Đường lối, chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới.Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, trải nghiệm và liên tục đổi mới tư duy của Đảng trên mọi lĩnh vực, trong đó đổi mới nhận thức về thế giới và tư duy đối ngoại để hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, có vị trí quan trọng nổi bật. Những sáng tạo trong đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng góp phần kết hợp một cách hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa nước ta ngày càng chủ động và tích cực hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới vì mục tiêu phát triển.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội VI của Đảng (1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, mở ramột thời kỳ mới trong lịch sử cách mạng nước nhà Trong lĩnh vực đối ngoại, Đạihội VI tiến hành đổi mới tư duy trên cơ sở chủ trương được vạch ra từ Nghị quyết32/BCT của Bộ Chính trị khóa V (7-1986) về việc mở ra cục diện đấu tranh mới,tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xả hội và bảo vệ
Tổ quốc, tạo thế ổn định để tập trung phát triển kinh tế Quá trình đổi mới tư duy,hình thành đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng ngày càng được hoàn thiện vàlàm phong phú thêm bằng những nhận thức mới Xây dựng quan hệ hữu nghị, hợptác với các nước láng giềng trong môi trường hòa bình ổn định luôn là một ưu tiêntrong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Từ sau Đại hội VII, các Hội nghị lần thứ hai và thứ ba Ban chấp hành TWĐảng ta đã đánh giá diễn biến tình hình thế giới và khu vực cũng như những tácđộng của diễn biến ấy đến chính sách đối ngoại của ta Những diễn biến trong quan
hệ quốc tế từ đó đến nay càng khẳng định và cho thấy rõ thêm những đánh giá cơbản về cục diện thế giới và những xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế Với thờigian, chúng ta ngày càng nhận thức được ý nghĩa cực kì quan trọng của chính sáchđối ngoại theo định hướng mới của Đảng và Nhà nước ta Hạt nhân của chính sách
định hướng mới này là đường lối độc lập tự chủ và đa dạng hóa được triển khai từ
những tháng cuối năm 1991 Với định hướng này, chúng ta đã và đang thực hiệnmột bước chuyển căn bản về tư duy và thực tiễn của hoạt động đối ngoại Kiên trì
đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, chúng ta lấy mục tiêu hòa bình và phát triển
làm chuẩn mực trong mọi hoạt động quốc tế của mình
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đãthu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đây là kết quả của cả một quátrình tìm tòi, trải nghiệm và liên tục đổi mới tư duy của Đảng trên mọi lĩnh vực,trong đó đổi mới nhận thức về thế giới và tư duy đối ngoại để hoạch định và triểnkhai đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc
tế, có vị trí quan trọng nổi bật Những sáng tạo trong đường lối đối ngoại đổi mớicủa Đảng góp phần kết hợp một cách hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thờiđại, đưa nước ta ngày càng chủ động và tích cực hội nhập sâu rộng với khu vực và
Trang 2thế giới vì mục tiêu phát triển
Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, em sẽ đi sâu vào phân tích nội dung
“Đường lối, chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới” Nội dung bài viết chắc chắn còn nhiều hạn chế, rất mong
được giáo viên bộ môn góp ý, chỉnh sửa để bài viết có thể hoàn thiện hơn và bản thân
em cũng học hỏi được nhiều hơn từ những góp ý và chỉnh sửa của giáo viên
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI (từ năm 1986 đến nay):
Đường lối, đối ngoại của một nhà nước, quốc gia là tổng thể các quan điểmxác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và phương châm chỉ đạo các hoạt độngđối ngoại mà quốc gia đó thể hiện trong quan hệ với các nhà nước, quốc gia và cácchủ thể khác trong quan hệ quốc tế nhằm mục đích thực hiện thắng lợi những lợi íchcủa quốc gia, dân tộc và của giai cấp cầm quyền trong từng giai đoạn lịch sử Nhưvậy, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hệ thống quan điểm vềmục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, phương châm chỉ đạo hoạt động củanước ta với bên ngoài nhằm thực hiện thắng lợi những lợi ích quốc gia, dân tộc chânchính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì mụctiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã thông qua đường lối đổimới toàn diện, trong đó có đổi mới lĩnh vực hoạt động đối ngoại Đường lối đốingoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới được hoạch định trênnhững cơ sở chủ yếu sau đây:
a Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại:
Trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng vàNhà nước Việt Nam luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là cơ sở lý luận và là vấn đề có tính nguyên tắc, bởi vì:
- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉnam cho hành động của Đảng Những nội dung có tính khoa học, cách mạng tronghọc thuyết Mác-Lênin được Đảng chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo trong
- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống các quan điểm về
Trang 4đường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ quốc tế,được thể hiện trên các vấn đề lớn, mang tính chiến lược như:
Một là, độc lập dân tộc: Đây vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là phương châm
hành động của ngoại giao Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Namphải luôn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự mình quyết định đường lối, chủtrương của mình Chỉ trên tinh thần độc lập dân tộc, Đảng mới nắm được tình hình
cụ thể, khả năng, lợi ích của đất nước, từ đó mà đề ra chủ trương, chính sách phùhợp để đạt được mục tiêu đã xác định Vấn đề này càng quan trọng trong bối cảnhthế giới ngày nay, khi lợi ích quốc gia, dân tộc được đặt lên hàng đầu trong quanhệ
quốc tế
Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Theo Hồ Chí Minh,
sức mạnh dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất thể hiện ở sức mạnh kinh tế, chínhtrị, quân sự… và sức mạnh tinh thần như: tính chính nghĩa mà dân tộc ta theo đuổi;truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường chống ngoại xâm; nền văn hóadân tộc được xây dựng qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; vị trí địa -chính trị và địa kinh tế quan trọng…
Sức mạnh thời đại thể hiện qua các trào lưu lớn như phong trào độc lập dântộc; phong trào dân chủ và tiến bộ xã hội; cũng như các xu thế lớn của thế giớinhư: quyền độc lập cho mọi quốc gia; quyền tự quyết cho mọi dân tộc; xu thế hòabình cho toàn thế giới và sự hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia, không phân biệtnước lớn hay nước nhỏ
Ba là, ngoại giao công tâm: Đó là nền ngoại giao đề cao tính chất chính
nghĩa, đánh vào lòng người bằng chính nghĩa, bằng lẽ phải, đạo lý và nhân tính; lànền ngoại giao mang tính nhân bản sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình, tự do,công lý; là nền ngoại giao coi phong trào tiến bộ của nhân dân thế giới là lực lượngcủa mình, giữ gìn và củng cố sự đoàn kết nhất trí giữa các nước xã hội chủ nghĩa…
Bốn là, ngoại giao hòa hiếu với các dân tộc khác: Đó là nền ngoại giao theo
đuổi phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạnđồng minh hơn hết” và đây cũng thể hiện tính nhân văn của dân tộc Việt Nam
Trang 5Năm là, ngoại giao dĩ bất biến, ứng vạn biến: Đó là nền ngoại giao kiên trì trong nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo trong sách lược Đối với
Hồ Chí Minh, vấn đề có tính bất biến là nguyên tắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Song để đạt được mục tiêu đó, phương thức thựchiện phải thiên biến vạn hóa, khi cương khi nhu, khi tiến khi lui tùy theo từng vấn
đề, thời điểm và bối cảnh cụ thể
b Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước:
Những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thửthách to lớn: khủng hoảng kinh tế - xã hội Nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng âm
và siêu lạm phát (1986: 774,7%; 1987: 223,1%; 1988: 393,8%) khiến cho đời sốngnhân dân hết sức khó khăn Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam bị bao vây, cấm vận
về kinh tế, bị cô lập về chính trị Đây là thời kỳ khó khăn nhất của nước ta kể từngày thống nhất đất nước Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng thông quađường lối đổi mới toàn diện, trong đó xác định rõ: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêutổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tìnhhình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnhcông nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo Với chủ trương đó,
Đại hội đã xác định nhiệm vụ có tính cấp bách trước mắt là giải phóng sức sản
xuất, tập trung phát triển kinh tế - xã hội để nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập và mở rộng quan
hệ đối ngoại
Những Đại hội sau đó xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa Việt
Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại
Là một bộ phận hợp thành đường lối chung của Đảng Cộng sản Việt Nam,đường lối đối ngoại của Đảng phải góp phần đưa đất nước vượt qua những khókhăn thách thức đang đặt ra nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụchiến lược của cách mạng Việt Nam Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới củaĐảng được hoạch định nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, kết hợp mộtcách có hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phục vụ mục tiêu xây
Trang 6dựng thành công chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
c Tình hình khu vực và thế giới:
Tình hình thế giới và khu vực từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đến naynổi lên một số đặc điểm và xu thế vận động chủ yếu tác động đến việc hoạch địnhđường lối đối ngoại của Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, sự thay đổi của cục diện thế giới và môi trường an ninh chính trị
quốc tế sau Chiến tranh lạnh.
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủnghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giớihai cực chấm dứt đã làm đảo lộn các quan hệ liên minh kinh tế, chính trị, quân
sự được thiết lập trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Tương quan lực lượng thế giớicũng có sự thay đổi nghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫnthời đại giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục tồn tại, songkhông còn là nhân tố duy nhất chi phối quan hệ quốc tế cũng như việc tập hợp
lực lượng giữa các nước trên thế giới.
Trong thời kỳ quá độ hình thành trật tự thế giới mới, tất cả các nước trên thếgiới tuy ở các mức độ khác nhau đều đứng trước những thách thức mới như: xungđột khu vực, mâu thuẫn quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; hố ngăn cách giàu -nghèo Bắc - Nam; sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa các nước; nhu cầu pháttriển kinh tế và ổn định chính trị ở mỗi nước; hoạt động ngày càng tăng của chủnghĩa khủng bố Ngoài ra, giữa các nước lớn, các trung tâm kinh tế mới trỗi dậycòn diễn ra cuộc đấu tranh tranh giành vai trò chủ đạo trong trật tự thế giới mới
Đứng trước những vấn đề nêu trên, các nước trên thế giới thời kỳ sau Chiếntranh lạnh đều tập trung ưu tiên nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội ởtrong nước, đồng thời đấu tranh để tạo lập môi trường quốc tế và khu vực hòa bình,
ổn định, giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của đất nướcmình Do đó, hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển trở thành xu thế lớn, phản ánhđòi hỏi bức xúc của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn hiện nay của thời đại
Trang 7Thứ hai, sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình toàn cầu hóa.
Sự phát triển khoa học và công nghệ đã và đang tác động sâu rộng đến mọilĩnh vực của đời sống xã hội và quan hệ quốc tế Ngày nay, khoa học và công nghệ
đã trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội; trí tuệ và kỹ năng
có vai trò mấu chốt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoahọc và công nghệ góp phần làm thay đổi vị thế của mỗi một quốc gia trong quan hệquốc tế Tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đưa đến
sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hóa khiếncho xu hướng đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của các nước trở thành đòi hỏi kháchquan Các nước ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị,
xã hội khác nhau, với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả; việc xác địnhbạn - thù, hình thức và mức độ quan hệ cũng trở nên rất linh hoạt Phương thức tậphợp lực lượng theo kiểu truyền thống đã được thay bằng sự tập hợp lực lượng trên
cơ sở lợi ích dân tộc
Một đặc điểm khác của thế giới trong kỷ nguyên cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại là toàn cầu hóa Toàn cầu hóa trước hết là toàn cầu hóa về kinh
tế, trở thành một quá trình khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Làquá trình khách quan, là nấc thang phát triển của nhân loại cho nên nó đem lại cơhội cho mọi quốc gia dân tộc cùng phát triển Toàn cầu hóa không chỉ tạo ra nhữngbiến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia gia tăng
cả về bề rộng lẫn chiều sâu Các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâmnhập lẫn nhau, khiến cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng.Toàn cầu hóa thúc đẩy hợp tác, phân công lao động quốc tế sâu rộng, kích thíchtăng trưởng kinh tế Các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế trở nên nhiều vẻ và rấtphong phú về nội dung
Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa được thực hiện bởi các nhân tố chủ quan
mà lợi thế thuộc về các nước phát triển, đứng đầu là Mỹ Với sức mạnh kinh tế,khoa học và công nghệ, thị trường vốn, lao động và hàng hóa,… các nước pháttriển thông qua các công cụ của mình là các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia đểphục vụ lợi ích riêng của mình, gây bất lợi cho các nước nghèo, các nước đangphát triển Chính vì vậy, đối với đại bộ phận các nước trên thế giới, toàn cầu hóa là
Trang 8quá trình luôn chứa đựng tính hai mặt: thuận lợi và khó khăn, thời cơ và tháchthức, tích cực và tiêu cực, hợp tác và đấu tranh.
Thứ ba, đấu tranh giai cấp, dân tộc có xu hướng ngày càng tăng; xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo diễn biến phức tạp nguy cơ khó lường.
Sau Chiến tranh lạnh, môi trường an ninh toàn cầu tiếp tục có những xáo trộn
và bất ổn định lớn Tuy hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế lớn của thếgiới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, song đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc vẫndiễn ra gay gắt dưới nhiều hình thức mới Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ,những bất ổn do mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt độngcan thiệp, lật đổ, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi, nhất là tại khu vực các nước đangphát triển Toàn bộ tình hình trên tác động trực tiếp đến đời sống quan hệ quốc tếhiện đại, đòi hỏi các nước phải có cách tiếp cận phù hợp để bày tỏ chính kiến, bảo
vệ lợi ích quốc gia dân tộc, trước hết là bảo vệ nền độc lập, duy trì định hướng pháttriển đã lựa chọn, hội nhập quốc tế một cách hiệu quả
Thứ tư, sự cạnh tranh gay gắt của các nước lớn
Một đặc điểm nổi lên của thế giới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh là các nướclớn và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố cực kỳ quan trọng tác động đến
sự phát triển thế giới Thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, cùng với xu thế hòa bình, hợp
tác vì phát triển, các nước lớn, một mặt, thường thỏa hiệp với Mỹ để tìm tiếng nói chung nhằm tăng cường hợp tác; mặt khác, lại đấu tranh gay gắt với nhau nhằm
giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển cũng như khẳng định vị thếcủa nước mình trong trật tự thế giới mới đang trong quá trình hình thành, chốngtham vọng thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo Sự cạnh tranh tranhgiành ảnh hưởng và lợi ích giữa các nước lớn thể hiện trên nhiều lĩnh vực, ở nhiềukhu vực trên thế giới vẫn tiếp tục gay gắt trong tư thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh,kiềm chế lẫn nhau Với sức mạnh của mình, quan hệ giữa các nước lớn, dù nồng
ấm hay lạnh nhạt, dù hòa dịu hay căng thẳng, đều tác động trực tiếp đến hòa bình,
an ninh, phát triển của thế giới
Thứ năm, nhiều vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên, tác động lớn đến đời sống quan hệ quốc tế
Nhân loại ngày nay đang đối phó với nhiều vấn đề mang tính toàn cầu cấp
Trang 9bách mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợptác đa phương Đây là những vấn đề đang đe dọa sự sống và sự phát triển bền vữngcủa loài người Những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhiều năm qua đã đưalại một số kết quả quan trọng Tuy nhiên, do tính chất nghiêm trọng và phức tạpnên những vấn đề toàn cầu tiếp tục đòi hỏi các nước phải tích cực phối hợp, hợptác một cách hiệu quả, thiết thực cả trong khuôn khổ song phương cũng như đaphương Đây cũng là nguyên nhân khách quan của xu thế hòa bình, hợp tác cùngphát triển của đời sống quan hệ quốc tế hiện nay
Thứ sáu, tình hình khu vực Đông Á.
Đông Á là khu vực rộng lớn, bao gồm 16 quốc gia nhưng lại rất chênh lệch vềdiện tích, dân số, nhất là trình độ phát triển kinh tế cũng như khác nhau về chế độchính trị, bản sắc văn hóa và tôn giáo; có nhiều cường quốc hàng đầu và cũng là nơi
có vị thế địa chiến lược quan trọng của thế giới Từ sau Chiến tranh lạnh đến nay,Đông Á trở thành khu vực phát triển năng động, góp phần vào sự phát triển chungcủa thế giới, đồng thời cũng là nơi diễn ra sự tranh giành ảnh hưởng một cách quyếtliệt giữa các nước lớn Những biến đổi sâu sắc của môi trường địa - chính trị và địa
- kinh tế tại Đông Á từ sau Chiến tranh lạnh đã mở ra một không gian phát triểnmới cho khu vực và tạo nên vị thế mới của Đông Á trong quan hệ quốc tế Vai tròcủa Đông Á trong quan hệ quốc tế ngày càng quan trọng hơn, xét trên cả haiphương diện: chính trị - an ninh và kinh tế
Tuy nhiên, tình hình an ninh chính trị Đông Á tiếp tục diễn biến rất phức tạp.
Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các thực thể quyền lực khác đã tạo nên cục diện ganhđua quyết liệt, tập hợp lực lượng, hòa hoãn, liên kết đa phương đa diện, cạnh tranh
và hợp tác hết sức năng động, tùy thuộc lẫn nhau vô cùng sâu sắc Có thể thấy, cấutrúc quyền lực của trật tự Đông Á hiện nay đang được duy trì trong trạng thái “cânbằng thấp” vì Đông Á còn thiếu một cấu trúc nội tại ổn định có vai trò lãnh đạo, chiphối toàn diện cả về kinh tế lẫn chính trị trong khu vực; sự ổn định an ninh khu vựcphụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài, trong đó đặc biệt phải kể đến vai trò can dựcủa Mỹ1 Ở Đông Á hiện vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố có khả năng gây mất ổn định,đòi hỏi phải có sự tham gia mạnh mẽ của các nước liên quan để giải quyết Đáng
1 Nguyễn Hoàng Giáp: Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4(110)
4-2010, tr.8
Trang 10chú ý nhất là chương trình hạt nhân của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên vànhững mâu thuẫn, xung đột chủ quyền ở biển Đông và biển Hoa Đông
d Truyền thống ngoại giao của dân tộc:
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ cha ôngchúng ta đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm đối ngoại quý báu mà Đảng cần quántriệt và vận dụng nó trong điều kiện mới Đó là nền ngoại giao luôn:
- Giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia;
- Ngoại giao vì hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, khoan dung;
- Ngoại giao rộng mở, biết tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại để phát triển;
- Ngoại giao với tinh thần chủ động, khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt…
2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới:
Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới được hình thành qua một quá trình, bắtnguồn từ Đại hội VI của Đảng (12-1986) và tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoànthiện ở các Đại hội Đảng tiếp theo đó Có thể chia quá trình này thành hai giaiđoạn sau:
a Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (12-1986) đến Đại hội VII (6-1991)
Đây là giai đoạn hình thành đường lối đối ngoại đổi mới, thể hiện qua cácVăn kiện sau:
- Đại hội VI của Đảng (12-1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diệnđất nước, đồng thời cũng mở đầu quá trình hình thành chính sách đối ngoại thời kỳđổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ hàng đầu là: “tranh thủ điều kiện quốc tế thuậnlợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” Để góp phầnthực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng ta, trên cơ sở phân tích tình hình thế giới
và trong nước, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện
chính sách đối ngoại thêm bạn, bớt thù; phá thế bị bao vây, cấm vận; mở rộng quan hệ quốc tế, theo đó, phương hướng đối ngoại được xác định là:
+ Phát triển và củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia,trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền mỗi nước;
+ Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách
Trang 11đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam;
+ Sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam Trung Quốc, tiến tới bình thường hóa quan hệ;
-+ Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình
- Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (5-1988) là bước ngoặt, có tínhđột phá về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự hình thành bước đầu chính sáchđối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị có cáchnhìn nhận mới về vấn đề an ninh Nếu như trước đây, an ninh được hiểu theo góc
độ quân sự và là những mối đe dọa từ các nước bên ngoài thì Nghị quyết 13 chorằng: kinh tế yếu kém, bị bao vây cấm vận về kinh tế và bị cô lập về chính trị lànhững đe dọa chính về an ninh Như vậy, vấn đề an ninh được nhận thức một cáchtoàn diện, bao gồm cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong Với nhận thức đó,Đảng xác định nhiệm vụ đối ngoại chuyển từ chỗ chú trọng nhân tố chính trị - quân
sự sang ưu tiên cho nhân tố kinh tế, ưu tiên giữ vững hòa bình, độc lập dân tộc, cócách tiếp cận toàn diện hơn về tình hình thế giới và khu vực Để thực hiện thắnglợi nhiệm vụ này, Đảng ta triển khai chính sách đối ngoại “thêm bạn, bớt thù”,nhấn mạnh chủ trương phát triển quan hệ với tất cả các nước có chế độ chính trịkhác nhau trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bìnhđẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau…
- Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989) là sự phát triển tiếp theo của đổimới tư duy đối ngoại Hội nghị đã nhận thức nhiều vấn đề đối ngoại cần phải giảiquyết, trong đó một lần nữa tái khẳng định: Đối ngoại phải chuyển từ chính trị - anninh là chủ yếu sang chính trị - kinh tế là chủ yếu; thúc đẩy quá trình bình thườnghóa quan hệ với Trung Quốc; xác định lộ trình cải thiện quan hệ với các nướcASEAN; xác định lộ trình rút quân khỏi Campuchia; tiếp cận lộ trình bình thườnghóa quan hệ với Mỹ…
- Đại hội VII của Đảng (6-1991) là bước phát triển mới trong việc hìnhthành chính sách đối ngoại đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại là giữvững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuậnlợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên tinh thần đó, Đại hội đề rachủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả
Trang 12các nước, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau trên cơ sở các nguyên tắccùng tồn tại hòa bình Cũng tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng đưa ra phương
châm chiến lược trong chính sách đối ngoại “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”2,đồng thời khẳng định chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, đa phươnghóa, đa dạng hóa của Nhà nước Việt Nam
b Giai đoạn từ sau Đại hội VII (6-1991) đến nay:
Đây là giai đoạn tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối đối ngoại thời kỳ đổimới, cụ thể như sau:
- Khẳng định mục tiêu của đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệhữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) đã nêu ra
4 phương châm chỉ đạo, xử lý các vấn đề quốc tế: một là, bảo đảm lợi ích dân tộc
chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của
giai cấp công nhân; hai là, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; ba là, nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; bốn là, tham gia hợp tác với các nước trong khu
vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, chú trọng quan hệ với cácnước lớn, các trung tâm kinh tế lớn Bốn phương châm này được xem là cẩm nangtrong xử lý các vấn đề đối ngoại cho mọi cấp, mọi ngành và mọi địa phương
- Đại hội VIII của Đảng (6-1996) tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đốingoại đổi mới Trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêunhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng “xây dựng nền kinh tế
mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Đây là điểm khởiđầu quan trọng cho một chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hộinhập kinh tế quốc tế (và đến nay là hội nhập quốc tế) Đại hội này cũng đồng thờituyên bố: “Việt Nam sẵn sàng là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấnđấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
- Đại hội IX của Đảng (4-2001) bổ sung làm rõ thêm chính sách đối ngoạiđộc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Tại
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Sự thật, H.1991, tr.147.
Trang 13Đại hội này, lần đầu tiên Đảng đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực” theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường.Phát triển quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại của Đại hội VII và Đại hội VIII,Đại hội IX nêu rõ: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy của các nước trongcộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”3 Để triển khai cóhiệu quả chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” do Đại hội IX đề ra,tháng 11-2001, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết 07 về “chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế”, trong đó nêu rõ mục tiêu, nguyên tắc cơ bản, phươngchâm, quan điểm chỉ đạo hội nhập kinh tế quốc tế Cũng liên quan đến chủ trương
“chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” trong bối cảnh của thế giới sau sự kiệnkhủng bố ở Mỹ ngày 11-9-2001, Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (2003) đã ra
Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, trong đó xác
định rõ hơn về thời cơ và thách thức, từ đó đề ra những quan điểm chỉ đạo vàphương châm hành động cho phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là đưa ra cáchnhìn nhận về vấn đề đối tác và đối tượng
- Đại hội X (4-2006) của Đảng tiếp tục bổ sung chính sách đối ngoại thời kỳđổi mới với tuyên bố: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộngđồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”; “Đưacác quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững”4 Đại hộicũng bổ sung quan điểm hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế”
- Đai hội XI của Đảng (1-2011), chính sách đối ngoại tiếp tục bổ sung, hoànthiện Tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng xác định mục tiêu hàng đầu của đối ngoại
là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” Như vậy, lợi ích quốc gia dân tộc là tiêu chí hàng
đầu để xác định hợp tác và đấu tranh, là đối tác và đối tượng Cũng tại Đại hội này,trên cơ sở thế và lực mới của Việt Nam trên trường quốc tế, Đảng đưa ra chủtrương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, tr.119.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2006, tr.112.
Trang 14có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế…”5 Như vậy, Đảng đã chuyển nội dungtrọng tâm của đối ngoại từ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế sang hội nhậpquốc tế một cách toàn diện Cụ thể hóa chủ trương “chủ động và tích cực hội nhậpquốc tế” của Đại hội XI, ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số22-NQ/TW về hội nhập quốc tế, trong đó nêu rõ quan điểm và các định hướng chủyếu về vấn đề này.
II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY:
1 Tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, nhiệm vụ:
a Tư tưởng chỉ đạo:
Kế thừa và phát triển tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của các Đại hộitrước đó, Văn kiện Đại XI nêu rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độclập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ,chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”6, theo đó, tư tưởng chỉ đạo thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và
phát triển
Thứ hai, triển khai chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế, thể hiện ở các đối tác quan hệ, các lĩnh vực vàcác kênh quan hệ
Thứ ba, trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn là bạn, đối tác tin cậy và
thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, thể hiện vai trò, vị trí và tráchnhiệm của Việt Nam trong các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia Khi nóiđến “Việt Nam là bạn”, chúng ta mới thể hiện ở quan hệ hữu nghị với tất cả cácnước; còn “Việt Nam là đối tác”, chúng ta đã thể hiện bằng quan hệ hợp tác trênmọi lĩnh vực với các nước nhằm hướng tới mục tiêu chung; còn đề cập đến vấn đề
“là thành viên có trách nhiệm” khẳng định cách hành xử có trách nhiệm của nước
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.236.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011,
tr.235-236.
Trang 15ta với cộng đồng quốc tế, thực hiện các nghĩa vụ và có đóng góp tích cực cho hòabình, ổn định và phát triển ở khu vực và thế giới
Thứ tư, mục tiêu hàng đầu của hoạt động đối ngoại là vì lợi ích quốc gia dân
tộc Lợi ích quốc gia dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc cao nhất của đốingoại Đối ngoại vì lợi ích quốc gia dân tộc thể hiện qua các nhiệm vụ như: đoànkết dân tộc, tập hợp lực lượng đông đảo người Việt Nam trong và ngoài nước vìmục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ vàphát triển đất nước; đoàn kết quốc tế, tác động tích cực tới nỗ lực tập hợp lựclượng quốc tế của Việt Nam vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển; nâng cao
uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định mục tiêu, lý tưởng của Đảng là vìlợi ích quốc gia dân tộc
hoàn cảnh cụ thể, với vị trí của Việt Nam cũng như diễn biến của tình hình thế giới
và khu vực, phù hợp với đặc điểm của từng đối tác Trong xử lý tình huống, cần ba
tránh: tránh bị cô lập; tránh xung đột; tránh đối đầu Trên cơ sở nguyên tắc này, cần
thấy rõ những luận điệu quá khích nhằm kích động, tiến hành các hoạt động liênquan đến việc xử lý các vấn đề trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước (đặc biệt
về chủ quyền biển đảo, biên giới lãnh thổ) để gây chia rẽ nội bộ, làm mất ổn địnhchính trị - xã hội của đất nước
- Các nguyên tắc cụ thể:
+ Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau;
+ Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế;
+ Giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; + Tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi
Trang 16c Nhiệm vụ đối ngoại
Chính sách đối ngoại là một bộ phận hợp thành đường lối chung, là sự tiếptục chính sách đối nội, tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ đối nội Xuất phát từnhiệm vụ cách mạng nước ta giai đoạn hiện nay và trên cơ sở những biến động củatình hình thế giới thời gian gần đây, Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định:
“Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi chođẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vàocuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”7
Như vậy, nhiệm vụ đối ngoại thể hiện trên các vấn đề sau:
Thứ nhất, công tác đối ngoại trước hết phải bảo vệ được lợi ích quốc gia dân
tộc, tạo lập được môi trường hòa bình để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, phát triểnkinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ Tổ quốc bao gồmbảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệĐảng và chế độ xã hội chủ nghĩa Hoạt động đối ngoại góp phần giữ vững môitrường hòa bình bao gồm hòa bình, ổn định trên tất cả lĩnh vực ở trong nước, làmôi trường hòa bình ở khu vực, trước hết là khu vực Đông Nam Á, tiếp đến là khuvực Đông Á và rộng hơn là khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Thứ hai, các hoạt động đối ngoại được triển khai phải góp phần nâng cao vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế Đây cũng là tiền đề quan trọng để trên cơ sở
đó, chúng ta có thể huy động được nguồn lực bên ngoài cùng với nguồn lực bêntrong phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, đặt cao lợi ích dân tộc, Việt Nam không từ bỏ chủ nghĩa quốc tế của
giai cấp công nhân, mà trái lại Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng địnhnhiệm vụ của đối ngoại là góp phần vào cuộc đấu tranh vì mục tiêu của thời đại làhòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Nhiệm vụ đối ngoại theo tinh thần của Đại hội XI nhằm đạt được ba lợi ích
có quan hệ mật thiết với nhau: Phát triển - An ninh - Vị thế, trong đó vấn đề pháttriển là quan trọng nhất Phục vụ cho phát triển đất nước được coi là nhiệm vụhàng đầu của đối ngoại, vì chỉ có phát triển mới tạo nên nền tảng vật chất cho việc
7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.236.