúc bấy giờ
Trang 18C âu thơ cuối ta thấy thấm thía một nỗi đau chua xót:
“C ó chồng hờ hững cũng như không”
Những tưởng ông chỉ chửi “thói đời bạc” nhưng hoá ra nhà thơ ũng tự chửi chính mình Chính cái xã hội nửa Tây, nửa ta đó đã biến ông thành một ông chồng “bạc” Ông tự nhận mình là “qu
ân ăn lương vợ” vì thi mãi chẳng đỗ, chẳng giúp được gì cho
vợ con
Trong xã hội “trọng nam khinh nữ”, việc một nhà nho tự nhận
ra thiếu sót và tự trách mình bằng một tiếng chửi nghiêm khắc
đã cho ta thấy rõ nhân cách cao đẹp của Tú Xương
Hai câu kết là nỗi đắng cay chua xót của nhà thơ khi thấy mình vô dụng, đồng thời là tấm lòng tri ân của nhà thơ
Trang 19IV,Tổng kết:
1, Nội dung:
Bài thơ thể hiện rõ nét tình yêu thương, quý trọng vợ của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian lao và đức tính cao đẹp của bà Tú Qua đó, hình ảnh chân dung cảu bà Tú hiện lên một cách chân thực và sinh động cũng như nhân cách cao đẹp của Tú Xương cũng được bộc lộ rõ
2, Nghệ thuật:
-“Thương vợ” là một bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình của Tú
Xương
- Cảm xúc thơ chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian, văn học đời
sống