Cĩ bài trữ tình Cĩ bài vừa trào phúng vừa trữ tình.. Ơng là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học cận đại của dân tộc... Tác phẩm: Quanh năm buơn bán ở mom sơng, Nuơi đủ năm co
Trang 1-TRAÀN TEÁ
Trang 2XƯƠNG -I- Giới thiệu:
1 Tác giả:
Tú Xương là bút danh của Trần Tế Xương Học vị tú tài, lận đận mãi trong con đường khoa cử: “Tám khoa chưa
khỏi phạm trường quy”, chỉ sống 37 năm, nhưng sự nghiệp thơ ca của ơng thì bất tử Quê ở làng Vị Xuyên, thành phố Nam Định “Ăn chuối ngự, đọc thơ Xương” là câu nĩi tự hào của đồng bào quê ơng.
Tú Xương để lại khoảng 150 bài thơ nơm, vài bài phú và văn tế Cĩ bài trào phúng Cĩ bài trữ tình Cĩ bài vừa trào phúng vừa trữ tình Giọng thơ trào phúng của Tú Xương vơ cùng cay độc, dữ dội mà xĩt xa Ơng là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học cận đại của dân tộc.
Trang 32 Tác phẩm:
Quanh năm buơn bán ở mom sơng,
Nuơi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cị khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đị đơng.
Một duyên hai nợ âu đành phần
Năm nắng mười mưa dám quản cơng.
Cha mẹ thĩi đời ăn ở bạc,
Cĩ chồng hờ hững cũng như khơng.
@ Chủ đề:
Bài thơ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, của người phụ nữ đảm đang chịu thương chịu khĩ vì chồng con.
@ Bố cục:
Trang 4II- Phaân tích:
1 Hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo:
bán, tần tảo “quanh năm”, buôn bán kiếm sống ở “mom
sông”, cảnh đầu chợ, bến đò, buôn thúng bán mẹt Chẳng có
cửa hàng cửa hiệu Vốn liếng chẳng có là bao Thế mà vẫn
“Nuôi đủ năm con với một chồng” Chồng đậu tú tài, chẳng
là quan cũng chẳng là cùng đinh nên phải “ăn lương vợ” Một gia cảnh “Vợ quen dạ để cách năm đôi” Các số từ:
“năm” (con), “một” (chồng) quả là đông đúc Bà Tú vẫn cứ
“nuôi đủ”, nghĩa là ông Tú vẫn có “giày giôn anh dận, ô Tây anh cầm”,… Câu thứ 2 rất hóm hỉnh.
Trang 5- Câu 3-4 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, tạo thành
“thân cò” - thân phận lam lũ vất vả, “lặn lội” Cò thì kiếm
ăn nơi đầu ghềnh, cuối bãi, bà Tú thì lặn lội… khi quãng vắng, nơi mom sông Cảnh lên đò xuống bến, cảnh cãi vã, giành giật bán mua “Eo sèo mặt nước buổi đò đông” để
Trang 6- Câu 5, 6, tác giả vận dụng rất hay thành ngữ: “Một
duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa” Ba tiếng đối ứng
thượng, hạ: “âu đành phận”, “dám quản công” như một
tiếng thở dài Có đức hy sinh Có sự cam chịu số phận Có
cả tấm lòng chịu đựng, lo toan vì nghĩa vụ người vợ, người
mẹ trong gia đình Tuù Xöông có tài dùng số từ tăng cấp (1-2-5-10) để nói lên đức hy sinh thầm lặng cao quý của bà Tú:
“Một duyên hai nợ / âu đành phận,
Năm nắng mười mưa / dám quản công”…
Trang 7Tóm lại, bà Tú là hiện thân của cuộc đời vất vả lận đận, là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp: tần tảo, gánh vác, đảm đang, nhẫn nại,… tất cả lo toan cho hạnh
phuùc chồng con Nhà thơ bộc lộ lòng cảm ơn, nể
trọng.
Trang 82 Nỗi niềm nhà thơ:
- Câu 7 là một tiếng chửi, đúng là cách nói của Tuù
Xöông vừa cay đắng vừa phẫn nộ: “Cha mẹ thói đời ăn ở
kiến nửa thực dân: đạo lý suy đồi, lòng người đảo điên Tuù
Xöông tự trách mình là kẻ “ăn ở bạc” vì thi mãi chẳng đỗ,
chẳng giúp được ích gì cho vợ con Suốt đời vợ con phải
khổ, như có bài thơ ông tự mỉa: “Vợ lăm le ở vú - Con tập
tểnh đi bộ - Khách hỏi nhà ông đến - Nhà ông đã bán rồi”.
- Câu 8 thấm thía một nỗi đau chua xót Chỉ có Tuù
Xöông mới nói được rung động và xót xa thế: “Có chồng
hờ hững cũng như không”. “Như không” gì? Một cách nói
buông thõng, ngao ngán Nỗi buồn tâm sự gắn liền với nỗi thế sự Một nhà nho bất đắc chí!
Trang 9Kết luận:
Bài thơ cĩ cái hay riêng Hay từ nhan đề Hay ở cách vận
dụng ca dao, thành ngữ và tiếng chửi Chất thơ mộc mạc, bình
dị mà trữ tình đằm thắm Trong khuơn phép một bài thơ thất ngơn bát cú Đường luật, từ thanh điệu, niêm đến phép đơi được thể hiện một cách chuẩn mực, tự nhiên, thanh thốt Tác giả
vừa tự trách mình vừa biểu lộ tình thương vợ, biết ơn vợ Bà Tú
là hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam trong một gia đình đơng con, nhiều khĩ khăn về kinh tế Vì thế nhiều người cho rằng câu thơ “Nuơi đủ năm con với một chồng” là câu thơ
hay nhất trong bài “thương vợ”.