MỞ ĐẦUTrong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã trải qua hơn 30 năm. Đó là một công trình vĩ đại của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ngay từ thời điểm đó cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn xác định đúng đắn đường lối, chủ trương đổi mới, hình thức, bước đi và cách tiến hành phù hợp; trong đó phải kể đến một yếu tố đặc biệt quan trọng là nhiệm vụ đối ngoại. Có thể nói, đó là bản lề để mở ra nhiều cơ hội cho đất nước ta phát huy nội lực, tranh thủ ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo ra các mối quan hệ có lợi để phát triển đất nước. Nhìn lại chặng đường công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động có thể thấy đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, chính sách đối ngoại rộng mở theo tư duy mới, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng và sự bao vây cấm vận của các lực lượng thù địch, giải tỏa những bế tắc trong quan hệ với các nước láng giềng (ngoài Đông Dương) và hầu hết với các nước lớn, các tổ chức khu vực và liên khu vực. Quan hệ giữa nước ta với các nước ASEAN được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc Việt Nam gia nhập ASEAN và hội nhập khu vực sau đó. Đặc biệt quan trọng là việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và từng bước cải thiện quan hệ với Mỹ tiến đến việc bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.Vì vậy, bằng đường lối đối ngoại có chiến lược, linh hoạt, khôn khéo, chúng ta đã có những đột phá trong việc thiết lập các mối quan hệ quốc tế ngày càng sâu, rộng qua đó nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và chủ trương chủ động, tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn song phương, đa phương, tham gia vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về Việt Nam tạo những điều kiện thuận lợi cho đất nước ta hội nhập và phát triểnTuy nhiên, đường đối ngoại và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thời cơ, vận hội, n¬ước ta đang phải đối đầu với hàng loạt thách thức, khó khăn. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, vận dụng đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế là rất cần thiết. Vì vậy, em đã chọn vấn đề: “Đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay”, để viết bài thu hoạch của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã trải qua hơn 30 năm Đó là một công trình vĩ đại của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa Ngay từ thời điểm đó cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn xác định đúng đắn đường lối, chủ trương đổi mới, hình thức, bước đi và cách tiến hành phù hợp; trong đó phải kể đến một yếu tố đặc biệt quan trọng là nhiệm vụ đối ngoại Có thể nói, đó là bản lề để mở ra nhiều cơ hội cho đất nước ta phát huy nội lực, tranh thủ ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo
ra các mối quan hệ có lợi để phát triển đất nước
Nhìn lại chặng đường công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động có thể thấy
đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, chính sách đối ngoại rộng mở theo tư duy mới, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng và sự bao vây cấm vận của các lực lượng thù địch, giải tỏa những bế tắc trong quan hệ với các nước láng giềng (ngoài Đông Dương) và hầu hết với các nước lớn, các tổ chức khu vực và liên khu vực Quan hệ giữa nước ta với các nước ASEAN được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc Việt Nam gia nhập ASEAN và hội nhập khu vực sau đó Đặc biệt quan trọng là việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và từng bước cải thiện quan hệ với Mỹ tiến đến việc bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước
Vì vậy, bằng đường lối đối ngoại có chiến lược, linh hoạt, khôn khéo, chúng
ta đã có những đột phá trong việc thiết lập các mối quan hệ quốc tế ngày càng sâu, rộng qua đó nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và chủ trương chủ động, tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn song phương, đa phương, tham gia vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về Việt Nam tạo những điều kiện thuận lợi cho đất nước ta hội nhập
và phát triển
Trang 2Tuy nhiên, đường đối ngoại và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thời cơ, vận hội, nước ta đang phải đối đầu với hàng loạt thách thức, khó khăn Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, vận dụng đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập
quốc tế là rất cần thiết Vì vậy, em đã chọn vấn đề: “Đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay”, để viết bài
thu hoạch của mình
Trang 3NỘI DUNG
1 Cơ sở hoạch định và quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
1.1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới lĩnh vực hoạt động đối ngoại Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ đổi mới được hoạch định trên những cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi vì:
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta Những nội dung có tính khoa học và cách mạng về thời đại, về vấn đề dân tộc và quốc tế, về quan hệ quốc tế và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân tư tưởng cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị
- xã hội khác nhau, về quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế… trong học thuyết Mác - Lênin luôn được Đảng ta chú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo trong bối cảnh thế giới mới và điều kiện cụ thể của Việt Nam
1.2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới
Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới được hình thành qua một quá trình, bắt nguồn từ Đại hội VI của Đảng (12/1986) và tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoàn thiện ở các Đại hội Đảng tiếp theo đó Có thể chia quá trình này thành hai giai đoạn sau:
1.2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI (12/1986) đến Đại hội VII của Đảng (6/1991)
Đây là giai đoạn hình thành đường lối đối ngoại đổi mới, thể hiện qua các Văn kiện sau:
- Đại hội VI của Đảng (12/1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời cũng mở đầu quá trình hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ hàng đầu là: “tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”
Trang 4- Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khoá VI (5/1988) là bước ngoặt, có tính đột phá về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự hình thành bước đầu chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá
- Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (3/1989) là sự phát triển tiếp theo của đổi mới tư duy đối ngoại Hội nghị đã nhận thức nhiều vấn đề đối ngoại cần phải giải quyết, trong đó một lần nữa tái khẳng định: Đối ngoại phải chuyển từ chính trị- an ninh là chủ yếu sang chính trị - kinh tế là chủ yếu; thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc; xác định lộ trình cải thiện quan hệ với các nước ASEAN; xác định lộ trình rút quân khỏi Campuchia; tiếp cận lộ trình bình thường hoá quan hệ với Mỹ…
- Đại hội VII của Đảng (6/1991) là bước phát triển mới trong việc hình thành chính sách đối ngoại đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng đưa ra phương châm chiến lược trong chính sách đối ngoại “Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đồng thời khẳng định chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá của Nhà nước Việt Nam
1.2.2 Giai đoạn từ Đại hội VIII của Đảng (6/1996) đến nay
Đây là giai đoạn tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối đối ngoại đổi mới, cụ thể như sau:
- Đại hội VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại đổi mới Trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng “xây dựng nền kinh tế
mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho một chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế (và đến nay là hội nhập quốc tế) Đại hội này cũng đồng thời tuyên bố “Việt Nam sẵn sàng là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Trang 5- Đại hội IX của Đảng (4/2001) bổ sung làm rõ thêm chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Tại Đại hội
này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực” theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế,
đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường Phát triển quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại của Đại hội VII và VIII, Đại hội IX nêu rõ: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
- Đại hội X (4/2006) của Đảng tiếp tục bổ sung đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới với tuyên bố: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”, “Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định và bền vững” Đại hội cũng bổ sung quan điểm hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”
- Đại hội XI của Đảng (01/2011) đường lối đối ngoại tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng xác định mục tiêu hàng đầu của đối ngoại
là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” Như vậy, lợi ích quốc gia dân tộc là tiêu chí hàng
đầu để xác định hợp tác và đấu tranh, là đối tác và đối tượng ” Cũng tại Đại hội này, trên cơ sở thế và lực mới của Việt Nam trên trường quốc tế, Đảng đưa ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế…” Như vậy, Đảng đã chuyển nội dung trọng tâm của đối ngoại từ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế sang hội nhập quốc tế một cách toàn diện
- Đại hội XII của Đảng (01/2016), trên cơ sở kế thừa những nội dung đối ngoại của các Đại hội trước đó, Đại hội XII nhấn mạnh mục tiêu hàng đầu của đối
ngoại là phải “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc”, xác định nhiệm vụ đối ngoại là phải “nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực
Trang 6hội nhập quốc tế, kiên quyết,kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… ”
2 Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là hệ thống quan điểm về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, phương châm chỉ đạo hoạt động của nước ta với bên ngoài nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc chân chính, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì mục tiêu của thời đại
là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
2.1 Mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ, phương châm đối ngoại
2.1.1 Mục tiêu
Bảo đảm lợi ích tối cao quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”; “góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
2.1.2 Nguyên tắc
Có hai loại nguyên tắc trong hoạt động đối ngoại: nguyên tắc cơ bản, xuyên
suốt, bao trùm và các nguyên tắc cụ thể:
- Nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt, bao trùm trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là hoà bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, phải sáng tạo, năng động, linh hoạt trong xử lý các tình huống, phù hợp với
hoàn cảnh cụ thể, với vị trí của Việt Nam cũng như diễn biến của tình hình thế giới
và khu vực, phù hợp với đặc điểm của từng đối tác Trong xử lý tình huống, cần ba
tránh: tránh bị cô lập; tránh xung đột; tránh đối đầu
- Các nguyên tắc cụ thể:
+ Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
+ Không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế
+ Giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình + Tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi
Trang 72.1.3 Nhiệm vụ đối ngoại
Thứ nhất, nhiệm vụ đối ngoại trước hết phải bảo vệ được lợi ích tối cao quốc
gia - dân tộc, tạo lập được môi trường hoà bình để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo vệ Tổ quốc bao gồm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, các hoạt động đối ngoại được triển khai phải góp phần nâng cao vị
thế của nước ta trên trường quốc tế Đây cũng là tiền đề quan trọng để trên cơ sở
đó, chúng ta có thể huy động được nguồn lực bên ngoài cùng với nguồn lực bên trong phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, đặt lợi ích dân tộc là tối cao, Việt Nam không từ bỏ chủ nghĩa quốc tế
của giai cấp công nhân, mà trái lại Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nhiệm vụ của đối ngoại là góp phần vào cuộc đấu tranh vì mục tiêu của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Nhiệm vụ đối ngoại theo tinh thần của Đại hội XII nhằm đạt được ba lợi ích
có quan hệ mật thiết với nhau: Phát triển - An ninh - Vị thế, trong đó vấn đề phát triển là quan trọng nhất Phục vụ cho phát triển đất nước được coi là nhiệm vụ hàng đầu của đối ngoại vì chỉ có phát triển mới tạo nên nền tảng vật chất cho việc thực hiện mục tiêu an ninh và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước Tuy nhiên, không thể có sự phát triển và phát huy được ảnh hưởng quốc tế nếu không giữ vững được chủ quyền, an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ
2.1.4 Phương châm đối ngoại
- Phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa và phát huy nội lực là chính, tranh thủ tối đa ngoại lực
- Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; vừa hợp tác, vừa đấu tranh
- Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước
- Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả
3 Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Trang 83.1 Về mục tiêu
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hoà bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh
và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới
3.2 Quan điểm chỉ đạo
- Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa;
- Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
- Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực
- Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hoá, xã hội
- Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia
- Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế
và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế
3.3 Nội dung chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Trang 9Quan điểm“chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” thể hiện bước đi và lộ
trình hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới Hội nhập quốc tế được triển khai đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đưa các quan hệ đã được thiết lập đi vào chiều sâu, bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
- Chủ động và tích cực hội nhập trên lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh
- Chủ động và tích cực hội nhập trên các lĩnh vực khác
3.4 Một số giải pháp chủ yếu về "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" Thứ nhất, thực hiện triệt để phương châm “triển khai đồng bộ” các định
hướng đối ngoại của Đại hội XII, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả sự phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, giữa các cấp, các ngành, các địa phương
Thứ hai, trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao quốc gia - dân tộc, Việt Nam cần
đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác, nhất là các khuôn khổ với 15 đối tác chiến lược và 10 đối tác toàn diện, đảm bảo môi trường hoà bình, ổn định của đất nước, thúc đẩy quan hệ trên tất cả các lĩnh vực, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Thứ ba, Việt Nam cần nâng cao hơn nữa hiệu quả hội nhập, thực hiện đầy đủ
các cam kết quốc tế, theo đó, Việt Nam cần tăng cường công tác phổ biến các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, đã nội luật hóa và các quy định trong quá trình triển khai; làm cho mỗi tổ chức, mỗi người dân nhận thức đúng thách thức cũng như cơ hội mà họ có được từ quá trình hội nhập quốc tế để họ tham gia một cách chủ động và tích cực, biến quá trình hội nhập quốc tế chủ yếu là các hoạt động của các cơ quan nhà nước tiến hành thành quá trình tham gia chủ động và tích cực của
bộ ngành, từng địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và người dân
Thứ tư, trong quá trình triển khai các định hướng lớn về hội nhập quốc tế được
xác định trong Văn kiện Đại hội XII, Việt Nam cần tập trung thực hiện Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 và các Đề án, Kế hoạch
Trang 10hoàn thiện, nâng cao năng lực các thể chế hội nhập quốc tế; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ hội nhập để đến năm 2020, mức độ hội nhập trên các lĩnh vực của Việt Nam ở mức độ cao của các nước ASEAN
Thứ năm, trong hội nhập kinh tế, Việt Nam cần tập trung giải quyết các vấn
đề sau:
- Các bộ, ngành và địa phương cần chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch toàn diện và cụ thể thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế, trong đó xác định vai trò trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến trình hội nhập trong quan điểm, nhận thức và hành động
- Gắn kết hội nhập kinh tế quốc tế với cải cách trong nước, chuyển đổi mô hình tăng trưởng tái cấu trúc nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, mục tiêu chính trị - ngoại giao và mục tiêu chiến lược trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Chú trọng thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng mức độ cam kết và tự do hóa thương mại ngày càng cao hơn, đồng thời có các điều chỉnh thương mại trên cơ sở cam kết với các tổ chức quốc tế và khu vực để có hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện các cam kết thương mại
- Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật, cư chế, chính sách nhằm thực thi có hiệu quả các cam kết hội nhập, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ngày càng phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
- Tận dụng tối đa các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm;
- Tăng cường nguồn nhân lực, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu, đánh giá và dự báo các vấn đề mới liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là việc triển khai thực hiện ở mức độ cao hơn các cam kết, các FTA để chủ động điều chỉnh chính sách và biện pháp phù hợp
4 Thành tựu, hạn chế và bài học trong thực hiện đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới